Thư Viện Linh Quy
← Danh sách

Đức Phật Chứng Ngộ Những Gì đã chỉnh

2026-03-03 00:53:00
ĐỨC PHẬT CHỨNG NGỘ NHỮNG GÌ?

Thích Minh Thành

MỤC LỤC

TOC \o "1-3" \h \z \u I.Tinh tủy Nikāya PAGEREF _Toc71556984 \h 1

II. Trí tuệ về sắc uẩn PAGEREF _Toc71556985 \h 5

1. Định nghĩa sắc uẩn PAGEREF _Toc71556986 \h 5

2. Đánh phá kiến chấp về sắc uẩn PAGEREF _Toc71556987 \h 7

III. Trí tuệ về thọ uẩn PAGEREF _Toc71556988 \h 11

IV. Công trình của người tu PAGEREF _Toc71556989 \h 14

Tinh tủy Nikāya

Ngưỡng bái bạch trên Hòa thượng viện chủ, Thượng tọa Trụ trì và tòa thể chư Tăng ở tại trường hạ chùa Xá Lợi. Minh Thành là học trò của Hòa thượng viện chủ cũng như là Trụ trì ở đây. Nhớ lại 20 năm trước Minh Thành an cư ở đây liên tục 3 năm, được sự chỉ dạy, lợi ích rất nhiều từ mái chùa thân thương Phật Học Xá Lợi của chúng ta. Nơi đây là nơi trung tâm đào tạo ra rất nhiều cư sĩ, những tu sĩ có tài có đức để phụng sự cho Phật pháp, cho chúng sanh. Đặc biệt Thượng tọa Trụ trì là một trong những vị phải gánh vác sự nghiên cứu về Phật pháp và có những công trình rất là quan trọng cho Phật giáo.

Hôm nay, Minh Thành được sự chỉ dạy của Thầy để về đây chia sẻ những lời Đức Phật dạy cùng với đại chúng, mong rằng chúng ta sẽ hợp tác để nghe lại những lời Phật pháp nguyên chất từ trong tạng kinh Nikāya. Điều quan trọng hơn hết mà Minh Thành muốn cúng dường đến quý thầy là một đạo lộ, một con đường hành trì cho người xuất gia của chúng ta. Đây là một vấn đề hết sức cấp thiết, cực kỳ quan trọng đối với người xuất gia. Hiện nay chúng ta nhìn trong hoàn cảnh thực tế thì chúng ta đã có một đạo lộ tu tập rõ ràng chưa, hay chúng ta đang tu học chung chung, bằng rất nhiều phương pháp, nhiều cách thức.

Bản thân Minh Thành từ khi xuất gia đến nay đã gần 30 năm liên tục, không ngừng nghỉ, cầu pháp, học pháp, hành pháp và san sẻ giáo pháp. Bất cứ trong nước hay là ngoài nước có những vị cao tăng đức độ, những đạo tràng hưng thịnh, nhất là về pháp hành là Minh Thành đều đến đó đảnh lễ, cầu pháp. Sau chặn đường dài tìm cầu ở khắp mọi nơi từ Myanmar, Sri Lanka, Thái Lan, Trung tâm thiền quốc tế ngài Ajahn Chah thì Minh Thành đã tìm ra được đạo lộ thật sự của Đức Phật ở trong tạng kinh Nikāya. Đạo lộ đó là gì thì trong những buổi chia sẻ Minh Thành sẽ cúng dường lên đại chúng, quý thầy hãy lắng nghe, chiêm nghiệm và suy xét. Tất cả mọi người có thể trao đổ trực tiếp với Minh Thành trong mọi lúc những buổi giảng, những buổi học, bất cứ lúc nào cũng có thể chia sẻ với nhau một cách thân thiện, thoải mái, gần gũi trong tinh thần tầm cầu giáo pháp.

Tạng Kinh Nikāya là một tạng kinh có lịch sử, có sự thật và là Thánh điển y cứ của Phật giáo trên toàn thế giới. Hiện tại, các nhà nghiên cứu, những vị tu hành ở phương Tây, Phật giáo Nguyên Thủy y cứ theo tạng kinh này. Như chúng ta đã biết, tạng kinh này được truyền thừa trên 2.600 năm. Chính Minh Thành đi đến lạy dưới chân các vị Tam Tạng Pháp Sư ở Myanmar, các vị này học thuộc lòng trên 35.000 trang giấy A4 về tạng Kinh, tạng Luật và tạng Luận. Đây được coi là Quốc bảo của đất nước Phật giáo, tức là những vị này đọc thuộc lòng tạng kinh, có thể đọc xuôi và đọc ngược. Những vị này được sự ưu đãi đặc biệt từ Chính phủ, được cung cấp đất, kinh phí xây chùa, tất cả kinh phí xe cộ, máy bay, hằng tháng đều được cúng dường. Những vị Tam Tạng Pháp Sư duy nhất chỉ Myanmar mới có, khoảng mười mấy vị.

Như vậy, Phật giáo Nguyên Thủy được truyền thừa ở các nước và tạng kinh Nikāya là thánh điển duy nhất, độc tôn được truyền thừa gần 3.000 năm. Ở phương Tây gần đây thì người ta cũng đã phiên dịch ra tiếng Anh, ngài Bodhi phiên dịch kinh Nikāya và các nhà nghiên cứu tu học lấy bộ đó làm Thánh điển y cứ. Hiện nay Minh Thành chuyên nhất 100% theo tạng kinh Nikāya.

Vậy, tạng kinh Nikāya nói về điều gì? Tóm thâu tinh hoa, tinh tủy, cốt lõi của tạng kinh Nikāya là gì? Tạng kinh Nikāya gồm 5 bộ: Trường bộ, Trung bộ, Tăng Chi bộ, Tương Ưng bộ và Tiểu bộ. Trong đó cái gì là lõi của tạng kinh Nikāya? Giống như mô hình của cái tháp, chúng ta đi từ từ lên thì sẽ thấy được đỉnh tháp. Trong 5 bộ kinh Nikāya thì chúng ta sẽ nói kỹ 4 bộ, vì Tiểu bộ có mặt sau khi Đức Phật nhập Niết-bàn khoảng 200 năm, cho nên, nếu nghiên cứu sát sao thì nghiên cứu trong 4 bộ Nikāya. Tiểu bộ cũng được sử dụng phần nào vì bộ kinh đó là theo lịch sử là sau Đức Phật hơn 200 năm.

Ấn Thuận đạo sư hơn 60 năm trầm mình trong pháp tạng, được lãnh đạo của Đài Loan ca ngợi là Huyền Trang thời hiện đại. Ngài không phải đi học có bằng cấp gì cao mà Ngài chuyên đóng cửa lại mà nghiên cứu một mình. Các tác phẩm của ngài đưa ra được Nhật Bản trao cho ngài bằng tiến sĩ danh dự đầu tiên, Ngài là người đầu tiên ở Đài Loan nhận được bằng tiến sĩ này. Minh Thành có qua Tuệ Nhật giảng đường của Ngài, Sư bà Chứng Ngiêm cũng gặp Ngài ở đó và thành lập ra Hội Từ Tế - một trong tứ đại thiên vương của Đài Loan. Đài Loan có bốn trung tâm lớn: Phật Quang Sơn của Tinh Vân đại sư, Pháp Cổ Sơn của Thánh Nghiêm pháp sư, Trung Đài Thiền Tự của Duy Giác trưởng lão và Từ Tế Hội của Chứng Nghiêm pháp sư. Trở lại vấn đề, đối với 4 bộ kinh Nikāya đó, nếu có nghiên cứu kỹ giống như Ngài Ấn Thuận thì kết luận như thế nào?

Khi nghiên cứu Tương Ưng Bộ Kinh hay còn gọi là Tạp A-hàm, Ngài không dùng từ Tạp A-hàm mà dùng từ Tương Ưng A-hàm thì Ngài phát hiện ra Tương Ưng Bộ Kinh là vô biên thậm thâm pháp nghĩa. Tức là từ trong 4 - 5 bộ đó, nếu rút gọn lại, mình không có nhiều thời gian tìm hiểu hết thì có thể đào sâu vào Tương Ưng Bộ, đó là bộ gom lại hết những pháp nghĩa thâm sâu, tinh hoa, tinh tủy, cốt lõi. Để có thể gom biển cả thành một giọt nước, Tương Ưng Bộ gom lại nữa theo mô hình đỉnh tháp thì còn lại phần Thiên Uẩn nói về Năm Uẩn. Như vậy thì toàn bộ tạng kinh Nikāya hay là toàn bộ sự Chánh Đẳng Chánh Giác của Như Lai là Thánh trí về năm thủ uẩn, Thánh trí về năm uẩn.

Cho nên Đức Phật có định nghĩa “Này các tỳ-kheo thế nào gọi là Khổ Thánh Đế”, chúng ta đã nghe quen các từ gọi là tám khổ, tam khổ hay bát khổ, nhưng chỉ chú trọng những cái đằng trước mà điều quan trọng Phật nói nằm sau cùng: “sắc thủ uẩn, thọ thủ uẩn, hành thủ uẩn, thức thủ uẩn đây là Khổ Thánh Đế”. Mỗi tối chúng ta đều đọc “chiếu kiến ngũ uẩn”, mà đó chỉ là đọc trong từ ngữ, trong sách vở chứ trong cuộc sống hằng ngày chúng ta không thấy ngũ uẩn là chỗ nào hết. Khi mình học và nhìn thì mình mới thấy, vì vậy, hôm nay chúng ta sẽ học lý thuyết, thực hành song song, ngồi ngay tại đây nhận diện và thực tập nhận diện năm uẩn, đây là mấu chốt của sự tu học. Giống như tất cả mọi người muốn bước vào chùa Xá Lợi thì phải từ cánh cửa chùa, ngoài cánh cửa đó ra thì không thể vào chùa được. Nếu như không nhận diện được năm uẩn thì sự tu tập của mình đều ở ngoài da, ở trên tưởng tượng, trên suy tưởng.

Vậy năm uẩn là gì? Minh Thành sẽ trình bài khái quát, tổng quát và những hôm sau sẽ đi vào chi tiết sâu sắc. Chúng ta cứ đọc là sắc, thọ, tưởng, hành, thức nhưng năm thủ uẩn là gì? Tương Ưng Bộ kinh tập 3, kinh “Thủ Chuyển”, Đức Phật có dạy:

Này các Tỷ-kheo, khi nào Ta chưa như thật thắng tri năm thủ uẩn này theo bốn chuyển, thì cho đến khi ấy, này các Tỷ-kheo, đối với thế giới chư Thiên, Ma, Phạm thiên, cùng với quần chúng Sa-môn, Bà-la-môn, chư Thiên và loài Người, Ta không xác chứng rằng Ta đã chứng được vô thượng Chánh Đẳng Chánh Giác.

Nhưng này các Tỷ-kheo, khi nào Ta đã như thật thắng tri năm thủ uẩn này theo bốn chuyển, cho đến khi ấy, này các Tỷ-kheo, đối với thế giới chư Thiên, Ma, Phạm thiên, cùng với quần chúng Sa-môn, Bà-la-môn, chư Thiên và loài Người, Ta xác chứng rằng Ta đã chứng được vô thượng Chánh Đẳng Chánh Giác. (Tương Ưng Bộ Kinh, Tập III. Thiên Uẩn, Chương I. Tương Ưng Uẩn - Phần 22b-B. Năm mươi kinh ở giữ, Phẩm Tham luyến, bài kinh Thủ chuyển)

Câu này có nghĩa là khi nào Đức Phật chưa thấu suốt tột cùng về năm uẩn thì cho đến khi ấy Ngài không tuyên bố với tất cả mọi người, tất cả tu sĩ, tất cả chư Thiên và loài Người rằng Ngài đã đạt được sự giác ngộ tận cùng của Phật trí. Khi nào mà Phật thấu suốt trọn vẹn, đồng đều, đầy đủ, viên mãn tất cả mọi khía cạnh của năm thủ uẩn thì lúc đó Ngài mới tuyên bố với giới tu hành, những giới vua chúa, những giới Ma và chư Thiên rằng Ngài đã chứng ngộ được Phật quả tối thượng. Như vậy, sự chứng ngộ của Phật là chứng ngộ Thánh trí về năm uẩn.

Bây giờ khi được hỏi Đức Phật chứng ngộ gì thành Phật thì chúng ta nói đủ thứ cách, nhưng thật sự mình phải căn cứ theo kinh và ở đây là Tương Ưng Bộ Kinh, chứ không phải suy nghĩ ra sao, muốn nói gì thì nói. Đặc biệt, học pháp này ở chúng ta không tưởng tượng và nói đại theo suy nghĩ, như vậy là phàm phu, không phải là Thánh đạo, cho nên không thể đưa đến Thánh quả. Học pháp này là phải bám sát vào từng câu từng chữ, không được sai một chữ, nếu sai là mình đi trật lất, tu không kết quả, đây mới gọi là Thánh đạo, mới đưa đến Thánh quả. Để được làm cơ trường lên máy bay thì cứ bấm đại là được hay là phải học rất nhiều năm? Nếu là bác sĩ phẫu thuật thì muốn cắt chỗ nào thì cắt, nghĩ ở đâu thì cắt ở đó hay phải tuân theo quy chuẩn nhất định? Huống hồ, đây là Thánh trí thì không thể học một cách như trước nay là theo suy nghĩ, tưởng tượng, chính vì kiểu học như vậy cho nên mình học không có kết quả, học riết rồi nói cỏ cây chim muôn nào cũng là Phật. Điều này đưa đến loạn pháp, cuối cùng Thánh đạo không có nên Thánh quả không tồn tại, cho nên cuộc đời đi đến mạt pháp. Thành ra cái học này tuyệt diệu ở chỗ nếu chỗ này giải thích như thế này thì qua bộ kinh kia giải thích giống y như vậy. Xuyên suốt trong tạng kinh Nikāya giống y như nhau, không có một chỗ nào nói khác, vô cùng nhất quán, xuyên suốt, đó chính là Thánh đạo.

Trí tuệ về sắc uẩn

1. Định nghĩa sắc uẩn

Đầu tiên, về sắc uẩn, sắc thủ uẩn là gì thì Minh Thành sẽ đọc trong Chánh kinh, Chánh văn của Đức Phật định nghĩa.

Thứ nhất, định nghĩa theo bốn đại, thế nào là sắc:

“Và này các Tỷ-kheo, thế nào là sắc?

– Bốn đại chủng và sắc do bốn đại chủng tạo thành. Này các Tỷ-kheo, đấy được gọi là sắc.” (Tương Ưng Bộ Kinh, Tập III. Thiên Uẩn, Chương I. Tương Ưng Uẩn - Phần 22b-B. Năm mươi kinh ở giữ, Phẩm Tham luyến, bài kinh Thủ chuyển)

Điều này thì mình có học, quý thầy ai cũng biết, sắc thì do tứ đại, nhưng cái biết ở trên suy luận, trên suy diễn, suy tưởng là khác, còn cái biết này là ở trên tuệ tri, liễu tri, thắng tri, biến tri. Ở trong kinh Nikāya, chúng ta phải phân biệt được ba cấp độ của sự hiểu biết.

Sự hiểu biết bình thường của mình là tưởng tri, là biết trên tưởng tượng. Cho nên khi đụng chuyện thì hay nói “tôi tưởng như vậy mà không phải vậy”, vì đó là biết của tưởng tượng nên không đúng. Chẳng hạn đang đi ở Madagui mà thấy trời mưa thì mấy chú đi chung Minh Thành nói bây giờ về núi trời tối thui, 9-10 giờ đêm mà không có đèn pin, không có dù thì sao. Minh Thành mới nói tới đó rồi tính và khi tới đó không có giọt mưa nào hết. Tức là mình thấy ở đây mưa rồi nghĩ ở đó cũng vậy mà ở đó lại khác, cho nên đại đa số hiểu biết là tưởng tri.

Thức tri là cái biết ở trên kiến thức, trên cái sự học hiểu, trên kinh nghiệm và cái biết này vẫn chưa phải là cái biết rốt ráo cho nên nó cũng nằm trong phiền não, mà có khi cũng trật. Tuy mình đã học rồi nhưng có những trường hợp lại không giống như vậy, đâu phải trường hợp nào cũng giống trường hợp nào. Cho nên cũng làm điều đó như bình thường, nhưng tới bữa đó bị sư phụ, sư huynh rầy, tại bữa đó khác với mấy bữa bình thường, trường hợp đó khác với trường hợp bình thường, mình cứ nói như vậy là như vậy nhưng rồi không có như vậy là mình không chịu. Như vậy, cái biết thứ hai là biết trên tri thức, kinh nghiệm.

Cái biết thứ ba là biết của trí huệ, chúng ta đang học đây là tuệ trí. Cái biết của trí huệ là cái biết tới bản chất, bản tánh của các pháp. Biết của trí huệ trong vấn đề đang đề cập đến là biết về bốn đại và sắc do bốn đại tạo thành, đó là định nghĩa của chữ sắc. Về phần sắc này, phải được nghe và tư duy quán chiếu liên tục để làm mình thay đổi cách nhìn. Còn không thì đại đa số cho rằng cục thịt 60, 70 kí này là tôi, của tôi, không dính dáng gì lúc mở kinh ra học. Mở kinh thì nói thân là tứ đại nhưng khi trở ra thì nói đây là tôi. Như vậy sự học và đời sống thực tế của mình không dính dáng gì đến nhau, không gắn kết và không phải là tuệ tri, mà là thức tri, tưởng tri.

Định nghĩa chữ sắc ở đây mình phải tu tập và có sự quán chiếu. Ở bên lớp Trung cấp, con có giảng quán chiếu về tứ đại mười mấy buổi nhưng hình như trên mạng chỉ có 5 buổi thôi, quý thầy có thể nghiên cứu thêm phần đó để hiểu sâu rộng hơn về tứ đại. Thí dụ ở đây, quý thầy ngồi một hồi những chỗ hầm, nó sẽ nóng, khi đó mình phải tách khỏi cái nhìn nhận sai lầm mấy chục kí lô này là mình đang nóng mà đó là do sắc uẩn nóng, hỏa đại bốc lên nóng. Hỏa đại gồm nội hỏa đại và ngoại hỏa đại. Phong đại cũng vậy, gồm nội phong đại và ngoại phong đại, thủy đại và địa đại cũng vậy.

Chúng ta phải nhìn thấy, phải nhận diện tứ đại của sắc uẩn, khi ngồi thiền mình phải nhận diện, luôn luôn mình phải niệm tứ đại, niệm 32 thể trược và niệm 9 giai đoạn của một tử thi. Như vậy từ từ mới tách được cách nhìn sai lầm của thân kiến ra khỏi mình được và mình mới bắt đầu thể nhập Thánh trí. Phải chuyển từ từ cái phàm tình và bắt đầu đi vào trong Thánh trí, mà không phải một ngày một buổi được, phải tập hoài trong những lúc ngồi thiền, trong bất cứ những lúc nào rảnh đều phải tập. Mỗi khi mình nghĩ đến cái tôi là phải bỏ xuống liền, phải nhớ đây là sắc uẩn, khi đi bước từng bước, nhận diện được đây là sắc uẩn bước. Mình loại bỏ khỏi trong suy nghĩ là một cái tôi, một cái tự ngã, một cái mình, phải loại bỏ trong suy nghĩ thì đó là mới bắt đầu nhận diện được sắc uẩn là tứ đại.

Thực tập được điều này thì tuyệt diệu lắm, từ từ mình sẽ phá vỡ được thân kiến, tức là kiến chấp về thân, sự nhìn nhận sai lầm về thân. Tức là cho rằng mấy chục kí này là tôi, là của tôi, là tự ngã của tôi nhưng mà “rầm” một cái thì một đống thịt bầy nhầy, máu mủ, mỡ, xương, da, tủy, não văng ra đường, lúc đó mình ở đâu, đó chỉ là sắc uẩn thôi.

2. Đánh phá kiến chấp về sắc uẩn

Hằng ngày ngồi thiền, chúng ta phải quán về tứ đại, 32 thể trược, Minh Thành có chia sẻ trên chùa Hoằng Pháp. Quý thầy có thể tham khảo bài “Trí tuệ bất tử” giảng cho trường hạ ở chùa Hoằng Pháp, Minh Thành nói về 6 khía cạnh để niệm thân: hơi thở, oai nghi, hành động, tứ đại, 32 thể trược, niệm 9 giai đoạn một tử thi; bắt buộc phải đủ những giai đoạn như thế. Đức Phật gọi đó là hương vị của bất tử, đó là pháp tu thời Đức Phật còn tại thế, mà khi quán như vậy, Minh Thành xin thưa với quý thầy là dục tham trong người mình chắc chắn sẽ được lắng dịu ngay khi quán chiếu. Chúng ta sẽ có một phương pháp sắc bén như thượng phương bảo kiếm để mình diệt dục, ái, tham trong người, dần dần nó sẽ bị nhiếp phục, khuất phục, chế phục và cuối cùng là đoạn tận thì mới thể nhập được các Thánh quả.

Còn bây giờ, không nói ai khác, chính bản thân Minh Thành, nhiều khi tu cả chục năm, hai chục năm nhưng chưa có bữa nào ngồi lại quán bất tịnh hết. Cho nên dục, tham, ái bên trong còn nguyên, khi gặp duyên gặp cảnh là nó bừng lên thiêu đốt, đó là nhiệt não, là khát ái, là dục vọng, mình bị quay cuồng không biết đường để ra. Vì vậy, rất thương các huynh đệ trẻ ở các trường Phật học tâm sự với Minh Thành là không biết thế nào nhiếp phục hết, đó là do tại mình không học, không có phương pháp nhiếp phục nên nó quậy mình. Phương pháp về quán bất tịnh rất là tuyệt diệu, thần công, cực kì vi diệu, làm đúng phương pháp sẽ thấy hiệu quả tức thời, không có trải qua thời gian, thiết thực hiện tại.

Chúng ta phải ngồi lại, quán chiếu ra, bứt hết tóc xuống mà tóc còn cọng nào đâu để bức, rồi giải phẫu, mổ ra hết, ruột, phổi, tim tràn ra, máu chảy ra, mỡ tràn ra. Bóc ra từng miếng đây là lá lách để ra trước mặt, đây là trái tim, dạ dày, phổi, ruột già, ruột non, phân, nước tiểu, máu mủ, nhổ hết ba mươi mấy cái răng để đống máu chảy ra hết, bứt hết hai mươi móng tay, móng chân để một đống. Lột hết da ra để nhìn thấy một bộ xương, một cái đầu lâu, một đống bây nhầy tràn trước mặt mình cái gì là tôi, cái gì là của tôi. Quán cho tới rúng động cơ thể mình hết, nổi da gà hết, nước mắt mình tràn ra hết, khi mình phát giác ra được một tính chất trống rỗng, bất tịnh, dơ dáy, bẩn thỉu, hôi hám, hôi tanh, máu mủ, u nhọt, chẳng có gì là Minh Thành ở trong này hết, đó là một cái đống dơ bẩn hôi thúi. Quán thâm sâu như vậy thì nổ tung hết cảm giác, cảm thọ trong con người mình ra, như vậy, lúc ấy Thánh trí khởi động và bắt đầu rực sáng ở trong tâm khảm của mình. Cứ làm liên tục như vậy thì dục, tham, ái sẽ được nhiếp phục, sẽ được đoạn giảm và sẽ đi đến chỗ diệt tận. Chúng ta phải dấn thân trên con đường này, bao nhiêu năm qua mình đi lòng vòng không biết đường, và đây chính là Thánh đạo.

Này các tỳ-kheo ta đã đi trên con đường này, đã chứng ngộ, các thầy hãy tin tưởng ở nơi ta, hãy đem hết sức lực của mình dấn thân chứng ngộ những điều chưa chứng ngộ, chứng đắc những điều chưa chứng đắc, chứng đạt những điều chưa chứng đạt rồi các thầy cũng sẽ như ta.

Này các tỳ-kheo đây là căn nhà trống, nọ là những gốc cây, bờ suối ven rừng hãy sống một mình, viễn ly, hãy nỗ lực tinh tấn thiền định chớ có buông lung phóng dật để sau này phải hối hận đó là lời giáo huấn của ta cho các thầy. Những gì bậc Đạo sư phải làm vì lòng từ mẫn, vì lòng thương xót Ta đã làm tất cả, việc còn lại là chính ở nơi các thầy hãy nỗ lực, tất cả hành pháp là vô thường, hãy tinh tấn lên để giải thoát.

Những lời của Đức Phật ở trong tạng kinh làm mình rung động, chấn động, xúc động, tràn nước mắt ra giống y như đang đối diện với Đức Thế Tôn. Đức Phật nói chuyện như một người cha, người mẹ, một bậc thầy lớn. Chúng ta phải quán thâm sâu vào tứ đại, 32 thể trược, đem từng món trong cơ thể mình móc ra hết. Rồi đến 9 giai đoạn của một tử thi là chúng ta sẽ ngồi quán chiếu bản thân lấy hơi lên, cuối cùng là tắt hơi và nằm xuống bất động, trắng bệch, xanh lè, lạnh ngắt, bầm tím. Cuối cùng phình trương lên, nứt nẻ, máu mủ chảy ra, những chất dịch trong cơ thể bắt đầu chảy ra, giòi bắt đầu ăn từ trong bộ đồ lòng tràn ra, bò nheo nhút hết, nó ăn lên 2 khóe mắt, lên mặt và xuống hai bắp đùi giòi nó bò lúc nhúc đầy hết trong cơ thể của chính bản thân mình. Cuối cùng máu thịt khô, lòi ra da, trơ xương, tháng năm rã rời từ từ, kia là đầu lâu, nọ là xương sườn, chỗ kia là xương ống quyển, xương chân, xương tay, xương ống tay rồi năm tháng cuối cùng nát ra thành tro bụi.

Chúng ta cần quán thâm sâu như vậy và những hình ảnh đó là tài sản, bảo bối của người xuất gia. Bất cứ lúc nào cần thì định tướng hiện ra trước mắt mình, ngồi tại nơi đây là 40 bộ xương đang di động. Những hình ảnh của bộ xương, giòi ăn, đống thịt bầy nhầy, của thân phình trương nứt nẻ và chảy mủ máu ra luôn luôn phải được cất giữ kỹ lưỡng trong nội tâm của mình. Bất cứ lúc nào gặp những sắc uẩn khác đến là mình móc những cái đó ra, móc thượng phương bảo kiếm, móc lá bùa hộ mệnh, móc miễn tử kim bài ra để chiến đấu, mình không để cho những cái sắc đó xâm nhập, không để cho chúng xâm chiếm nội tâm, áp đảo mình. Như vậy là chúng ta có nội lực, có Thánh trí mà mình cần phải được sự huân tập nghe. Từ ngày Minh Thành nghe tạng kinh cho tới bây giờ, mỗi ngày nghe không dưới 7-8 tiếng, ngày nào cũng vậy.

Chúng ta phải có sự quán chiếu sâu sắc để mình nhận diện sắc uẩn. Sắc uẩn bản tánh là như thế và không thể vượt khỏi bản chất ấy “Này các tỳ-kheo thân này bản chất là như thế, bản tánh là như thế không thể vượt khỏi bản tánh ấy”. Nó là bộ xương, nó là đống tro, là những con giòi, là hủ cốt, là nấm mồ không hơn không kém, phải nhìn thấy được những hình ảnh đó để đánh tan được những cái lầm chấp, vô minh, tham ái, chấp thủ, thân kiến ở trong nội tâm mà sâu dày ngàn trượng của mình trong bao nhiêu kiếp, những cái đó mới có đủ sức đánh đổ những cái còn lại.

Sự dụng công trong tu tập phải hết sức liên tục, tinh tấn và luôn luôn nội soi, soi rọi lại chính mình. Thâm sâu ở trong nhận thức của mình phải có một sự chuyển hướng, như vậy mới là địa vị đáng được tôn trọng, chấp tay, cung kính, đảnh lễ, cúng dường, ruộng phước vô thượng ở trên đời. Địa vị đầu tiên gọi là địa vị Chuyển tánh, địa vị thứ hai là hướng Dự lưu, địa vị thứ ba là Nhập lưu.

Minh Thành muốn nói đến địa vị thấp nhất là Chuyển tánh, là sự thay đổi, chuyển đổi cách nhìn của mình, cách nhìn của Vô văn phàm phu khác với cách nhìn của Đa văn Thánh đệ tử. Thế nào là sự đặc thù, khác biệt giữ người tu và người không tu? Đó chính là cái nhìn “không phải là tôi, không phải của tôi” mà thân này chỉ là một cái đống xác, thịt, mỡ, máu, mủ, xương. Như vậy mới gọi là chuyển tánh, là trí huệ của Đa văn Thánh đệ tử. Còn nếu mình không thay đổi cách nhận thức của mình, không có sự quán chiếu thì vẫn là vô văn phàm phu dầu cho mình có nghe gì đi nữa thì nhận thức bên trong của mình vẫn còn y nguyên, phàm tình y chang. Mình đâu có thấy được sắc uẩn mà chỉ thấy một cái tôi chình ình, không khéo càng tu bản ngã càng lớn. Đây là sự đau lòng, xót xa, nhục nhã, hổ thẹn, tàm quý vô cùng.

Khi còn là cư sĩ mới vào chùa, lúc còn tập sự thì dễ thương, dễ sai, dễ bảo, dễ biểu, dễ ở, dễ sống nhưng khi đã thọ một giới lên rồi thì ôi thôi là sư phụ, đại ca. Như vậy là mình đi lầm đường, trật đường, sai đường, đó là thối đọa, đó là rơi xuống trong Pháp và Luật của Như Lai. Tại mình không thực tập quán chiếu sắc uẩn, luôn luôn trong tâm của mình là một hình bóng lờ mờ, mập mờ về mình, về của mình. Giống như đang ngồi đây mà nghĩ chiều nay mình ăn gì đó hay đi đâu đó thì cái bóng mờ mờ hiện ra đó là thân kiến.

Chúng ta sẽ nhận diện năm uẩn, tuyệt diệu lắm, đây mới là sắc uẩn thôi đó, tu đã lắm, sướng lắm, nó gọn lắm nhưng lại trực tiếp đánh vô tổng hành dinh, căn cứ địa của sân, si và bản ngã, mình sẽ đánh sập, vỡ hết, tan hết. Tuy chúng ta chưa thành công diệt tận nhưng mình bắt đầu thấy biết để khai chiến, còn ngày xưa không nhận ra được năm uẩn thì mình không có biết chiến đấu gì hết, tại vì mình nhận giặc làm con, bất cứ lúc nào mình suy nghĩ cũng một cái tôi và cái của tôi hết. Cho nên bước vào cửa này gọi là cửa Thánh tri kiến còn gọi là Thánh thể nhập, là sự thể nhập của bậc Thánh.

Trong bài kinh “Thủ Chuyển” có nhắc đến “bốn chuyển”, ở đây, bốn chuyển nghĩa là bốn khía cạnh, còn điều thứ hai nữa là 7 trí huệ của sắc uẩn. Như vậy, trong năm uẩn phải thành tựu 7 loại trí huệ của mỗi uẩn, tức là tổng cộng có 35 loại trí huệ: 7 trí về sắc, 7 trí về thọ, 7 trí về tưởng, 7 trí về hành, 7 trí về thức. Chúng ta phải học thuộc lòng và quán chiếu tu tập thì mới có công năng đánh phá được năm uẩn này.

Bốn chuyển là gì? “Ta đã thắng tri sắc tập khởi, ta đã thắng tri sắc đoạn diệt, ta đã thắng tri con đường đưa đến sắc đoạn diệt”. Chỗ tuyệt diệu ở đây là Đức Phật biết sắc là gì và từ đâu sắc sanh khởi, tại sao và làm thế nào để đưa đến chỗ đoạn diệt chấm dứt, đó mới là trí huệ về sắc. Mình sẽ biết được cái thân này từ đâu nó sanh khởi, tại sao nó chấm dứt và làm thế nào để cho nó chấm dứt. Chỗ thâm sâu bất ngờ là biết cảm giác trong thân ta từ đâu nó sanh khởi, làm sao cho nó chấm dứt. Rồi cái hình bóng lờ mờ mà lúc nãy nghe Minh Thành ví dụ nói chiều nay ăn gì, đi đâu đó rồi có hình ảnh hiện lên là tưởng uẩn, mình biết từ đâu mà có và phương pháp làm cho cái tưởng này nó chấm dứt, nó tuyệt diệu như vậy. Rồi mình cũng biết từ đâu có suy nghĩ và tại sao sanh khởi suy nghĩ, biết cách làm cho chấm dứt suy nghĩ, chỗ này gọi là chỗ tối thượng tuệ, chỉ có Chánh Đẳng Chánh Giác mới chỉ ra được cái này. Đây là môn tâm lý học tối thượng, vĩ đại của 3000 Đại Thiên thế giới chứ không phải nói của toàn cầu, tuyệt diệu như vậy mới là pháp của bậc Chánh Đẳng Chánh Giác.

Trí tuệ về thọ uẩn

Chúng ta đã nhận diện sắc uẩn, đến thọ uẩn là những cảm thọ, cảm giác nó luôn có trong thân mà mình không biết, mình luôn tưởng cảm giác đó là mình, đây là lầm lạc thứ hai.

Có 3 loại cảm giác: cảm giác dễ chịu, cảm giác khó chịu và cảm giác không khó chịu không dễ chịu. Quý thầy có thể nghe rồi, nhưng không để ý, bây giờ mình học lý thuyết thực hành song song, mình phải nhận diện được nó chứ không phải chỉ trên từ ngữ, trên miệng nói hoặc là hiểu nó. Chúng ta phải nhìn thấy được nó đang vận hành thế nào trong thân tâm của mình, mình phải thấy, phải biết, kiểm soát. Như vậy nhóm thứ hai là thọ uẩn, chữ “uẩn” là sự tụ tập, đống, nhóm, tích tụ, tích tập, nhóm họp. Nói nôm na năm uẩn là năm đống: đống sắc, đống cảm giác, đống tưởng, đống suy nghĩ và đống nhận thức rõ biết. Tất cả chúng sanh trong Tam giới đều chết hết trong năm đống này, đều nằm trong tay của ma vương. Cho nên Tôn Ngộ Không nhảy hoài không ra được là không ra năm uẩn, khi Như Lai Phật Tổ đưa bàn tay nhưng Ngộ Không nhảy không ra, đó là nhảy hoài không ra khỏi được năm thủ uẩn.

Cảm giác này thật sự nhận chìm thế giới, tất cả chúng ta chết ở chỗ cảm giác này. Minh Thành xin thưa với đại chúng, từ năm uẩn nếu tóm thâu lại thì đỉnh tháp chính là ở chỗ cảm giác này. Đức Phật gọi là “Cảm thọ là chỗ hội tụ của tất cả các pháp”. Trong cảm thọ, cảm giác của mình tất cả các pháp hiện trong đó hết. chúng ta nói tu thì phải dẹp tham, sân, si, dẹp những ham muốn, nóng giận, si mê. Mình nói hoài tu là để diệt tận tham, sân, si, chứng đắc Niết-bàn, vậy, tham, sân, si ở đâu mà dẹp? Cũng như đi đánh giặc thì phải biết giặc ở chỗ nào để tới đó dẹp nó được. Minh Thành xin thưa, tham, sân, si ở trong cảm giác, cho nên, mọi người phải thường trực nhìn lại cảm giác mới thấy được sự sanh khởi, vận hành và hoạt động của tham, sân, si nếu không nhìn vào cảm giác là mình không biết.

Minh Thành ví dụ những cái rất bình dị thôi, chúng ta thích ăn món bún riêu, bánh canh, bánh xèo hay là la-gu hoặc món gì đó. Hôm đó đúng ngay hôm làm đầy đủ những món mà mình thích, tám món dọn lên bàn rồi nhưng lúc đó ở trên quý thầy đáp từ dài quá, giờ ăn cũng tới rồi, bụng đang đói mà toàn món ưa thích của mình. Khi đó, nếu như mình nhìn cảm giác thì mình sẽ thấy cái gì? Minh Thành chỉ cho quý thầy phân biệt dục, ái và tham khác nhau, trong bữa ăn đó, ở bên trong sẽ là cảm giác thúc giục muốn ăn, khi mà được ăn, có khi mình đang nhai chưa hết thì đã gắp một cái kế bên mình chờ sẵn, nhai chưa hết mình cũng đưa vô cho lẹ, đó là dục.

Thành ra, sự này tu tuyệt diệu lắm. Chúng ta đừng nghĩ dục là cái nam nữ bình thường, cái đó khỏi cần tu người ta cũng biết, đó là dục phàm phu, thấp hèn của chúng sanh. Còn trí tuệ về dục của Thánh đệ tử là thâm sâu, vi tế, nhỏ nhiệm chỉ cần trong cảm thọ là mình phải thấy là một sự thúc giục ở bên trong, khi ăn gắp không phải một món mà 3-4 món để trong cái chén như chén cúng cơm vậy. Đó là một sự thúc giục, khi mình ăn cái món mà mình khoái đó thì mình có một cảm giác thích thích, khoái khoái, thích thú, đó là ái. Cảm giác đó đang sanh khởi, có mặt mà mình không thấy không biết đó gọi là vô minh, si mê. Mình chỉ thấy đang sướng, đang đã, đang ăn ngon thì lúc đó là vô văn phàm phu vì không thấy lúc đó thọ đang sanh khởi, không biết trong đó có dục, ái, tham. Còn việc chờ lâu quá, chưa ăn, bên trong có khó chịu thì đó chính là sân.

Chúng ta đừng thấy ngồi trong hỏa đường mà nghĩ là thanh tịnh, thật ra tham, sân, si, bản ngã đầy rẫy hết. Tất cả các lậu hoặc, ô nhiễm đầy khắp, chỉ là mình chưa có thành tựu trí huệ của bậc Thánh để thấy được. Hằng ngày cấu nhiễm đầy rẫy, từ từ chúng ta sẽ học, khủng khiếp lắm, đầy dẫy dục, tham, ái vô minh và bản ngã trong nội tâm của mình. Và công cuộc của người tu chính là thanh lọc, tẩy rửa, diệt tận tất cả mọi ô nhiễm, đó là công trình của bậc Thánh.

Thí dụ bây giờ nói đi chơi, ngày mai đi ra Hà Nội chơi thì tối đó có thúc giục không, bắt đầu thọ tưởng, hành, thức vận hành trong đó. Nó tưởng ra là mình đi sẽ đi đâu, hình bóng hiện ra đó là tưởng, suy nghĩ làm gì là hành, rồi thọ có cảm giác đã, sướng nhiều khi nằm chiêm bao thấy nữa, thì đó là thọ, tưởng, hành, thức vận hành. Cho nên trong một bữa ăn đó mình nhìn thấy được nhiều lắm. Ví dụ thường ngày mình ngồi học tới 3 giờ là hết, mà bữa nay sao 3 giờ 5 phút rồi mà còn ngồi nói nữa là trong đó có cảm giác sân liền. Đừng nói là 3 giờ 5 phút, mới 3 giờ thôi là quay qua nhìn đồng hồ hoài, đó là hoạt động của thọ, cảm giác, hành, tưởng, thức hoạt động, năm uẩn vận hành nhưng mình không kiểm soát được. Mình không hộ trì căn thì sẽ không nhìn thấy được, cho nên, chúng ta bị năm uẩn hoàn toàn xâm chiếm, chế ngự, áp đảo và mình sống trong bóng đêm.

Đức Phật nói trong Tương Ưng Bộ Kinh tập 4, bài kinh “Mù Lòa”:

Tất cả, này các Tỷ-kheo, là mù lòa. Và này các Tỷ-kheo, cái gì mù lòa?

Mắt, này các Tỷ-kheo, là mù lòa. Các sắc là mù lòa. Nhãn thức là mù lòa. Nhãn xúc là mù lòa. Do duyên nhãn xúc khởi lên cảm thọ gì, lạc, khổ, hay bất khổ bất lạc; cảm thọ ấy là mù lòa. (Tương Ưng Bộ Kinh 4, Chương I. Tương Ưng Sáu Xứ, III. Phẩm Tất Cả, bài kinh Mù Lòa)

Chỗ mà mắt tiếp xúc là mù loà. Thọ do nhãn xúc sanh – khi mắt tiếp xúc sanh ra cảm giác thì lúc đó các ông mù lòa. Cho nên cảm giác này nó khủng khiếp lắm, trong đó có tham, sân, si, từ, bi, hỷ, xả, tất cả thiện pháp, công đức hay là ác bất thiện pháp ở trong đó. Trong bài kinh “Cội rễ của sự vật”, Đức Phật dạy “Tất cả pháp lấy thọ làm chỗ hội tụ”. Chúng ta nhìn vào cảm thọ sẽ thấy thật sự nó là tàng thức, là kho tàng chứa đựng hết tất cả hàng tồn kho nằm trong đó. Tại sao thọ này lại có công năng to lớn, chứa đựng hết tất cả, nó đặc biệt hơn các uẩn khác?

Bây giờ nhận diện tưởng, quý thầy ngồi đây không biết bây giờ mẹ đang làm gì, nghe nói là bệnh yếu, không biết giờ đang ra sao. Khi mình nghĩ vậy thì hình bóng của mẹ mình hiện ra trong nội tâm, đó là tưởng uẩn; lời nói thầm trong tâm “không biết bây giờ mẹ đang làm gì” là hành uẩn; lúc đó nếu mẹ bệnh thì mình có cảm giác khó chịu, lo đó là thọ uẩn; biết được ba cái trước gồm hình bóng, suy nghĩ và cảm giác đó là thức. Cái này hết sức quan trọng, chúng ta phải nhận diện ba cảm giác ở mọi lúc mọi nơi. Khi cảm giác thích thú, khoan khoái, dễ chịu đó tham tùy miên ở trong đó, tùy là đi theo, miên là miên man. Một cảm giác thích thú, khoan khoái, dễ chịu là tham ở trong đó. Một cảm giác khó chịu, bực bội là sân. Một cảm giác không khó chịu, không dễ chịu, đều đều mà mình không thấy không biết, thấy không vui mà cũng không buồn tại mình không thấy được thọ uẩn là si cư trú. Chỗ này nó sâu sắc, đòi hỏi mình phải thường trực nhìn lại, kiểm tra, kiểm kê, kiểm toán, kiểm soát, luôn luôn nhìn lại. Nhìn lại những vụ án hàng ngày có phải chạy theo cảm giác hay không? Xì ke, ma túy, nhậu nhẹt, đánh lộn, đâm chém có phải cảm giác không? Bao nhiêu vụ án ngoại tình, đánh ghen có phải cảm giác không? Rồi chạy xe, hú ga, đua có phải cảm giác không? Huynh đệ trong chùa nói một câu lỡ lời, nghe có vẻ khinh thường mình thì lúc đó có phải cảm giác không? Vô ngồi thiền có yên không, hay nhớ câu nói đó, hành động đó rồi nó nói tiếp ở trong đó, xong rồi mai đến khi gặp là nó phát ra những suy nghĩ đó có phải cảm giác không? Tất cả chúng ta là đắm chìm trong cảm giác, không có chánh niệm tỉnh giác, không có kiểm soát, không có quán thọ ở trên thọ thì mình nhận cảm giác đó là mình.

Trong Tương Ưng Bộ Kinh, Đức Phật nói:

“Vực thẳm, vực thẳm này các tỳ-kheo kẻ vô văn phàm phu gọi đó là vực thẳm, Ta nói không có, giữa biển không có vực thẳm mà chính cảm giác này là vực thẳm thực sự, chúng sanh sẽ bị rơi xuống vực sâu của cảm giác, cảm thọ”. (Tương Ưng Bộ Kinh 4, Chương II. Tương Ưng Thọ, Phần I. Phẩm Có Kệ, bài kinh Vực Thẳm)

Chúng sanh quằn quại, đau khổ trong đó, chỉ vì cảm giác thôi mà rơi xuống khổ thú, đọa xứ và mình nhìn kỹ thì từng ngày từng giờ, từng tháng, từng năm cho đến từng nhiều năm, suốt cả cuộc đời đều chạy theo cảm giác.

Công trình của người tu

Thành tựu được Thánh trí mà Đức Phật truyền giao cho mình thì tuyệt diệu lắm! Tại vì Đức Phật tóm hết vũ trụ, vạn vật vào hết năm uẩn, gọi là vén màn bí mật của toàn thể thế giới. Trí huệ mà Đức Phật thành tựu chứng ngộ Chánh Đẳng Chánh Giác là Thánh trí năm uẩn, xuyên suốt, xuyên thủng hết tất cả sự vật thân và tâm, vật chất và tinh thần. Thử xem có gì ra khỏi năm uẩn này, chỉ một chữ sắc là bao trùm hết tất cả vật chất trên vô lượng hành tinh. Tất cả các cảm giác nghĩ, tưởng là nằm ở bốn uẩn sau thì còn có gì ra khỏi năm uẩn nữa. Đây là Thánh trí vũ trụ bao trùm hết toàn thể thế giới, cho nên người thành tựu trí huệ này là người thấu triệt được bản chất, bản thể của vũ trụ vạn vật.

Quý thầy có thể thực tập tại chỗ ngồi, quý thầy ngồi thiền sẽ thấy tuyệt diệu. Hồi xưa quý thầy ngồi chỉ thấy một đống xà bần giống như là cuộn chỉ, tơ vò rối tung không biết cái nào ra cái nào. Giờ mình nhìn là thấy từng thứ rõ ràng, biết cái nào là thọ, tưởng, hành, thức, đó là Thánh Trí bắt đầu khởi động, bước đầu nhìn thấy được chính mình. Cả công trình tu học của mình là không phải tìm hiểu đâu trên trời dưới biển, không tìm hiều ai, không cầu xin ai mà Đức Phật chỉ cho mình hiểu chính mình, mình mà mình không hiểu thì còn hiểu gì ở ngoài.

Thí dụ có một người từ khi sinh ra họ đã mù và mù 45 năm, ở trong căn nhà dơ bẩn, rác rến và hôi thúi trên 40 năm. Một hôm người mù này gặp thần y ban cho thần dược để trị liệu cho sáng mắt. Điều đầu tiên người mù này thấy trong căn nhà này là rác bẩn, dơ uế, cấu nhiễm, ô nhiễm suốt mấy chục năm chất chứa. Cho nên khi họ thấy nhà dơ nhưng chỉ ngồi nói nhà dơ, nhà rác rồi có sạch được không? Vì vậy, người này phải dọn, hốt rác, lau chùi, tẩy rửa thì mới đi đến chỗ nhà sạch thì mát. Kết hợp với Tứ Thánh Quả để cho quý thầy thấy sự tu học của mình không có nhiều, khi mình nhìn thấy tường tận, sát nhiếp được năm uẩn, thấy không có tôi, không có của tôi thì lúc đó là Nhập lưu Tu-đà-hoàn – Thánh quả thứ nhất, giống như người mù được sáng mắt và nhìn thấy được năm uẩn. Người này không còn ở trong quan niệm ngã, bản ngã, ngã sở, tôi, của tôi như từ trước đến nay nữa mà người này nhìn thấy rõ ràng, sát quyết vấn đề ở đây là năm uẩn thì người này bước vào hướng Dự lưu hoặc là Nhập lưu là Thánh quả thứ nhất, người tu đúng chánh pháp thì được bốn thành quả. Thành ra mình trồng cây mà không có trái thì lạ nhưng có trái thì là bình thường. Cho nên mình tu, nghe Thánh quả mà sợ là bất thường, là người đó tu không đúng, còn người trồng đúng phương pháp, giống tốt thì người này không những ra trái mà còn là trái tốt nữa.

Như vậy, bốn thành quả của một người tu theo đúng Chánh pháp gồm thành quả thứ nhất là mở con mắt sáng, pháp nhãn thanh tịnh, minh sanh, trí sanh, tuệ sanh, tri kiến sanh, Thánh tri kiến. Thành tựu là thấy được năm thủ uẩn thì “ôi chao, khủng khiếp quá, thiệt là khủng khiếp thiệt là xót xa, thiệt là không thể nào ngờ nổi, sốc toàn tập”. Sốc là do đầy dẫy những cấu nhiễm trong nội tâm của mình kinh khiếp từ xưa giờ nhưng không thấy, cứ nghĩ mình là ngon, là ta đây, hơn thiên hạ, cống cao, ngã mạn, khen mình, chê người, dương dương tự đắc. Bây giờ mới thấy xấu hổ nhục nhã, tàm quý, gục mặt xuống, đó là bậc Thánh. Phải từ nơi xấu hổ, nhục nhã mà tiến tới Nhập lưu Thánh quả. Khi một người thấy được nội tâm, thấy được năm uẩn họ sẽ nhìn thấy được những cấu nhiễm, ô nhiễm đầy dẫy bên trong, người này bắt đầu hốt rác, hốt những rác thô đổ bỏ đó là Thánh quả thứ hai. Thánh quả thứ ba là sau khi hốt rác thô thì bắt đầu hốt những rác nhỏ nhặt trong kẹt tủ, kẹt bàn, kẹt giường, quét, móc, moi ra, quét hết. Sau khi quét hết, người này tẩy rửa, lau chùi sạch sẽ hoàn toàn không còn một chút mùi hôi nữa thì đó là Thánh quả thứ tư, cứu cánh của bậc A-la-hán.

Đó là toàn bộ công trình tu hành của người xuất gia, chứ không phải hướng ra ngoài, cầu xin ai, không ai ban cho mình được gì hết, mà chính mình phải làm công tác vệ sinh, tẩy rửa, diệt tận nhiễm ô là công việc duy nhất của đời sống phạm hạnh. Diệt tận trong cảm giác, dục, tham ái, vô minh, bản ngã. Nào giờ mình chỉ nghe dục lậu, hữu lậu, vô minh lậu chứ mình chưa thấy mà mình thấy ra rồi là khủng khiếp. Ba trạng thái lậu hoặc này là những trạng thái ngấm ngầm, hành động âm thầm qua mặt mình mà mình không hề hay biết. Nó điều khiển toàn bộ chúng sanh, tất cả chúng ta Đức Thế Tôn nói là nô lệ cho dục, nô lệ cho ái, nô lệ cho tham. Nó sai khiến cho mình chạy đến già cũng không dừng lại được vì nó nung từ trong cảm thọ từ dưới nung lên. 70, 80 tuổi rồi mà hãm hiếp đứa bé gái, bé gái chưa đầy một tuổi, đó là trạng thái hoạt động của dục lậu. Cho nên mình nhìn ra sự khủng khiếp, kinh sợ, khủng bố của tất cả những cái ở bên trong mình, càng thành tựu trí huệ thâm sâu chúng nào thì người đó càng thấy rác nhiều chừng đó, thấy rác nhiều chừng nào thì trí huệ càng sáng tỏ chừng đó. Còn người chỉ nhìn thấy mình thì người đó là phàm phu, hãy thấy được mình một cách thâm sâu, chỉ cần nó rục rịch, manh nha thì “Ta đã phát hiện ra mi rồi nha, đừng có quậy ta nha, ta khốn khổ với mi bao nhiêu năm nay là vừa đủ rồi, ta đã đau khổ với mi bao nhiêu ngày, tháng, năm rồi, ngươi đi đi, tan biến, đi ra khỏi đi đùng làm hại ta nữa”.

Lang thang bao kiếp sống

Ta tìm nhưng chẳng gặp,

Người xây dựng nhà này,

Khổ thay, phải tái sanh.”

Ôi ! Người làm nhà kia

Nay ta đã thấy ngươi!

Ngươi không làm nhà nữa.

Đòn tay ngươi bị gẫy,

Kèo cột ngươi bị tan

Tâm ta đạt tịch diệt,

Tham ái thảy tiêu vong.

(Kinh Pháp Cú – Phẩm Già)

Đó chính là bài kệ của Đức Phật dưới cội bồ đề, khi Đức Phật thành tựu Thánh trí năm uẩn. Ngài phát hiện ra thật sự là một tên thủ phạm, đại ma đầu thâm sâu, ngấm ngầm hoạt động ở phía sau bức màn, giựt sợi dây cho chúng sanh chạy, truy đuổi tìm cầu trong vô lượng kiếp là dục tham. Coi chừng nó trá hình ở những cái này, nọ, kia và mình đều bị nó gạt hết. “Này các tỳ-kheo tất cả chúng sanh là bị sắc lừa, cảm giác, tưởng, suy nghĩ hành, thức lừa gạt, tất cả là dối lừa”. chúng ta bị một cú lừa đau đớn, 1 tỉ kiếp rồi, 3000 tỉ kiếp nữa chúng ta cũng sẽ bị lừa. Nếu chúng ta không thành tựu Thánh trí năm uẩn này thì còn bị lừa dài dài, mãi mãi, bất tận.

Chỉ có thành tựu Thánh trí này mới nhìn ra tên đại ma đầu, bạch cốt tinh mà con mắt Đường Tăng không nhìn ra được, chỉ có mắt tròng vàng 7*7 49 ngày trong lò bát quái mới nhìn ra được ngũ uẩn này là yêu tinh, là bạch cốt tinh. Chỉ có Thánh trí này mới nhìn ra được dục lậu, hữu lậu và vô minh lậu, nhìn ra được tất cả những gì xảo trá, gian nguy, hiểm độc, hiểm ác của tất cả các phiền não đang trú ẩn bên trong năm uẩn. Hãy dùng các binh khí: Tứ Niệm Xứ, Tứ Chánh Cần, Tứ Như Ý Túc, Ngũ Căn, Ngũ Lực, Thất Căn, Thất Bồ Đề, tất cả 37 Phẩm Trợ Đạo để diệt tận năm thủ uẩn này thì đó là tinh thần của chiến sĩ, dũng sĩ, tinh thần của đại sĩ và vô thượng sĩ.

Kính chúc quý thầy trở thành bậc chiến sĩ ở trong Chánh pháp.

./.