Pháp Hành Trong Tạng Kinh Nikāya 3 -Mục Đích Đạo Phật Là Gì 2
Pháp Hành Trong Kinh Tạng Nikāya 3
MỤC ĐÍCH ĐẠO PHẬT LÀ GÌ? 2
Thích Minh Thành
MỤC LỤC
TOC \o "1-3" \h \z \u I. Những điều khó làm PAGEREF _Toc73534311 \h 1
II. Thực hành đúng pháp và tùy pháp PAGEREF _Toc73534312 \h 3
III. Khuyến tấn tu tập PAGEREF _Toc73534313 \h 7
I. Những điều khó làm
Hôm nay chúng ta sẽ tìm hiểu về Pháp Hành trong hai bài kinh rất quan trọng đó là Tương Ưng Bộ Kinh – tập IV, bài kinh “Khó Làm”. Tựa kinh là “Khó Làm” nhưng chúng ta có thể lấy chủ đề là “Khó làm mà làm được” mới hay.
“Lúc đó, du sĩ Jambukhàdaka nói với Tôn giả Sàriputta (Xá-lợi-phất):
-- Này Hiền giả Sàriputta, trong Pháp luật này, cái gì là khó làm?
-- Xuất gia, này Hiền giả, là điều khó làm trong Pháp luật này.
-- Ðối với người đã xuất gia, này Hiền giả, cái gì là khó làm?
-- Ðối với người đã xuất gia, này Hiền giả, hoan hỷ (abhirati) là điều khó làm.
-- Này Hiền giả, đối với người đã hoan hỷ, cái gì là khó làm?
-- Này Hiền giả, đối với người đã hoan hỷ, điều khó làm là sự thực hành đúng pháp và tùy pháp.
-- Có lâu không, này Hiền giả, một người đã thực hành đúng pháp và tùy pháp có thể thành vị A-lahán?
-- Không lâu, này Hiền giả.”
(Tương Ưng Bộ Kinh – Tập IV. Thiên Sáu Xứ, Chương V. Tương Ưng Sàmandaka, bài kinh Khó Làm)
Như vậy, qua bài kinh này chúng ta thấy có một số câu hỏi. Thứ nhất, trong giáo pháp và luật của Đức Thế Tôn cái gì là khó? Ngài Xá-lợi-phất trả lời xuất gia là khó. Thứ hai, sau khi xuất gia thì cái gì là khó? Ngài Xá-lợi-phất đáp rằng hoan hỷ trong đời sống xuất gia là khó. Thứ ba, sau khi hoan hỷ trong đời sống xuất gia rồi thì cái gì là khó? Ngài Xá-lợi-phất nói thực hành đúng pháp và tùy pháp là khó. Thứ tư, sau khi thực hành đúng pháp và tùy pháp thì không bao lâu sẽ chứng ngộ, chứng nhập, chứng đắc Thánh quả.
Những câu này hết sức quan trọng đối với người xuất gia chúng ta, cũng như với hàng cư sĩ. Chúng ta có mặt dựa trên hình tướng của đời sống phạm hạnh, là một vấn đề thiên nan, vạn nan, tỉ nan. Chúng ta đã vượt qua biết bao nhiêu những khó khăn, trở ngại, thử thách từ bên trong nội tâm, lẫn bên ngoài tình cảm gia đình, cho đến những ham muốn bình thường của thế gian. Chúng ta đã làm được việc rất khó làm và khi chúng ta đã làm được một việc khó làm như vậy rồi thì chúng ta sẽ không dừng lại ở bước thứ nhất là xuất gia.
Như vậy thì cạo tóc, đắp y, thọ giới là điều khó nhưng tới đó chưa phải là xong việc. Lúc lúc mình xong việc là khi mình tuyên bố dõng dạc: “Sanh đã tận, phạm hạnh đã thành, việc cần làm đã xong, không còn trở lui trạng thái này nữa.” Đó là hùng ca, là thánh ca, là sự tuyên bố bằng tiếng gầm của sư tử đối với một người đã thành tựu cứu cánh đời sống phẩm hạnh. Hiện nay, chúng ta chỉ mới bước được bước thứ nhất là xuất gia và chúng ta đã thành công ở bước thứ nhất.
Bước thứ hai là hoan hỷ với đời sống xuất gia. Mỗi khi bước lên chánh điện, bước vào thiền đường, hay có mặt trong pháp hội giảng đường mình có thấy phấn khởi, hân hoan, an lạc, tịnh lạc, hoan hỷ tràn ngập ở trong cả cảm giác toàn thân của mình hay không? Nếu chúng ta hân hoan, hoan hỷ, vui thích, thích thú, an lạc, tịnh lạc ở trong nếp sống của thiền môn, ở trong đời sống phạm hạnh của sự thanh tịnh, giới luật, thiền định và tuệ quán là mình có được bước thứ hai là hoan hỷ, vui tươi, vui thích, hân hoan, phấn khởi trong đời sống người xuất gia. Đây là chất liệu, là sự tưới tẩm, là linh hồn của đời sống tăng sĩ, tu sĩ, xuất sĩ.
Mình phải tìm được niềm pháp hỷ, niềm hỷ lạc. Hỷ lạc ở đâu? Hỷ lạc ở trong đời sống ít muốn và biết đủ. Hoan hỷ ở đâu? Hoan hỷ ở chiếc áo nâu sòng, hoan hỷ với độc cư thiền định – ở dưới gốc cây một mình trong căn nhà trống, bên bìa rừng, ven suối thậm chí bên nghĩa địa, trong những đêm trăng một mình ngồi tĩnh tọa, quán chiếu thân, thọ, tâm pháp. Như vậy niềm vui của người xuất gia không phải là những cái vui ồn ào, náo nhiệt, tiếp xúc, ăn, nói, vui cười, chơi giỡn – đây là niềm vui của phàm tục, phàm phu, niềm vui của người chưa ly dục, chưa có đời sống viễn ly. Niềm vui của người xuất gia là niềm vui trong pháp, ở trong sự an tịnh, tịnh lạc của thiền duyệt, của pháp hỷ, của đời sống từ bỏ. Đó là thành công thứ hai trong đời sống xuất gia. Nếu một người xuất gia nào khi ở một mình mà buồn chán thì có vấn đề, người này chưa nếm được hương vị của đời sống xuất gia, chưa thể đứng vững trong pháp và luật này.
Điểm cực kì quan trọng mà chúng ta muốn tìm hiểu nhấn mạnh ở đây là điểm thứ ba:
“-- Này Hiền giả, đối với người đã hoan hỷ, cái gì là khó làm?
-- Này Hiền giả, đối với người đã hoan hỷ, điều khó làm là sự thực hành đúng pháp và tùy pháp. “
II. Thực hành đúng pháp và tùy pháp
Câu “Sự thực hành đúng pháp và tùy pháp” thật sự là cốt lõi. Như vậy, thực hành như thế nào là đúng pháp? Như thế nào gọi là tùy pháp? Muốn hiểu điều này thì có một bài kinh trong Tương Ưng Bộ Kinh, bài kinh “Devadaha” sẽ giải thích vấn đề này:
“Như vầy tôi nghe. Một thời Thế Tôn ở giữa dân chúng Sakka, tại một thị trấn của dân chúng Sakka tên là Devadaha.
Lúc bấy giờ, một số đông Tỷ-kheo du hành ở phía Tây, đi đến Thế Tôn; sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên.
Ngồi xuống một bên, các vị Tỷ-kheo ấy bạch Thế Tôn:
- Chúng con muốn xin Thế Tôn cho phép chúng con đi đến quốc độ phương Tây. Chúng con muốn trú ở quốc độ phương Tây.
- Này các Tỷ-kheo, các Tỷ-kheo đã xin phép Sàriputta chưa?
- Bạch Thế Tôn, chúng con chưa xin phép Tôn giả Sàriputta.
- Này các Tỷ-kheo, vậy hãy xin phép Sàriputta. Sàriputta, này các Tỷ-kheo, là bậc hiền trí, là người đỡ đầu các vị Tỷ-kheo đồng Phạm hạnh.
- Thưa vâng, bạch Thế Tôn. Các Tỷ-kheo ấy vâng đáp Thế Tôn.”
Các vị này đi đến chỗ chào Ngài Xá-lợi-phất, Ngài ấy mới đặt vấn đề:
“Này các Hiền giả, có những người đặt câu hỏi với vị Tỷ-kheo thường đi các quốc độ khác nhau: Các Sát-đế-lỵ hiền trí, các Bà-la-môn hiền trí, các Gia chủ hiền trí, các Sa-môn hiền trí. Này chư Hiền giả, các bậc hiền trí với óc ưa quán sát (sẽ hỏi): "Bậc Đạo Sư của Tôn giả nói gì, tuyên bố gì? Pháp có được chư Tôn giả khéo nghe, khéo nắm giữ, khéo tác ý, khéo thọ trì, khéo thâm nhập với trí tuệ không? "”
Liên hệ với chúng ta bây giờ, nếu có một người nào là tôn giáo bạn hay những người ẩn sĩ, những nhà hiền triết, những người bác học, học giả đến hỏi quý thầy quý cô “Bậc Đạo Sư của Tôn giả nói gì, tuyên bố gì?”, lúc đó mình sẽ nói như thế nào? Câu hỏi này quan trọng, không thể tự ý suy diễn, vì suy diễn là sai. Cho nên khi đó Ngài Xá-lợi-phất đã đặt ra câu hỏi cho các vị Tỷ-kheo đi du phương, nếu có người hỏi “Đức Thế Tôn, bậc đạo sư của các Ngài tuyên bố điều gì, dạy gì?” thì các thầy đáp như thế nào? Đây là pháp học và pháp hành nên mình cần nắm thật vững điều này. Lúc đó, các vị này mới bạch Ngài Xá-lợi –phất như sau:
“- Chúng tôi có thể đi đến thật xa, thưa Tôn giả, để nghe tận mặt Tôn giả Sàriputta nói về ý nghĩa của lời nói này! Lành thay, nếu được Tôn giả Sàriputta giải thích ý nghĩa của lời nói này!
- Vậy này các Hiền giả, hãy lắng nghe và khéo tác ý, tôi sẽ nói.
- Thưa vâng, Tôn giả.
-Này các Hiền giả, có những người đặt câu hỏi với vị Tỷ-kheo thường đi các quốc độ khác nhau: Các Sát-đế-lỵ hiền trí... các Sa-môn hiền trí. Này các Hiền giả, các bậc hiền trí với óc ưa quán sát (có thể hỏi): "Bậc Đạo Sư của Tôn giả nói gì, tuyên bố gì?" Được hỏi vậy, này các Hiền giả, các Hiền giả phải trả lời:
"Này các Hiền giả, bậc Đạo Sư của chúng tôi nói đến sự điều phục dục và tham”
Này chư Hiền giả, các bậc hiền trí với óc ưa quán sát (có thể hỏi): "Đối với cái gì, bậc Đạo Sư của các Tôn giả nói đến sự điều phục dục và tham?" Được hỏi như vậy, này các Hiền giả, các Hiền giả phải trả lời như sau: "Đối với sắc, này các Hiền giả, bậc Đạo Sư chúng tôi nói về sự điều phục dục và tham... đối với thọ... đối với tưởng... đối với các hành... đối với thức, bậc Đạo Sư chúng tôi nói về sự điều phục dục và tham"
" Nhưng thấy sự lợi ích gì, bậc Đạo Sư các Tôn giả nói đến sự điều phục dục và tham đối với sắc... đối với thọ... đối với tưởng... đối với các hành; bậc Đạo Sư các Tôn giả nói đến sự điều phục dục và tham đối với thức? " Được hỏi vậy, này các Hiền giả, các Hiền giả phải trả lời như sau: "Đối với sắc, này các Hiền giả, ai đã viễn ly tham, đã viễn ly dục, đã viễn ly ái, đã viễn ly khát, đã viễn ly nhiệt tình, đã viễn ly khát ái, khi sắc ấy biến hoại, đổi khác, sẽ không khởi lên sầu, bi, khổ, ưu, não. Đối với thọ... đối với tưởng... đối với các hành... đối với thức, này các Hiền giả, ai đã viễn ly tham, đã viễn ly dục, đã viễn ly ái, đã viễn ly khát, đã viễn ly nhiệt tình, đã viễn ly khát ái, khi thức ấy biến hoại, đổi khác, sẽ không khởi lên sầu, bi, khổ, ưu, não. Do thấy sự lợi ích này, này các Hiền giả, bậc Đạo Sư của chúng tôi nói đến sự điều phục dục và tham đối với sắc...đối với thọ... đối với tưởng... đối với các hành; bậc Đạo Sư của chúng tôi nói đến sự điều phục dục và tham đối với thức ".”
(Tương Ưng Bộ Kinh – Tập III. Thiên Uẩn, Chương I. Tương Ưng Uẩn,
Phẩm Nakulapità, bài kinh Devadaha)
Đối với một người không thấy rõ được bản chất của năm uẩn, thì lúc đó từ sắc, thân, vật chất, cảm giác hay nghĩ tưởng bị biến đổi thì người đó sẽ khởi lên sầu, bi, khổ, ưu, não. Vì sự nguy hiểm như vậy nên Đức Thế Tôn mới dạy điều phục dục và tham đối với năm uẩn. Như vậy, trở lại vấn đề, sự tu tập đúng Chánh Pháp, tùy pháp của chúng ta là gì? Nếu quý thầy cô nghe Tương Ưng Bộ Kinh thì quý thầy cô sẽ thấy lặp đi lặp lại hàng trăm lần, hàng ngàn lần câu nói này và đây cũng là định lý của giải thoát. Câu nói đó là: “Tu tập Tứ Niệm Xứ, tu tập Thất Giác Chi, tu tập Bát Chánh Đạo là liên hệ đến viễn ly, đến ly tham, đến đoạn tận, hướng tới từ bỏ” – đây là định lý của giải thoát, phải thuộc lòng câu này. Tất cả 37 Phẩm Trợ Đạo, tất cả pháp hành của Đức Phật là giúp cho mình thấy rõ bản chất của năm uẩn để ly tham – không còn tham muốn của năm uẩn, để viễn ly, xa lìa, để chấm dứt, không tiếp tục đi vào vòng tái tục của luân hồi. Chấm dứt, từ bỏ một cách không thương tiếc đối với ngũ uẩn, giống như đem bỏ một thùng rác hôi thối, dơ bẩn từ một tháng.
Một vấn đề cực kì quan trọng, Hòa thượng tôn sư cũng đã nhắc chúng ta: “Đối với con đường tu tập của tạng kinh Nikāya – những lời dạy gốc của Đức Phật, một cánh cửa để bước vào tất cả pháp hành là luôn luôn nhận diện năm uẩn, nếu không nhận diện năm uẩn thì mình tu không đến nơi đến chốn.” Tức là, bất cứ khi đi, đứng, nằm, ngồi, nhất là trong những giờ thiền, phải xem xem sắc uẩn của mình như thế nào; tiếp tục xem cảm giác của mình đang như thế nào; tiếp theo xem những nghĩ tưởng của mình đang diễn ra như thế nào? Mình phải kiểm soát, phải thấy, phải biết, không thể không thấy không biết mình đang có gì trong nội tâm.
Những lời nói thầm thì – là hành, hình bóng – là tưởng, cảm giác –là thọ, tức là mình luôn luôn xem lại cảm giác, những suy nghĩ, những lời nói thầm ở trong nội tâm. Những hình bóng bên trong là những hình bóng gì, mình nhận thức rõ những điều đó đang diễn ra, đó là mình đang nhận diện sắc, thọ, tưởng, hành, thức. Khi nắm vững và thấy rõ được năm uẩn là mình đã nắm được trời, đất, nắm được cả thế giới này, sự tập khởi của năm uẩn là sự tập khởi của thế giới, sự chấm dứt của năm uẩn là sự diệt tận của thế giới. Khi ngồi lại thì cái nào sẽ hiện ra cái nấy rõ ràng ở trong thân tâm mình, không có cái nào qua mặt được hết khi mình đã nhận thấy rõ năm uẩn.
III. Khuyến tấn tu tập
Như vậy, sự tu tập đúng pháp và tùy pháp là luôn luôn, bất cứ chỗ nào, nơi nào phải nhìn thấy được sắc uẩn đang diễn ra như thế nào. Lúc ngồi thiền, mình xem đầu có thẳng không, cổ có thẳng không, lưng có thẳng không, vai có đều không, thân tâm có thả lỏng không? Khi đi xem bước đi có đều đặn không; khi nói xem lời nói của mình như thế nào; khi nằm xem dáng nằm như thế nào? Như vậy là đang kiểm tra sắc uẩn của mình, đó là phần Niệm Thân trong Tứ Niệm Xứ.
Tức là thân thể sử dụng như thế nào, mình phải biết là nó đang sử dụng như thế ấy, đây là Niệm Oai Nghi và Niệm Hành Động của sắc thân. Điều này là tuyệt vời và trên cả tuyệt vời nếu như mình ứng dụng được. Nó sẽ nâng cao, làm thay đổi, thăng hoa phẩm chất, tính cách, đạo hạnh, đức độ của một người xuất gia. Đây là phần Niệm Thân mà Đức Thế Tôn còn gọi là: “Này các Tỳ-kheo, ai niệm thân là người đó nếm được hương vị của bất tử.”
Đừng quên sắc uẩn đang hoạt động như thế nào, đừng sống trong lãng quên, đừng sống trong vô tri, đừng sống trong lờ mờ mà phải sống trong sự sáng tỏ, rõ biết, trong sự soi xét, sự quán chiếu. Nhìn thấy được thân sắc uẩn này, thấy tứ đại đang hoạt động như thế nào thấy hơi thở vào ra, khò khè vận hành như thế nào; hơi ấm vận hành như thế nào? Đến lúc hai vai nặng xệ xuống, chân tê, mắt sụp xuống mình phải thấy rõ như thế nào? Phải đánh đuổi những cảm giác trì trệ, cảm giác buồn ngủ, lơ đơ lờ mờ, thụ động, làm biếng. Phải đánh tan nó bằng trí nhìn xuyên thủng qua sắc uẩn, đó là tu tập sự quán chiếu sắc uẩn, niệm thân ở trên thân.
Khi nhập Niết-bàn, trong kinh “Đại Bát Niết Bàn”, Trường Bộ Kinh, Đức Thế Tôn đã nói: “Sau khi ta diệt độ, Tỳ-kheo nào thực hành tứ niệm xứ là vị Tỳ-kheo tối thượng trong hàng đệ tử của Như Lai nếu người đó để tâm học hỏi.” Cho nên các Ngài đang ngồi đây nếu luôn luôn lúc nào cũng quán chiếu sắc, thọ, tưởng, hành, thức thì các vị cũng là những đệ tử, những Tỳ-kheo tối thượng của Như Lai. Các Ngài ở đây được Phật tử lo cho từng bữa cơm, bữa nước, chỗ ăn, chỗ ở, tất cả mọi thứ. Các Ngài chỉ mới bước vào cánh cửa thứ nhất của Tứ Niệm Xứ thôi mà đã như thế và giờ nếu tiến sâu hơn nữa là sẽ như thế nào?
Minh Thành đã nhắc tới nhắc lui là cảm giác cực kì quan trọng. Hãy quán cho sâu sắc, hãy nhìn cho rõ mặt những cảm giác xuất hiện trên thân, đừng để những cảm giác đó nhấn chìm, làm cho mình trôi lăn, cuốn hút mình, mà lúc đó mình quên mất sự kiểm soát. Chỉ cần điện thoại reo lên nói câu gì mà cảm thấy xúc chạm thì lúc đó đã bừng bừng lên, tất cả cảm giác lúc đó toàn bộ bị xâm chiếm, áp đảo, chi phối và như thế nó đốt cháy. Đức Thế Tôn có một bài kinh “Lửa Cháy”. Lửa cháy trong con mắt, trong các sắc, trong nhãn xúc – sự tiếp xúc của con mắt, lửa cháy trong thọ do nhãn xúc sanh – cảm giác khi con mắt tiếp xúc. Lửa cháy trong tai, lửa cháy ở cảm giác khi mà nghe âm thanh đó. Lúc đó mình có biết không, có phát hiện không hay nhận ngọn lửa đó là chính mình và đồng hóa với ngọn lửa đó.
Cuối cùng nó sẽ thiêu rụi cả thành trì Niết-bàn, thiêu rụi hết căn nhà chánh niệm, thiêu rụi tất cả định và tuệ của mình. Khi có những hình bóng, suy nghĩ gì khởi lên trong nội tâm thì mình phải kiểm soát, phải rõ biết, phải thấy một cách tường tận. Điều này rất là điều tuyệt vời, đây là Đa văn Thánh đệ tử, bậc đệ tử của bậc Thánh, nên nghe nhiều Chánh Pháp mới biết được năm uẩn và biết thường trực luôn luôn nhìn lại để kiểm soát.
Toàn bộ tạng kinh Nikāya, toàn bộ giáo pháp của Đức Phật nếu nói gọn, chỉ cần bốn chữ, đó là: “Thanh Lọc Nhiễm Ô”, tức là diệt tận những rác bẩn ở trong nội tâm của mình. Đây là toàn bộ công trình và phạm hạnh của người xuất gia, ngoài ra không có điều gì khác nữa. Theo tinh thần của Giáo Lý Nguyên Thủy là luôn luôn quay trở lại để nhìn ở trong thân xác, trong những cảm giác, nghĩ tưởng, nhận thức này để phát hiện, phát giác rác bẩn, nhiễm ô, cấu uế của nội tâm, lậu hoặc, những phiền não. Nếu mình để ý sẽ thấy nhiều người khi gặp nhau đều nói những gì cao siêu, hay ho nhưng thực tế thì không dám nhìn. Nói thì nói trên trời dưới đất, dùng những hoa từ, mỹ từ, những gì cao siêu nhưng khi tiếp xúc thực tế rồi thì “trời đất ơi!”.
Đó là do sự tu của mình không lập cứ, không căn cứ trên thực pháp mà trên tưởng tượng. Tạng kinh Nikāya chỉ cho mình những cái thật nhất, đó là tham dục, tham ái, ngã mạn, cống cao, đố kỵ, ganh tị, khen mình chê người, trong kinh của Đức Phật đưa ra không biết bao nhiêu sự cấu nhiễm của tâm trong tạng kinh Nikāya. Khi đọc mình thấy hết hồn, cái nào mình cũng có hết.
Hôm nay chúng ta chỉ nói khái quát, tổng quát, những buổi sau sẽ nói chi tiết về bốn Thánh quả. Đầu tiên, bậc Thánh thành tựu Thánh trí, quả thứ nhất là khi phát hiện được những cấu uế, ta gọi là đống rác. Kế đó sẽ hốt rác, dọn rác là Thánh quả thứ hai. Khi hốt được đống rác thô rồi mình sẽ đổ rác ra ngoài, có những dấu vết còn dính lại sau khi đã đổ thì mình phải chùi, phải rửa, phải tẩy, thậm chí lâu ngày phải lấy bàn chải bằng sắt, bằng kẽm chà nó.
Khi chà, rửa, tẩy sạch những gì còn dính lại sau khi đổ rác đi rồi thì đó là Thánh quả thứ ba – những rác thô không còn nữa. Thánh quả thứ 4 là sau khi chùi sạch hết, không còn một mùi hôi gì nữa, hoàn toàn thanh tịnh, trong sạch, đó là tối thượng A-la-hán, bậc chiến thắng. Đây là mục đích duy nhất mà tất cả người xuất gia chúng ta hướng tới, đạt đến và phải thành tựu, phải chứng đắc những điều chưa chứng đắt, chứng ngộ những đều chưa chứng ngộ, chứng đạt những điều chưa chứng đạt. Cho nên đời sống của một người xuất gia như chúng ta là một đời sống vĩ đại. Chuyến đi này của chúng ta là một cuộc xả ly thiêng liêng, nhất định phải làm cho quan tông diệu tổ, thầy của trời và người. Phải đem ánh sáng của đại giác ngộ trở về chứ không thể đem một thân tàn ma dại thiếu nợ, ở tù.
Muốn vậy thì điều quan trọng nhất Ngài Xá-lợi-phất đã nói với chúng ta ở đây là thực hành đúng pháp và tùy pháp. Đúng pháp là được rồi, tạ sao phải tùy pháp? Tại vì thực hành đúng pháp là mình phải luôn luôn thực hành. Chữ “tùy” là luôn luôn thực hành bất cứ chỗ nào, không phải đợi lên thiền đường rồi lúc đó mới quán chiếu, hoặc là vô giảng đường thì ngồi im re nhưng bước trở ra mình thành một con người khác.
Vì vậy, phải luôn luôn phòng hộ, hộ trì, gìn giữ sáu căn ba nghiệp, luôn luôn quay trở lại để nhìn thấy tất cả những cảm giác của mình, cảm giác toàn thân, kiểm soát toàn thân, làm chủ cảm giác, soi rọi tất cả những cảm giác, không để cho nó qua mặt mình, không cho nó đi “hàng lậu”, “đồ lậu”. Chữ “lậu” là nó ngấm ngầm hoạt động, qua mặt nhưng mình không biết. Cái dục cũng ngấm ngầm qua mặt mình, cứ tưởng mình không có gì hết, nhưng không phải vậy, cái ái, cái tham luôn qua mặt mình và trá hình ở những kiểu này, kiểu kia.
“Con cúi đầu đảnh lễ Chánh Pháp Ly Tham tối thượng” – chúng ta phải nhớ thật kĩ hai chữ tóm thâu toàn bộ giáo pháp, đó chính là: “Ly Tham” – hai chữ này này là trọng tâm, là trái tim của Đức Thế Tôn. Sau khi đã nhìn thấy được bản chất của năm uẩn là vô thường, khổ, vô ngã; nhìn thấy tấm thân này là tan hoại, tan nát, hủy hoại; tấm thân này rồi sẽ trả về với cát bụi; tấm thân là tứ đại hợp thành, do cha mẹ sanh, do cơm cháo nuôi dưỡng, tấm thân này nhất định sẽ tan rã.
Bây giờ thấy một người ăn chơi phè phỡn, giỡn hớt, đi du lịch…hưởng thụ đủ thứ nhưng họ không biết rằng một tuần lễ nữa là họ sẽ chết. Nếu họ biết một tuần sau chết thì họ không thể vui cười, sung sướng, thoải mái để hưởng thụ. Cũng vậy, mình học Thánh đế thứ nhất, nói: “Đây là Khổ” – ba chữ này xin thưa là ba đại a tăng tỳ kiếp mới nói ra được. Chứ không phải hiểu theo bình thường, khổ là khi thấy những người trong bệnh viện chết, người nghè,… đó chỉ là một phần nhỏ xíu của sắc uẩn thôi. Phải thấy cả năm uẩn này hành hạ mình. Những tưởng tượng trong nội tâm, những suy nghĩ có dằn vặt mình không, cảm giác có thúc giục không, có sai khiến, có làm cho mình tìm kiếm hoài không? Đừng nói chi người đời, ngay cả người tu mà dục tham cũng không dừng lại cho, nó cũng kêu mình tìm kiếm, mà đó là cảm giác.
Minh Thành có chia sẻ ba bài “Cảm giác nhận chìm thế giới”, cả thế giời này bị cảm giác nhận chìm, chìm sâu xuống vực thẳm. Trong Tương Ưng Bộ Kinh, Đức Phật gọi là vực thẳm của cảm giác tham, dục, sân, hận, si mê, bản ngã. Những cảm giác này cứ dằn vặt mình, làm cho mình khổ hoài, kiếm hoài, tìm hoài không dừng lại được. Cho đến khi nào chúng ta luôn luôn nhìn lại năm uẩn và thấy rõ sự cấu tạo của thân tâm này chỉ là pháp vô thường, duyên sanh, bại hoại thì khi ấy mắt tuệ bừng sáng, mắt trí huệ bừng sáng, pháp nhãn được thanh tịnh, được viên minh. Lúc đómj mới có thể ly tham từ từ để phá được một thứ sâu xa vô cùng tận là Ngũ Thủ Uẩn. Chữ “thủ” ở đây là nắm chặt vào sắc này, cho đó là tôi, là của tôi; cảm giác này là tôi, là của tôi; những suy nghĩ tưởng tượng này là tôi, là của tôi, ai chạm vô những thứ đó đi rồi biết. Như vậy cái bám thật sâu sắc trong năm uẩn này gọi là ngũ thủ uẩn, chữ thủ này tuyệt vời lắm, nó chính đầu dây mối nhợ của vô minh, tham ái và chấp thủ. Ba tên này hành hạ mình hàng ngày, hàng giờ, hàng phút, hàng giây, không chỉ trong những lúc mình tỉnh mà ngay cả những khi mình ngủ mê, nằm chiêm bao nó cũng theo.
Không có hạnh phúc nào sánh bằng được làm đệ tử của Đức Phật, được nghe Chánh Pháp này, được nhìn thấy bản chất của thân tâm cuộc đời này là năm uẩn. Mình bắt đầu mở con mắt trí huệ ra để thấy, để biết, để tháo gỡ cái tôi và cái của tôi. Như vậy từ từ ta sẽ đi đến chỗ ly tham, chỗ viễn ly, xa lìa, chấm dứt sự vô minh, tham ái đối với sắc thân vô thường, ảo mộng và bất tịnh. Khi đó chúng ta dập tắt được tham, sân, si và mở từ vô lượng tâm, bi vô lượng tâm, hỷ vô lượng tâm, xả vô lượng tâm, là thầy của Trời và Người, đem ánh sáng tuyệt diệu của Chánh Pháp để soi rọi tận cùng thế gian này.
Kính chúc quý thầy, quý cô là bậc Thiên Nhân Sư./.
MỤC ĐÍCH ĐẠO PHẬT LÀ GÌ? 2
Thích Minh Thành
MỤC LỤC
TOC \o "1-3" \h \z \u I. Những điều khó làm PAGEREF _Toc73534311 \h 1
II. Thực hành đúng pháp và tùy pháp PAGEREF _Toc73534312 \h 3
III. Khuyến tấn tu tập PAGEREF _Toc73534313 \h 7
I. Những điều khó làm
Hôm nay chúng ta sẽ tìm hiểu về Pháp Hành trong hai bài kinh rất quan trọng đó là Tương Ưng Bộ Kinh – tập IV, bài kinh “Khó Làm”. Tựa kinh là “Khó Làm” nhưng chúng ta có thể lấy chủ đề là “Khó làm mà làm được” mới hay.
“Lúc đó, du sĩ Jambukhàdaka nói với Tôn giả Sàriputta (Xá-lợi-phất):
-- Này Hiền giả Sàriputta, trong Pháp luật này, cái gì là khó làm?
-- Xuất gia, này Hiền giả, là điều khó làm trong Pháp luật này.
-- Ðối với người đã xuất gia, này Hiền giả, cái gì là khó làm?
-- Ðối với người đã xuất gia, này Hiền giả, hoan hỷ (abhirati) là điều khó làm.
-- Này Hiền giả, đối với người đã hoan hỷ, cái gì là khó làm?
-- Này Hiền giả, đối với người đã hoan hỷ, điều khó làm là sự thực hành đúng pháp và tùy pháp.
-- Có lâu không, này Hiền giả, một người đã thực hành đúng pháp và tùy pháp có thể thành vị A-lahán?
-- Không lâu, này Hiền giả.”
(Tương Ưng Bộ Kinh – Tập IV. Thiên Sáu Xứ, Chương V. Tương Ưng Sàmandaka, bài kinh Khó Làm)
Như vậy, qua bài kinh này chúng ta thấy có một số câu hỏi. Thứ nhất, trong giáo pháp và luật của Đức Thế Tôn cái gì là khó? Ngài Xá-lợi-phất trả lời xuất gia là khó. Thứ hai, sau khi xuất gia thì cái gì là khó? Ngài Xá-lợi-phất đáp rằng hoan hỷ trong đời sống xuất gia là khó. Thứ ba, sau khi hoan hỷ trong đời sống xuất gia rồi thì cái gì là khó? Ngài Xá-lợi-phất nói thực hành đúng pháp và tùy pháp là khó. Thứ tư, sau khi thực hành đúng pháp và tùy pháp thì không bao lâu sẽ chứng ngộ, chứng nhập, chứng đắc Thánh quả.
Những câu này hết sức quan trọng đối với người xuất gia chúng ta, cũng như với hàng cư sĩ. Chúng ta có mặt dựa trên hình tướng của đời sống phạm hạnh, là một vấn đề thiên nan, vạn nan, tỉ nan. Chúng ta đã vượt qua biết bao nhiêu những khó khăn, trở ngại, thử thách từ bên trong nội tâm, lẫn bên ngoài tình cảm gia đình, cho đến những ham muốn bình thường của thế gian. Chúng ta đã làm được việc rất khó làm và khi chúng ta đã làm được một việc khó làm như vậy rồi thì chúng ta sẽ không dừng lại ở bước thứ nhất là xuất gia.
Như vậy thì cạo tóc, đắp y, thọ giới là điều khó nhưng tới đó chưa phải là xong việc. Lúc lúc mình xong việc là khi mình tuyên bố dõng dạc: “Sanh đã tận, phạm hạnh đã thành, việc cần làm đã xong, không còn trở lui trạng thái này nữa.” Đó là hùng ca, là thánh ca, là sự tuyên bố bằng tiếng gầm của sư tử đối với một người đã thành tựu cứu cánh đời sống phẩm hạnh. Hiện nay, chúng ta chỉ mới bước được bước thứ nhất là xuất gia và chúng ta đã thành công ở bước thứ nhất.
Bước thứ hai là hoan hỷ với đời sống xuất gia. Mỗi khi bước lên chánh điện, bước vào thiền đường, hay có mặt trong pháp hội giảng đường mình có thấy phấn khởi, hân hoan, an lạc, tịnh lạc, hoan hỷ tràn ngập ở trong cả cảm giác toàn thân của mình hay không? Nếu chúng ta hân hoan, hoan hỷ, vui thích, thích thú, an lạc, tịnh lạc ở trong nếp sống của thiền môn, ở trong đời sống phạm hạnh của sự thanh tịnh, giới luật, thiền định và tuệ quán là mình có được bước thứ hai là hoan hỷ, vui tươi, vui thích, hân hoan, phấn khởi trong đời sống người xuất gia. Đây là chất liệu, là sự tưới tẩm, là linh hồn của đời sống tăng sĩ, tu sĩ, xuất sĩ.
Mình phải tìm được niềm pháp hỷ, niềm hỷ lạc. Hỷ lạc ở đâu? Hỷ lạc ở trong đời sống ít muốn và biết đủ. Hoan hỷ ở đâu? Hoan hỷ ở chiếc áo nâu sòng, hoan hỷ với độc cư thiền định – ở dưới gốc cây một mình trong căn nhà trống, bên bìa rừng, ven suối thậm chí bên nghĩa địa, trong những đêm trăng một mình ngồi tĩnh tọa, quán chiếu thân, thọ, tâm pháp. Như vậy niềm vui của người xuất gia không phải là những cái vui ồn ào, náo nhiệt, tiếp xúc, ăn, nói, vui cười, chơi giỡn – đây là niềm vui của phàm tục, phàm phu, niềm vui của người chưa ly dục, chưa có đời sống viễn ly. Niềm vui của người xuất gia là niềm vui trong pháp, ở trong sự an tịnh, tịnh lạc của thiền duyệt, của pháp hỷ, của đời sống từ bỏ. Đó là thành công thứ hai trong đời sống xuất gia. Nếu một người xuất gia nào khi ở một mình mà buồn chán thì có vấn đề, người này chưa nếm được hương vị của đời sống xuất gia, chưa thể đứng vững trong pháp và luật này.
Điểm cực kì quan trọng mà chúng ta muốn tìm hiểu nhấn mạnh ở đây là điểm thứ ba:
“-- Này Hiền giả, đối với người đã hoan hỷ, cái gì là khó làm?
-- Này Hiền giả, đối với người đã hoan hỷ, điều khó làm là sự thực hành đúng pháp và tùy pháp. “
II. Thực hành đúng pháp và tùy pháp
Câu “Sự thực hành đúng pháp và tùy pháp” thật sự là cốt lõi. Như vậy, thực hành như thế nào là đúng pháp? Như thế nào gọi là tùy pháp? Muốn hiểu điều này thì có một bài kinh trong Tương Ưng Bộ Kinh, bài kinh “Devadaha” sẽ giải thích vấn đề này:
“Như vầy tôi nghe. Một thời Thế Tôn ở giữa dân chúng Sakka, tại một thị trấn của dân chúng Sakka tên là Devadaha.
Lúc bấy giờ, một số đông Tỷ-kheo du hành ở phía Tây, đi đến Thế Tôn; sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên.
Ngồi xuống một bên, các vị Tỷ-kheo ấy bạch Thế Tôn:
- Chúng con muốn xin Thế Tôn cho phép chúng con đi đến quốc độ phương Tây. Chúng con muốn trú ở quốc độ phương Tây.
- Này các Tỷ-kheo, các Tỷ-kheo đã xin phép Sàriputta chưa?
- Bạch Thế Tôn, chúng con chưa xin phép Tôn giả Sàriputta.
- Này các Tỷ-kheo, vậy hãy xin phép Sàriputta. Sàriputta, này các Tỷ-kheo, là bậc hiền trí, là người đỡ đầu các vị Tỷ-kheo đồng Phạm hạnh.
- Thưa vâng, bạch Thế Tôn. Các Tỷ-kheo ấy vâng đáp Thế Tôn.”
Các vị này đi đến chỗ chào Ngài Xá-lợi-phất, Ngài ấy mới đặt vấn đề:
“Này các Hiền giả, có những người đặt câu hỏi với vị Tỷ-kheo thường đi các quốc độ khác nhau: Các Sát-đế-lỵ hiền trí, các Bà-la-môn hiền trí, các Gia chủ hiền trí, các Sa-môn hiền trí. Này chư Hiền giả, các bậc hiền trí với óc ưa quán sát (sẽ hỏi): "Bậc Đạo Sư của Tôn giả nói gì, tuyên bố gì? Pháp có được chư Tôn giả khéo nghe, khéo nắm giữ, khéo tác ý, khéo thọ trì, khéo thâm nhập với trí tuệ không? "”
Liên hệ với chúng ta bây giờ, nếu có một người nào là tôn giáo bạn hay những người ẩn sĩ, những nhà hiền triết, những người bác học, học giả đến hỏi quý thầy quý cô “Bậc Đạo Sư của Tôn giả nói gì, tuyên bố gì?”, lúc đó mình sẽ nói như thế nào? Câu hỏi này quan trọng, không thể tự ý suy diễn, vì suy diễn là sai. Cho nên khi đó Ngài Xá-lợi-phất đã đặt ra câu hỏi cho các vị Tỷ-kheo đi du phương, nếu có người hỏi “Đức Thế Tôn, bậc đạo sư của các Ngài tuyên bố điều gì, dạy gì?” thì các thầy đáp như thế nào? Đây là pháp học và pháp hành nên mình cần nắm thật vững điều này. Lúc đó, các vị này mới bạch Ngài Xá-lợi –phất như sau:
“- Chúng tôi có thể đi đến thật xa, thưa Tôn giả, để nghe tận mặt Tôn giả Sàriputta nói về ý nghĩa của lời nói này! Lành thay, nếu được Tôn giả Sàriputta giải thích ý nghĩa của lời nói này!
- Vậy này các Hiền giả, hãy lắng nghe và khéo tác ý, tôi sẽ nói.
- Thưa vâng, Tôn giả.
-Này các Hiền giả, có những người đặt câu hỏi với vị Tỷ-kheo thường đi các quốc độ khác nhau: Các Sát-đế-lỵ hiền trí... các Sa-môn hiền trí. Này các Hiền giả, các bậc hiền trí với óc ưa quán sát (có thể hỏi): "Bậc Đạo Sư của Tôn giả nói gì, tuyên bố gì?" Được hỏi vậy, này các Hiền giả, các Hiền giả phải trả lời:
"Này các Hiền giả, bậc Đạo Sư của chúng tôi nói đến sự điều phục dục và tham”
Này chư Hiền giả, các bậc hiền trí với óc ưa quán sát (có thể hỏi): "Đối với cái gì, bậc Đạo Sư của các Tôn giả nói đến sự điều phục dục và tham?" Được hỏi như vậy, này các Hiền giả, các Hiền giả phải trả lời như sau: "Đối với sắc, này các Hiền giả, bậc Đạo Sư chúng tôi nói về sự điều phục dục và tham... đối với thọ... đối với tưởng... đối với các hành... đối với thức, bậc Đạo Sư chúng tôi nói về sự điều phục dục và tham"
" Nhưng thấy sự lợi ích gì, bậc Đạo Sư các Tôn giả nói đến sự điều phục dục và tham đối với sắc... đối với thọ... đối với tưởng... đối với các hành; bậc Đạo Sư các Tôn giả nói đến sự điều phục dục và tham đối với thức? " Được hỏi vậy, này các Hiền giả, các Hiền giả phải trả lời như sau: "Đối với sắc, này các Hiền giả, ai đã viễn ly tham, đã viễn ly dục, đã viễn ly ái, đã viễn ly khát, đã viễn ly nhiệt tình, đã viễn ly khát ái, khi sắc ấy biến hoại, đổi khác, sẽ không khởi lên sầu, bi, khổ, ưu, não. Đối với thọ... đối với tưởng... đối với các hành... đối với thức, này các Hiền giả, ai đã viễn ly tham, đã viễn ly dục, đã viễn ly ái, đã viễn ly khát, đã viễn ly nhiệt tình, đã viễn ly khát ái, khi thức ấy biến hoại, đổi khác, sẽ không khởi lên sầu, bi, khổ, ưu, não. Do thấy sự lợi ích này, này các Hiền giả, bậc Đạo Sư của chúng tôi nói đến sự điều phục dục và tham đối với sắc...đối với thọ... đối với tưởng... đối với các hành; bậc Đạo Sư của chúng tôi nói đến sự điều phục dục và tham đối với thức ".”
(Tương Ưng Bộ Kinh – Tập III. Thiên Uẩn, Chương I. Tương Ưng Uẩn,
Phẩm Nakulapità, bài kinh Devadaha)
Đối với một người không thấy rõ được bản chất của năm uẩn, thì lúc đó từ sắc, thân, vật chất, cảm giác hay nghĩ tưởng bị biến đổi thì người đó sẽ khởi lên sầu, bi, khổ, ưu, não. Vì sự nguy hiểm như vậy nên Đức Thế Tôn mới dạy điều phục dục và tham đối với năm uẩn. Như vậy, trở lại vấn đề, sự tu tập đúng Chánh Pháp, tùy pháp của chúng ta là gì? Nếu quý thầy cô nghe Tương Ưng Bộ Kinh thì quý thầy cô sẽ thấy lặp đi lặp lại hàng trăm lần, hàng ngàn lần câu nói này và đây cũng là định lý của giải thoát. Câu nói đó là: “Tu tập Tứ Niệm Xứ, tu tập Thất Giác Chi, tu tập Bát Chánh Đạo là liên hệ đến viễn ly, đến ly tham, đến đoạn tận, hướng tới từ bỏ” – đây là định lý của giải thoát, phải thuộc lòng câu này. Tất cả 37 Phẩm Trợ Đạo, tất cả pháp hành của Đức Phật là giúp cho mình thấy rõ bản chất của năm uẩn để ly tham – không còn tham muốn của năm uẩn, để viễn ly, xa lìa, để chấm dứt, không tiếp tục đi vào vòng tái tục của luân hồi. Chấm dứt, từ bỏ một cách không thương tiếc đối với ngũ uẩn, giống như đem bỏ một thùng rác hôi thối, dơ bẩn từ một tháng.
Một vấn đề cực kì quan trọng, Hòa thượng tôn sư cũng đã nhắc chúng ta: “Đối với con đường tu tập của tạng kinh Nikāya – những lời dạy gốc của Đức Phật, một cánh cửa để bước vào tất cả pháp hành là luôn luôn nhận diện năm uẩn, nếu không nhận diện năm uẩn thì mình tu không đến nơi đến chốn.” Tức là, bất cứ khi đi, đứng, nằm, ngồi, nhất là trong những giờ thiền, phải xem xem sắc uẩn của mình như thế nào; tiếp tục xem cảm giác của mình đang như thế nào; tiếp theo xem những nghĩ tưởng của mình đang diễn ra như thế nào? Mình phải kiểm soát, phải thấy, phải biết, không thể không thấy không biết mình đang có gì trong nội tâm.
Những lời nói thầm thì – là hành, hình bóng – là tưởng, cảm giác –là thọ, tức là mình luôn luôn xem lại cảm giác, những suy nghĩ, những lời nói thầm ở trong nội tâm. Những hình bóng bên trong là những hình bóng gì, mình nhận thức rõ những điều đó đang diễn ra, đó là mình đang nhận diện sắc, thọ, tưởng, hành, thức. Khi nắm vững và thấy rõ được năm uẩn là mình đã nắm được trời, đất, nắm được cả thế giới này, sự tập khởi của năm uẩn là sự tập khởi của thế giới, sự chấm dứt của năm uẩn là sự diệt tận của thế giới. Khi ngồi lại thì cái nào sẽ hiện ra cái nấy rõ ràng ở trong thân tâm mình, không có cái nào qua mặt được hết khi mình đã nhận thấy rõ năm uẩn.
III. Khuyến tấn tu tập
Như vậy, sự tu tập đúng pháp và tùy pháp là luôn luôn, bất cứ chỗ nào, nơi nào phải nhìn thấy được sắc uẩn đang diễn ra như thế nào. Lúc ngồi thiền, mình xem đầu có thẳng không, cổ có thẳng không, lưng có thẳng không, vai có đều không, thân tâm có thả lỏng không? Khi đi xem bước đi có đều đặn không; khi nói xem lời nói của mình như thế nào; khi nằm xem dáng nằm như thế nào? Như vậy là đang kiểm tra sắc uẩn của mình, đó là phần Niệm Thân trong Tứ Niệm Xứ.
Tức là thân thể sử dụng như thế nào, mình phải biết là nó đang sử dụng như thế ấy, đây là Niệm Oai Nghi và Niệm Hành Động của sắc thân. Điều này là tuyệt vời và trên cả tuyệt vời nếu như mình ứng dụng được. Nó sẽ nâng cao, làm thay đổi, thăng hoa phẩm chất, tính cách, đạo hạnh, đức độ của một người xuất gia. Đây là phần Niệm Thân mà Đức Thế Tôn còn gọi là: “Này các Tỳ-kheo, ai niệm thân là người đó nếm được hương vị của bất tử.”
Đừng quên sắc uẩn đang hoạt động như thế nào, đừng sống trong lãng quên, đừng sống trong vô tri, đừng sống trong lờ mờ mà phải sống trong sự sáng tỏ, rõ biết, trong sự soi xét, sự quán chiếu. Nhìn thấy được thân sắc uẩn này, thấy tứ đại đang hoạt động như thế nào thấy hơi thở vào ra, khò khè vận hành như thế nào; hơi ấm vận hành như thế nào? Đến lúc hai vai nặng xệ xuống, chân tê, mắt sụp xuống mình phải thấy rõ như thế nào? Phải đánh đuổi những cảm giác trì trệ, cảm giác buồn ngủ, lơ đơ lờ mờ, thụ động, làm biếng. Phải đánh tan nó bằng trí nhìn xuyên thủng qua sắc uẩn, đó là tu tập sự quán chiếu sắc uẩn, niệm thân ở trên thân.
Khi nhập Niết-bàn, trong kinh “Đại Bát Niết Bàn”, Trường Bộ Kinh, Đức Thế Tôn đã nói: “Sau khi ta diệt độ, Tỳ-kheo nào thực hành tứ niệm xứ là vị Tỳ-kheo tối thượng trong hàng đệ tử của Như Lai nếu người đó để tâm học hỏi.” Cho nên các Ngài đang ngồi đây nếu luôn luôn lúc nào cũng quán chiếu sắc, thọ, tưởng, hành, thức thì các vị cũng là những đệ tử, những Tỳ-kheo tối thượng của Như Lai. Các Ngài ở đây được Phật tử lo cho từng bữa cơm, bữa nước, chỗ ăn, chỗ ở, tất cả mọi thứ. Các Ngài chỉ mới bước vào cánh cửa thứ nhất của Tứ Niệm Xứ thôi mà đã như thế và giờ nếu tiến sâu hơn nữa là sẽ như thế nào?
Minh Thành đã nhắc tới nhắc lui là cảm giác cực kì quan trọng. Hãy quán cho sâu sắc, hãy nhìn cho rõ mặt những cảm giác xuất hiện trên thân, đừng để những cảm giác đó nhấn chìm, làm cho mình trôi lăn, cuốn hút mình, mà lúc đó mình quên mất sự kiểm soát. Chỉ cần điện thoại reo lên nói câu gì mà cảm thấy xúc chạm thì lúc đó đã bừng bừng lên, tất cả cảm giác lúc đó toàn bộ bị xâm chiếm, áp đảo, chi phối và như thế nó đốt cháy. Đức Thế Tôn có một bài kinh “Lửa Cháy”. Lửa cháy trong con mắt, trong các sắc, trong nhãn xúc – sự tiếp xúc của con mắt, lửa cháy trong thọ do nhãn xúc sanh – cảm giác khi con mắt tiếp xúc. Lửa cháy trong tai, lửa cháy ở cảm giác khi mà nghe âm thanh đó. Lúc đó mình có biết không, có phát hiện không hay nhận ngọn lửa đó là chính mình và đồng hóa với ngọn lửa đó.
Cuối cùng nó sẽ thiêu rụi cả thành trì Niết-bàn, thiêu rụi hết căn nhà chánh niệm, thiêu rụi tất cả định và tuệ của mình. Khi có những hình bóng, suy nghĩ gì khởi lên trong nội tâm thì mình phải kiểm soát, phải rõ biết, phải thấy một cách tường tận. Điều này rất là điều tuyệt vời, đây là Đa văn Thánh đệ tử, bậc đệ tử của bậc Thánh, nên nghe nhiều Chánh Pháp mới biết được năm uẩn và biết thường trực luôn luôn nhìn lại để kiểm soát.
Toàn bộ tạng kinh Nikāya, toàn bộ giáo pháp của Đức Phật nếu nói gọn, chỉ cần bốn chữ, đó là: “Thanh Lọc Nhiễm Ô”, tức là diệt tận những rác bẩn ở trong nội tâm của mình. Đây là toàn bộ công trình và phạm hạnh của người xuất gia, ngoài ra không có điều gì khác nữa. Theo tinh thần của Giáo Lý Nguyên Thủy là luôn luôn quay trở lại để nhìn ở trong thân xác, trong những cảm giác, nghĩ tưởng, nhận thức này để phát hiện, phát giác rác bẩn, nhiễm ô, cấu uế của nội tâm, lậu hoặc, những phiền não. Nếu mình để ý sẽ thấy nhiều người khi gặp nhau đều nói những gì cao siêu, hay ho nhưng thực tế thì không dám nhìn. Nói thì nói trên trời dưới đất, dùng những hoa từ, mỹ từ, những gì cao siêu nhưng khi tiếp xúc thực tế rồi thì “trời đất ơi!”.
Đó là do sự tu của mình không lập cứ, không căn cứ trên thực pháp mà trên tưởng tượng. Tạng kinh Nikāya chỉ cho mình những cái thật nhất, đó là tham dục, tham ái, ngã mạn, cống cao, đố kỵ, ganh tị, khen mình chê người, trong kinh của Đức Phật đưa ra không biết bao nhiêu sự cấu nhiễm của tâm trong tạng kinh Nikāya. Khi đọc mình thấy hết hồn, cái nào mình cũng có hết.
Hôm nay chúng ta chỉ nói khái quát, tổng quát, những buổi sau sẽ nói chi tiết về bốn Thánh quả. Đầu tiên, bậc Thánh thành tựu Thánh trí, quả thứ nhất là khi phát hiện được những cấu uế, ta gọi là đống rác. Kế đó sẽ hốt rác, dọn rác là Thánh quả thứ hai. Khi hốt được đống rác thô rồi mình sẽ đổ rác ra ngoài, có những dấu vết còn dính lại sau khi đã đổ thì mình phải chùi, phải rửa, phải tẩy, thậm chí lâu ngày phải lấy bàn chải bằng sắt, bằng kẽm chà nó.
Khi chà, rửa, tẩy sạch những gì còn dính lại sau khi đổ rác đi rồi thì đó là Thánh quả thứ ba – những rác thô không còn nữa. Thánh quả thứ 4 là sau khi chùi sạch hết, không còn một mùi hôi gì nữa, hoàn toàn thanh tịnh, trong sạch, đó là tối thượng A-la-hán, bậc chiến thắng. Đây là mục đích duy nhất mà tất cả người xuất gia chúng ta hướng tới, đạt đến và phải thành tựu, phải chứng đắc những điều chưa chứng đắt, chứng ngộ những đều chưa chứng ngộ, chứng đạt những điều chưa chứng đạt. Cho nên đời sống của một người xuất gia như chúng ta là một đời sống vĩ đại. Chuyến đi này của chúng ta là một cuộc xả ly thiêng liêng, nhất định phải làm cho quan tông diệu tổ, thầy của trời và người. Phải đem ánh sáng của đại giác ngộ trở về chứ không thể đem một thân tàn ma dại thiếu nợ, ở tù.
Muốn vậy thì điều quan trọng nhất Ngài Xá-lợi-phất đã nói với chúng ta ở đây là thực hành đúng pháp và tùy pháp. Đúng pháp là được rồi, tạ sao phải tùy pháp? Tại vì thực hành đúng pháp là mình phải luôn luôn thực hành. Chữ “tùy” là luôn luôn thực hành bất cứ chỗ nào, không phải đợi lên thiền đường rồi lúc đó mới quán chiếu, hoặc là vô giảng đường thì ngồi im re nhưng bước trở ra mình thành một con người khác.
Vì vậy, phải luôn luôn phòng hộ, hộ trì, gìn giữ sáu căn ba nghiệp, luôn luôn quay trở lại để nhìn thấy tất cả những cảm giác của mình, cảm giác toàn thân, kiểm soát toàn thân, làm chủ cảm giác, soi rọi tất cả những cảm giác, không để cho nó qua mặt mình, không cho nó đi “hàng lậu”, “đồ lậu”. Chữ “lậu” là nó ngấm ngầm hoạt động, qua mặt nhưng mình không biết. Cái dục cũng ngấm ngầm qua mặt mình, cứ tưởng mình không có gì hết, nhưng không phải vậy, cái ái, cái tham luôn qua mặt mình và trá hình ở những kiểu này, kiểu kia.
“Con cúi đầu đảnh lễ Chánh Pháp Ly Tham tối thượng” – chúng ta phải nhớ thật kĩ hai chữ tóm thâu toàn bộ giáo pháp, đó chính là: “Ly Tham” – hai chữ này này là trọng tâm, là trái tim của Đức Thế Tôn. Sau khi đã nhìn thấy được bản chất của năm uẩn là vô thường, khổ, vô ngã; nhìn thấy tấm thân này là tan hoại, tan nát, hủy hoại; tấm thân này rồi sẽ trả về với cát bụi; tấm thân là tứ đại hợp thành, do cha mẹ sanh, do cơm cháo nuôi dưỡng, tấm thân này nhất định sẽ tan rã.
Bây giờ thấy một người ăn chơi phè phỡn, giỡn hớt, đi du lịch…hưởng thụ đủ thứ nhưng họ không biết rằng một tuần lễ nữa là họ sẽ chết. Nếu họ biết một tuần sau chết thì họ không thể vui cười, sung sướng, thoải mái để hưởng thụ. Cũng vậy, mình học Thánh đế thứ nhất, nói: “Đây là Khổ” – ba chữ này xin thưa là ba đại a tăng tỳ kiếp mới nói ra được. Chứ không phải hiểu theo bình thường, khổ là khi thấy những người trong bệnh viện chết, người nghè,… đó chỉ là một phần nhỏ xíu của sắc uẩn thôi. Phải thấy cả năm uẩn này hành hạ mình. Những tưởng tượng trong nội tâm, những suy nghĩ có dằn vặt mình không, cảm giác có thúc giục không, có sai khiến, có làm cho mình tìm kiếm hoài không? Đừng nói chi người đời, ngay cả người tu mà dục tham cũng không dừng lại cho, nó cũng kêu mình tìm kiếm, mà đó là cảm giác.
Minh Thành có chia sẻ ba bài “Cảm giác nhận chìm thế giới”, cả thế giời này bị cảm giác nhận chìm, chìm sâu xuống vực thẳm. Trong Tương Ưng Bộ Kinh, Đức Phật gọi là vực thẳm của cảm giác tham, dục, sân, hận, si mê, bản ngã. Những cảm giác này cứ dằn vặt mình, làm cho mình khổ hoài, kiếm hoài, tìm hoài không dừng lại được. Cho đến khi nào chúng ta luôn luôn nhìn lại năm uẩn và thấy rõ sự cấu tạo của thân tâm này chỉ là pháp vô thường, duyên sanh, bại hoại thì khi ấy mắt tuệ bừng sáng, mắt trí huệ bừng sáng, pháp nhãn được thanh tịnh, được viên minh. Lúc đómj mới có thể ly tham từ từ để phá được một thứ sâu xa vô cùng tận là Ngũ Thủ Uẩn. Chữ “thủ” ở đây là nắm chặt vào sắc này, cho đó là tôi, là của tôi; cảm giác này là tôi, là của tôi; những suy nghĩ tưởng tượng này là tôi, là của tôi, ai chạm vô những thứ đó đi rồi biết. Như vậy cái bám thật sâu sắc trong năm uẩn này gọi là ngũ thủ uẩn, chữ thủ này tuyệt vời lắm, nó chính đầu dây mối nhợ của vô minh, tham ái và chấp thủ. Ba tên này hành hạ mình hàng ngày, hàng giờ, hàng phút, hàng giây, không chỉ trong những lúc mình tỉnh mà ngay cả những khi mình ngủ mê, nằm chiêm bao nó cũng theo.
Không có hạnh phúc nào sánh bằng được làm đệ tử của Đức Phật, được nghe Chánh Pháp này, được nhìn thấy bản chất của thân tâm cuộc đời này là năm uẩn. Mình bắt đầu mở con mắt trí huệ ra để thấy, để biết, để tháo gỡ cái tôi và cái của tôi. Như vậy từ từ ta sẽ đi đến chỗ ly tham, chỗ viễn ly, xa lìa, chấm dứt sự vô minh, tham ái đối với sắc thân vô thường, ảo mộng và bất tịnh. Khi đó chúng ta dập tắt được tham, sân, si và mở từ vô lượng tâm, bi vô lượng tâm, hỷ vô lượng tâm, xả vô lượng tâm, là thầy của Trời và Người, đem ánh sáng tuyệt diệu của Chánh Pháp để soi rọi tận cùng thế gian này.
Kính chúc quý thầy, quý cô là bậc Thiên Nhân Sư./.