Thư Viện Linh Quy
← Danh sách

QUÁN CHIẾU KIẾP NGƯỜI

2026-03-03 00:53:02
QUÁN CHIẾU KIẾP NGƯỜI

-Thích Minh Thành-

MỤC LỤC

TOC \o "1-3" \h \z \u I.Quán chiếu kiếp người PAGEREF _Toc73451016 \h 1

II.Quán pháp sanh diệt PAGEREF _Toc73451017 \h 6

Quán chiếu kiếp người

Khuya hôm nay, lúc hơn bốn giờ, Minh Thành nghe Thanh Tịnh Đạo Luận quyển 2. Nghe được một đoạn có quá nhiều cảm xúc, cảm xúc này giống như một câu trong Tam Quốc Chí: “Ngoảnh nhìn lại cuộc đời như giấc mộng, được mất bại thành bỗng chốc hóa hư không.” Nghe những lời Đức Phật dạy được chư Thánh Tăng kết tập, mình bỗng bừng tỉnh ra và nhìn thấy danh lợi, hơn thua, tiền bạc, ganh đua, tranh đấu, nhân ngã, thị phi,… tất cả mọi thứ đều giống trò ảo thuật, giống những đứa bé nhỏ chơi nhà chòi. Mình cứ u mê, si mê, đam mê mà không thấy được sự thật, rồi lẩn quẩn hoài trong đó. Cho nên trong Thanh Tịnh Đạo Luận dạy cách quán chiếu một trăm năm của kiếp người.

Trong một trăm năm đó, đời người chia thành ba giai đoạn: đoạn đầu, đoạn giữa và đoạn cuối. Giai đoạn đầu 33 năm, giai đoạn giữa là 34 năm và giai đoạn cuối là 33 năm. Nên nhớ ba đặc đặc tính – tức là tam tướng, người ta dạy mình bất cứ gì cũng đều gán tam tướng này vào: vô thường, khổ, vô ngã. Chia ba giai đoạn xong, vị thiền quán ấy đã gán ba đặc tính vào. Dùng chữ “gán”, tức là mình đưa ba đặc tính đó vào để soi sáng. Trong Thanh Tịnh Đạo Luận, chương XX, Sắc Bảy Pháp:

“Sắc sanh trong giai đoạn đầu chấm dứt tại đấy, không đi đến giai đoạn giữa, bởi thế nó là vô thường, cái gì vô thường là khổ, cái gì là khổ không phải ngã.”

Giai đoạn giữa và giai đoạn cuối cũng vậy.

Giai đoạn đầu: từ 1 – 33 tuổi;

Giai đoạn giữa: từ 34 – 67 tuổi.

Giai đoạn cuối: từ 68 – 100 tuổi.

Ở đây nói một trăm tuổi là cho mình nhiều. Bây giờ nếu chia thành mười giai đoạn trong một trăm năm, như vậy mỗi chặn là mười năm – một thập niên.

Mười năm đầu (Từ 1 – 10 tuổi): thập niên thơ ấu.

Mười năm thứ hai (Từ 11 – 20 tuổi): thập niên thể thao, vận động để phát triển.

Mười năm thứ ba (Từ 21 – 30 tuổi): thập niên thẩm mĩ, đây là giai đoạn đẹp nhất của con người, hoa vừa chớm nở. Cho nên có nhiều chỗ làm việc, chỉ nhận dưới 25 tuổi, hơn 30 tuổi không nhận.

Mười năm thứ tư (Từ 31 – 40 tuổi): thập niên sức mạnh, thể lực, sức khỏe.

Mười năm thứ năm (Từ 41 – 50 tuổi): thập niên trí huệ, hiểu biết vững chãi, có nhiều kinh nghiệm trên đời.

Mười năm thứ sáu (Từ 51 – 60 tuổi): thập niên suy tàn.

Mười năm thứ bảy (Từ 61 – 70 tuổi): thập niên cúi xuống.

Mười năm thứ tám (Từ 71 – 80 tuổi): thập niên còng lưng, ai không còng lưng là rất có phước.

Mười năm thứ chín (Từ 81 – 90 tuổi): thập niên lẩm cẩm, lẫn lộn.

Mười năm cuối cùng (Từ 91 – 100 tuổi): thập niên nằm dài, đi không nổi.

Cho nên mười năm đầu của người có thọ mạng một trăm năm là “sự biến mất những gì già lần qua từng giai đoạn. Sắc sanh trong thập niên đầu chấm dứt tại đấy không đi đến thập niên sau, bởi thế nó là vô thường, khổ, vô ngã.” Khi từ 1 – 10 tuổi là một giai đoạn, đến giai đoạn từ 20 – 30 tuổi thì sắc của giai đoạn đầu không còn nữa, đã diệt và sanh ra sắc mới. Khi giai đoạn 20-30 đã diệt thì qua giai đoạn tiếp theo, mỗi giai đoạn như vậy cứ sanh và diệt chứ không phải còn nguyên. Cho nên “sắc sanh trong thập niên đầu chấm dứt tại đấy không đi đến thập niên sau”, 10 tuổi là 10 tuổi, 20 tuổi là 20 tuổi, vì vậy đó là vô thường, là khổ, là vô ngã, không có tôi và của tôi. Mình cứ tính một thập niên là một giai đoạn, mỗi chặng như vậy đều sanh diệt: chặng 1 không phải là chặng 2, chặng 2 không phải là chặng 3, chặng 5 không phải là chặng 6,… Minh Thành hiện giờ là giữa chặng 4 rồi.

Từ mỗi giai đoạn là 10 năm, người ta tiếp tục chia thành hai giai đoạn, mỗi giai đoạn là 5 năm và gán ba đặc tính vào để quán chiếu. Mỗi chặng 5 năm như vậy cũng tiếp tục sanh diệt, 5 năm trước không phải là 5 năm sau. Chẳng hạn năm nay mình 30 tuổi thì không giống như lúc 25 tuổi. Cho nên khi quán chiếu thì chúng ta phải quán chiếu như vậy, chứ không phải chỉ biết nói sanh, già, bệnh, chết; sanh, lão, bệnh, tử; thành, trụ, hoại, không, như vậy thì cạn lắm, chỉ phớt ngoài da.

“Sau khi gán ba đặc tính theo từng giai đoạn 5 năm như trên, vị ấy lại gán ba đặc tính theo từng giai đoạn bốn năm; (2e) ba năm; (2f) hai năm; (2g) một năm, (2h) Kế tiếp, vị ấy gán ba đặc tính theo “sự biến mất của những gì già lẫn qua từng giai đoạn” bằng phương tiện ba mùa.

Sắc sanh trong bốn tháng mùa mưa chấm dứt tại dấy không đi đến mùa đông, sắc sanh trong bốn tháng Ðông chấm dứt tại đấy không đi đến mùa Hạ. Sắc sanh trong bốn tháng Hạ chấm dứt tại đấy không đi đến mùa Mưa: bởi thế nó là vô thường, khổ, không phải ngã.”

Ở Ấn Độ thì chỉ có ba mùa, nước mình thì bốn mùa: mùa xuân khác, mùa hạ khác, mùa thu khác, mùa đông khác. Chúng ta rút ngắn thời gian từ từ để quán chiếu, ở đây là quán chiếu qua bốn mùa. Sắc sanh trong mỗi một mùa chấm dứt tại đấy chứ không đi đến mùa tiếp theo. Mùa xuân thì thân xác chúng ta sanh như vậy nhưng khi đến mùa hạ là nó sẽ diệt. Mùa thu sanh ra thế này, nhưng đến mùa đông thì thế khác. Cho nên thân xác chúng ta sanh diệt theo từng mùa, chứ không phải mùa nào cũng giống như nhau. Tuy nhiên mình sống trong lãng quên, không có tuệ quán, không có chánh niệm, không có sự nhìn nhận sâu sắc nên không thấy sự sanh diệt bên trong, cứ thấy đều đều cho nên mê lầm. Vì vậy, thân xác này là vô thường, là biến đổi, là bất toại nguyện, không có gì là tôi, không có gì là của tôi.

“Kế tiếp, vị ấy gán ba đặc tính bằng phương tiện mỗi nửa tháng tối và nửa tháng sáng (trăng).” Nửa tháng tối là nửa tháng không trăng, trong kinh dùng từ rất hay, nên ta thấy trí tuệ của Phật khủng khiếp lắm. Đức Phật không dùng từ “không có trăng”, mà trong kinh chữ Hán là dùng từ “hắc nguyệt”. Đây là chỗ độc đáo của Đức Phật, nếu không có tuệ nhãn, không có pháp nhãn, không có thiên nhãn thì làm sao biết rằng không phải là không có mặt trăng. “Sắc sanh trong nửa tháng tối trăng chấm dứt tại đấy không đi đến nửa tháng sáng; sắc sanh trong nửa tháng sáng chấm dứt tại đấy không đi đến nửa tháng tối: bởi thế nó là vô thường, khổ, không phải ngã”, bất toại nguyện, không có gì là tôi, không có gì là của tôi. Mỗi nửa tháng lạy sám hối phải quán chiếu thời gian của mình đang dần rút ngắn, sắc đang biến đổi.

“Kế tiếp, vị ấy gán ba đặc tính một ngày, một đêm như sau: “Sắc sanh trong đêm chấm dứt tại đấy, không đi đến ngày; sắc sanh trong ngày chấm dứt tại đấy không đi đến đêm: bởi thế nó là vô thường, khổ, không phải ngã.” Khi đi kinh hành, nghe đến đoạn này Minh Thành rúng động, may là tuổi còn khỏe, chứ nếu già là sụm luôn vì quá xúc động, chấn động thân tâm. Chúng ta không thấy mỗi ngày đêm sắc thân mình đang sanh diệt. Cần phải biết rằng buổi ban đêm là sắc thân mình khác, qua đến ban ngày là nó đã khác, luôn sanh diệt không ngừng. Tuy nhiên chúng ta không thấy điều này, mà suốt ngày lo nhìn người khác, đây là chỗ khổ. Cứ nhìn người này đúng, người kia sai, nhìn vào nghèo, giàu, sang, hèn, nhìn người khác xem bằng mình, hơn mình hay thua mình, rồi ngã mạn, chấp ngã trong vô minh. Chúng ta không thấy khi trời sáng là sắc lúc đêm qua đã diệt, sắc thân ban ngày được sanh ra và chiều tối đến lại diệt sắc của ban ngày, rồi tiếp tục sanh ra sắc của ban đêm.

Lúc còn am tranh, có một người ngoài Bắc vào tu, một hôm có pháp đàm, ông ấy phát biểu một câu ai cũng cười, nhưng lại có ý nghĩa, rất vui: “Bạch sư phụ, con sáng kiến ra được một pháp tu độc đáo lắm, con tu khỏe và tinh tấn lắm. Đó là mỗi khi buông mùng xuống và vào đó nằm, con quán chiếu giống như vào nằm trong hòm. Thành ra ngày nào con cũng nhớ đến cái chết. Tối nào cũng thấy mình chui vào hòm chết và con tu rất tiến bộ.” Nước ngoài có dịch vụ cho chết thử 10 phút. Có hòm đàng hoàng, người ta làm cho mình ngộp chút xíu, chết thử để biết trân trọng sự sống.

“Kế tiếp, vị ấy gán ba đặc tính bằng cách chia ngày làm sáu thời như sau: “Sắc sanh buổi sáng chấm dứt tại đấy không đi đến buổi trưa; sắc sanh buổi trưa chấm dứt tại đấy không đi đến buổi chiều; sắc sanh buổi chiều chấm dứt tại đấy không đi đến canh giữa; sắc sanh canh giữa chấm dứt tại đấy không đi đến canh cuối; sắc sanh canh cuối chấm dứt tại đấy không đi đến sáng hôm sau: bởi thế nó là vô thường, khổ, không phải ngã”

Sau khi gán ba đặc tính theo kiểu ấy, hành giả lại quán ba đặc tính ấy nơi sắc qua các cư động tới lui, nhìn lại, quay đi, co duỗi… như sau: “Sắc sanh trong động tác tới chấm dứt tại đấy không đi đến động tác lui, sắc sanh ở động tác lui chấm dứt tại đấy không đi đến động tác tới; sắc sanh ở đồng tác nhìn lại chấm dứt tại đấy không đi đến động tác quay đi… sắc sanh ở động tác co dừng lại ở đấy không đi đến động tác duỗi: bởi thế nó là vô thường, khổ, không phải ngã.”

Mỗi động tác co tay, duỗi chân mình đều thấy pháp sanh diệt, bởi thế nó là vô thường, khổ, vô ngã, không có gì là tôi, không có gì là của tôi.

“Kế tiếp, vị ấy chia bước đi thành sáu phần là nhấc lên, đưa tới, đưa sang bên, hạ thấp, đặt xuống, mắc vào.

Nhấc lên là dở chân khỏi mặt đất, đưa tới là đưa chân tới trước, đưa sang bên là di chuyển bàn chân qua một bên để tránh gai gốc v.v… ha thấp là đưa bàn chân xuống, đặt xuống là đặt bàn chân trên mặt đất; mắc vào là ấn trọn bàn chân xuống đất, trong khi bàn chân kia đang trên không.

Ở đây, trong động tác “nhấc lên”, hai giới địa và thủy là phụ, chậm chạp còn hai giới kia chính và mạnh. Cũng vậy trong động tác đưa tới và đưa sang bên. Trong động tác “hạ thấp”, hỏa, phong giới là phụ, chậm còn hai giới kia chính và nhanh, động tác “đặt xuống” và “mắc vào” cũng thế. Vị ấy gán ba đặc tính cho sắc theo “sự biến mất của những gì già lẫn qua từng giai đoạn” bằng sáu phần của bước chân như sau.”

Đây là phối hợp tứ đại để quán chiếu bước chân. Bàn chân gồm đất, nước, gió, lửa bên trong. Khi mình động lên thì phong đại, địa đại mạnh. Mỗi bước chân chia thành sáu giai đoạn để cho mình quán chiếu, đi như vậy thì làm sao mà không sanh trí huệ. Những vị sư Miến Điện hành thiền Minh Sát Tuệ, các Ngài đi rất chậm. Minh Thành thường nhắc huynh đệ đi chậm, vì nếu đi như kiểu đang bay của mình thì đâu nhớ được gì để quán chiếu, thậm chí còn không biết mình đang đi. Phải đưa tuệ quán vào mỗi cử động, ở đây người ta nói về bước chân là nêu cụ thể một việc, còn mình phải soi ra tất cả mọi việc khác để quán chiếu trong khi ngồi, đứng, tất cả mọi động tác. Khi có sự quán chiếu, tỉnh thức, chánh niệm sâu sắc thì sẽ thấy được sanh diệt pháp, thấy được sự vô thường, khổ, vô ngã, biến đổi, bất toại nguyện, trống rỗng.

Tiếp đến, có một ví dụ rất hay:

“Một người ở biên địa đã quen với đuốc, củi, cỏ nhưng chưa từng thấy đèn, một hôm đến đô thị trông thấy một cây đèn đốt ở chợ, anh ta hỏi một người khác: “Cái vật xinh đẹp kia là cái gì?” Người kia bảo: “Có gì là đẹp? Nó là một cây đèn, khi dầu và bấc đã hết thì đèn ấy đi về đâu, chẳng ai biết được. “Một người khác bảo người ấy: “Nói vậy chưa được, vì ngọn đèn trong mỗi phàn ba của tim bấc khi nó dừng đốt cháy bấc, đã chấm dứt tại đấy không đi qua phần kia.” Người khác bảo anh này: “Nói vậy cũng chưa được, vì ngọn đèn trong mỗi tấc bấc, nửa tấc, mỗi sợi chỉ, mỗi sơ tơ quấn chỉ, sẽ chấm dứt, không đi đến sợi khác, nhưng ngọn đèn không thể xuất hiện nếu không có sợi tơ ấy."

Đây là tuệ phân tích, người nhà quê là ví dụ cho người phàm phu không nghe Chánh Pháp, chỉ nhìn thấy mặt ngoài, giả tướng của sự vật nên cho rằng cây đèn đó là đẹp. Còn người nhìn hoài thì không thấy đẹp, chỉ là sự kết hợp giữa tim, bấc, dầu, bình, khói, nếu dầu cạn thì không cháy được. Người khác nói như vậy cũng không đúng, bấc trong tim đèn có 4-5 tấc, cháy đoạn này hết thì sẽ tới đoạn kia. Người nọ nói cũng chưa đúng, trong tim thì có nhiều sợi, sợi này xoắn với sợi kia, sợi kia không phải sợi này, nó không phải là nhau nhưng lại nương dựa vô nhau để tồn tại và có ngọn lửa. Sở dĩ ngọn đèn cháy là nhờ những sợi tơ, sợi chỉ nhỏ ở trong tim, dầu nhúng ở dưới lên, cho nên đèn cháy được là từ từng sợi chỉ, giọt dầu. Đây là phương pháp tuệ phân tích để mình quán chiếu. Bình thường khi nhìn cây đèn, mình không để ý đến dầu và tim, mà chỉ thấy nguyên một cây đèn, đó là cái thấy của ngã của pháp cố định.

Cho nên cái thấy sâu như vậy để cho mình thấy rằng đó là pháp sanh diệt, từng giây từng phút cháy mòn, tàn lụng, đi đến chỗ chấm dứt. Thân này, đời sống này, thậm chí cả hành tinh, quả đất này cũng vậy.

Quán pháp sanh diệt

Như vậy qua đoạn gợi ý quán chiếu, cho mình thấy những điều sau. Đầu tiên là chia cuộc đời thành ba giai đoạn, nói dễ hiểu là: giai đoạn trẻ, giai đoạn trung niên và giai đoạn lão niên. Mỗi giai đoạn đó là khác nhau. Giai đoạn trẻ không phải giai đoạn trung niên và trung niên không phải lão niên. Mỗi giai đoạn sanh diệt, thay đổi. Đại số mọi người, khi đưa hình lúc mười mấy, hai mươi tuổi là nhìn không ra, vì nó là sanh diệt, tuổi trẻ đâu còn nữa.

Giống như Minh Thành bây giờ xấu quắc, mà đưa hình lúc 19-20 tuổi ra, mấy chú khen đẹp trai, nghe vậy mình cũng mừng. Nhìn xa xa tưởng như diễn viễn điện ảnh, nhưng giờ còn đâu nữa. Giai đoạn thiếu niên là sanh diệt, giai đoạn trung niên cũng sanh diệt và giai đoạn lão niên cũng sanh diệt. Đó là bước thứ nhất.

Bước thứ hai, chia cuộc đời thành 10 chặng, mình chia tạm thành 7 chặng cho dễ hiểu. Thường thường người ta nói kiếp người là 70 năm cuộc đời, từ tuổi thơ, thể thao, sắc đẹp, hiểu biết, trí huệ, cho đến suy tàn, còng lưng và nằm dài. Mỗi giai đoạn đều sanh diệt, giai đoạn này không phải là giai đoạn kia. Giai đoạn 10 năm tuổi thơ không phải 10 năm thể thao; 10 năm thể thao đâu phải là 10 năm của sắc đẹp, thẩm mĩ; 10 năm sắc đẹp không phải 10 năm của trí huệ, nhận thức; 10 năm trí huệ, nhận thức không phải 10 năm suy tàn lúc 50-60 tuổi; cuối cùng là giai đoạn còng lưng và nằm dài. Cho nên sắc thân này là sanh diệt, đổi thay, biến hoại, không chắc chắn, không cố định, không có lõi bên trong, nó là trống rỗng nhưng mình không thấy. Chúng ta cứ tưởng từ 20 tuổi đến 50 tuổi là sự nhất quán liên tục nhưng thật ra nó là sanh diệt pháp.

Ai sống một trăm năm,

Không thấy pháp sinh diệt,

Tốt hơn sống một ngày,

Thấy được pháp sinh diệt.

(Kinh Pháp Cú – Phẩm Ngàn)

Qua câu này, Đức Thế Tôn trao gửi cho chúng ta một thông điệp rất quan trọng, cần phải nghe, nghiền ngẫm và lấy đó làm đề mục để quán chiếu, chứ không phải đọc tụng lên cho xong. Dù sống 100 năm mà không thấy pháp sanh diệt thì không bằng sống 1 ngày thấy được pháp sanh diệt, chứng được quả A-la-hán. Thời Đức Phật, có những chú mới 5-7 tuổi là đã chứng quả A-la-hán. Còn mình tu từ 7-70 tuổi mà chứng được quả a la hán ngoài Chợ Lớn. Đó là tại vì chúng ta không chịu đem hết tâm huyết hi sinh vì pháp, ta cứ nói bằng miệng, nhưng thật ra bên trong là tự ngã, là tôi và của tôi. Làm bất cứ điều gì cũng nghĩ đến tôi và của tôi, có lợi ích cho cái tôi thì mới làm, như vậy thì làm sao thành công?

Từ mỗi chặng mười năm, tiếp tục rút lại thành từng năm. Sau đó rút lại thành từng mùa: xuân, hạ, thu, đông. Kế tiếp rút lại sự sanh diệt trong từng ngày, đêm: ban ngày pháp sanh diệt, đêm tới pháp cũng sanh diệt, ban ngày sắc, sức khỏe, cơ thể của mình khác với ban đêm, từng ngày trôi qua nó đều sanh diệt. Tiếp đến rút ngắn lại thành sáu thời: sáng, trưa, chiều, tối, đầu đêm, cuối đêm – mỗi một giai đoạn như vậy mình tính là 4 giờ, là 2 canh giờ hồi xưa; mỗi buổi như vậy là 4 tiếng và nó sanh diệt khác trong từng thời. Sau cùng là trong một bước chân mà chia thành sáu giai đoạn, người ta đã phân tích một cách cặn kẽ, không thiếu gì cả.

Bây giờ, Minh Thành nói về cái bàn mây ngay trước mặt. Thấy đây là cái bàn hình tròn, đẹp, như vậy là cái nhìn của phàm phu thường tình. Nếu nhìn bằng tuệ phân tích thì sẽ đếm xem có bao nhiêu cây mây, chúng được dán bằng keo, sẽ sứt ra. Cho nên mình nhìn sắc pháp thì thấy đẹp, nhưng nhìn sâu vào thì chỉ thấy đây là những cái cây thôi. Bình thường cây mây đứng mọc riêng lẻ từng cây, chúng ta không thấy đẹp, nhưng đem vào để tạo dáng, tạo hình thì đó là pháp duyên sanh. Duyên này biểu hiện ra dán hình cái bàn mây hiện tại, chứ bản chất nó không có gì đẹp, chỉ là cây mây từ tứ đại: đất, nước, gió, lửa thôi. Mình nhìn sâu như vậy thì mới có thể phá được cái thấy mê của mình, đó là nói về lý duyên khởi.

Trở lại vấn đề đang nói là pháp sanh diệt, nó phân tích cho mình thấy tất cả đều sanh diệt, như vậy thì cái ái, cái mê, cái bám chấp của mình không có chỗ bám. Còn trước đây mình cho rằng mọi thứ đều là thật, là đẹp nên mới bám vào, cho nên ái dẫn đến thủ, hữu và tạo thành nghiệp – yêu thích, nắm giữ và tạo ra nghiệp. Như vậy nghiệp có ra từ chỗ yêu thích và yêu thích là tại vì cho rằng đối tượng đó là đẹp, là thật. Tuy nhiên, tất cả đều là sanh diệt, không có chỗ để y cứ, bám chấp và nương dựa – gọi là sanh y – tức là chỗ nương dựa của tái sanh, luân hồi, đau khổ bởi vì yêu thích, bám chặt, nắm giữ. Từ đó thấy được bản chất của mọi thứ là sanh diệt, không có gì là đẹp xấu, chẳng qua đẹp xấu là do duyên biểu hiện, bản chất của nó là vô thường, khổ, vô ngã, trống rỗng, không có gì là tôi, không có gì là của tôi. Lúc nào cũng thấy được như vậy thì chỗ bám, căn cứ địa, chỗ dựa sẽ bị sụp đổ, cho nên sanh y sụp đổ.

Như vậy, đây mới là những lời dạy gốc của Đức Phật, chứ không phải ngồi im re, nghĩ tâm mình thanh tịnh, không khởi niệm, cho rằng như vậy là ngon, như thế không phải thiền của đạo Phật. Thiền của đạo Phật là nhìn sâu vào bản chất của sự mê lầm, thấy từ đâu phát sanh mê lầm, mê lầm vận hành như thế nào và dẫn dắt đến kết quả khổ não ra làm sao. Khi thấy rõ được bản chất đó rồi thì chuyển hóa, thay đổi nhận thức mê lầm. Đây mới chính là thiền quán của đạo Phật, là trí huệ, tinh hoa mà Đức Thế Tôn dâng hiến cho muôn loại, chứ không phải chỉ riêng nhân loại. Đây là con đường độc nhất, thanh tịnh, đưa chúng sanh đến bến bờ an vui, Niết-bàn, chấm dứt hết tất cả sầu, bi, khổ, ưu, não. Đây chính là Thanh Tịnh đạo./.