Thư Viện Linh Quy
← Danh sách

Tương Ưng Nhân Duyên 3 - Trò Ảo Thuật Của Tâm Thức-6 Xứ-Danh Sắc-Thức-Hành-Vô Minh

2026-03-03 00:52:13
Kinh Nikāya Giảng Giải

Tương Ưng Nhân Duyên 3

Trò Ảo Thuật Của Tâm Thức

6 Xứ- Danh Sắc - Thức - Hành - Vô Minh

Thích Minh Thành

MỤC LỤC

TOC \o "1-3" \h \z \u I. Sáu xứ PAGEREF _Toc178092713 \h 1

II. Danh sắc PAGEREF _Toc178092714 \h 5

III. Thức PAGEREF _Toc178092715 \h 7

IV. Hành – Vô Minh PAGEREF _Toc178092716 \h 12

I. Sáu xứ

Kính bạch các bậc hiền trí Tăng Ni và quý Phật tử, chúng ta tiếp tục nghe Đức Thế Tôn tường thuật sự chứng ngộ của ngài trong Tương Ưng Nhân Duyên.

"Rồi này các Tỳ-kheo, Bồ-tát Vipassì lại suy nghĩ như sau: 'Do cái gì có mặt, thọ có mặt? Do duyên gì, thọ sanh khởi?' Rồi này các Tỷ- kheo, sau khi như lý tư duy, Bồ-tát Vipassì nhờ trí tuệ phát sinh minh kiến như sau: 'Do xúc có mặt nên thọ có mặt. Do duyên xúc, thọ sanh khởi'.

Rồi này các Tỳ-kheo, Bồ-tát Vipassì lại suy nghĩ như sau: 'Do cái gì có mặt, xúc có mặt? Do duyên gì, xúc sanh khởi'? Rồi này các Tỷ- kheo, sau khi như lý tư duy, Bồ-tát Vipassì nhờ trí tuệ, phát sinh minh kiến như sau: 'Do sáu xứ có mặt nên xúc có mặt. Do duyên sáu xứ, xúc sanh khởi'". (Tương Ưng Bộ, Tập II – Thiên Nhân Duyên, Chương I. Tương Ưng Nhân Duyên (a), I. Phẩm Phật Ðà, IV. Vipassì (Tỳ-bà-thi))

Trong bài kinh Phân biệt Đức Thế Tôn giải thích thế nào là thọ.

"Và này các Tỳ-kheo, thế nào là thọ? Này các Tỳ-kheo, có sáu thọ này: thọ do nhãn xúc sanh; thọ do nhĩ xúc sanh; thọ do tỷ xúc sanh; thọ do thiệt xúc sanh; thọ do thân xúc sanh; thọ do ý xúc sanh. Này các Tỳ-kheo, đây gọi là thọ". (Tương Ưng Bộ, Tập II – Thiên Nhân Duyên, Chương I. Tương Ưng Nhân Duyên (a), I. Phẩm Phật Ðà, II. Phân Biệt)

Có sáu loại cảm thọ, cảm thọ do mắt tiếp xúc sanh khởi ra, cảm thọ do tai tiếp xúc âm thanh khi nghe sanh khởi ra, cảm thọ do mũi ngửi mùi sanh khởi ra, cảm giác do lưỡi nếm thức ăn sanh khởi ra, cảm thọ khi thân đụng chạm, tiếp xúc sanh khởi ra, cảm thọ khi để ý vào trong tâm, để ý những cảm giác, hình bóng, suy nghĩ sanh khởi ra. Đó là sáu loại cảm thọ, cảm giác và từ đâu có ra sáu loại cảm giác ở nơi mắt; tai; mũi; lưỡi; thân; ý, đó là từ sáu căn, đó là cơ sở, là chỗ y cứ cho nên ở đây gọi là sáu xúc.

"Và này các Tỳ-kheo, thế nào là xúc? Này các Tỳ-kheo, có sáu xúc này: nhãn xúc, nhĩ xúc, tỷ xúc, thiệt xúc, thân xúc, ý xúc. Này các Tỳ-kheo, đây gọi là xúc.

Và này các Tỳ-kheo, thế nào là sáu xứ? Nhãn xứ, nhĩ xứ, tỷ xứ, thiệt xứ, thân xứ, ý xứ. Này các Tỳ-kheo, đây gọi là sáu xứ". (Tương Ưng Bộ, Tập II – Thiên Nhân Duyên, Chương I. Tương Ưng Nhân Duyên (a), I. Phẩm Phật Ðà, II. Phân Biệt)

Tại sao tâm lại nắm giữ? Vì tâm yêu thích. Tại sao tâm lại yêu thích? Vì có cảm giác, có cảm thọ, có cảm xúc dễ chịu nên mới yêu thích rồi nắm giữ. Tại sao có cảm thọ, cảm giác dễ chịu? Vì do thấy cái đó đẹp, nghe cái đó dễ thương, ngửi cái đó thơm, ăn ngon, đụng chạm êm ái nên thích thú, khoan khoái, do có sự tiếp xúc nghĩa là do thấy, nghe, ngửi, nếm, đụng chạm và nhận biết những hình bóng, suy nghĩ, cảm giác trong tâm. Như vậy có cảm giác thích thú là do tiếp xúc, tức là có thấy, nghe, ngửi, nếm, đụng chạm, nhận thức trong tâm. Tại sao lại có thấy, nghe, ngửi, nếm, đụng chạm, nhận thức trong tâm? Vì có sáu chỗ (sáu xứ) y cứ, đây chính là Thánh trí tuệ chiếu soi để tìm ra căn nguyên, ngọn ngành, gốc rễ.

Vì sao lại thấy? Vì có con mắt. Tại sao có cái nghe? Vì có lỗ tai. Tại sao có cái ngửi? Vì có lỗ mũi. Tại sao có sự ăn? Vì có lưỡi, có miệng. Tại sao có sự đụng chạm? Vì có thân. Tại sao có nhận thức tho; tưởng; hành bên trong? Vì có ý. Như vậy cơ sở để tiếp xúc sanh ra cảm thọ yêu thích, nắm giữ là vì có sáu căn, sáu chỗ, mà sáu chỗ đó gọi là sáu xứ.

Nếu mình không thành tựu trí tuệ về mười hai nhân duyên này thì mình không thể phá được bất kì cái nào trong mười hai cái này. Nếu bây giờ mình chỉ muốn đoạn ái nhưng không thấy vô minh thì làm sao đoạn được ái? Do vô minh nên mới ái, nếu không thành tựu trí tuệ thì mình có phá ái đi nữa thì chỉ phá được cái thô thôi còn gốc rễ không thể bứng được. Mỗi một nhân duyên trong mười hai nhân duyên đều đưa Thánh trí huệ vào để phá vỡ, đầu tiên là mình học về già chết thì mình phải biết cách để phá già chết, không yêu thích, khoan khoái già chết để thoát ra khỏi nó cho nên mỗi một lý duyên khởi nào đều đưa Thánh trí tuệ vào đó để soi thấu, soi rọi để có nhàm chán, từ đó thoát ra khỏi nó, học tới đâu là phá tới đó chứ không phải học chỉ để cho biết.

Thông thường khi học mười hai nhân duyên là giải thích từ ngữ, nghĩa lý của nó như vậy, còn ở đây khi học là mình biết nó như vậy, biết nguyên nhân sanh diệt của nó và dùng Thánh trí tuệ chiếu soi vào để phá vỡ nó. Khi học về hữu nghĩa là có cái gì là khổ cái đó, biết như vậy để không hữu ái, không yêu thích nó nữa.

Khi học là phải dẹp bỏ năm triền cái và tập trung tất cả tâm ý vào để học, để nắm bắt được trí tuệ trong đó. Đây không phải là cái nghe thông thường mà phải nghe bằng thiền quán, khi học về tứ thủ thì cái thủ nào cũng phá trừ, mình đưa ra sự viễn ly, xuất ly để rời xa những sự chấp thủ đó, đến sáu ái cũng giống vậy. Yêu thích là do có cảm giác, cảm thọ, có cảm thọ vì có sự tiếp xúc, vì gặp gỡ, nghe, thấy, có sự tiếp xúc vì có chỗ để tiếp xúc, đó là sáu xứ. Đức Phật đã dạy chúng ta cách phá vỡ, phá nát sáu xứ.

Đức Phật luôn nhắc con mắt này là vô thường, lỗ tai này là vô thường, lỗ mũi này là vô thường, cái lưỡi này là vô thường, cái thân và ý này là vô thường. Con mắt này là bệnh, tai; mũi; lưỡi này là tật bệnh, là khổ đau. Con mắt này là vô ngã, tai; mũi; lưỡi này là vô ngã, tâm ý này là vô thường, khổ, vô ngã, phiền phức, phiền não. Trong tâm chất chứa sự lo lắng, bất an, sầu khổ, buồn đau, hãy nhàm chán nó, ưa thích con mắt là ưa thích khổ, ưa thích gương mặt là ưa thích khổ, ưa thích hình hài là ưa thích sầu đau, ưa thích thân xác này là ưa thích già nua, bệnh tật, ưa thích thân thể này là ưa thích nước mắt, ưa thích tro cốt, ưa thích nắm mồ.

Học như vậy thì có biết bao trí tuệ trong đó để khi gặp pháp nào cũng có trí tuệ soi chiếu vào đó để đánh phá, trong tám tháng dịch vừa qua chúng ta đã củng cố cho mình biết bao văn tuệ, tư tuệ để làm hành trang, vốn liếng trong tương lai. Đức Phật nói do có mắt; tai; mũi; lưỡi; thân; ý nên có thấy, có nghe, có ngửi, có nếm, có xúc, có biết, do vì có thấy, nghe, ngửi, nếm, xúc, biết nên mới có ra cảm thọ, cảm giác, vì có cảm giác nên mới có yêu thích, vì có yêu thích nên mới nắm giữ, vì nắm giữ nên mới hiện hữu trong khổ đau, trong buồn lo, bất an, sầu não.

Mỗi một ngày trên thế giới có hơn hai triệu bốn trăm ngàn ca nhiễm dịch bệnh. Vậy có phải có thân thể này là phải có sự lo lắng, bất an không? Vậy mà chụp vào được tấm thân nào rồi là ta đây, khinh người, người xưa nói "mục hạ vô nhân" nghĩa là dưới mắt không có người, dùng để chỉ những người kiêu ngạo, không xem ai ra gì. Mình là trung tâm vũ trụ, nói ra lời gì cũng đúng, người ta không nghe theo là tức giận, đó là sự mê lầm, đau khổ. Hằng ngày phải thường tác ý về chánh kiến, Đức Phật nói thấy con mắt vô thường, khổ, vô ngã là chánh kiến, thấy tai; mũi; lưỡi; thân xác này là vô thường, tan biến, tan vỡ là chánh kiến.

Thấy như vậy để đưa đến nhàm chán, không tham muốn nữa, đưa đến từ bỏ, đoạn tận, cái thấy đó là cái thấy đúng, cái thấy đó là minh kiến, là cái thấy tuệ giác của bậc Thánh. Do có sáu xứ nên cứ thích nghe, thích nhìn, thích ngửi, thích nếm, muốn tìm cái gì đó để nhìn, đi xa xôi suốt đêm suốt ngày để được nhìn, được nếm, được ngửi, có biết bao cực khổ, vất vả, thậm chí đi du lịch mà mất mạng, những lễ hội đông đúc người rồi che chúc lẫn nhau gây tai nạn. Đó là sự thích thú đám đông, thích thú sự tụ hội, hội họp chỉ để được nhìn, được nghe, cho nên mình phải phòng hộ, bảo vệ, thâu nhiếp, ngược lại không biết bảo vệ, giữ gìn thì khổ đau, tai họa, sầu bi, bất an.

Khi quán chiếu sâu sắc sẽ thấy ngao ngán, ê chề, não nề, có những cái nhìn phải vào tù, có những cái nhìn là phải chết. Nhìn những cái không đáng nhìn rồi chết chóc, tù tội, tán gia bại sản, phá hủy hết những gì đã gầy dựng cả đời, đó là xúc, thọ, ái. Cái muốn nghe, muốn nhìn, muốn ngửi, muốn nếm đó là khổ, muốn nếm mà người ta không cho nếm rồi sân lên, buồn, muốn ăn mà không được ăn, người khác được ăn còn mình thì không nên giận, kinh điển nằm trong đời sống hằng ngày chứ không có gì xa xôi, khó hiểu.

Hoặc là ăn không vừa lòng rồi sân si, nói nặng nói nhẹ rồi vợ chồng gây gổ, người vợ chăm chút từng món ăn nhưng khẩu vị của vợ khác chồng hoặc vợ thích món nào là nấu hoài món đó, chồng ăn hoài nên ngán rồi phiền não, sân hận. Đức Phật nói nếu không phòng hộ, không bảo vệ, giữ gìn sáu căn, sáu thọ, sáu xứ, sáu xúc sẽ đưa đến đau khổ, đưa đến buồn lo, chia ly, tan rã, đưa đến bất an, tan nát.

Có những cái nhìn rồi là không quên được, cứ nhớ hoài món đồ đó hoặc con người đó, cho nên nhãn xúc là khổ hoặc nhìn một cái là tức giận, sân hận, thấy rồi là ăn không được, ngủ không được, phải tìm cách trả đũa, hoặc là nghe một cái rồi là tức tối. Con mắt là cửa sổ tâm hồn nhưng cái nhìn có thể gây chết người, cái nghe là lửa đốt, cái ngửi, cái nếm là ràng buộc, hệ lụy, cái tiếp xúc đó là cả đời bị trói cột, chúng ta phải đặc biệt cẩn thận với mắt; tai; mũi; lưỡi; thân; ý này.

Khi Minh Thành đi vào dòng pháp này rồi chiêm nghiệm, tư duy thì thấy cái gì cũng là khổ, nếu quý vị nêu ra được bất kì cái gì không có khổ trong đó thì Minh Thành chịu. Thật tế bất kì cái gì cũng có khổ trong đó, mình phải thấy được như vậy thì mình mới có sự lo lắng, mới có sự đề phòng, có nhàm chán, thoát ra.

Còn mình ngây thơ, vô tư rồi cái khổ đến mình sẽ hụt hẫng, hoảng loạn, bàng hoàng, ai còn yêu thích thân xác này thì phiền não, khổ đau còn kéo dài, ai còn say đắm nhìn thân xác này thì luân hồi sanh tử sẽ tiếp diễn mãi mãi. Nhìn thấy trong mắt; tai; mũi; lưỡi; thân; ý này tiềm ẩn cái khổ, tiềm ẩn những bệnh tật, phiền phức, sầu lo. Phải thường tác ý như vậy để tâm nhả ra, mở ra, tháo ra, thoát ra sự chấp thủ tham ái, dính mắc trong sáu xứ này.

II. Danh sắc

"Rồi này các Tỳ-kheo, Bồ-tát Vipassì lại suy nghĩ như sau: 'Do cái gì có mặt, sáu xứ có mặt? Do duyên gì, sáu xứ sanh khởi?' Rồi này các Tỳ-kheo, sau khi như lý tư duy, Bồ-tát Vipassì nhờ trí tuệ, phát sinh minh kiến như sau: 'Do danh sắc có mặt nên sáu xứ có mặt. Do duyên danh sắc, sáu xứ sanh khởi'". (Tương Ưng Bộ, Tập II – Thiên Nhân Duyên, Chương I. Tương Ưng Nhân Duyên (a), I. Phẩm Phật Ðà, IV. Vipassì (Tỳ-bà-thi))

"Và này các Tỳ-kheo, thế nào là danh sắc? Thọ, tưởng, tư, xúc, tác ý; đây gọi là danh. Bốn đại chủng và sắc do bốn đại chủng tạo ra; đây gọi là sắc. Như vậy, đây là danh, đây là sắc. Ðây gọi là danh sắc". (Tương Ưng Bộ, Tập II – Thiên Nhân Duyên, Chương I. Tương Ưng Nhân Duyên (a), I. Phẩm Phật Ðà, II. Phân Biệt)

Danh chính là thọ; tưởng; tư; xúc; tác ý. Danh nghĩa là tên vì tâm chỉ có tên gọi thôi cho nên dùng chữ "danh" để đặt cho tâm. Ở đây nêu ra thọ, tưởng, tư tức là thọ, tưởng, hành, tư nghĩa là hành là cảm giác, hình bóng, suy nghĩ, sự tiếp xúc và sự tác động tâm ý, đó là phần danh. Sắc là "bốn đại chủng và sắc do bốn đại chủng tạo ra", cả trái đất, thế giới này chỉ là đất, nước, gió, lửa thôi và những thứ do đất, nước, gió, lửa tạo ra. Mình thấy đất, nước, gió, lửa thì đó gọi là bốn đại chủng, còn những cái hiện hữu như nhà cửa, bàn ghế, gường chõng… là những cái do đất, nước, gió, lửa tạo ra.

Thân xác này do đất, nước, gió, lửa tạo ra, đồng hồ này cũng do đất, nước, gió, lửa tạo ra, cái gì cũng do đất, nước, gió, lửa tạo ra nhưng tạo ra mỗi cái mỗi kiểu. Mình bị say đắm trong các kiểu dáng đó, mình mê muội, ngộ nhận trong đó, còn khi thực tướng của nó hiện bày ra thì mình kinh hoàng, hôm trước còn ôm ấp thân xác đó nhưng hôm sau chết nằm cứng đờ thì sợ, không dám vào. Có một cô Phật tử bên Mỹ tâm sự chồng chết rồi nên bây giờ sợ không dám ngủ thì tình nghĩa ở chỗ nào?

Mới hôm trước thương yêu vô cùng vậy mà bây giờ sợ, mới hôm trước còn ôm ấp còn bây giờ phải đưa đi chôn cho lẹ, chẳng qua khi phong đại còn vận hành, hỏa đại còn ấm, đất, nước, gió, lửa kết hợp vận hành thì mình còn yêu còn thích, còn thân cận, gần gũi, nhưng đến khi nó bày ra thực tướng của tứ đại, trở về bản chất của nó thì mình kinh hãi. Những sự lòe loẹt của thế giới này, biết bao sắc tướng trên đời này chỉ toàn là đất, nước, gió, lửa thôi.

Tiền, vàng, kim cương cũng chỉ là đất, nước, gió, lửa nhưng cục đá thì không ai tranh giành, còn tiền, vàng, kim cương thì ai cũng tranh nhau. Đó là do sự chấp thủ trong đó, tất cả mọi người đồng thời cho nó là đồ quý rồi chấp thủ vào nó, còn tự cục vàng không cho nó là quý, cục kim cương cũng không biết nó là quý, cứ nằm đó rồi ai đào lên cho nó là quý giá thì lúc đó giành giật, cướp giết.

Mình bước vào nhà tranh vách đá thì cảm giác khác, còn bước vào cung vàng điện ngọc thì cảm giác khác nhưng tất cả cũng chỉ là đất, nước, gió, lửa, còn nhìn cái nào cũng cho nó là đống đất thì tâm sẽ nhẹ nhàng, bớt tham, bớt dục, bớt ái. Đó là lý do Đức Phật dạy mình nhận diện sắc uẩn, tập nhìn tất cả chỉ là đống đất, không có gì quan trọng trong này, tập nhìn tất cả chỉ là bốn đại chủng, tất cả là đất, nước, gió, lửa và những thứ do đất, nước, gió, lửa tạo ra thôi, không hơn không kém.

Phải thường xuyên tác ý để cho tác ý đó ngấm vào tâm, vào trí của mình. Còn nếu không tác ý thì nhìn cái nào ra cái đó. Vì có danh, có sắc nên mới có ra mắt; tai; mũi; lưỡi; thân; ý, tức là thân và tâm này, danh sắc nói tắt là thân tâm. Từ đâu có ra danh sắc này, chính là thức.

III. Thức

"Rồi này các Tỳ-kheo, Bồ-tát Vipassì lại suy nghĩ như sau: 'Do cái gì có mặt, danh sắc có mặt? Do duyên gì, danh sắc sanh khởi?' Rồi này các Tỳ-kheo, sau khi như lý tư duy, Bồ-tát Vipassì nhờ trí tuệ, phát sinh minh kiến như sau: 'Do thức có mặt nên danh sắc có mặt. Do duyên thức, danh sắc sanh khởi'". (Tương Ưng Bộ, Tập II – Thiên Nhân Duyên, Chương I. Tương Ưng Nhân Duyên (a), I. Phẩm Phật Ðà, IV. Vipassì (Tỳ-bà-thi))

"Và này các Tỳ-kheo, thế nào là thức? Này các Tỳ-kheo, có sáu thức thân này: nhãn thức, nhĩ thức, tỷ thức, thiệt thức, thân thức, ý thức. Này các Tỳ-kheo, đây gọi là thức". (Tương Ưng Bộ, Tập II – Thiên Nhân Duyên, Chương I. Tương Ưng Nhân Duyên (a), I. Phẩm Phật Ðà, II. Phân Biệt)

Thức là sự nhận thức, sự rõ biết. Có sáu sự rõ biết, sự rõ biết về các sắc, sự rõ biết về những âm thanh, sự rõ biết về các mùi, sự rõ biết về các vị, sự rõ biết về sự đụng chạm trên thân và sự rõ biết về những cảm giác, hình bóng, suy nghĩ trong tâm. Năm sự rõ biết đầu tiên gọi là tiền ngũ thức vì năm sự rõ biết này chỉ biết ở bên ngoài, biết các sắc, biết âm thanh, biết mùi vị và biết sự đụng chạm, tiếp xúc trên thân. Năm cái biết đầu tiên là biết về ngoại cảnh, ngoại trần, cái biết cuối cùng là rõ biết được cảm giác, hình bóng, suy nghĩ bên trong tâm.

Người tu tinh cần tinh tấn trong dòng pháp này là người đó sử dụng cái biết thứ sáu này rất nhiều, sử dụng cái biết về thọ; tưởng; hành rất nhiều, không những dùng nhiều mà còn dùng một cách sâu sắc, nhuần nhuyễn, điêu luyện, tinh vi, còn người không biết tu sẽ dùng năm thức đầu tiên nhiều hơn nhưng họ không biết điều này mà họ bị dính chặt vào đó, họ nghĩ bản thân họ có một cái biết duy nhất để biết được màu sắc, mùi vị, âm thanh, sự đụng chạm. Thực ra sáu cái biết này có ranh giới, lãnh vực, có phạm vi cho nên gọi là nhãn thức giới, tỷ thức giới, thân thức giới, thiệt thức giới, nhĩ thức giới và ý thức giới.

Giới có nghĩ là giới vực, lãnh vực, phạm trù, ranh giới, giới hạn cho nên nhãn thức chỉ biết được hình sắc thôi chứ không biết được mùi vị, thiệt thức chỉ biết được vị thôi, ngoài vị ra nó không biết gì nữa cho nên khi đưa món ăn vào là biết được ngay mặn, nhạt, chua, cay, thân thức chỉ biết được sự đụng chạm trên thân. Cần tập nhận diện sáu cái biết riêng lẻ chứ không phải là một cái biết toàn diện, đó là sáu cái riêng lẻ, sáu cái phạm vi, sáu cái ranh giới cho nên ranh giới của nhĩ thức chỉ biết được âm thanh, cái tiếng thôi, ngoài cái tiếng ra nó không biết gì cả, tỷ thức chỉ rõ biết các mùi thôi.

Mình theo dõi, để ý sáu cái biết đó thì mình sẽ thấy từng cái riêng biệt và sáu cái biết này duyên sanh. Buổi tối không có đèn thì nhãn thức không phát huy tác dụng được, có đèn thì nhãn thức mới có tác dụng, mới thấy được. Nếu âm thanh ở ngoài tầm nghe, nhận thức của mình thì mình không biết gì cả, ví dụ mình thấy có người cầm cây hoặc cầm đá hướng về mình chuẩn bị ném mình thì mình sẽ né tránh nhưng nếu có người đứng sau lưng bắn thì mình không biết gì cả, mình không biết sợ, không né tránh vì nó ở ngoài tầm mình nhìn thấy.

Tầm nhìn của mình rất nhỏ hẹp, hạn hẹp chứ không phải rộng lớn, âm thanh cũng vậy, nếu nó ở trong tầm nghe của mình thì mình mới nghe được, còn nó ở ngoài tầm nghe của mình thì người ta có chửi, có nói xấu mình cũng không biết, lỗ tai mình không nghe được âm thanh đó nên không sanh khởi ra cảm thọ cho nên những thứ này là những thứ duyên sanh.

Ban đêm mình đạp vào thứ gì dưới chân thấy mềm mềm, bật đèn xem là sợi dây chứ không phải con rắn nhưng cảm thọ lúc đó y như đạp trúng con rắn, cảm thọ sợ hãi, tưởng của mình là hình bóng con rắn, suy nghĩ là đạp trúng con rắn nhưng khi mở đèn lên thì đó là sợi dây cho nên Đức Thế Tôn gọi thức là trò ảo thuật của tâm, nó là ảo thuật gia vĩ đại, mình tin vào nó là mình chết liền, mình thấy gì cũng cho là đúng, thấy gì cũng tin là chắn chắn thì mình sẽ chết với nó. Thật tế thấy như vậy nhưng không phải vậy, nghe như vậy nhưng sai hết, mình vô minh nhưng lại nghĩ là thông minh, khổ không còn gì để nói nhưng vỗ ngực tự xưng là người hạnh phúc nhất, không ai hạnh phúc bằng mình. Trò ảo thuật của ý thức ghê gớm đến vậy nhưng để Đức Thế Tôn khai thị, tuyên thuyết, hiển thị, minh thị, hiển lộ chân lý thật sự của vũ trụ vạn vật, để tâm của một người ngay thẳng, chánh trực, trung thực tiếp nhận cái đó là cả một sự tu học, đó là lý do trong kinh ghi "trực hạnh là chúng đệ tử của Thế Tôn".

Tâm thức của mình cong quẹo, trườn uốn như con lươn, nó bay nhảy, biến hóa trong cái vô minh, tham ái của mình, nó biến hóa trong thói quen, tập nghiệp, tập tánh của mình, trong bản năng, cảm xúc của mình cho nên mình không nhận thức thực pháp, Thánh trí tuệ, vì thế dù có nghe pháp nhưng trở ra cũng sống với thói quen thường tình của mình, mình chấp thủ trong đó nên gọi là kiến thủ cho nên đừng tin vào cái thấy nghe, hiểu biết của mình nhưng phải đặt tất cả niềm tin của mình vào trong Thánh pháp, lấy những lời dạy trong tạng kinh Nikāya làm chuẩn mực, làm phép tắc, làm khuôn vàng thước ngọc cho sự thật trên cuộc đời này, còn nếu lấy theo sự nhận thức, cái thấy nghe của mình thì mãi mãi mình chỉ là phàm phu vô minh, tham ái.

Có biết bao người tu nhưng tại sao lại không tìm ra chánh pháp? Là do họ đi theo ý nghĩ của họ, đi theo sở thích, thói quen, đi theo sự ưa chuộng của họ cho nên pháp của Phật bị gạt sang một bên, họ tự nghĩ ra pháp môn mới của họ để tự tu, tình trạng này xảy ra rất nhiều, đó là trò ảo thuật của tâm thức cộng với bản ngã mới có ra những tà pháp, mê tín, lầm lạc không đúng chánh pháp, không đúng lời dạy của Đức Phật. Trong kinh Nikāya ghi lại khi có một vị Tỳ-kheo nghĩ rằng có thể vượt qua Thế Tôn thì Thế Tôn la rầy ông ấy là đồ ngu si vì có suy nghĩ sẽ vượt qua đấng đạo sư. Nếu bây giờ ngài còn thì ngài sẽ la rầy rất nhiều vì tự chế ra nhiều pháp tu, chế ra môn này phái nọ mà không đi theo trí tuệ của bậc Chánh Đẳng Giác thành tựu, cuối cùng Thánh đạo không còn thì Thánh quả cũng chấm dứt và chánh pháp cũng không còn nữa vì trò ảo thuật của tâm thức.

"Lúc bấy giờ, một Tỳ-kheo khác khởi lên suy nghĩ sau đây: 'Nếu Ngài nói sắc là vô ngã, thọ... tưởng... các hành... thức là vô ngã, thời các nghiệp do vô ngã tạo ra, thời ngã nào lãnh thọ?'

Rồi Thế Tôn với tâm tư của mình biết rõ suy nghĩ của Tỳ-kheo ấy, liền nói với các Tỳ-kheo:

-- Sự kiện này xảy ra, này các Tỳ-kheo, là có kẻ ngu si, vô trí, chìm đắm trong vô minh, tâm bị khát ái chi phối, nghĩ rằng có thể vượt qua lời dạy bậc Ðạo Sư, nghĩ rằng: 'Nếu Ngài dạy rằng sắc là vô ngã, thọ... tưởng... các hành... thức là vô ngã, thời các nghiệp do vô ngã làm, các nghiệp ấy do ngã nào lãnh thọ?' Này các Tỳ-kheo, các câu vấn nạn đã được Ta khéo dạy cho các Ông, chỗ này, chỗ kia trong các pháp ấy". (Tương Ưng Bộ, Tập III – Thiên Uẩn, Chương I. Tương Ưng Uẩn (d), III. Phẩm những gì được ăn, X. Trăng Rằm)

Có khi chuyện chẳng có gì nhưng thọ; tưởng; hành vẽ ra câu chuyện rất nghiêm trọng, chuyện bé xé ra to, chuyện to thành chuyện lớn, chuyện lớn thành đại sự, từ đại sự đi đến hình sự, đi đến hình sự là chung thân, tử hình, đó là trò ảo thuật của tâm. Chỉ có chút tiếng ồn của hát loa kẹo kéo hoặc bị mạt cưa bay qua nhà mà đâm chết người, đó là do trong tâm tưởng tượng ra cộng với cảm thọ tức giận lúc đó, mà mình đi theo nó là mình thất bại hoàn toàn.

Vì vậy cần nhận diện kĩ lưỡng sáu thức này và đừng tin vào cái nghe, cái thấy, cái ngửi, cái nếm, cái xúc, cái biết của mình, nhận diện nó và biết rằng "ngươi chỉ là nhãn thức thôi" hoặc "ngươi chỉ là nhĩ thức thôi, đừng gạt ta", "ngươi chỉ là ý thức thôi, đừng bày vẽ nữa". Mình phải quở trách, rầy la, nếu không là mình sẽ đi theo nó rồi sanh khởi tham, sân, si làm tan nát, đổ vỡ mọi thứ, xảy ra đôi chối, gây gổ, không nhìn mặt nhau.

Tâm thức này rất xấu xa cho nên phải bình tĩnh, phải có chánh niệm và tỉnh giác khi thấy, khi nghe, khi ngửi, khi nếm, khi xúc, khi biết, đừng hấp tấp, vội vàng kết luận gì cả. Thế Tôn là bậc an tịnh, ngài thuyết pháp để dẫn mọi người đến chỗ an tịnh viên mãn, đừng phản ứng, kết luận sớm mà phải bình tĩnh suy xét sâu sắc tới lui, thậm chí có những vấn đề phải suy xét hằng tháng, hằng năm, hằng nhiều năm, rõ ràng là sai nhưng đừng kết luận vội mà phải xét sâu vào nữa, cuối cùng bằng tâm yên định của trí, của pháp nhìn vào rồi thấy đúng chứ không phải sai, thậm chí là cứu mình, giúp mình, là ân nhân của mình, nhưng lúc vội vàng mình phản ứng, bản ngã, sân hận nên mình thấy họ như ác nhân hại mình, đến khi suy xét sâu sắc thì đó là ân nhân cứu mình. Đây là sự vi diệu, là phép màu diệu kì, phải thực tập nhận diện ngũ uẩn một cách sâu sắc, thường sống trong thiền quán, thường sống trong tư duy, nghiền ngẫm, quán sát, tư sát thì mới có thể nhìn ra được trò ảo thuật siêu đẳng của tâm mê này, của tâm thức vô minh này.

Mỗi suy nghĩ, mỗi hình bóng, mỗi cảm giác trong tâm chúng ta đang làm ảo thuật. Nếu không có tỉnh giác, không có chánh niệm sâu sắc là mình bị lừa đảo bởi nhà ảo thuật tâm thức này, mình cứ luẩn quẩn trong cái tham, sân, si, bản ngã, hơn thua, buồn vui rồi đi ra không được. Cần phải tập nhìn trò ảo thuật trong tâm chứ đừng nhìn ra ngoài nhiều, những nhà ảo thuật bên ngoài thua xa trò ảo thuật vĩ đại trong tâm thức mình, Đức Thế Tôn đã nói phải quán thức uẩn là nhà ảo thuật, gọi là thức uẩn vì đó là tổ hợp sáu sự nhận thức.

Nhà ảo thuật biến lá bài thành những tờ tiền thật, nếu họ làm được như vậy thì cần gì họ đi làm ảo thuật kiếm tiền nữa, đó là đánh lừa thị giác của mình, cái tâm mình còn hơn như vậy nữa, những hình bóng, suy nghĩ, cảm thọ, nhận thức trong tâm còn lừa gạt mình hơn như vậy nữa. Những trò lừa đảo bên ngoài chỉ là những trò nhỏ lẻ, còn tâm thức lừa mình đến vô minh, khát ái, tham sân, si, sống chết trong vô thỉ kiếp, đây là cú lừa đau nhất trong tất cả các cú lừa, cú lừa làm mình trầm luân trong sanh tử, trôi lăn trong biển khổ, cú lừa làm mình cứ say mê, điên đảo, dục hoài, ái hoài, cứ hơn thua, thị phi, nhân ngã hoài.

Chúng ta cần nhớ kĩ trò ảo thuật gian ác của tâm thức mê muội, dại khờ, si ám, vô minh và ác độc này, phải nhìn thật kĩ và nhận diện cho kĩ sáu thức này thật sâu sắc vào bên trong, kiểm tra thọ; tưởng; hành thường xuyên chứ đừng để nó qua mặt mình. Mỗi khi sanh khởi lên những suy nghĩ là phải thấy biết, khi có cảm giác là phải thấy biết, khi có hình bóng là phải thấy biết và phải xử lý nó, kiểm tra nó.

IV. Hành – Vô Minh

"Rồi này các Tỳ-kheo, Bồ-tát Vipassì lại suy nghĩ như sau: 'Do cái gì có mặt, thức có mặt? Do duyên gì, thức sanh khởi?' Rồi này các Tỷ- kheo, sau khi như lý tư duy, Bồ-tát Vipassì nhờ trí tuệ, phát sinh minh kiến như sau: 'Do hành có mặt nên thức có mặt. Do duyên hành, thức sanh khởi". (Tương Ưng Bộ, Tập II – Thiên Nhân Duyên, Chương I. Tương Ưng Nhân Duyên (a), I. Phẩm Phật Ðà, IV. Vipassì (Tỳ-bà-thi))

"Và này các Tỳ-kheo, thế nào là hành? Này các Tỳ-kheo, có ba hành này: thân hành, khẩu hành, ý hành. Này các Tỳ-kheo, đây gọi là hành". (Tương Ưng Bộ, Tập II – Thiên Nhân Duyên, Chương I. Tương Ưng Nhân Duyên (a), I. Phẩm Phật Ðà, II. Phân Biệt)

Tại sao lại có ra tâm thức mê mờ như vậy? Là do hành nghiệp, có ba loại hành là thân hành, ý hành và khẩu hành. Sau đây là nguồn cơn có ra thân hành, ý hành và khẩu hành.

"Rồi này các Tỳ-kheo, Bồ-tát Vipassì lại suy nghĩ như sau: 'Do cái gì có mặt, hành có mặt? Do duyên gì, hành sanh khởi?' Rồi này các Tỷ- kheo, sau khi như lý tư duy, Bồ-tát Vipassì nhờ trí tuệ, phát sinh minh kiến như sau: 'Do vô minh có mặt nên hành có mặt. Do duyên vô minh, hành sanh khởi'". (Tương Ưng Bộ, Tập II – Thiên Nhân Duyên, Chương I. Tương Ưng Nhân Duyên (a), I. Phẩm Phật Ðà, IV. Vipassì (Tỳ-bà-thi))

"Này các Tỳ-kheo, thế nào là vô minh? Này các Tỳ-kheo, không rõ biết Khổ, không rõ biết Khổ tập, không rõ biết Khổ diệt, không rõ biết Con đường đưa đến Khổ diệt. Này các Tỳ-kheo, đây gọi là vô minh". (Tương Ưng Bộ, Tập II – Thiên Nhân Duyên, Chương I. Tương Ưng Nhân Duyên (a), I. Phẩm Phật Ðà, II. Phân Biệt)

Từ đâu có ra những ý nghĩ, lời nói, hành động đó? Từ đâu có ra những ý nghĩ hơn thua, tham muốn đó, từ đâu có ra những hành động ích kỷ, hại mình hại người đó? Vì không biết khổ, vì không thấy được hình hài này là đau khổ, vì không thấy được những cảm giác đó là khổ đau, không thấy được những suy tư, nghĩ tưởng, nhận thức đó là đau khổ .Vì không thấy hình hài này là món đồ gốm dễ tan vỡ, dễ hoại, dễ bể, vì không thấy tất cả cảm thọ đều nằm trong đau khổ, vì không thấy tưởng là kết quả của sự huân tập từ thói quen và tất cả cái tưởng đều đưa đến sự ảo tưởng về một tự ngã, đều đưa đến tham, sân, si, vì không biết tất cả pháp lấy tác ý làm sanh khởi và nếu sự tác ý này đưa đến bất thiện, đưa đến ác thì nó tạo ra nghiệp và quả của khổ đau, vì không ý thức được tâm thức này là một tâm mê, tâm ngu muội, si ám.

Tất cả tâm thức chúng sanh là một tâm thức dao động, trong đó gồm có sự dao động của thiện và sự dao động của bất thiện, sự dao động mạnh mẽ về bất thiện sẽ đi xuống địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh, còn dự dao động về thuần thiện đưa lên nhân thiên giới, nếu sự dao động giữa thiện và bất thiện cân bằng thì đi ngang, còn khi bất động tâm giải thoát thì nó vượt ra tất cả cảnh giới, đi đến giải thoát, chấm dứt tử sanh.

Trong sự tu học khi chúng ta thiền quán thì chúng ta tập sự dao động trong thiện, trong trí tuệ. Khi thiền quán thì tâm sẽ động nhưng động trong thiện pháp, động trong Thánh trí tuệ, khi chưa hoàn toàn tịnh thì phải dùng cái động này để trừ diệt cái động kia, còn khi đã quán đến mức chín muồi, thâm sâu, thể nhập thì nó sẽ đi đến chỗ tâm bất động giải thoát, không còn dao động nữa. Vì thế khi mới vào tu mà muốn im lặng hoàn toàn thì không thể nào được mà phải dùng cái động của thiện để thay thế cái động của bất thiện.

Phải thay thế từ từ như vậy, sau đó tất cả sự dao động chỉ toàn là thiện pháp, đến chỗ chí thiện, thuần thiện thì sẽ đi đến chỗ bất động của Thánh thiện. Đức Thế Tôn, các bậc A-la-hán và Thánh chúng cũng có suy nghĩ, cũng có ý hành, khẩu hành, thân hành, các ngài cũng nói, cũng làm việc nhưng suy nghĩ, lời nói, hành động của các ngài đều là thuần thiện, cực thiện. Tuy rằng thuần thiện, cực thiện nhưng tâm bất động, không nghĩ rằng mình làm thiện, các ngài không nghĩ rằng bản thân có ơn với tất cả mọi người, ban bố cho mọi người vì thế khi Thế Tôn sắp nhập diệt thì ngài Ananda muốn Thế Tôn có lời giáo giới cho chúng Tỳ-kheo thì Thế Tôn nói rằng ngài không nghĩ bản thân là người đứng đầu, người cầm đầu, người lãnh đạo của Tăng chúng thì làm sao có lời giáo giới cho chúng Tỳ-kheo.

"Rồi Tôn giả Ananda đi đến Thế Tôn; sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Ngồi một bên, Tôn giả Ananda bạch Thế Tôn:

-- Bạch Thế Tôn, con thấy Thế Tôn kham nhẫn! Bạch Thế Tôn, con thấy Thế Tôn chịu đựng! Bạch Thế Tôn, thân con cảm thấy yếu ớt như lau sậy, mắt con mờ mịt không thấy rõ phương hướng. Pháp không được tỏ rõ cho con vì Thế Tôn bị bệnh. Nhưng bạch Thế Tôn, con được chút an ủi rằng Thế Tôn sẽ không diệt độ, nếu Ngài không có lời di giáo lại cho chúng Tỳ-kheo.

-- Này Ananda, chúng Tỳ-kheo còn mong mỏi gì nữa ở nơi Ta. Này Ananda, Ta giảng pháp không có phân biệt trong ngoài. Vì, này Ananda, đối với các pháp, Như Lai không bao giờ là vị Ðạo Sư còn nắm tay. Này Ananda, những ai nghĩ rằng Ta sẽ là vị cầm đầu chúng Tỳ-kheo, hay: Chúng Tỳ-kheo chịu sự giáo huấn của Ta, thời này Ananda, người ấy sẽ có lời di giáo cho chúng Tỳ-kheo. Này Ananda, Như Lai không có nghĩ rằng: 'Ta sẽ là vị cầm đầu chúng Tỳ-kheo', hay 'Chúng Tỳ-kheo chịu sự giáo huấn của Ta', thời này Ananda, làm sao Như Lai lại có lời di giáo cho chúng Tỳ-kheo?" (Tương Ưng Bộ, Tập V. Thiên Đại Phẩm, Chương III. Tương Ưng Niệm Xứ (a), I. Phẩm Ambapàli, IX. Bệnh)

Đọc những dòng này làm chấn động thân tâm vì tâm ngài là tâm bất động, những gì ngài làm đều bằng tấm lòng từ bi tự nhiên, khi đã đạt đến cảnh giới đó thì sẽ tự động từ bi, không cần phải tác ý giống như mình, có khi mình cố gắng tác ý từ nhưng cũng sân, còn Thế Tôn không cần tác ý nữa vì tâm ngài đã đi đến chỗ thánh thiện cho nên chúng ta cần nhớ lấy cái động của thiện, của trí, của tuệ để thay thế cái động của vô minh, tham, sân, si.

Đừng sợ tâm bị động, những khi thiền quán, trình pháp mà khóc lóc, quỳ lạy cảm xúc thì những cái đó rất tốt, đó là cái động của thiện, của sự xấu hổ, tàm quý, hối lỗi, của ương ngạnh, cứng cỏi, còn bây giờ trở nên dễ dạy dễ bảo, tàm quý, xấu hổ, sợ hãi đối với các ác và bất thiện pháp. Đừng nghĩ vào tu rồi là muốn cầu cho tâm được yên lặng, đừng dao động gì cả, tâm im lặng nhưng trong đó còn rất nhiều lậu hoặc, vô minh, chấp ngã cho nên lúc nào im thì im nhưng khi hết im thì những thứ đó lại quậy phá mình.

Từ sự vô minh, từ cái không thấy thân này là khổ nên mới có ra nhiều cái khổ, căn nguyên là không thấy ngũ uẩn này là khổ đau, không thấy sắc này là khổ, không thấy cảm giác là khổ, không thấy những hình bóng, suy nghĩ, nhận thức đó là khổ. Nhưng vấn đề là không thấy không biết, tham đắm, chấp thủ, sân si trong đó, không biết con đường đoạn diệt những thứ đó để chấp dứt khổ đau, vì không biết nên tưởng là vui, tưởng là thường còn, tưởng là đẹp sạch, hấp dẫn, tưởng có cái tôi tốt lành nên những suy nghĩ, lời nói, hành động là ác, bất thiện pháp. Từ vô minh mới có ra ba hành, những suy nghĩ đều trái ngược với chánh pháp, đều là phi như lý tác ý, đều là suy nghĩ tham, sân, si, hơn thua, nhỏ mọn, hẹp hòi, cống cao ngã mạn, chiếm đoạt, giành giật, tạo ra biết bao nghiệp khổ là từ vô minh.

Chính ác nghiệp làm tâm thức bị dẫn đi, vô minh duyên hành; hành duyên thức; thức duyên danh sắc, tâm thức bị dẫn vào một tứ đại tương ứng với ác nghiệp của nó, với thọ; tưởng; hành tương ứng với ác nghiệp của nó trong quá khứ. Từ danh sắc sẽ có ra sáu căn tượng hình, hoặc là trâu, bò, heo, chó, hoặc là cô hồn, ngạ, quỷ, súc sanh, hoặc là thân người mù, chột, đui, câm, điếc, dị tật, dị dạng… Từ nơi sáu căn mắt; tai; mũi; lưỡi; thân; ý tiếp xúc thì sanh ra cảm thọ rồi yêu thích, nắm giữ, tạo ra các nghiệp hiện hữu rồi tiếp tục được sanh ra, trong đời sống đó là biết bao cái tham, sân hận, sầu, bi, khổ, ưu, não, chết đi trong nước mắt, trong buồn đau, trong khổ não.

Đời sống cứ tiếp tục quay cuồng như vậy, từ không thấy không biết là khổ mà cứ tưởng là vui sướng, ta đây rồi mới có những ý nghĩ, lời nói, hành động ác, bất thiện, tạo ra cái nghiệp rồi nó dẫn tâm thức đi, sau đó tạo ra danh và sắc, tượng hình ra mắt; tai; mũi; lưỡi; thân; ý tương ứng với ác nghiệp đó. Khi đã có hình hài sẽ có sự tiếp xúc, khi đã tiếp xúc sẽ có cảm thọ, cảm giác, nếu là lạc thọ thì khoan khoái, thích thú, nếu thích thú thì nắm giữ, đã nắm giữ thì hiện hữu, tạo nghiệp trong ba cõi. Nếu đã nắm giữ, hiện hữu, tạo nghiệp thì phải có sanh, mà có sanh thì phải có già, có bệnh, có chết, trong đó là sầu, bi, khổ, ưu, não. Đó là vòng quay hình thành những đời sống vô minh, khát ái.

"Như vậy, vô minh duyên hành; hành duyên thức; thức duyên danh sắc; danh sắc duyên sáu xứ; sáu xứ duyên xúc; xúc duyên thọ; thọ duyên ái; ái duyên thủ; thủ duyên hữu; hữu duyên sanh; sanh duyên già, chết, sầu, bi, khổ, ưu, não được sanh khởi. Như vậy là sự tập khởi của toàn bộ khổ uẩn này.

'Tập khởi, tập khởi', này các Tỳ-kheo, đối với các pháp từ trước chưa từng được nghe, với Bồ-tát Vipassì, nhãn khởi lên, trí khởi lên, tuệ khởi lên, minh khởi lên, quang khởi lên". (Tương Ưng Bộ, Tập II – Thiên Nhân Duyên, Chương I. Tương Ưng Nhân Duyên (a), I. Phẩm Phật Ðà, IV. Vipassì (Tỳ-bà-thi))

Những câu này diễn tả giây phút đại ngộ của Bồ-tát. Mắt khởi lên là con mắt được mở ra, Thánh nhãn được khai mở, trí khởi lên, tuệ khởi lên, minh khởi lên, quang khởi lên, ngài nhìn thấy hết toàn bộ sự tụ tập để sanh khởi ra đống khổ này, đời sống sanh tử, phiền não, khổ đau này, sự thấy biết thấu thị tất cả dòng sanh tử khổ đau này, căn nguyên, nguyên nhân hình thành và hoại diệt đều được thấu triệt, minh bạch, tận tường các khía cạnh của dòng sống chết trong sanh tử. Bây giờ mình mới hiểu được câu "chư Tỳ-kheo, xưa cũng như nay, Ta chỉ nói lên sự khổ và sự diệt khổ" (Trung Bộ Kinh, 22. Kinh Ví dụ con rắn), như vậy khổ đau chính là ngũ uẩn này, con đường diệt khổ là thấy biết được bản chất của ngũ uẩn, không còn yêu thích, ham thích là diệt tham ái.

Như vậy mười hai nhân duyên này không khác gì bốn Thánh trí về ngũ uẩn, không khác Tứ Niệm Xứ, Tứ Chánh Cần, Ngũ Căn Ngũ Lực, Bát Chánh Đạo, chánh kiến, chánh tư duy. Mình tin là tin vào cái khổ này, tấn là sự tinh tấn, nỗ lực thực hành để nhận thức cái khổ, chứng ngộ cái khổ đó, thấy biết cái khổ đó. Niệm là niệm về cái khổ, nhớ về cái khổ để diệt sự yêu thích trong cái khổ. Định là tập trung tâm ý vào trong các trí tuệ đó, sự thấy biết đó. Tuệ là sự soi thấu, soi thủng cái khổ đó.

Như vậy Tứ Niệm Xứ, Tứ Chánh Cần, Tứ Như Ý Túc, Ngũ Căn Ngũ Lực, Thất Bồ-đề phần, Bát Thánh Đạo phần, Ngũ Uẩn, Tứ Thánh Đế cho đến Thập Nhị Nhân Duyên không khác nhau mà có sự nhất quán, xuyên suốt, thể hiện trí tuệ toàn giác của Đức Phật. Nếu như ngày xưa chưa đi vào dòng pháp Nikāya thì mình hiểu mười hai nhân duyên là riêng, năm uẩn là riêng, Tứ Diệu Đế là riêng, vì nghĩ như vậy cho nên tu học không thành tựu chánh tri kiến. Ngũ uẩn giống như sợi dây thâu lại tất cả những viên ngọc Thánh trí tuệ của Đức Phật, tất cả các pháp đều thành lập trên ngũ uẩn. Vô minh, tham ái, chấp thủ, nắm giữ cái gì nếu không phải là đối với ngũ uẩn? Chánh kiến viên mãn là khi nhìn cái gì cũng thấy đau khổ trong ngũ uẩn rồi nhàm chán, ly tham, từ bỏ, nhiếp phục tham, sân, si, vô minh, bản ngã. Đó là cái lõi cây của tất cả Thánh trí, là con mắt của mười hai phần giáo, trái tim của tam tạng Thánh điển.

./.