Thư Viện Linh Quy
← Danh sách

Thiền Quán - Về Núi Yên Tu Quá Thông Minh! Thế Nào Là Bậc Chân Nhân - Ba Cảm Thọ Trị Tham Sân Si

2026-03-03 00:53:02
Nikāya Thiền Quán

Về Núi Yên Tu Quá Thông Minh!

Thế Nào Là Bậc Chân Nhân

Ba Cảm Thọ Trị Tham Sân Si

Thích Minh Thành

MỤC LỤC

TOC \o "1-3" \h \z \u I. Thiền quán PAGEREF _Toc214208061 \h 1

II. Trình pháp PAGEREF _Toc214208062 \h 5

III. Diệt tâm chống đối, tâm nổi loạn, tâm buông lung phóng dật PAGEREF _Toc214208063 \h 9

I. Thiền quán

Nhiều khi mình sám hối ở đâu đâu, những cái gì mà mình không biết gì hết, mình lạy rất là nhiều hồng danh của Phật mà mình không biết vị đó là ai hết nhưng mà trong khi một người bằng xương, bằng thịt, bằng tim, bằng máu, bằng tuỷ đem cả một cuộc đời hy sinh cho mình sao mình không biết lạy sám hối, sao mình không biết lạy để xin lỗi, sao không biết lại để cảm ơn bậc đại ân nhân của cuộc đời mình.

"- Này các Tỳ-kheo, bậc chân nhân sinh ra trong gia đình nào, đem lại lợi ích, hạnh phúc, an lạc cho nhiều người; đem lại lợi ích, hạnh phúc, an lạc cho cha mẹ; đem lại lợi ích, hạnh phúc, an lạc cho vợ con; đem lại lợi ích, hạnh phúc, an lạc cho người phục vụ, người làm công; đem lại lợi ích, hạnh phúc, an lạc cho bạn bè thân hữu; đem lại lợi ích, hạnh phúc, an lạc cho các hương linh đã mất; đem lại lợi ích, hạnh phúc, an lạc cho vua chúa; đem lại lợi ích, hạnh phúc, an lạc cho chư Thiên; đem lại lợi ích, hạnh phúc, an lạc cho Sa-môn, Bà-la-môn." (Tăng Chi Bộ, Chương VIII – Tám Pháp, IV. Phẩm Bố Thí, (VIII). Người Chân Nhân (2))

Này các đệ tử, một con người thật sự là người sanh ra trong gia đình nào thì người đó sẽ đem lại lợi ích cho gia đình ấy, đem về sự bình an cho gia đình ấy, đem về sự an vui cho gia đình ấy, đem lại sự lợi ích, sự hạnh phúc, sự an lạc cho cha mẹ. Bậc chân nhân sanh ra trong gia đình nào thì vị ấy sẽ đem lại lợi ích, hạnh phúc, an lạc cho vợ con, chồng con, bậc chân nhân sanh ra trong gia đình nào sẽ đem lại lợi ích, hạnh phúc, an lạc cho người phục vụ, người làm công, sẽ đem lại lợi ích, hạnh phúc, an lạc cho bạn bè thân hữu, đem lại lợi ích, đem lại hạnh phúc, đem lại an lạc cho những hương linh đã mất, đem lại lợi ích, đem lại hạnh phúc, đem lại an lạc cho vua chúa, cho chư thiên ở vùng đất đó, đem lại lợi ích, đem lại hạnh phúc, đem lại an lạc cho các vị tu sĩ, các bậc Sa-môn tu hành.

"Ví như, này các Tỳ-kheo, một cơn mưa lớn làm cho các loại mùa màng đều thành tựu đầy đủ, đem lại lợi ích, hạnh phúc, an lạc cho nhiều người. Cũng vậy, này các Tỳ-kheo, bậc Chân nhân sinh ra trong gia đình nào, đem lại lợi ích, hạnh phúc, an lạc cho nhiều người; đem lại lợi ích, hạnh phúc, an lạc cho cha mẹ; đem lại lợi ích, hạnh phúc, an lạc cho vợ con; đem lại lợi ích, hạnh phúc, an lạc cho người phục vụ, người làm công; đem lại lợi ích, hạnh phúc, an lạc cho bạn bè thân hữu; đem lại lợi ích, hạnh phúc, an lạc cho các hương linh đã mất; đem lại lợi ích, hạnh phúc, an lạc cho vua chúa; đem lại lợi ích, hạnh phúc, an lạc cho chư Thiên; đem lại lợi ích, hạnh phúc, an lạc cho Sa-môn, Bà-la-môn." (Tăng Chi Bộ, Chương VIII – Tám Pháp, IV. Phẩm Bố Thí, (VIII). Người Chân Nhân (2))

Này các đệ tử, ví như một cơn mưa lớn làm cho những cây cỏ, những mùa màng được thành tựu đầy đủ, đem lại lợi ích, đem lại hạnh phúc, đem lại an lạc cho nhiều người. Cũng vậy, một người là chân nhân sanh ra ở nơi nào, gặp một ai, sống với ai, làm việc chung cùng ai, thậm chí là người làm công cũng được người này đem lại lợi ích, hạnh phúc và an lạc.

"Vì lợi ích nhiều người

Bậc trí sống gia đình

Không mệt mỏi ngày đêm

Cúng dường thật đúng pháp

Mẹ cha và tổ tiên

Nhớ ngày trước đã làm

Đối xuất gia, không nhà

Kính lễ bậc Phạm hạnh

Tin vững trú, cúng dường

Biến pháp, khéo xử sự

Là người đem lợi ích

Cho vua, cho chư Thiên

Là người đem lợi ích

Cho bà con, bè bạn

Là người đem lợi ích

Cho tất cả mọi người

Khéo an trú diệu pháp

Nhiếp xan tham cấu uế

Hưởng cuộc đời hạnh phúc." (Tăng Chi Bộ, Chương VIII – Tám Pháp, IV. Phẩm Bố Thí, (VIII). Người Chân Nhân (2))

Đây là Đức Thế Tôn nói về đặc điểm, đặc tính, đặc chất của một con người thật, gọi là người thiệt, tức là chân nhân. Chữ "chân" là thiệt đó, là thật đó, người thật, người thiệt, người thật sự là người gọi là chân nhân, người này có đặc tính đầu tiên hồi nãy chúng ta nghe bài kinh Đất là người luôn sống ở trong một cái tâm biết ơn và nhớ ơn, báo ơn và đền ơn đối với người có ơn. Đây là đặc tính quan trọng nhất để xác quyết, xác nhận là một người tu thật sự, một con người thiệt, một con người thật, một con người đúng là một con người thì cái người đó dầu cho được thọ ơn rất là nhỏ nhưng người đó không bao giờ quên. Con hỏi thiệt chúng ta khi có một cái lời nói, hành động của cha mẹ mà mình không có vừa lòng, lúc đó mình còn nhớ cái ơn mà cả một cuộc đời sanh dưỡng không? Nếu mà mình nhớ dầu cho cha mẹ có làm mình không vừa lòng, khó chịu, mình cũng không có những lời nói, những hành động phũ phàng đối với cha mẹ. Nếu mình có những lời nói, hành động không có hiếu thuận thì lúc đó mình đâu có nhớ ơn đâu, chúng ta đã bao nhiêu lần như vậy để rồi khi cha mẹ bệnh nằm một chỗ hay là cha mẹ không còn nữa, mỗi lần mình nghĩ về, mỗi lần mình nhớ lại là mỗi lần mình nghẹn ngào, mình chua xót, mình hối hận.

Chúng ta giây phút này thiền quán đi, nhìn lại đi, kiểm tra lại đi, đã bao nhiêu lần mình có những lời nói, hành động bất kính, bất nghĩa, bất hiếu giống như là mình xé nát trái tim của mẹ cha, giống như là mình đem những cái con dao bén ngoáy vào trong tim của mẹ cha. Đau lắm, đau nhói lòng, xé lòng, bao lần mình ngỗ nghịch, mình cãi lại, hỗn hào, bất hiếu, chẳng những với cha mẹ mà còn ông bà nữa, chú bác và lúc đó mình quên, mình không còn nhớ ân đức sanh thành dưỡng dục, nuôi dạy nữa.

Lên non mới biết non cao,

Nuôi con mới biết công lao mẫu tử

(Ca Dao)

Sau này mình có con rồi lúc đó những đứa con có những ngôn ngữ, hành động giống như xưa kia mình đã đối đãi với mẹ cha mình, lúc đó mình đau đớn, đau nhói rồi mình sẽ hiểu được cái nỗi đau của cha mẹ mình ngày xưa thì lúc đó đã muộn. Mình chỉ nhìn lên di ảnh, nhìn lên di cốt với những làn khói hương phảng phất. Còn đâu nữa mẹ ơi… mẹ ơi… mẹ thân yêu của con ơi… giờ còn đâu nữa, cha ơi… ba ơi… Giờ con muốn nói lời xin lỗi, con muốn làm một đứa trẻ thơ quỳ dưới chân của ba mẹ làm sao có được nữa, tại sao ngay bây giờ mình không đem hết tất cả tấm lòng, tất cả sự biết ơn, cảm ơn, nhớ ơn, báo ơn và đền ơn để mình dâng lên cho cha mẹ trong cái tuổi già, trong cái giai đoạn cuối cùng của cuộc đời. Đây cũng chính là lý do tại sao mà Linh Quy chúng con cho các bạn, các cô thực hành thiền biết ơn thường xuyên để rồi sau này mình sẽ không có hối hận, ít nhất trong cuộc đời làm con của mình được một lần quỳ dưới chân cha mẹ, cầm đôi tay của cha mẹ, đặt vầng trán lên bàn chân cha mẹ, nâng bàn chân cha mẹ mình lên, chắp tay cúi đầu đảnh lễ năm vóc sát đất để nói lên lòng tri ơn vô hạn của một bậc ân nhân vĩ đại nhất cuộc đời của mình, để một lần mình có thể cúi lạy và xin lỗi, sám hối.

Nhiều khi mình sám mối với đâu, những cái gì mà mình không biết gì hết, mình lạy rất là nhiều hồng danh của Phật mà mình không biết cái vị đó là ai hết, trong khi một người bằng xương, bằng thịt, bằng tim, bằng máu, bằng tuỷ đem cả một cuộc đời hy sinh cho mình sao mình không biết lạy sám hối, sao mình không biết lạy để xin lỗi, sao không biết lạy để cảm ơn bậc đại ân nhân của cuộc đời.

Con kính mời chư tôn và chư hiền hồi tưởng lại buổi lễ chúc thọ và thiền biết ơn sáng nay cũng như vừa rồi chúng ta được nghe đặc tính của bậc chân nhân để chúng ta trình bày ngũ uẩn vận hành của mình từ sáng đến giờ khi mình được dự lễ chúc thọ thiền biết ơn. Mình trình bày, chia sẻ thọ; tưởng; hành của mình và đặc biệt là gửi những lời chân thành nhất từ trái tim của mình đến cha mẹ hoặc có mặt, vắng mặt hoặc còn hiện hữu ở với mình, hoặc đã ra đi bằng tất cả tấm lòng của một người con người biết ơn, nhớ ơn. Mình chia sẻ làm cho khơi gợi và lan tỏa cảm thọ biết ơn, nhớ ơn và đền ơn hiếu hạnh của một người con, xin mời chư tôn và chư hiền chúng ta chia sẻ cảm thợ của mình.

Một hôm Đức Thế Tôn dùng ngón tay của ngài khơi một chút đất trong móng tay đưa lên hỏi các thầy Tỳ-kheo ở trong thánh chúng đệ tử, đất ở trong móng tay của ta là nhiều hay đất của địa cầu này là nhiều. Các thầy Tỳ-kheo bạch Thế Tôn là đất trong móng tay của Thế Tôn rất ít, rất là ít không thể nào so sánh được với đất của địa cầu. Đức Phật nói rằng cũng vậy, phần lớn chúng sanh làm người sau khi chết không có sanh trở lại làm người, đại đa số là rơi vào địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh, chỉ có phần rất là ít những người chết sau đó được sanh ra làm người ít rất là ít, ít như là đất dính một chút trong đầu móng tay của ta, còn phần lớn đại đa số đều rơi xuống địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh, ác thú, đọa xứ, khổ cảnh. Tại sao vậy? Đại đa số chúng sanh, đại bộ phận chúng sanh, phần lớn chúng sanh là sống không có biết ơn và không có nhớ ơn.

"Này các Tỳ-kheo, các Ông nghĩ thế nào? Cái gì nhiều hơn, chút đất này Ta lấy trên đầu móng tay, hay quả đất lớn này?

Cái này, bạch Thế Tôn, là nhiều hơn, tức là quả đất lớn này và ít hơn là chút đất mà Thế Tôn lấy trên đầu móng tay. Không thể đi đến ước tính, không thể đi đến so sánh, không thể đi đến một vi phần, khi so sánh quả đất lớn với chút đất mà Thế Tôn lấy trên đầu móng tay.

-- Cũng vậy, này các Tỳ-kheo, rất ít là chúng sanh được tái sanh làm người! Còn rất nhiều là những chúng sanh phải tái sanh ra ngoài loài Người!

Do vậy, này các Tỳ-kheo, các Ông cần phải học tập như sau: "Chúng tôi sẽ sống không phóng dật". (Tương Ưng Bộ, Tập II – Thiên Nhân Duyên, Chương IX. Tương Ưng Thí Dụ, II. Đầu Ngón Tay)

II. Trình pháp

Phật tử 1: Con chân thành đảnh lễ bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật, con chân thành đảnh lễ trên bậc trưởng tôn sư, con chân thành đảnh lễ sư phụ, quý Tăng, quý sư Ni và các bạn các bậc hiền giả, con xin trình bày ngũ uẩn của con. Hiện tại con đang ngồi giữa vườn hoa, cảm giác con rất là thoải mái, dễ chịu, tưởng con nhớ đến hình bóng hồi sáng này sư phụ dắt tay từng bước thầy Pháp An đi vào lễ mừng thọ mà lòng con dâng lên một niềm cảm xúc khó tả, nước mắt con tuôn trào, cái hành cái hành con nghĩ một vị sư phụ được tất cả mọi người tôn kính dắt từng bước thầy Pháp An vào lễ mừng thọ cung kính, và nó bật lên một cái gì đó mà con không thể diễn tả nổi. Trong lòng con nghĩ đến mẹ con bạc phước, con cũng vô phước biết pháp Nikāya này quá trễ để con không được dắt tay mẹ con lên đây mừng thọ vì sinh thời mẹ con cũng làm nghề sát sanh nên con rất mong muốn nếu mà mẹ con sống được biết lỗi lầm của mình, biết pháp Nikāya này mà tu tập thì có thể bớt được phần nào tội lỗi của mình. Thức của con nhận rõ được thọ; tưởng; hành trong sáng hôm nay. Con xin hết. Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật.

Cô Hiền Thảo: Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật, con Hiền Thảo kính lạy bậc trên sư phụ, kính bạch các chư Tăng, các chư Ni và các vị hiền trí, con xin nhận diện ngũ uẩn của mình vào sáng ngày hôm nay. Sắc của con hiện tại con đang quỳ trước mặt sư phụ, cảm giác của con rất là khó chịu bởi vì lúc sáng hôm nay con đã khóc rất là nhiều, tưởng của con nhớ về hình bóng của mẹ con và ba của con. Và lần thứ hai con đến với Linh Quy Pháp Ấn con đã dẫn mẹ của con cùng với con gái con sáu tuổi đến nhưng mà mẹ của con lại không muốn ở lại, mẹ con nói là mẹ ở đây mẹ cảm thấy rất là khó chịu trong khi đó con đã rất là cố gắng và năn nỉ mẹ lên trên lên Linh Quy Pháp Ấn. Sau đó mẹ chỉ ở lại được một đêm duy nhất, suy nghĩ của con "mẹ ơi tâm mẹ khổ là do mẹ chưa biết nhận diện ngũ uẩn với pháp hành Nikāya. Lúc nào mẹ cũng nói với con là mẹ rất khổ, khổ vì ba nhưng mà mẹ không buông được". Thức của con rõ biết thọ, con cảm thấy rất là dễ chịu khi vào buổi thiền quán vào tối hôm nay, tưởng của con hình bóng con sẽ cố gắng tu tập tinh tấn để phát nguyện để một ngày gần nhất con có thể đưa mẹ con được lên trên Linh Quy Pháp Ấn cùng với ba.

Con biết điều này rất là khó, vô vàng khó khăn bởi vì trong gia đình con không có một ai biết về đạo Phật. Họ chỉ biết kiếm tiền ăn chơi, sát sanh, một tuần có thể nhậu hết một tuần, trong buổi thiền quán sáng ngày hôm nay con thấy sư phụ dẫn sư ông Pháp An từng bước một, từng bước một bước lên, con nghĩ đến ba mẹ của con. Con không biết rằng là đến một ngày nào đó ba mẹ con có thể sống đến tám mươi tuổi giống như sư ông hay không, con không biết khi nào con có thể đền ơn và báo hiếu công ơn dưỡng dục của ba mẹ đã sinh ra con. Con cũng chưa làm được gì để ba mẹ phải vui lòng, nếu ba mẹ có nghe được con trình pháp con mong muốn ba mẹ hãy quy y theo Phật pháp để không khổ đau và tránh khỏi vòng luân hồi này. Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật.

Sư Phụ: Lành thay! Lành thay!

Phật tử 2: Con kính thưa sư phụ, thưa quý thầy, quý Ni sư, quý sư cô và toàn thể đại chúng. Khi con nghe thiền quán sư phụ chốt lại chúng sanh đang nóng trong nhà lửa này con cũng nằm trong đó, ba má con, người thân và tất cả chúng sanh đang chìm trong nhà lửa mà không hay biết. Con may mắn gặp được chánh pháp, dần dần con thấy được cái khổ và thoát ra, dần dần một chút ít, sáng nay con nghe sư phụ giảng, sư phụ dắt từng bước ông Năm để mừng thọ, tim con như vỡ ra. Con không biết chừng nào con được như vậy, con quặn thắt, con không dám nhìn, con cúi xuống không à.

Tới một giờ mấy tự nhiên ba con điện "con ơi con rước ba vô", con hỏi ba ở đâu, ba nói "ngoài bụi tre" thì tim con đập liên hồi, con không thể nào tin được ba má con lên. Tối con điện về mấy em nói là "ba má không có lên đâu Hai ơi", con không tin vào mắt mình, má con rất là khổ, có thể con đánh đổi cái mạng con vì ba má cũng được. Ba má rất khổ vì con rất là nhiều, con đi đâu ba cũng chở từ nhỏ tới lớn ba không rời con, ông nói con khờ dại, nhút nhát bị người ta ăn hiếp, má lúc nào cũng đứng sau lưng dòm ngó, má thì nuôi tụi con sát sinh rất là nhiều, nuôi gà, nuôi vịt, nuôi heo. Co nói "Má ơi đừng có nuôi nữa", dần dần má không có nuôi nữa.

Sư Phụ: Nhiếp phục cái cảm thọ lại.

Phật tử 2: Dần gần ba con mỗi ngày đọc kinh ăn chay mà má chưa làm được, mấy chị em con không có cần ba má làm gì hết, chỉ cần ba má quay đầu thôi, chỉ biết học pháp nhận diện ngũ uẩn. Như con hồi đó giờ con cũng không biết ngũ uẩn đã làm mình đau khổ như thế nào, con cũng chỉ má con học mà má quên trước quên sau thì con lúc đầu cũng vậy, con có hỏi ba ở nhà ba còn đọc kinh không, ba nói còn, con hỏi ba đọc kinh gì thì ba nói "ba đọc kinh Linh Quy Pháp Ấn của con đem về đó con". Con mừng dữ lắm ba.

Sư Phụ: Cô dẫn ba lên đây, qua bước nắm tay dẫn ba lên đây, dẫn mẹ lên luôn, cảm ơn ba mẹ.

Phật tử 2: Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật, con kính thưa sư phụ, kính thưa quý thầy, kính thưa quý sư cô và toàn thể đại chúng. Con kính thưa ba má, hôm nay hôm nay là ngày hạnh phúc nhất trong cuộc đời của con, con không tin vào mắt mình là ba má lên đây khi chiều ba má nghe giảng hết một thời kinh. Con không tin là ba thích má vui như vậy mà không có bị ngủ gục, con rất là mừng, con cần mong sao ba má cũng học chánh pháp như con, gia đình mình hướng về con được chánh pháp, xa rời đau khổ, xa rời tham, sân, si, vô minh, bản ngã.

Ba má ơi kiếp làm người khổ lắm, gặp chánh pháp khó lắm, hy hữu lắm ba má ơi. Con chân thành cầu mong ba má bước tới con đường danh pháp để đoạn đi con đường khổ đau của mình, con chỉ có nhiều đó thôi, con không có gì mong cầu ba má lo cho con gì nữa hết. Con cảm ơn ba má đã cho con hình hài này con biết chánh pháp, con cảm ơn phụ cho con hiểu chánh pháp này, con cảm ơn Đức Phật rất là nhiều đã cho con hiểu thấy được chân tâm, bản tánh của mình xấu xa như thế nào, để con thấy được con đường khổ của mình mà thoát ra. Con cầu mong ba má, "má ơi đừng có chấp vào cái nữa, con bỏ nhà con đi dù con cất nhà xong con ở chỉ một đêm duy nhất". Khi con chưa có thì con cầu mong cho được, khi con có rồi con thấy con nắm không được má ơi, con chết không mang theo được cái gì hết, tụi con lớn hết rồi má đừng có lo cho tụi con nữa. Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật

Sư Phụ: Cô bước qua lạy mẹ ba lạy, lấy vầng trán chạm lên chân của mẹ sau đó lại ba lạy.

Phật tử 2: Con biết ba ít nói, ít biểu cảm nhưng mà ba rất là thương con, ba rất quan tâm tới con. Con đi đến đâu dù cỡ nào ba cũng đi đến đó, không bỏ con bơ vơ, lúc mà con về đám ma bà nội, khi mổ mắt mới xong con đi về con gặp ba nên con chào ba con đi về chùa, lúc đó ba ở bên nhà bà cố ba dầm mưa làm tim con muốn vỡ ra luôn ba ơi. Ba đi trộn hồ làm nhà cho bà cố mà trời mưa ba không vô, tim con đau quá ba ơi, con có gọi ba đi vô nhà đi hết mưa ba làm, ba nói ba không sao hết mà tim con đau quá. Nhưng mà không sao cả, ba vì chữ hiếu, vì ông bà, con thấy điều đó con làm gương, con học ở ba rất là nhiều, chính bà nội và ba hướng con về Phật pháp. Con cảm ơn ba, đời này con rất là cảm ơn ba, nhờ ba dẫn con đi chùa từ hồi bé, tới ngày hôm nay con mới gặp được dòng chánh pháp này, con đi đến chùa nào ba cũng chở con đi hết dù ba không nói, âm thầm lặng lẽ, ba có mặt mọi lúc mọi nơi con cần. Con cảm ơn ba nhiều, ngàn lần cảm ơn ba.

Chú Tịnh Nhật: Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật, nam mô kính pháp Phật, con xin kính lễ sư phụ, con xin kính lễ các chư Tăng, chư Ni và các vị hiền giả. Đệ tử pháp danh Tịnh Nhật, đệ tử muốn trình bày với sư phụ xin sám hối, trong năm ngày lên Linh Quy Pháp Ấn con rất ham cầu học đạo nhưng vì quá ham cầu nên đệ tử đã bị bản ngã đánh lừa. Ngày nào đệ tử cũng bị hôn trầm, rồi khi học đạo thì lại bị cảm thấy nó không vừa ý mình, nó sinh ra sự trách móc, sự không hài lòng rồi lại quay ra trách bên ngoài. Ở ngoài đời con làm rất tốt diệt hạ bản ngã, con buông bỏ tiền bạc, buông bỏ mọi thứ, con nghĩ là con rất là tài giỏi khi chiến đấu với bản ngã. Đây là lần đầu tiên con được sống trong chùa, con chưa hiểu chùa là gì nên khi con vừa vô đã bị nó đánh gục con, may thay có một vị thiện tri thức xuất hiện đó là anh Lãng, anh dạy con cách phá hôn trầm khi nghe pháp, đó là hoan hỉ đón nhận pháp.

Khi con hoan hỉ đón nhận pháp thì tất cả các pháp của sư phụ đều chảy khắp người con, con nhận rất là nhiều pháp vào người, toàn là những bài pháp lớn. Nay con nói lời sám hối với pháp Phật, con xin sám hối với sư phụ, con xin sám hối các vị chư tăng và chư Ni, các vị hiền giả, con mong sư phụ chứng minh cho con lời sám hối với pháp vô lượng vô biên này, đệ tử cảm ơn sư phụ.

Sư Phụ: Thiện lành thay! Thiện lành thay!

Chú Tịnh Nhật: Con nhỏ dại mong sư phụ thương tình nhận lời sám hối của con. Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật.

III. Diệt tâm chống đối, tâm nổi loạn, tâm buông lung phóng dật

Sư Phụ: Sẵn dịp con xin thưa chư tôn với chư hiền, tu theo dòng pháp Nikāya này bước đầu tiên là diệt tâm chống đối, diệt tâm nổi loạn và diệt tâm buông lung phóng dật. Những cái vấn đề này con có chia sẻ mấy bài giảng pháp, quý vị mới chịu khó nghe kỹ. Tại sao vừa bước vào dòng pháp này phải tu diệt tâm chống đối? Vì cái tâm hôn mê của mình từ vô thỉ kiếp cho đến nay nó đã triền miên ở trong vô minh, trong bóng đêm giống như một người đang nằm ngủ say mà có ai mở cái đèn sáng lên họ chói mắt, họ sẽ bực bội lắm. Khi ánh sáng xuất hiện thì người này rất bực bội, khó chịu vì người này đang chìm trong giấc ngủ say xưa ngàn năm, cũng giống như những người bị khiếm thị lâu ngày, bị bệnh mắt lâu ngày khi họ được trị, trong cái lúc họ mới vừa mập mờ phá được cái màn đen thì lúc đó họ rất sợ, họ không muốn tại vì họ đã quen ở trong cái bóng đêm cho nên giờ khi gặp ánh sáng là họ sẽ sợ.

Tâm thức hôn mê này đã ngủ đông, ngủ mê từ vô thỉ kếp cho nên khi mà được chánh pháp, khi nhận diện ngũ uẩn có nhiều người đó ở đây một thời gian lúc đầu rất là hoan hỉ, thích thú, nhưng một thời gian bị cái tâm hôn mê và bị cái tâm khát ái quá mạnh. Trong kinh Đức Phật hay dùng hình ảnh hai chàng lực sĩ kẹp tay của người yếu đuối để kéo đi vào cái hố than hừng, hai người lực sĩ ví dụ như là vô minh và khát ái ở trong tâm của chúng ta, hai cái thế lực vô hình này rất mãnh liệt, rất là khủng khiếp rất, là kinh hoàng. Nếu mà chúng ta không có kiên trì, bền trí, không có tịnh tín bất động thì nó sẽ quật ngã chúng ta bất cứ lúc nào.

Đầu tiên là cái tâm hôn mê, tâm vô minh, tâm si ám, cái tâm mù lòa và kế đó là cái tâm khao khát, thèm khát, đói khát, khát ái, khát dục. Khi mà nó nghe cái pháp nhiếp phục dục tham, đoạn tận dục tham, diệt dục thì nó sẽ chống đối mãnh liệt, nó nổi loạn ở trong tâm. Chẳng hạn như lúc đầu tiên mình được hướng dẫn chánh quán thọ thực mình khó chịu lắm, lúc đầu tiên con được bậc đạo sư hướng dẫn ăn cơm chánh quán thọ thực thì con cũng khó chịu lắm, mình ăn quen rồi mình ăn cho thoải mái, chúng ta có giống vậy? Mình ăn thoải mái, mình muốn ăn sao mình ăn giờ bắt mình không được nhúc nhích, cục kịch, cái tiếng động cũng không được, cái muỗng múc cũng không ra tiếng, nó khó chịu.

Cái gì nó khó chịu? Cái dục nó khó chịu, cái tham nó khó chịu, cái ái nó khó chịu, cái bản ngã nó khó chịu, cái sân nó khó chịu mà chỉ cần mình cứ tu tập thời gian rồi sau này mình thấy dễ chịu, an tịnh, lắng dịu, ăn rất nhẹ nhàng, hạnh phúc, phải không? Cảm nhận được chưa? Thì cái gì nó cũng phải vạn sự khởi đầu nan, nhưng mà nhớ cái câu sau đừng có đi theo "gian nan bắt đầu nản", nhớ câu đầu thôi, đừng đi câu sau. Phải vượt qua cái gian nan, thử thách, khi mình vượt qua được rồi mình vượt cấp bậc, mình sẽ bước qua một cái cảnh giới mới rồi sau đó một thời gian mình tu mình phá cái đẳng cấp đó, mình vượt lên một cấp nữa và mình phá tiếp tục cái đó, mình cứ vượt lên cấp và cứ như vậy phá liên tục, liên tục, liên tục như vậy gọi là chánh pháp có khả năng hướng thượng, trừ khi nào mình đến lậu tận thì mới hết, còn nếu mà mình chưa đến lậu tận mà mình dừng lại ở một cấp bậc nào thì mình sẽ chết ở chỗ đó trừ khi mình Nhập Lưu thấy được tất cả mọi phương diện, khía cạnh, góc độ khổ thánh trí ở trong sắc; thọ; tưởng; hành; thức một cách tuyệt đối, đại viên mãn, tịnh tín bất động, không còn ngờ vực thì mới thôi, cho đến khi sạch hết tất cả tham, sân, si, vô minh, bản ngã, còn nếu mình vừa hài lòng, tự mãn với một cái nào mình đều chết ở ngay tại chỗ đó hết.

Giống như mình lên cái lầu bốn mươi tầng, mình lên mới tới tuần bốn rồi mình không chịu đi nữa thì mình ở đó thôi. Trở lại là cái tâm chống đối này ghê gớm lắm, ăn nó cũng chống đối, vô ngồi thiền nó có chống đối, nghe pháp nó có chống đối không, đi đâu nó cũng chống hết.

"Dầu tại bãi chiến trường

Thắng ngàn ngàn quân địch,

Tự thắng mình tốt hơn,

Thật chiến thắng tối thượng."

(Kinh Pháp Cú 08 – Phẩm Ngàn, kệ 103)

Như vậy sự chiến thắng ở trong tu tập không phải là chiến thắng người ta mà chiến thắng được cái tâm chống đối đó, cho nên hoan nghênh cho huynh mới vừa trình bày là chiến thắng được cái tâm chống đối của mình, cho tràng vỗ tay lớn đi. Đó là đi đúng đạo lộ nó phải vậy đó, tu cái này cực kỳ hiếm có người nào tự động đi vào một cách nhẹ nhàng, êm ái là cực kỳ hiếm, cái đó là những bậc đại căn, đại trí còn đại đa số đều phải chua cay đắng chát, đều phải cam go, đều phải tranh tối tranh sáng, đều phải gian khổ. Vì thế tu không phải là để hưởng, muốn hưởng thì phải làm trước, mới vô cái đội hưởng à thành ra nói cái gì mà sướng là khoái lắm, tu cái pháp môn sướng ra ai cũng khoái hết á. Thành ra mình phải khéo nhìn thấy khi mình đã nhận diện được ngũ uẩn rồi tức là mắt mù đã được mở rồi đó, nếu mình không chịu nhận diện là mình mù trở lại ráng chịu.

Cái pháp nhận diện ngũ uẩn là từ Đức Thế Tôn truyền cho các bậc thánh, truyền dài lại năm trăm năm sau khi Đức Phật nhập diệt và sau đó bị gián đoạn hàng ngàn năm, và bậc đạo sư tự mình đã khám phá, nay ngài truyền lại cho chúng ta và chúng ta có được cái chìa khóa mở ra cái cánh cửa căn nhà nội tâm của mình, nếu như mình không chịu thực hành là mình tự mình sống trong kiếp mù lòa muôn thuở. Bây giờ chịu mù hay chịu sáng mắt? Lúc nào cũng phải coi cái sắc này nó đang sao, cái thọ; tưởng; hành này làm sao, lúc nào cũng phải coi ở trong nhất là cảm thọ tập an tịnh, lắng dịu trong tất cả mọi hoàn cảnh, mọi con người, mọi đối tượng, mọi sự việc, mọi sự vật dầu cho có chết tai nạn xảy ra cũng tập an tịnh lắng dịu thì cái đó mới cứu được mình.

Không có gì quan trọng bằng sự an trú trong pháp, chết cũng không quan trọng, không an trú được trong pháp cái đó mới là khổ đau. Còn nếu chết mà mình an trú được trong pháp thì cái đó quá tốt, nhất trí không? Bây giờ nếu như cho xe đụng mà mình chứng thánh quả mình chịu làm không? Người ta dám nhảy cầu, nhảy lầu, nhảy sông, có nhiều người nhảy ra cho xe cán tự tử nhưng mà người ta đâu có thánh quả nào đâu cho nên tại sao mình không có quan trọng cái sự thực hành pháp mà mình đi quan trọng những cái khác? Chính vì vậy mà con lâu lâu con mới đi qua một vòng xuống nhà bếp, ra vườn rau, hay là con nhìn người là con coi mấy người đó có thực hành pháp không chứ không phải con đi chơi đâu, không có thời gian đi chơi, con nhìn bất cứ một cái người nào là con coi người đó có an trú cảm giác toàn thân không là cái thứ nhất, kế đó người đó có oai nghi, tế hạnh không, sau đó là có phòng hộ sáu căn, tiếp theo là có hạn chế lời nói, ưa thích viễn ly, an trú chánh niệm không.

Khi con nhìn hay là con đi qua một vòng con nhìn cái vườn rau nó tốt hay không tốt đối với con cũng không quan trọng lắm, con nhìn mấy người trồng rau đó có an trú pháp không, ăn cái món ngon hay không ngon con cũng không quan trọng lắm mà con nhìn coi cái người nấu cơm đó có tu không. Con có để ý và cũng có nghe chia sẻ ở trong khi làm việc mình phải khéo dụng tâm an trú trong pháp. lúc nào mình không có an trú trong pháp thì lúc đó mình là tử thi, có cái xác không có cái hồn cho nên bước đầu tiên của giới tử chúng ta và các vị mới trong khóa tu phải thường niệm an tịnh, lắng dịu, dễ chịu, ngọt ngào, phải niệm hoài. Quý thầy, quý Ni sư nhớ mỗi thời khóa tu cho đại chúng niệm cái đó để nhắc, không thôi là quên, cái tâm vô minh nó quên mau lắm, tiền nó nhớ, pháp nó quên, tiền hỏi nhiêu nhớ liền còn pháp học hoài quên trước quên sau. Thành ra cái an tịnh, lắng dịu là tuyệt đối quan trọng, học được cái đó mới là cái nếp nhà của Nikāya, nếp nhà của Nikāya là sự an tịnh, lắng dịu, không có gì quan trọng cho bằng sự an trú vào pháp.

Từ ngày hôm nay, sáng cho đến giờ là con cho chúng ta sanh khởi lên những cảm thọ hiền thiện, hiếu hạnh, nhớ ơn, biết ơn để chúng ta gội rửa những cái cảm thọ bất hiếu, bất nghĩa, vong ơn, vô ơn, những dòng nước mắt đó là những giọt nước cam lộ, là những thuốc tẩy. Thành ra có vị khi nãy trình bày khóc quá khóc là tốt, đừng sợ, những giọ nước mắt đó là thuốc tẩy, là thuốc phân huỷ ở trong cái bồn cầu đó, là nó đang rửa cái tâm không biết ơn, không nhớ ơn, cái tâm bất hiếu, cái tâm vong ơn, cái tâm bội nghĩa, ngỗ nghịch. Những dòng nước mắt đó là nó chạm vào trong đúng cái bản chất ở trong mình nó xúc động cho nên đừng có kiềm, có mấy cậu nam xúc động mà cũng không có trình pháp, cứ chia sẻ ra, xúc động được rất tốt, chỉ sợ trơ trơ, vô cảm, chỉ sợ như vậy thôi, có cảm xúc được với pháp là tốt. Trong kinh Nikāya rất quan trọng cái phần là người đó xúc động mạnh, trong kinh dùng cái từ xúc động mạnh hoặc là thủ chuyển là những sự chấp thủ ở bên trong người đó bị rung chuyển, bị động chuyển giống như là động đất vậy đó, đất tâm rúng động, tâm địa chấn động thì như vậy khi nó rúng động, nó chấn động, nó chấn cảm, xúc động mạnh như vậy thì chứng tỏ pháp đ đang ngắm vào người đó, còn nó trơ trơ vậy đó, "khóc hoài thôi bỏ đi, tu gì khóc không vậy" thì cái tâm đó là tâm chống đối, cái tâm vô minh, cái tâm bất hiếu, cái tâm vô cảm.

Những người đó không có tu được, mà người đó lại không thấy được cái tâm chống đối của mình thì nó dẫn đi rồi xong thôi, đời đời kiếp kiếp cũng không đi vào chánh pháp được, mất cái duyên lành với chánh pháp cho nên khi chúng ta nghe pháp, chúng ta thực hành pháp mà có những cảm xúc cảm động như vậy rất tốt, đừng có kiềm lại và nếu được nên cố gắng trình pháp tại vì mình trình như vậy cái cảm thọ đó nó sẽ dâng lên thêm và nó kéo dài lên thêm, nó ngấm sâu vô thêm thì như vậy mình được lợi ít nhiều hơn và những người khác cũng được lợi ít. Tuyệt vời không? Tại sao những chuyện ngoài đời mình nói thao thao bất tuyệt, mình nói hết ngày này tới tháng kia, mình nói hết năm này tới năm nọ, mình nói tới già không hết mà pháp lại sợ, không dám nói, thấy chưa? Cái tâm vô minh nó sợ pháp lắm, bây giờ cho nó minh đó thành ra mình hiểu biết mình sẽ thấy rất là hay.

Phải để ý cái sự chống đối đó, diệt chống đối đó, diệt cái tâm nổi loạn, nó nổi loạn rồi sách giỏ đi, không cần thưa, không cần trình, không cần cảm ơn, biết ơn ai hết trơn, đó là cái tâm nổi loạn. Cái tâm vô ơn, cái tâm bất kính, cái tâm không có hậu, nếu không nhìn thấy được những cái đó rất nguy hiểm, sống làm người phải có trước có sau, có nhân có nghĩa, có thủy có chung, có nhân có hậu là cái căn bản của nhân đạo, phải có được cái này mà cái tâm nổi loạn nó nguy hiểm mà cái tuổi trẻ bây giờ, cái thời đại bây giờ, cái xã hội bây giờ thì nó khoái cái nổi loạn thì nó tương ứng với sự hủy diệt các cái thiện pháp. Cho nên phải để ý cái tâm chống đối và tâm nổi loạn, nhiếp phục và chế ngự nó, cái tâm này ai cũng có hết nhưng mình nhiếp phục, chế ngự từ từ thì nó giảm bớt rồi đó rồi tiếp tục nhiếp phục, chế ngự cái tầm buông lung phóng dật.

Cái tâm buông lung đó không muốn hộ trì căn gì hết, khó chịu lắm, mệt lắm, hộ trì mệt lắm để cho nó buông thả, buông lung, buông chơi, phóng dật, buông rơi vậy đó, nó thích vậy đó, nó nói trong tâm mình phải biết, chụp bắt nó liền, nhiếp phục, chế ngự nó liền thì nhớ để ý. Đầu tiên là nhiếp phục tâm chống đối, kế đó là nhiếp phục tâm nổi loạn, sau đó là nhiếp phục tâm buông lung phóng dật, phải nhìn thấy được nó ở trong cảm thọ, từ ở dưới nó dâng lên rồi bắt đầu những cái suy nghĩ, những cái hình bóng, những cái thứ này nó cấu kết với nhau, nó môi giới với nhau, những cái thứ giặc trong tâm này phải nhiếp phục nó, bắt nó đi vào khuôn phép, bắt nó đi vào oai nghi, bắt nó đi vào cái giới hạnh, bắt nó đi vào cái thanh quy, cái nội quy, cái nề nếp, cái thời khóa.

Cho nên bước đầu chúng ta là vậy đó, phải đi theo thời khóa, đi theo thanh quy, đi theo nội quy dầu cho nó có đau, có nhức, có mỏi, nó buồn ngủ vẫn phải chiến đấu. Khi đã chiến đấu được, mình đã thành tựu các thời khóa trong khóa tu là mình đã chiến thắng một phần rất lớn trong con người của mình, sau cái khóa tu mình trở về mới thấy, ở trong khóa tu mình thấy bình thường lắm nhưng sau khóa tu, hoặc là giữa khóa tu, hoặc là cuối khóa tu, hoặc là khi về rồi mình mới thấy được mình làm được một việc không phải bình thường mà là phi thường. Ở nhà mình thử coi mình tu nổi hai tiếng không, mở cái bài pháp lên hai tiếng đồng hồ mình nghe nổi không? Tại sao ở đây một ngày mình tu tám tiếng ngon lành mà suốt nửa tháng, tuyệt vời không? Sáng làm luôn bốn tiếng nữa, như vậy là nhờ cái lực của đại chúng đó cho nên là cái thứ ba là nhiếp phục cái tâm buông lung.

Mình tu tập để ý ba cái đó, nhiếp phục ba cái đó và đồng thời mình an trú trong một cái cảm thọ an tịnh, lắng dịu, dễ chịu, hiền thiện, ngọt ngào thì con người mình lúc nào cũng nhẹ, lúc nào nó cũng thanh, lúc nào nó cũng ngọt ngào, dễ chịu và bắt đầu cái tâm này nó sẽ đi vào. Khi mình nhiếp phục được ba cái này rồi tương đối bảy-tám chục phần trăm, an trú trong cái tâm an tịnh, lắng dịu, dễ chịu, hiền hòa, dễ thương thì bắt đầu cái tâm này nó sẽ từ cái chỗ nó rất là cứng, nó bị dập riết, sáng bị tạt nước, trưa tạt nước, tối tạt nước, khuya tạt nước pháp, pháp thủy tạt vào thì ngấm, sau khi ngấm thì nó mềm ra, từ từ bắt đầu nó nhũng, nó rệu, nó rã, nó mục ra, nó tan chảy và nó hòa đồng với một cái tâm hiền thiện. Tới cái giai đoạn này cái tâm mình sẽ trở thành nhu nhuyến, mềm mại, dễ sử dụng, tu tới đó là nó nhẹ, đỡ cực rồi, tâm mình sẽ trở thành một cái tâm nhu nhuyến, mềm mại, dễ sử dụng dầu cho mình có bị người ta nói nặng nói nhẹ, nói trên đầu trên cổ, chỉ trích mình luôn nhưng mà cái tâm mình vẫn có một cái khả năng nhiếp phục được những cái cảm thọ. Tuyệt dịu không? Phép màu không?

Mình sẽ tu tới cái đó không có khó, trong tầm tay mình thôi, với cái chánh pháp này là còn tới đâu nữa, còn cái đó chả là xá gì hết, không có là gì hết, không có kí lô gì hết, tu tới đó là chuyện trong tầm tay của mình. Mình bị chê bai, bị chỉ trích, thậm chí mình bị vu khống luôn mà mình vẫn có thể nhiếp phục được những cảm thọ bên trong, dầu nó có khó chịu chút đỉnh thôi, nhiếp phục rồi mình vẫn trải được cái tình thương đối với những người đó, tội nghiệp họ, họ đang đau khổ, họ đang sân hận, họ đang bị thiêu đốt, mình có khả năng để thương một người đang bị hỏa hoạn như vậy, đang bị đốt cháy như vậy và mình không muốn bị đốt cháy như vậy. Thông minh không? Thành ra quý vị chịu khó lúc đầu đi, chịu cực đi rồi mới mốt chịu khổ, chịu khổ xong rồi thì mai này mình đi đến chỗ giảm khổ, giảm khổ rồi tới chỗ bớt khổ, bớt khổ rồi tới chỗ hết khổ, mà hết khổ đó là đại Niết-bàn đó chứ không phải bình thường đâu, những từ trong kinh Nikāya rất là bình dị, không có lớn lao như bắn đại bác, không có bắn pháo hoa, pháo bông gì hết, bình thường đốt hoa đăng cầm tay mà nó ấm lắm.

Thành ra tu cái Nikāya tới đâu mình biết tới đó, chắc, chậm, thiết thực đến đâu mình thấy có hiệu quả tức thời, không có nói gì mà quá cao siêu. Bây giờ nội cái nhìn thấy tham, sân, si là cũng mệt nghỉ rồi, như lý giác sát là tỉnh giác quán sát đúng như cái sự thật nội tâm đang diễn ra, sau đó nhiếp phục, chế ngự nó là cũng nhừ tử rồi, tu bao nhiêu đó cả cuộc đời để thắng tham, sân, si để vào các quả vị bớt khổ, giảm khổ, hết khổ là thánh nhân A-la-hán đó, cái tu này không có tu cho sướng mà tu cho hết khổ chịu. Ngày hôm nay quý vị bao nhiêu cái cảm thọ? Hồi nãy vô đầu tiên con cho vui đó, lúc vô đầu tiên là cho vui, cho hỷ lạc, hạnh phúc về núi, sau đó cho khóc, khóc xong rồi cho vui sướng, hoan hỉ không? Cho nên mình tu cái Nikāya này nó không có cái trơ trơ, đều đều mà thường trú trong hai cái cảm thọ ưu và hỷ.

Chúng ta để ý thì chúng ta sẽ thấy, buồn ở đây là cái buồn để đưa mình lên cái thiện pháp, vậy có cần buồn không ạ? Như vậy cần buồn vì buồn mình mới tu, cần lo mình mới tu, cần sợ mình mới tu, hồi xưa mình không biết, mình tưởng đâu tu là đừng buồn, đừng lo sợ gì hết, tu cứ sướng, hưởng không à, đó tu theo dục, còn tu chánh pháp là phải biết buồn cho mình sao mình cứ tham hoài vậy, mình có nhục không, sao mình có sân hoài vậy, tồi bại quá vậy, có xấu hổ không. Đó là mình buồn, đó là ưu đó, mình cứ bản ngã, cứ tôi ta "nhục quá mày ơi, tao thấy cái bản ngã mày tao nhục quá". Đó là ưu, rồi giờ hỉ là "bữa nay mình được ngồi im re ăn cơm mà hai trăm người không nghe cái tiếng động, trời đất ơi nó tuyệt vời", đó là cho mình hỷ, đó là cảm thọ hỷ, ưu, rồi cái cảm thọ thứ ba là cái cảm thọ xả, chánh niệm tỉnh giác trú xả chứ không phải cảm thọ đơ đơ, ngơ ngơ là si.

Cho nên mình tu đó mình sẽ thấy nổi cộm lên hai cái cảm thọ cực kỳ hoan hỉ, hạnh phúc, vui sướng, ly dục vui sướng, ngồi dưới đất vậy đó mà thấy nhẹ nhàng, thích thú, ở nhà dễ gì ngồi được như vậy. Ở đây đi chân không ôm bình bát vẫn thấy vui, cạo đầu trọc vẫn thấy vui, mình nhớ hai cái cảm thọ hỷ và ưu, để con giải thích cái này cho chúng ta thấy cái chỗ đặc biệt mà nếu mình không có học cái thánh pháp, chánh pháp là mình không có biết cái buồn hay là cái vui nó không có quan trọng. Ở ngoài đời người ta thích vui, người ta không có ưa buồn cho nên những người đem cái tâm đời mà vô mà tu cái chánh pháp này mà gặp buồn cái rút, chạy là xong, là không vô chánh pháp, cái quan trọng không phải buồn vui mà quan trọng là trong cái buồn vui đó nó có thiện pháp không.

Chúng ta để ý cái này nè, khóc vậy đó nhưng mà có sanh thiện pháp không? Có sanh tâm hiếu không ạ? Có sanh tâm biết ơn, nhớ ơn không? Có sanh cái tâm xấu hổ, cái tâm hối hận đối với sai lầm đối với cha mẹ không? Đó là thiện pháp đó, còn cái tâm vui nãy giờ nói rồi, mà cái tâm đặc biệt thứ ba là cái tâm chánh niệm trú xả, gặp cái chuyện vui của đời, vui thế gian thì chánh niệm không có bị cái vui đó nó lôi đi. Thí dụ mình gặp người ta nói chuyện đùa, chuyện tiếu, chuyện đời này kia nọ cười hỉ hả nhưng mà lúc đó mình vẫn chánh niệm, mà cái vui đó là khác, cái vui nãy giờ mình nói là khác, gặp chuyện buồn bị người ta ăn cắp đồ hay bị người ta nói nặng gì đó và lúc đó mình vẫn chánh niệm trú xả thì cái đó mới là cái cảm thọ xả của cái pháp hành, chứ không phải cái xả là không biết gì hết, mà là không có chạy theo cái vui, không có chạy theo cái buồn để làm cho tham sân sanh khởi, không có chạy theo cái thích và cái không thích mà chánh niệm trú xả. Ba cái này là đối trị với tham, sân, si đó, ba cái pháp quán này, ba cái cảm thọ này là để trị tham, sân, si.

Nếu mà mình không có dùng ba cái thọ này để trị ba cái thọ tham, sân, si kia thì không có cái cách nào khác hết. Cho nên mình ly tham mình được vui, thay vì lúc trước mình tham mình mê, giờ mình ly tham mình vui, đó là nó trị tham, lúc trước là mình sân bây giờ mình có nội tâm rất là lắng dịu, rất là bình an và đầy sự ngọt ngào và yêu thương, còn lúc trước mình ở trong cái cảm thường thường thường không buồn không vui là mình si mà bây giờ mình chánh niệm tỉnh giác trú xả. Thầy Huệ cho nghe pháp, cho làm bài tập đó là nhận diện tham, sân, si, còn tối nay con nói là ba cái cảm thọ này đưa quý vị ra tham, sân, sĩ, nhớ kỹ cái này, còn bằng không là thường ngày mình sống trong si mà mình không biết, phải chánh niệm tỉnh giác trú xả, không có chạy theo cái thích và cái không thích.

Thí dụ mình gặp người đó mà họ nói cái giọng mình không ưa thì tự nhiên mình ngồi đó mình cũng bực nữa, có không? Không nói ra như mà trong bụng khó chịu, cái trú xả là mình phải giải tỏa cho được cái khó chịu này, trở về cái cảm giác an tịnh, lắng dịu thì lúc đó mới là trú xả.

Tâm thương này tỏa rộng

Cùng khắp thế giới này

Tâm thương này tỏa rộng

Khắp trời đất bao la.