Thư Viện Linh Quy
← Danh sách

Tịnh Hóa Ba Nghiệp Quả

2026-03-03 00:52:13
Tịnh Hóa Ba Nghiệp Quả

Điểm khác biệt giữa người tu và người đời nằm ở chỗ ba nghiệp Thân, Miệng và Ý được tịnh hóa. Nhờ sự nghiêm trì Giới luật và giữ gìn oai nghi tế hạnh, mà đời sống của người xuất gia trở nên cao thượng và có thể tu tập trên con đường Thánh đạo một cách an lành. Hằng ngày, người xuất gia đều quy hướng hành động, lời nói hay ý nghĩ của mình đúng theo con đường tám Đúng tuyệt đối và tuyệt diệu để nhằm đạt đến chỗ giải thoát rốt ráo. Không có sự thấy biết chân chánh, mọi việc làm, hành động, lời nói và ý nghĩ của người tu đều sai trật đối với chánh pháp và không thể đạt đến mục đích Phạm hạnh sau cùng của người tu. Chính nhờ có Chánh tri kiến dẫn đường, mà người tu mới thanh tịnh hóa được ba nghiệp là Chánh mạng (Thân hành), Chánh ngữ (Khẩu hành) và Chánh tư duy (Ý hành) đúng với lời dạy của đức Phật.

Có thể nói quy luật Thần thánh của Bát chánh đạo là tuyệt luân, tuyệt diệu và tuyệt đối. “Bát chánh là độc đạo, an ổn và bất tử”, ngoài ra không còn con đường nào khác hơn nữa. Bát chánh đạo giống như một vòng xoay của Thánh pháp có công năng đào thải những người không có tâm tu học giải thoát và trợ giúp thúc đẩy cho những người muốn cầu xuất ly được đi vào dòng pháp hay vòng xoay Thánh đạo một cách vững chắc. Người này nhất định sẽ đi đến chỗ an ổn và bất tử! Công năng tự động của Bát chánh đạo này tuyệt diệu vô cùng!

Nếu hành giả thâm nhập được vào trong vòng xoay đó rồi, sẽ tự động cảm nhận được sức vận chuyển, chuyên chở giúp làm cho tất cả các chi phần Thánh đạo của mình được viên mãn. Trái lại, bất cứ một người tà vạy, tà kiến, dối gian hay không chân chánh, đều không thể bước vào vòng xoay Thánh này và nhất định họ sẽ bị hất văng ra rơi khỏi nơi đó. Chỉ có người tu chân chánh mới thể nhập được pháp chân chánh. Đây là điều đặc biệt hết sức thâm sâu trong hệ nhân quả và rất chuẩn xác. Người không có tâm tầm cầu giác ngộ xuất ly, thì chắc chắn không thể thâm nhập vào Thánh pháp này. Do đó, hành giả cần phải dấng thân vào con đường này, đem hết thời gian, tâm lực, trí lực và sức lực để đầu tư vào sự nghiệp bất tử này. Đây là chỗ đại bình an của mọi người xuất gia, mà ngay cả trời đất cũng phải đồng lòng tán thành Thánh pháp đó!

Ngoài Bát chánh đạo ra, còn có Tứ Thánh quả phối hợp trở thành một con đường duy nhất để đưa đến cảnh giới bất tử của bậc Thánh. Bất cứ ai đi trên con đường này, chắc chắn sẽ bước vào thế giới bất tử! Vì vậy hành giả hãy hân hoan lên và vui sướng lên để nung nấu ý chí mãnh liệt, tinh tấn bước đi trên con đường này! Ác nhân, Tà nhân chắc chắn không thể bước vào dòng Thánh, chỉ có bậc Chân nhân mới thể nhập được Chánh đạo và bậc Hiền nhân mới thành tựu được Thánh pháp. Hiện tại Linh Quy Pháp Ấn đang xoay chuyển bánh xe Đại pháp của ba ngàn năm, cho nên hành giả mau chóng chỉnh sửa tâm ý hiền từ, chân chánh và tinh thần tha thiết cầu học để thể nhập vào Thánh trí. Cánh cửa Thánh trí từng ngày từng giờ đang mở ra để cho hành giả đi vào, đừng chần chờ mà làm mất cơ hội ‘tỉ năm mới có một lần’ này! Và một khi bị hất tung ra khỏi vòng xoay của Thánh pháp này rồi, thì hành giả sẽ bị rơi lọt vào trong cành khổ của vô minh luân hồi đau khổ, không biết đến bao giờ mới tìm lại được nữa!

Trong bài kinh Giáo Giới La-Hầu-La thuộc Tạng kinh Trung Bộ II, diễn tả hình ảnh đức Thế Tôn chỉ dạy cho con cưng của Ngài là Tôn giả La-hầu-la về những điều thiết yếu để tịnh hóa ba nghiệp. Lúc đó đức Thế Tôn ở tại thành Vương xá (Rajagaha), Trúc Lâm (Veluvana), trong khu rừng Ambala, chỗ có nuôi dưỡng những con sóc.

“Vào buổi chiều, sau khi thiền định, đức Thế Tôn đứng dậy đi đến chỗ Ambalatthika, là chỗ của ngài La-hầu-la. Nhìn thấy đức Thế Tôn đi từ xa đến, Tôn giả La-hầu-la (Rahula) đã sửa soạn chỗ ngồi và xách nước để rửa chân cho đức Thế Tôn. Đức Thế Tôn đến ngồi ở chỗ soạn sẵn rồi Tôn giả La-hầu-la rửa chân cho Ngài và đảnh lễ Đức Thế Tôn và ngồi xuống một bên. Đức Thế Tôn nhìn thấy còn một ít nước ở trong chậu mới bảo với ngài La-hầu-la:

- Này La-hầu-la! Con có thấy ít nước còn lại trong chậu không?

Tôn giả La-hầu-la thưa rằng:

- Dạ thưa vâng, bạch Thế Tôn, con thấy!

Đức Thế Tôn dạy:

- Này La-hầu-la! Cũng ít như vậy, là hạnh Sa-môn của người nào biết mà nói láo, không hổ thẹn và sợ hãi.

Sau đó, đức Thế Tôn lấy chút nước đó đổ ra và hỏi:

- Con có thấy chút nước này bị đổ đi không?

Tôn giả La-hầu-la thưa rằng:

- Dạ, bạch Thế Tôn! Con thấy.

Đức Thế Tôn dạy:

- Cũng vậy đó, La-hầu-la! Hạnh Sa-môn của người nào biết mà nói láo, không có không hổ thẹn và sợ hãi thì cũng bị đổ đi giống như vậy!

Kế đến, đức Thế Tôn mới lật úp chậu nước lại và hỏi:

- Con có thấy cái chậu nước này bị lật úp không?

Tôn giả La-hầu-la thưa rằng:

- Dạ bạch Thế Tôn, con thấy!

Đức Thế Tôn dạy:

- Cũng vậy, này La-hầu-la! Hạnh Sa-môn của những người nào biết mà nói láo đó, không có xấu hổ và sợ hãi đối với hành vi đó của mình, thì cái hạnh của người đó giống như bị lật úp lại vậy!

Cuối cùng, đức Thế Tôn lật ngửa cái chậu lên và hỏi:

- Con có thấy cái chậu nước này trống hay không?

Tôn giả La-hầu-la thưa rằng:

- Dạ bạch Thế Tôn, con có thấy!

Đức Thế Tôn dạy:

- Cũng trống không như vậy, này La-hầu-la! Các Sa-môn hạnh của người nào biết mà nói láo”.

Một là chỉ còn một ít nước; hai là nước bị đổ đi; ba là cái chậu bị lật úp xuống; bốn là cái chậu trống rỗng không còn gì hết. Chỉ với bốn câu nói, đức Phật đã chỉ bày cái tật xấu, khuyết điểm nói láo, không chân thật của người tu. Hạnh Sa-môn hay hạnh tu của người không chân thật, nói láo cũng giống như một cái chậu trống rỗng không còn có gì nữa và chỉ đáng bỏ đi. Đây là đức Phật đang chỉ dạy người xuất gia về Chánh ngữ! Lời nói của người tu phải chân chánh, và luôn nói thật. Hành giả tự mình kiểm tra xem có thường bị phạm vào lỗi này nhiều không? Ví dụ, khi làm điều gì sai mà Thầy, Sư huynh hay bất cứ người nào chỉ dạy, là chúng ta không chịu phản tỉnh mà trả lời liền, hoặc quanh co chối tội hoặc là đổ thừa cho người khác. Những lời nói như vậy chính là sự nói láo của người tu.

Đức Phật dùng hình ảnh con voi của nhà vua có cặp ngà dài để ví dụ cho sự hỗ thẹn và sợ hãi của người xuất gia như sau:

“Này La-hầu-la! Ví như con voi của nhà vua có cặp ngà dài như cái cán cày to lớn, khéo luyện, thường có mặt ở chiến trường. Khi lâm trận, con voi dùng hai chân trước, hai chân sau, dùng thân phần trước và thân phần sau, dùng đầu, hai lỗ tai, dùng ngà và dùng cái đuôi để tấn công kẻ thù, nhưng bảo vệ cái vòi. Người nài nghĩ rằng: ‘Con voi như vậy không quăng bỏ mạng sống của chính nó’.

Này La-hầu-la! Ví như con voi của nhà vua có cặp ngà dài như cái cán cày to lớn, khéo luyện, thường có mặt ở chiến trường. Khi lâm trận, con voi dùng hai chân trước, hai chân sau, dùng thân phần trước và thân phần sau, dùng đầu, hai lỗ tai, dùng ngà, dùng cái đuôi và dùng cái vòi để tấn công kẻ thù. Người nài nghĩ rằng: ‘Con voi như vậy đã quăng bỏ mạng sống của chính nó. Nay con voi của nhà vua không có việc gì mà không làm’.

Cũng vậy, này La-hầu-la! Đối với ai biết mà nói láo, không có xấu hổ và sợ hãi, thì người ấy không có việc gì ác mà không dám làm! Do vậy, này La-hầu-la! Con cần phải học tập như sau: ‘Ta quyết không nói láo, dù nói để chơi!’.

Cái vòi của con voi là một bộ phận rất quan trọng nếu bị mất vòi nó có thể bị chết và không còn hình ảnh của con voi nữa. Chiếc vòi dài là một trong những đặc điểm giúp nhận diện ra ngay đó là con voi hay loài voi. Chiếc vòi cũng mang một ý nghĩa quan trọng trong cuộc sống của loài voi, vì chúng thường sử dụng cái vòi để lấy thức ăn, để cầm nắm, lượm nhặt đồ vật, cũng như dùng để uống nước và sinh hoạt hằng ngày. Chiếc vòi chính là cánh tay đắc lực không thể thiếu của loài voi. Thật khó mà hình dung được cuộc sống của nó sẽ như thế nào, nếu đã mất đi chiếc vòi quan trọng. Cách đây cũng lâu rồi, có một bài báo đăng tin một con voi bị tai nạn và mất cái vòi. Con voi đó rất buồn bã và đau đớn vì bị mất cái vòi. Đó cũng là hình ảnh đau lòng nhất, nếu chúng ta được chứng kiến!

Đồng thời chiếc vòi đó cũng là biểu tượng quan trọng nhất của voi, chỉ cần nhìn cái vòi, thì người ta biết được đó là con voi, mà những loài khác không có. Cho nên, những nhãn hiệu keo dán hay nhang muỗi, người ta chỉ cần quảng cáo chiếc đầu với cái vòi là đủ diễn đạt được sức mạnh của sản phẩm.

Cũng vậy, sự chân thành, chân thật của người tu là tính cách hết sức quan trọng không thể thiếu, là đặc chất của người xuất gia! Thiếu mất điều này, thì hành giả sẽ không còn là người tu đúng nghĩa nữa. Chỉ có người có tâm chân thành, chân thật mới có thể tiếp nhận được giáo pháp chân chánh. Tuy nhìn thấy điều đó thật đơn giản như vậy, mà khi thực hành thì không có giản đơn một chút nào! Cho nên, hạng người gian dối, xảo trá, không có tâm cung kính thì nhất định không thể tiếp nhận được Chân pháp.

Hành giả cần học thuộc câu này: ‘Ta quyết không nói láo, dù là nói chơi!’. Vì nói chơi lâu ngày sẽ quen miệng và lúc đó sẽ nói láo không ngượng miệng nữa. Và như vậy sẽ phá hủy đi phẩm chất thanh cao của một người tu và không còn có thể đi trên con đường của bậc Thánh nữa. Đồng thời sự nói láo hay sự nói năng tùy tiện không đúng thời và hợp pháp sẽ đưa đến nghiệp quả nặng nề rất khó suy lường về sau. Cho nên hành giả cần hết sức thận trọng giữ gìn cái miệng của chính mình, mà không thể xem thường!

“Đức Thế Tôn hỏi:

- Này La-hầu-la! Con nghĩ như thế nào, mục đích của cái gương là gì?

Tôn giả La-hầu-la thưa rằng:

- Bạch đức Thế Tôn! Mục đích của cái gương là để phản tỉnh!

Đức Thế Tôn dạy rằng:

- Cũng vậy, này La-hầu-la! Sau khi phản tỉnh nhiều lần, hãy hành thân nghiệp. Sau khi phản tỉnh nhiều lần, hãy hành khẩu nghiệp. Sau khi phản tỉnh nhiều lần, hãy hành ý nghiệp”.

Chữ ‘Hành’ ở đây có nghĩa là hành động ở nơi ba nghiệp: Thân, Miệng và Ý. Đức Phật răn nhắc hành giả mục đích soi gương, tức là xét lại nội tâm phản tỉnh nhiều lần, rồi sau đó mới nên làm, lúc đó mới nên nói, phải xét đi xét lại nhiều lần rồi lúc đó hãy quyết định cũng chưa muộn. Đó chính là ý nghĩa của hành thân nghiệp, hành khẩu nghiệp, hành ý nghiệp.

* Nhiếp Phục Thân Hành

“Này La-hầu-la! Khi con muốn làm một thân nghiệp nào đó, con hãy phản tỉnh về thân nghiệp đó như sau: ‘Thân nghiệp này của ta có thể đưa đến hại mình, có thể đưa đến hại người, có thể đưa đến hại cả hai. Thời thân nghiệp này là bất thiện, đưa đến đau khổ, đem đến quả báo đau khổ. Này La-hầu-la! Một thân nghiệp như thế, nhất định chớ có làm!”.

Cái này là tấm gương báu của người xuất gia dùng để soi rọi lại bản thân, gọi là ‘Pháp kính’. Khi muốn làm một việc gì đó, hành giả đừng vội làm liền, mà hãy xem xét lại việc đó nhiều lần một cách cẩn thận. Sử dụng trí huệ để xét kỹ việc làm này có hại bản thân, hay có hại cho người khác, hoặc là có hại cho cả hai hay không? Hành động này có bất thiện đưa đến đau khổ hay không? Nếu là bất thiện nhất định sẽ đưa đến quả báo của đau khổ, mà không phải chỉ làm xong là hết không còn gì nữa! Ví dụ chúng ta đánh đập người kia, lập tức họ sẽ đánh trả lại. Ngay tại chỗ đó là đau khổ! Hoặc nếu ngay lúc đó người kia không đánh lại được, thì họ cũng không để yên và sẽ đợi lúc khác tìm cách đánh trả thù. Hậu quả của việc làm đó gây khổ đau cho bản thân, khổ đau cho người khác và cả hai đều bị đau khổ. Chính vì xét kỹ hậu quả của những điều đó là bất thiện đau khổ, nên nhất định hành giả không bao giờ làm!

Trái lại, đức Phật cũng dạy rằng: “Này La-hầu-la! Nếu sau khi phản tỉnh mà con biết: ‘Thân nghiệp này của ta không có thể đưa đến hại mình, không có thể đưa đến hại người, không có thể đưa đến cả hai. Thời thân nghiệp này là thiện, đưa đến an lạc, đem đến quả báo an lạc’. Này La-hầu-la! Một thân nghiệp như vậy, con nên làm!”.

Việc phân biệt rõ cái nào là thiện và cái nào là ác không phải là việc đơn giản như hành giả nghĩ! Suốt cuộc đời của mình, hành giả phải luôn phản tỉnh rất nhiều lần, thường xuyên xét nhìn lại, kiểm tra lại và rà soát lại xem kỹ đó là thiện hay là bất thiện trước khi làm, trước nói và trước khi quyết định. Nếu thật điều đó là bất thiện, là ác, đưa đến đau khổ thì nhất định chớ có làm. Ngược lại, nếu việc đó là thiện, đưa đến an lạc, đưa đến quả báo an vui thì nên gắng sức làm.

Ở phần trên, đức Phật dạy hành giả xét kỹ đối với những việc thiện hoặc ác sắp làm, phải nên xét kỹ lưỡng. Đến đây, Ngài lại chỉ bày cách điều phục thân hành hay thân nghiệp đối với việc đang làm. Đức Phật dạy: “Này La-hầu-la! Khi con đang làm một thân nghiệp. Con cần phải phản tỉnh thân nghiệp đang làm đó như sau: ‘Thân nghiệp này ta đang làm. Thân nghiệp này của ta đưa đến hại mình, đưa đến hại người, đưa đến hại cả hai. Thời thân nghiệp này là bất thiện, đưa đến đau khổ, đem đến quả báo đau khổ. “Này La-hầu-la! Con hãy từ bỏ cái thân nghiệp như vậy!

“Này La-hầu-la! Nhưng nếu sau khi phản tỉnh mà con biết: ‘Thân nghiệp này ta đang làm không đưa đến hại mình, không đưa đến hại người, không đưa đến cả hai. Thời thân nghiệp này là thiện, đưa đến an lạc, đem đến quả báo an lạc’. Này La-hầu-la! Một thân nghiệp như vậy, con cần phải tiếp tục làm!”.

Khi thân đang làm việc mà xét thấy điều đó là bất thiện đưa đến khổ đau, thì cũng phải dừng lại, từ bỏ không làm nữa. Trái lại, nếu hành giả xét kỹ thấy rõ việc đang làm là thiện, đưa đến quả báo an vui, thì hãy nỗ lực làm.

Đức Phật dạy thêm rằng: “Này La-hầu-la! Sau khi con làm xong một thân nghiệp. Con cần phải phản tỉnh thân nghiệp đã làm đó như sau: ‘Thân nghiệp này của ta đưa đến hại mình, đưa đến hại người, đưa đến hại cả hai. Thời thân nghiệp này là bất thiện, đưa đến đau khổ, đem đến quả báo đau khổ. “Này La-hầu-la! Một thân nghiệp như vậy, con cần phải thưa lên, tỏ lộ, cần phải trình bày trước các vị Đạo sư, hay là với các vị đồng Phạm hạnh có trí. Sau khi đã thưa lên, tỏ lộ, trình bày, cần phải phòng hộ trong tương lai!

“Này La-hầu-la! Nếu như trong khi con phản tỉnh, mà con biết như sau: ‘Thân nghiệp ta đã làm này không đưa đến hại mình, không đưa đến hại người, không đưa đến hại cả hai. Thời thân nghiệp này là tốt, đưa đến an lạc, đem đến quả báo an lạc. Do vậy, này La-hầu-la! Con phải an trú trong niềm hoan hỷ, tự mình tiếp tục tu học ngày đêm ở trong các thiện pháp”.

Đối với những việc mà hành giả đã lỡ làm rồi mà điều đó là bất thiện, phải nên đến trước các bậc Thầy hay các vị đồng tu có giới đức để phát lồ sám hối mong được chỉ dạy và từ đó không còn buông lung tâm ý tái phạm nữa.

Còn đối với việc sắp làm, đang và ngay cả những việc đã làm rồi, nhưng sau khi phản tỉnh nhiều lần rồi thấy cái này là thiện, cái này là tốt, cái này là quả báo an lạc, an vui thì đức Phật khuyên hành giả phải an trú trong niềm hoan hỷ. Chỗ này rất thú vị đối với người xuất gia, bởi vì nhiều khi làm việc thiện, mà bản thân cứ trơ trơ, không thấy vui. Chính vì có sự thờ ơ trong việc thiện, cho nên hành giả không phát huy được sự hỷ lạc ở trong khi tu học. Nếu như hành giả không khéo tu hỷ tâm, trong suốt quá trình tu học rất dễ bị trì trệ tinh thần và làm cho nản chí đến nỗi bị rơi rớt. Cho nên bất cứ khi nào cảm thấy sự tu học trì trệ, thì lúc đó hành giả cần làm cho bản thân phát khởi tâm hỷ lạc đối với giáo pháp.

Việc khó làm thứ hai của người xuất gia mà bài kinh Khó Làm đề cập tới chính là có được sự hoan hỷ ở trong đời sống Phạm hạnh. Trong các thời khóa ngồi thiền, nghe pháp, hành trì, nếu hành giả chỉ làm cho mặt mà không khéo tác ý là sự tu tập đó dẫn đến sự an vui của bậc Thánh mà không phải ai cũng có được, thì sẽ không có được hoan hỷ. Cho nên trong mọi sự tu tập, hỷ lạc giữ vai trò hết sức quan trọng. Khi chấp nhận học pháp với tâm nhu nhuyến dễ sử dụng theo lời người Thầy, bậc Thiện tri thức hướng dẫn, lúc đó cảm thọ của hành giả sẽ sanh ra sự hỷ lạc ở trong giáo pháp. Cho nên Sơ thiền chính là sự hỷ lạc thấm hết toàn bộ cơ thể, từng đỉnh đầu cho đến gót chân, không có chỗ nào là không.

* Nhiếp Phục Khẩu Nghiệp

Đức Phật dạy: “Này La-hầu-la! Khi con muốn làm một khẩu nghiệp nào đó, con hãy phản tỉnh về khẩu nghiệp đó như sau: ‘Khẩu nghiệp này của ta có thể đưa đến hại mình, có thể đưa đến hại người, có thể đưa đến hại cả hai. Thời khẩu nghiệp này là bất thiện, đưa đến đau khổ, đem đến quả báo đau khổ. Này La-hầu-la! Một khẩu nghiệp như thế, nhất định chớ có làm!”.

“Này La-hầu-la! Nếu sau khi phản tỉnh mà con biết: ‘Khẩu nghiệp này của ta không có thể đưa đến hại mình, không có thể đưa đến hại người, không có thể đưa đến cả hai. Thời thân nghiệp này là thiện, đưa đến an lạc, đem đến quả báo an lạc’. Này La-hầu-la! Một khẩu nghiệp như vậy, con nên làm!”.

Nếu cái miệng của hành giả nói những lời có thể đưa đến hại mình, hại người hay hại cả hai, thì chính cái miệng đó sẽ đưa đến quả báo đau khổ. Như vậy, hành giả cần phải phản tỉnh, xét tới lui thật kỹ nhiều lần và thấy được hậu quả của lời nói sẽ đưa tới, cho nên không nói. Nếu trong gia đình hay trong một cơ quan, đạo tràng thực hiện được việc này thì mọi người sẽ không có gây gổ, trong gia đình sẽ không có xào xáo, trong đạo tràng sẽ luôn có bình an hài hòa. Cho nên trong mọi sinh hoạt hằng ngày, hành giả cần luôn nhớ phản tỉnh, suy xét kỹ từng câu nói, biết rõ khẩu nghiệp đó là bất thiện là ác thì không nên nói, để không làm não loạn và gây hại cho mình và mọi người.

Sự nói nhanh hay trả lời mau chóng là một việc rất nguy hiểm đối với người tu. Do không có sự phản tỉnh kiểm soát những việc nhỏ và bình thường, thì tới khi gặp những chuyện lớn bất thình lình, ồ ạt xảy đến là bị chết liền! Cho nên hằng ngày, hành giả dám va chạm với những chuyện nhỏ ở trong chùa để rèn luyện cho quen, đến khi có việc to lớn quan trọng hoặc những lúc nguy cấp bất thình lình, cần phải quyết định lập tức, thì đều có thể ứng phó một cách nhẹ nhàng!

Đến đây, Ngài lại chỉ bày cách điều phục khẩu hành hay khẩu nghiệp khi đang nói. Đức Phật dạy: “Này La-hầu-la! Khi con đang làm một khẩu nghiệp. Con cần phải phản tỉnh khẩu nghiệp đang làm đó như sau: ‘Khẩu nghiệp này ta đang làm. Khẩu nghiệp này của ta đưa đến hại mình, đưa đến hại người, đưa đến hại cả hai. Thời khẩu nghiệp này là bất thiện, đưa đến đau khổ, đem đến quả báo đau khổ. “Này La-hầu-la! Con hãy từ bỏ cái khẩu nghiệp như vậy!

“Này La-hầu-la! Nhưng nếu sau khi phản tỉnh mà con biết: ‘Khẩu nghiệp này ta đang làm không đưa đến hại mình, không đưa đến hại người, không đưa đến cả hai. Thời khẩu nghiệp này là thiện, đưa đến an lạc, đem đến quả báo an lạc’. Này La-hầu-la! Một khẩu nghiệp như vậy, con cần phải tiếp tục làm!”.

Phía trên là từ bỏ lời nói muốn nói, còn bây giờ là từ bỏ lời đang nói, nếu phản tỉnh xét thấy đó là khẩu nghiệp ác hay bất thiện dưa đến hại mình và mọi người. Trái lại, nếu như hành giả phản tỉnh và thấy cái khẩu nghiệp này là thiện và lành, thì hãy tiếp tục nói.

“Này La-hầu-la! Sau khi con làm xong một khẩu nghiệp. Con cần phải phản tỉnh khẩu nghiệp đã làm đó như sau: ‘Khẩu nghiệp này của ta đưa đến hại mình, đưa đến hại người, đưa đến hại cả hai. Thời khẩu nghiệp này là bất thiện, đưa đến đau khổ, đem đến quả báo đau khổ. “Này La-hầu-la! Một khẩu nghiệp như vậy, con cần phải thưa lên, tỏ lộ, cần phải trình bày trước các vị Đạo sư, hay là với các vị đồng Phạm hạnh có trí. Sau khi đã thưa lên, tỏ lộ, trình bày, cần phải phòng hộ trong tương lai!

“Này La-hầu-la! Nếu như trong khi con phản tỉnh, mà con biết như sau: ‘Khẩu nghiệp ta đã làm này không đưa đến hại mình, không đưa đến hại người, không đưa đến hại cả hai. Thời khẩu nghiệp này là tốt, đưa đến an lạc, đem đến quả báo an lạc. Do vậy, Này La-hầu-la! Con phải an trú trong niềm hoan hỷ, tự mình tiếp tục tu học ngày đêm ở trong các thiện pháp”.

Muốn nói, đang nói và đã nói rồi, cả ba thời luôn luôn phản tỉnh. Người tu không nên nói càn, nói bừa, không cần suy nghĩ lời nói hay lỡ nói sai rồi mà không chịu nhận lỗi, trái lại còn tự xem mình là nói hay. Những việc nói mà không kiểm soát lời nói và không biết hỗ thẹn trong lời nói là việc làm rất nguy hiểm! Người xưa nói rằng: “Họa tùng khẩu xuất!”, tức là tai họa xảy đến đều từ nơi cái miệng này. Cho dù người kia có làm sai, nhưng nếu hành giả không phản tỉnh mà nổi nóng khó chịu, rầy la nhẹ cũng làm cho tâm của mình không an ổn và ray rứt. Đức Phật có dạy người tu rằng: “Cần phải lo âu, cần phải tàm quý, cần phải nhàm chán khi lo âu, xấu hổ, sợ hãi, nhàm chán cần phải phòng hộ trong tương lai!”.

Lo âu, xấu hổ và sợ hãi và nhàm chán với những điều sai quấy đó, người tu không cho phép nó nó tồn tại, tái diễn như vậy nữa. Đây là một pháp nội soi, nội quán, tuyệt với của Phật giáo! Nếu người tu lầm nghĩ rằng: ‘Bây giờ mình là người đứng đầu hay mình là Trụ trì, mình là ông chủ, mọi cái mà mình nói hay làm đều là đúng!’ chết hết, chết không có đất chôn! Nếu không căn cứ theo Thánh pháp, Thánh giáo, Chánh pháp để tu tập thì sẽ gặp nhiều hiểm nguy!

“Và nếu như trong khi phản tỉnh, mà con biết lời nói đó không phải là bất thiện. Con phải an trú trong niềm hoan hỷ, tự mình tiếp tục tu học, ngày đêm trong các thiện pháp”. Đây là Chánh ngữ trong Bát chánh đạo mà đức Phật chỉ dạy cho Tôn giả La-hầu-la và cũng dạy cho tất cả người tu.

Trong kinh Tăng Chi Bộ IV, đề tài câu chuyện số một: “Lúc đó, Đức Thế Tôn ở Savatthi, ở chỗ ông Cấp-Cô-Độc, thì lúc bấy giờ có rất nhiều Tỳ-Kheo sau buổi ăn và khi Đức Phật sau khi đi khất thực trở về, ngồi tụ họp ở tại hội trường để ăn cơm. Thì mấy vị này đang chú tâm vào những câu chuyện phù phiếm sai khác: câu chuyện về Vua, câu chuyện về ăn trộm, câu chuyện về đại thần, về quân đội. Và về những câu chuyện về sợ hãi (chuyện ma). Những câu chuyện về ăn uống, vải mặc, đồ nằm, vòng hoa, đồ hương, các xe cộ, làng mạc, thị trấn, thành phố, quốc độ, đàn bà, anh hùng và những câu chuyện bên lề đường. Những câu chuyện ở chỗ lấy nước, những câu chuyện sai khác về thế giới, về biển và các câu chuyện về hữu, về phi hữu.

Rồi Thế Tôn từ buổi chiều thiền định đứng dậy và đi đến hội trường. Sau khi đến cái chỗ đã được soạn sẵn, Thế Tôn mới bảo với các Tỳ-kheo rằng:

- Các ông hội họp ở đây để nói về chuyện gì vậy? Nói về những vấn đề gì vậy? Câu chuyện gì chưa bàn ở các Thầy chưa bàn xong vậy? Các Thầy đang bàn luận gì mà khi Ta đến bị ngắt ngang vậy?

Các vị Tỳ-kheo thưa rằng:

- Bạch Thế Tôn! Sau khi buổi ăn, đi khất thực trở về… Chúng con đang chú tâm trong các câu chuyện phù phiếm!

Đức Thế Tôn quở trách rằng:

– Này các Tỳ-Kheo! Như vậy thật là không xứng đáng cho các Thầy, là những Thiện nam từ bỏ mà xuất gia và sống không gia đình lại có thể sống sai khác, sống không đúng đắn, sống sai lầm, với những câu chuyện như vậy!

Các Thầy bỏ cha, bỏ mẹ, bỏ anh, bỏ em và bỏ ông bà, cô bác hết như vậy vì lòng tin các Thầy xuất gia. Tại sao các Thầy có thể sống một cuộc sống sai lầm như vậy? Tại sao các Thầy có thể nói những câu chuyện như vậy?

- Này các Tỳ-kheo! Có mười đề tài giảng giải, các Thầy muốn nói chuyện, thì hãy nói chuyện trong mười đề tài này: câu chuyện về ít dục, câu chuyện về biết đủ, câu chuyện về xa lìa, viễn ly, câu chuyện về không có tụ hội, câu chuyện về tinh tấn, câu chuyện về Giới, về Định, về Tuệ, về Giải thoát và về Giải thoát tri kiến. Này các Tỳ-kheo! Nếu mà các Thầy liên hệ đến mười đề tài này để nói chuyện, thời các Thầy với ánh sáng của mình sẽ đánh bạt ánh sáng của mặt trời và mặt trăng, những vật có đại thần lực, có quy luật còn nói gì về các đề tài triết học, triết thuyết của du sĩ, ngoại đạo!”

Thật tuyệt vời nếu hành giả khéo vận dụng mười đề tài này để đánh bạt hết những chủ thuyết của thế gian. Đó chính là lời nói siêu việt vượt lên trên hết tất cả mọi lý luận, và có khả năng đưa người tu đến chỗ chấm dứt sầu, bi, khổ, ưu não và đạt đến Thánh trí, chứng ngộ Niết-bàn. Hành giả hãy tập nói về những câu chuyện ít muốn biết đủ, những câu chuyện về siêng năng tu tập giải thoát Giới, Định, Tuệ, Giải thoát và Giải thoát tri kiến. Ngày nào cũng thực tập nói những câu chuyện như thế chính là đang tu tập Chánh ngữ.

Trong kinh Tương Ưng Bộ V, bài kinh Tranh Luận, đức Phật khuyên nhắc rằng: “Này các Tỳ-kheo! Chớ nói những lời tranh luận với nhau. Ví dụ tôi biết các pháp và luật này, ông không biết các pháp và luật này. Ông theo tà hạnh còn tôi theo chánh hạnh. Điều đáng nói trước thì ông lại nói sau, điều đáng nói sau ông lại nói trước. Lời nói của tôi tương ưng phù hợp còn lời nói của ông không tương ưng phù hợp. Điều quan điểm của ông bị đảo lộn và bị thách đố. Hãy đi giải tỏa quan điểm của ông! Hãy đi giải tỏa bế tắc của ông, khi ông không thể làm được!

Này các Tỳ-kheo! Những câu chuyện ấy không liên hệ đến mục đích, không đưa đến sự nhàm chán, xa lìa ly tham, an tịnh thắng trí và chứng ngộ Niết-bàn”.

Đức Phật muốn chỉ dạy cho người tu đừng nên tranh luận và nói mình luôn đúng còn những người khác đều là sai, hoặc tôi phải anh quấy, hoặc tôi tu Chánh pháp còn ông tu Tà pháp…. Tại sao? Vì những câu chuyện đó không có liên hệ đến mục đích Phạm hạnh, không liên hệ đến đời sống tu học…

“Này các Tỳ-kheo! Nếu có nói, thời hãy nói đây là Khổ; đây là nguyên nhân của Khổ; đây là chỗ chấm dứt Khổ và đây là con đường diệt tận tất cả Khổ đau!

Này các Tỳ-kheo! Các lời nói này liên hệ đến mục đích, liên hệ đến đời sống Phạm hạnh, là lời nói đưa đến sự nhàm chán, xa lìa ly tham, an tịnh thắng trí và chứng ngộ Niết-bàn. Do vậy, này các Tỳ-Kheo! Một cố gắng cần phải làm để rõ biết đây là Khổ; đây là nguyên nhân của Khổ; đây là sự chấm dứt Khổ và đây là con đường đưa đến diệt tận Khổ đau!”

Những lời chỉ dạy của đức Thế Tôn thật tuyệt diệu! Không thể dùng từ nào để tán thán hết được những thâm ý của Ngài! Nếu bây giờ hành giả đã gặp được Chánh pháp vi diệu như thế, mà vẫn không chịu tu học, thì còn biết làm cái gì nữa? Nếu không chịu thực hành theo lời dạy đó, một Pháp sư lên Pháp tòa chỉ nói chuyện thị phi của người này và người kia, hoặc nói những chuyện làm cho Phật tử mất hết lòng tin đối với Tam bảo… Cho nên người đệ tử Phật nếu chịu nghe lời đức Phật dạy, thì sẽ không có những chuyện đó xảy ra. Chỉ cần người tu chịu vâng lời làm con ngoan trò giỏi đã là Hiền Thánh tăng! Chỉ cần người tu chấp nhận nghe pháp và vận dụng Như lý tác ý, Như lý tư duy là đã có thể vào bậc Nhập lưu.

Trái lại, nếu lúc nào cũng cho là bản thân là tài giỏi, khéo hay và không chịu nghe lời dạy của Thiện tri thức, thì cuối cùng bản thân sẽ mãi bị trôi dạt trong biển khổ. Đây chính là một gia tài vĩ đại, là Thánh Trí tối thượng, là Chánh biến tri của bậc Chánh Đẳng Giác truyền trao cho hậu thế, nếu chúng ta không chịu tu học, hành trì và làm hiển thị rộng rãi là một điều hết sức uổng tiếc!

* Nhiếp Phục Ý Nghiệp

“Này La-hầu-la! Khi con muốn làm một ý nghiệp nào đó, con hãy phản tỉnh về ý nghiệp đó như sau: ‘Ý nghiệp này của ta có thể đưa đến hại mình, có thể đưa đến hại người, có thể đưa đến hại cả hai. Thời ý nghiệp này là bất thiện, đưa đến đau khổ, đem đến quả báo đau khổ. Này La-hầu-la! Một ý nghiệp như thế, nhất định chớ có làm!”.

“Này La-hầu-la! Nếu sau khi phản tỉnh mà con biết: ‘Ý nghiệp này của ta không có thể đưa đến hại mình, không có thể đưa đến hại người, không có thể đưa đến cả hai. Thời ý nghiệp này là thiện, đưa đến an lạc, đem đến quả báo an lạc’. Này La-hầu-la! Một ý nghiệp như vậy, con nên làm!

“Này La-hầu-la! Khi con đang làm một ý nghiệp. Con cần phải phản tỉnh ý nghiệp đang làm đó như sau: ‘Ý nghiệp này ta đang làm. Ý nghiệp này của ta đưa đến hại mình, đưa đến hại người, đưa đến hại cả hai. Thời ý nghiệp này là bất thiện, đưa đến đau khổ, đem đến quả báo đau khổ. “Này La-hầu-la! Con hãy từ bỏ cái ý nghiệp như vậy!

“Này La-hầu-la! Nhưng nếu sau khi phản tỉnh mà con biết: ‘Ý nghiệp này ta đang làm không đưa đến hại mình, không đưa đến hại người, không đưa đến cả hai. Thời ý nghiệp này là thiện, đưa đến an lạc, đem đến quả báo an lạc’. Này La-hầu-la! Một ý nghiệp như vậy, con cần phải tiếp tục làm!”.

“Này La-hầu-la! Sau khi con làm xong một ý nghiệp. Con cần phải phản tỉnh ý nghiệp đã làm đó như sau: ‘Ý nghiệp này của ta đưa đến hại mình, đưa đến hại người, đưa đến hại cả hai. Thời ý nghiệp này là bất thiện, đưa đến đau khổ, đem đến quả báo đau khổ. “Này La-hầu-la! Một ý nghiệp như vậy, con cần phải thưa lên, tỏ lộ, cần phải trình bày trước các vị Đạo sư, hay là với các vị đồng Phạm hạnh có trí. Sau khi đã thưa lên, tỏ lộ, trình bày, cần phải phòng hộ trong tương lai!

“Này La-hầu-la! Nếu như trong khi con phản tỉnh, mà con biết như sau: ‘Ý nghiệp ta đã làm này không đưa đến hại mình, không đưa đến hại người, không đưa đến hại cả hai. Thời ý nghiệp này là tốt, đưa đến an lạc, đem đến quả báo an lạc. Do vậy, Này La-hầu-la! Con phải an trú trong niềm hoan hỷ, tự mình tiếp tục tu học ngày đêm ở trong các thiện pháp”.

Chúng ta là người tu mà suy nghĩ hay có ý hành sai quấy, không đúng pháp hoặc là chấp Ngã như vậy, thì phải khéo nhận biết và suy xét để dừng lại ngay lập tức. Cho nên khi đang nghe pháp, ngồi thiền hay đang làm công việc cho Tam bảo, hành giả nên khéo tác ý như thế nào? An trú trong niềm hoan hỷ với cái thiện pháp mà hành giả đang làm.

“Này La-hầu-la! Trong thời quá khứ, trong thời tương lai, trong thời hiện tại, những Sa-môn hay Bà-la-môn nào sau khi phản tỉnh nhiều lần đã tịnh hóa thân nghiệp, đã tịnh hóa khẩu nghiệp và đã tịnh hóa ý nghiệp! Này La-hầu-la! Con hãy tập: ‘Sau khi phản tỉnh nhiều lần, tôi sẽ tịnh hóa thân nghiệp; Sau khi phản tỉnh nhiều lần, tôi sẽ tịnh hóa khẩu nghiệp; Sau khi phản tỉnh nhiều lần, tôi sẽ tịnh hóa ý nghiệp! Như vậy, La-hầu-la! Con cần phải tu học.

Sau khi nghe đức Thế Tôn thuyết giảng như vậy, Tôn giả La-hầu-la hoan hỷ tín thọ lời Thế Tôn giảng dạy”.

Từ ngàn xưa cho đến ngày nay, bất cứ người tu hành nào muốn làm cho thân, miệng, ý của mình được thanh tịnh, cũng phải phản tỉnh xét lại nhiều lần. Không thể chỉ xét hay nói một lần là ba nghiệp liền được thanh tịnh. Cần phải suy xét nhiều lần, kiểm tra và tẩy rửa, lau chùi nhiều lượt, thì mới có thể làm cho ba nghiệp trong sạch.