Thư Viện Linh Quy
← Danh sách

Mười cách quán tưởng trị bệnh 2

2026-03-03 00:53:03
MƯỜI CÁCH QUÁN TƯỞNG TRỊ BỆNH 2

Thích Minh Thành

MỤC LỤC

TOC \o "1-3" \h \z \u I.Quán tưởng nguy hại PAGEREF _Toc72567467 \h 1

II.Quán tưởng đoạn tận PAGEREF _Toc72567468 \h 4

III.Quán tưởng từ bỏ PAGEREF _Toc72567469 \h 6

IV.Quán tưởng không ưa thích tất cả thế giới PAGEREF _Toc72567470 \h 8

V.Quán tưởng vô thường trong tất cả hành PAGEREF _Toc72567471 \h 11

VI.Quán tưởng niệm hơi thở vào – ra PAGEREF _Toc72567472 \h 13

VII. Trình pháp PAGEREF _Toc72567473 \h 13

Quán tưởng nguy hại

Kính thưa đại chúng, trong quá trình tu học của chúng ta, sự quán tưởng, thiền quán, quán sát hết sức quan trọng. Như từ sáng đến giờ có bốn sự bất ngờ ập đến bản thân Minh Thành, nếu không có sự chánh niệm tỉnh giác quán chiếu, thì sự bất ngờ đến dù nhỏ thì mình cũng sẽ bị dao động, chứ đừng nói chi đến sự đối đầu lớn nhất là tử vong.

Thứ nhất, lúc sáng khi lên chia sẽ pháp thì cúp điện.

Thứ hai là khi Minh Thành ăn sáng xong, đang đi thiền hành trong thất thì cuộc điện thoại, có một thầy mời Minh Thành về Cần Thơ giảng về nhân quả cho cô Phật tử hộ pháp cho thầy đó mấy chục năm đang bị ung thư. Những người bạn đạo chung quanh bất ngờ, thắc mắc vì sao tu mà bị bệnh ung thư, cho nên thầy muốn mời Minh Thành về để giảng cho mọi người hiểu nhân quả.

Bất ngờ thứ ba, buổi trưa đang nằm, vừa vào giấc ngủ có người kêu mình thức dậy 12h30, trước đó mình đâu biết có người kêu giật mình và không ngủ lại.

Bất ngờ thứ tư có dự đoán trước mà cũng gặp, mặc bộ đồ từ Sài Gòn về tắm nhưng không dám thay đồ, cuối cùng thay đại nếu có trúng sâu thì cũng chịu, và thay đồ thì bị sâu bắn, khắp người bị đỏ hết. Nhưng Minh Thành quyết tâm làm cho xong mười pháp quán tưởng, dù có bị chuyện gì cũng kệ, phải nhiếp phục cảm thọ. Đó là bốn sự bất ngờ từ sáng đến giờ, còn nhiều bất ngờ nhỏ nữa. Cho nên mọi thứ đến với mình đều bất ngờ, nếu không có sự thực tập quán chiếu thì không chống đỡ nổi.

Cho nên quán tưởng nguy hại hết sức quan trọng, vì nếu không quán tưởng về sự nguy hiểm của thân thể, của hoàn cảnh xung quanh, của đồ đạc thì mình có một cảm giác an toàn, tưởng đang an ổn, bình an, nhưng thật sự không phải vậy, đó là do mình vô minh và si mê. Không có cái gì trên thế gian hiện hữu mà an toàn, tất cả đều đang trong trạng thái hoại diệt đi đến chỗ tan rã thì không thể an toàn, đều nằm trong trạng thái bất an. Ở đây điều chính yếu là quán thân này nhiều khổ, nhiều sự nguy hại, thì trọng tâm của sự quán nguy hại là thân thể chính mình.

Ví dụ đau bụng đưa vào mổ ruột thừa; ho ra máu khám bệnh là phổi hay ung thư phổi, bệnh trĩ, ruột; ngoáy lỗ tai cũng có thể thủng màng nhĩ bị điếc; chạy xe đạp cũng có thể bị ngã, xe honda cũng té; xe ô tô cũng xảy ra tai nạn, máy bay cũng có thể bị rớt – tất cả đầy rẫy sự bất an, hiểm họa, nguy hiểm. Nếu biết nhìn thì mình sẽ cảm thấy bất an, thật sự mình đang ở trong trạng thái hết sức nguy hiểm, tất cả chúng ta, tất cả chúng sanh đều ở trong trạng thái cực kỳ nguy hiểm mà không biết, cho nên mình mới phàm phu, ngu si, mê muội, vô minh. Nếu mình biết thì đâu có lơ là, buông lung, đâu có vô tư, không suy nghĩ không lo lắng. Chẳng những không biết lo lắng về sống, chết, bệnh, khổ mà còn tạo nghiệp ác, đó là từ vô minh mà chồng thêm vô minh, si ám chồng thêm si ám. Hàng ngày những suy nghĩ, nói năng, hành động mà không có nhìn lại thì tạo ra ác bất thiện pháp, cho nên quán nguy hại hết sức tuyệt vời, giống như đồ dễ vỡ, nếu mình cẩn thận hơn thì sẽ chậm hư hỏng.

Hôm trước các huynh đệ cùng đi chung với thầy đứng giữa đường trước thư viện, Minh Thành có nói là có thể chúng ta đứng đây mặt đất có thể sụp xuống đó là quán nguy hại, quán vô thường, quán vô ngã; chúng ta đang ngồi đây mình quán mặt đất này rung chuyển và chôn vùi mình, ngay tại chỗ này; hoặc ngồi trên xe mình quán tai nạn bất cứ lúc nào. Gặp trường hợp có độ nguy hiểm thì mình đều quán chiếu như thế, làm cho tâm mở ra để đánh thức sự mê muội thâm sâu, vô minh cứng chắc cho là an ổn, cho là bình an, cho là thường hằng mãi đó là thứ vô minh khủng khiếp. Mình không nghĩ không lo, nếu có lo thì cũng lo ít, được một chút cho là đủ, chỉ một chút tu học là bắt đầu cống cao, ngã mạn, ta đây, vì vậy hết sức khủng khiếp cho nội tâm này. Cho nên phải nhìn thâm sâu bằng con mắt trí huệ để xem lại, nếu mình nhìn được thì an ổn tuyệt vời, bước đi sẽ cẩn thận hơn, ăn uống sẽ cẩn thận hơn, sự ngồi tu sẽ sâu sắc, đọc kinh pháp sẽ để tâm hơn, tất cả sự việc của mình sẽ tăng trưởng thiện pháp. Nếu không quán điều này thì sự học tu của mình chỉ nhẹ nhẹ, qua loa làm cho có, do đó nhớ quán tưởng về sự nguy hại.

Vừa rồi có một chú nhập viện trong tình trạng nguy kịch, khi khám bệnh là do chú này uống thuốc mà uống luôn vĩ thuốc, bác sĩ lấy ra vĩ thuốc đó, đây là chuyện đáng lẽ không có nhưng vẫn xảy ra, do đó phải cẩn thận từng chút, tâm mình hết sức đáng sợ, hết sức nguy hiểm. Chúng ta đã học bài kinh “Bốn con rắn độc”, chỉ cần ăn uống không cẩn thận cũng có thể bệnh và tử vong.

Cho nên khi quán về tưởng chết, thì Minh Thành quán đến 3-4 chỗ mình nằm chết chứ không phải một chỗ. Trong chùa Bửu Liên, khi quán thì tưởng tượng chết trong phòng, lúc đó tủ kinh sẽ lật xuống đè chết do nhà bị lắc mà tủ kinh thì cao, khi quán là mình đang nằm ngủ mà bị tủ đè chết không ai hay; hay nhà rung chuyển bị tháp đè; nếu không thì chết trong phòng không ai hay, 3-4 ngày phân hủy mới có người biết. Thứ hai là chết trong thất cũng không ai hay. Thứ ba thì nằm ở đây chết có người biết. Chết thứ tư là trên rừng không có ai biết. Lúc quán chiếu thì quán nằm chết ở nhiều chỗ, chỗ nào hay nằm, hay ở thì quán chết chỗ đó. Khi quán như vậy thì tham, sân, si và bản ngã đều yên tĩnh lắng dịu, không tính toán suy nghĩ nhiều chuyện, Năm uẩn yên tĩnh, sắc yên tĩnh, thọ yên tĩnh, tưởng yên tĩnh an trú trong tưởng chết, hành yên tĩnh những suy nghĩ, thức yên tĩnh. Một sự bình yên kỳ diệu xuất hiện khi mình an trú trong tưởng chết, khi mình thường quán nguy hại quán chết, khi cái chết đến thì mình bình an.

Chúng ta có thể giữ tâm mình bất động, không hoảng loạn, không sợ hãi, không hoảng hốt là do mình thường an trú trong tưởng, trong cảm giác khi chết, đây chính là sự tối thắng. Điều quan trọng của kiếp người là đối đầu với lúc chết, thông thường thì thấy bình thường, chỉ có khi đối đầu với cái chết là lúc quyết định quan trọng, quyết định kiếp tái sanh của mình. Nếu là bậc Bất Lai thì sẽ không còn trở lại thế giới này, nếu là bậc A La Hán thì nhập Niết-bàn, nếu là bậc Sơ quả, Nhị quả có phước đức lớn thì không ở thế gian này nữa. Cho nên cảnh giới của chư thiên là tu đến khi nào nhập Niết-bàn, không còn trở lại thế giới loài người.

Một người thành tựu Chánh Tri Kiến, thấy rõ năm uẩn và quán chiếu tưởng này liên tục, phước đức lớn thì không trở lại nhân gian. Do tất cả các pháp trên thế gian dục giới này, người đó đã quán chiếu nhàm chán tột độ, tâm không tương ưng với dục giới, không tương ưng với pháp thấp kém, nên tự động nhân quả hệ sẽ lên cao, vì vậy quán tưởng rất thâm sâu. Đương nhiên người thông thường sẽ không chịu do họ đam mê thân này, đam mê dục, ái, tham trong thân nên không quán được, nhưng quán được những điều này thì công phá rất mạnh.

Cho nên mình không tủi thân, chết như thế là tốt, không tủi thân, than thở, chết trong pháp và trong sự quán chiếu là chết trong Thánh trí, nếu mình tủi thân theo kiểu thường tình là vô văn phàm phu. Căn cứ vào Đa văn Thánh đệ tử, mình chết không cần ai biết, chỉ mình biết là đủ, lúc đó mình quán xả ly năm thủ uẩn, từ bỏ, chấm dứt, nhàm chán, đoạn diệt. Mà pháp quán này là pháp quán của bậc Thánh, của Thánh trí thì lúc đó mới quán được, còn phàm phu thì không thể nào làm được. Nếu mình không thực tập quán mỗi ngày thì lúc đó không thể nào nhớ được mà sẽ khủng hoảng, hoảng loạn, khủng bố, bấn loạn, rối loạn. Như vậy chỉ cần một chuyện nhỏ mà mình quýnh quán, rối loạn, vậy khi cái chết tới thì làm sao mà định và bất động được. Nhìn bây giờ là thấy được chết như thế nào, do đó chỗ thâm sâu của sự tu là làm chủ được sanh tử, đó là thành quả cuối cùng của người tu. Khi cái chết đến mình làm chủ, được tự tại, vô uý, không sợ hãi đó là sự nghiệp lớn lao của người tu, đó là thành quả, thành công, thành tích, kết quả cuối cùng của kiếp sống.

Quán tưởng đoạn tận

Chúng ta thường nhắc đi nhắc lại sự quán chiếu của Thái Tử Tất-Đạt-Đa khi du ngoạn bốn cửa thành là hết sức cực kỳ thâm sâu. Người đơn giản không thể hiểu được trí huệ của bậc Chánh Đẳng Giác trong kiếp sống cuối cùng là ghê sợ đối với già, bệnh, chết, muốn chấm dứt, muốn thoát ra. Nếu không có được điều này là tu không tới, mà muốn có được nó thì phải có sự quán tưởng về đoạn tận.

Và này Ànanda, thế nào là tưởng đoạn tận?

Ở đây, này Ànanda, Tỷ-kheo, không có chấp nhận dục tầm đã sanh, từ bỏ, tẩy sạch, chấm dứt, đi đến không sanh trưởng; không có chấp nhận sân tầm đã sanh, từ bỏ, tẩy sạch, chấm dứt, đi đến không sanh trưởng; không có chấp nhận hại tầm... đã sanh...; không có chấp nhận các ác bất thiện pháp tiếp tục khởi lên, từ bỏ, tẩy sạch, chấm dứt, đi đến không sanh trưởng. Này Ànanda, đây được gọi tưởng đoạn tận. (Tăng Chi Bộ Kinh – Tập 4, 10. Chương Mười Pháp, VI. Phẩm Tâm Của Mình, bài kinh Girimànanda)

Đoạn tận tham, sân, si, hại, ác bất thiện pháp, không chấp nhận dục tầm. Dục tầm là sự suy tầm ham muốn về dục; sân tầm là sự suy tầm về bực bội, tức giận, sân hận; hại tầm là những suy nghĩ hại người khác. Không chấp nhận suy nghĩ về dục, về ham muốn, về sân, về hại, không chấp nhận những suy nghĩ hại ác bất thiện pháp khởi lên, từ bỏ chấm dứt tẩy sạch, đi đến chỗ không sanh trưởng, không sanh khởi và tăng trưởng trong nội tâm của mình, đó là quán tưởng đoạn tận.

Nếu như mình không có thường thường nhìn lại nội tâm, không nhìn lại những cảm giác, suy nghĩ thì làm sao biết có suy nghĩ về dục, do mình không nhìn không biết nên không thấy, như vậy gọi là vô minh, vô tri. Nhiều người nói họ không có si, không có tham, nhưng không phải, đó là do họ không thấy không biết. Những suy nghĩ muốn là dục tầm, là suy nghĩ về sự ham muốn, muốn ăn, muốn ngủ thoải mái, muốn đi chơi, về nhà, hưởng thụ là dục tầm. Những suy nghĩ đó sanh khởi thì phải từ bỏ, tẩy sạch, chấm dứt không cho sanh khởi, đó gọi là quán tưởng sự đoạn tận. Đoạn tận là chấm dứt hết tham, sân, si, những ác bất thiện pháp trong nội tâm.

Ví dụ, thỉnh thoảng có khóa tu mới được học, nhưng mình lại suy nghĩ sao mà học hoài vậy, đó là ác bất thiện pháp, phải thấy được điều đó, hay mình nghĩ nghe gì nghe hoài, tu hoài vậy đó là ác bất thiện pháp. Cho nên khi nghe vậy là đi xuống núi hết, vì muốn tu vừa vừa, tu chi nhiều cho nên đi xuống núi hết. Cứ muốn nuôi dưỡng những tham, ái, dục, lười biếng, buông lung, phóng dật, dễ vui. Có dễ vui nhưng không dễ dạy, dễ bảo, dễ nghe, không dễ chịu mà chỉ dễ vui. Dễ vui là buông lung, buông thả theo pháp bất thiện, mà vào pháp thiện thì khó bảo, khó dạy khó nghe, khó học, khó tu, khó hành. Vì vậy, mình phải thấy được nội tâm của mình, muốn thấy được nội tâm của mình thì phải nhìn hoài, sau đó thấy được và xử lý thì mới quán được tưởng đoạn tận, nếu không thấy thì không thể đoạn được.

Cô Sáu nhớ lúc trước khi bán gà, bán tiệm cơm, bán từ sáng đến chiều không thấy mệt nhiều, đôi khi bán đắt còn thấy vui, nhưng nhiều khi nghe pháp ngồi thiền thì lại thấy mệt. Đó là vì ác bất thiện pháp của mình tương ưng nhiều hơn, còn thiện pháp Thánh trí thì không quen, không phù hợp, không tương ưng. Cho nên đi theo đường thế tục thì dễ đi thoải mái, đi theo đường Thánh pháp, Thánh trí thì lại khó. Mình phải thấy được điều này, thấy được thì mới ngăn chặn những ác bất thiện pháp, phát huy thiện pháp trí huệ, đây gọi là diệt ác tác thiện. Bỏ ác làm lành là vậy, chứ không phải bên ngoài hình thức, mà bỏ ác làm lành đó là thâm sâu ở trong suy nghĩ, cảm giác tưởng trong nội tâm, gọi là “chỉ ác tác thiện”, chỉ ác là chỉ các điều ác, tác thiện làm các việc thiện. Bài kệ nổi tiếng:

Không làm mọi điều ác.

Thành tựu các hạnh lành,

Tâm ý giữ trong sạch,

Chính lời chư Phật dạy.

(Kinh Pháp Cú – Phẩm Phật Đà)

Như thế nào gọi là ác? Đó là những suy nghĩ về dục, về sân, về hại, về si mê, về tham ái, suy nghĩ ác bất thiện pháp, mình phải tẩy sạch, phải từ bỏ, phải chấm dứt, như vậy là làm trong nội tâm, nó đòi hỏi sự liên tục nhìn lại quán chiếu. Đây là công phu nội công thâm sâu, có sự nỗ lực, cố gắng ở bên trong. Ngoại công là ở bên ngoài mình thấy được, làm cho mọi người, còn nội công là không ai thấy. Chiến thắng tâm lười biếng giải đãi, buông lung, phóng dật, những tâm hẹn hò ngày mai, tháng sau, năm sau rồi tu, chiến thắng được những thứ đó, cho nên ở đây là mình đang học đại học, đi vào nội công.

Quán tưởng từ bỏ

“Và này Ànanda, thế nào là tưởng từ bỏ?

Ở đây, này Ànanda, Tỷ-kheo đi đến khu rừng, hay đi đến gốc cây, hay đi đến ngôi nhà trống, suy xét như sau: "Đây là an tịnh, đây là thù thắng, tức là sự an chỉ tất cả hành, sự từ bỏ tất cả sanh y, ái diệt, ly tham, Niết bàn.”(Tăng Chi Bộ Kinh – Tập 4, 10. Chương Mười Pháp, VI. Phẩm Tâm Của Mình, bài kinh Girimànanda)

Tưởng từ bỏ và tưởng đoạn diệt giống nhau, có nơi gọi là chín tưởng, có chỗ gọi là mười tưởng. Quán tưởng từ bỏ, chấm dứt là đi đến rừng lên núi, gốc cây, trong thất, trong nhà, mình suy xét đây là an tịnh, đây là thù thắng. Cho nên các vị lên thiền đường ngồi Minh Thành hay nói đây là giây phút thiêng liêng, đây là giây phút mầu nhiệm, đó là giây phút an tịnh, thù thắng, đó là giây phút từ bỏ chấm dứt, làm cho an chỉ tất cả các hành. An là yên, chỉ là dừng – dừng yên lại; các hành là sự vận hành của năm uẩn, sắc vận hành, cảm giác vận hành, các tưởng, suy nghĩ vận hành, thức vận hành. Hay nói đơn giản theo cách khác là làm cho an định các những dục, tham, ái, sân si, bản ngã trong năm uẩn, đó là sự thù thắng, tuyệt vời, đặc biệt, tốt đẹp, cát tường.

“Sự từ bỏ tất cả sanh y, ái diệt, ly tham, Niết bàn” – sanh y là chỗ dựa của sự thọ sanh, sự sanh tử, là chỗ từ đó sanh ra mình, phải từ bỏ, làm cho ái diệt lìa tham. Ái yêu thích mà yêu thích nặng nhất là thân thể, muốn ăn cho ngon, mặc cho đẹp, muốn ở sang, muốn khỏe, muốn được mọi người khen ngợi, còn dạy dỗ các pháp Hiền Thánh thì không chịu, do nó ái thân, dù biết đúng nhưng cũng không chịu, mà bực mình. Cho nên nhìn ra được điều này thì hết sức sâu sắc, ái thân là yêu thích con mắt, yêu thích lỗ tai, lỗ mũi, lưỡi, miệng, tấm thân này. Thân mỏi một chút là khó chịu, thân mệt một chút là khó chịu, đau một chút là bực mình, chỉ muốn thân được khỏe êm ái, đó là ái thân, ái sắc uẩn, ái đống thịt này, yêu đống thịt này, mê đống thịt này, đắm đuối trong đống thịt này, trau chuốt tô điểm cho nó, rồi cuối cùng thân cũng rã hết. Vậy mà mình đi yêu thương chăm chút cho cái tan nát bại hoại, cái không ra gì, nhưng mình lại sống chết với nó, đó chính là vô minh, là khổ.

Cho nên tưởng từ bỏ, đoạn diệt là chấm dứt yêu thích, mê say, đắm đuối với mấy chục ký lô thịt, sử dụng nó thông minh, trí huệ, mượn thân để thành tựu mục đích cao xa, mục đích đoạn tận, từ bỏ, ly tham. Tất cả mọi thứ đều vì tham cho thân này, tiền nhiều chính là phục vụ cho thân này, nhà lớn chính là phục vụ cho thân này, xe sang cũng phục vụ cho thân, chức quyền cao cũng vậy, để được mọi người trọng vọng, tất cả mọi thứ là do ái thân, từ ái sanh tham, cho nên từ bỏ tất cả sanh y, ái diệt, ly tham, Niết-bàn.

Còn chúng ta cứ mê thích, đắm đuối, ràng buộc, còn ham đắm trong thân là còn tiếp tục nước mắt chảy xuống, máu đổ xuống, bứt tóc đấm ngực kêu trời hỡi, trời ơi, cha chết, mẹ chết, con cháu chết, anh em chết, đau khổ dài dài rồi chồng chất lên. Rồi còn làm con chó, heo, dê, gà, vịt, rắn rết, bởi vì sự chấp thủ vào trong sắc uẩn không mở ra được. Ái luyến thân xác vô thường, không thấy thân này là khổ, là tứ đại, vô thường. Không thấy thân này do sắc tứ đại vô thường tạo thành, không thấy bản chất của sắc là biến hoại, tan rã, vô thường là khổ, là phiền não, nhọc nhằn, mệt mỏi, chán chường, bệnh hoạn, u nhọt, mũi tên, gai độc, hố than hừng, là giấc mộng, là miếng thịt, là trò ảo thuật, cơn gió, đám mây, tiếng vang sóng nắng, lầu sò chợ bể, trống không, đống bọt. Không ai thấy được những điều đó mà cứ tưởng là bền chắc, là thật, là lành, là hay ho, như thế thì lẩn quẩn như chó buộc vào cột chạy lòng vòng, không đi ra khỏi cây cột. Cho nên mình phải luôn luôn thực tập thân hành niệm phá được chấp sắc uẩn này, thì sẽ đi đến chỗ từ bỏ tất cả sanh y, ái diệt, ly tham đi đến Niết-bàn.

Cho nên mình đến chỗ xa vắng, yên tịnh để tịnh tâm, phải biết đó sự thù thắng, sự yên tịnh. Vì vậy mình phải vui lên, hân hoan lên vì đây là sự thù thắng, sanh khởi hỷ vô lượng tâm, hoan hỷ, hỷ lạc, vui sướng. Mỗi khi nghe pháp, mỗi khi ngồi thiền, mỗi khi lễ sám hối diệt ngã, mỗi khi được lên núi thì hân hoan, vui thích, thích thú. Vì kiếp người được mấy lần lên núi để tu, được mấy lần nghe giáo pháp ly tham, được mấy lần nghe được Thánh trí ái diệt, được mấy lần nhàm chán sắc thân ngũ uẩn vô thường này. Trong suốt cuộc đời được mấy lần mà mình có tư tưởng từ bỏ, chấm dứt, một tỷ kiếp cũng chưa chắc có được một lần, phải làm phát sanh ra được một cảm giác, suy nghĩ, quán chiếu tu tập như vậy.

Quán tưởng không ưa thích tất cả thế giới

Và này Ànanda, thế nào là tưởng không ưa thích trong tất cả thế giới?

Ở đây, này Ànanda, phàm ở đời có những chấp thủ phương tiện, tâm quyết định, thiên kiến, tùy miên nào, Tỷ-kheo từ bỏ chúng, không ưa thích, không chấp thủ. Này Ànanda, đây gọi là tưởng không hoan hỷ đối với tất cả thế gian. (Tăng Chi Bộ Kinh – Tập 4, 10. Chương Mười Pháp, VI. Phẩm Tâm Của Mình, bài kinh Girimànanda)

Phàm ở đời có những chấp thủ phương tiện là những thứ làm cho mình chấp thủ. Đức Phật định nghĩa chấp thủ là chỗ nào có dục và tham là có chấp thủ. Như vậy cái gì làm cho mình dục tham, chấp thủ thì đó là phương tiện để chấp thủ, mình phải từ bỏ chúng, từ bỏ tâm thiên kiến, những tâm miên man, bấu chặt, bám chặt, không ưa thích, không chấp thủ. Tâm ưa thích bám chặt vào năm uẩn như ăn ngon, ngủ kỹ, tiện nghi, vừa lòng vừa ý, nó bám vào những thứ đó, mình cần phải từ bỏ những thứ đó.

Phải quán tưởng sự không ưa thích đối với tất cả thế giới hay quay lưng tất cả đối với sự lòe loẹt của thế giới. Sự lòe loẹt của thế giới thì rất kinh khiếp, rất nhiều, thế giới chế tạo ra đủ thứ hết để cho lòng tham con người phát triển, tăng trưởng, quảng đại. Ngày xưa lúc còn nhỏ mình đâu biết điện thoại cầm tay, laptop, Internet, zalo, facebook, bây giờ những thứ này tăng trưởng và ràng buộc mình, thậm chí mình nghiện game, xì ke, điện thoại, nghiện phim ảnh, đó là sự lòe loẹt của thế giới, những màu sắc càng ngày càng nhiều. Tại sao chùa Linh Quy Pháp Ấn không thấy nhiều màu, vì tất cả xung quanh màu mè quá nhiều rồi, từ đường phố, phố thị, cho nên lên chùa tìm màu mè làm gì. Quay lưng với tất cả lòe loẹt của thế giới, mình phải quán chiếu như vậy.

Thật ra trên cuộc đời này không có bất cứ thứ gì mà mình chưa từng nếm qua trong vòng luân hồi, nhưng vậy mà mình vẫn khao khát, vẫn mong muốn, vẫn ước ao, vẫn hy vọng, vẫn khát ái, vẫn không bao giờ thỏa mãn. Tuy đã già nhưng nhìn thấy trẻ đẹp cũng thích đó là bản chất của ái, ngay cả người tu mà không chánh niệm tu tập thì cũng vậy, gặp người trẻ đẹp nói chuyện cũng có cảm giác thích, hoặc có món đồ tốt cũng lại nhìn, sờ, tất cả đó là ái. Do đó mình tập quay lưng với sự lòe loẹt của thế giới như đẹp, giàu, chức vụ cũng không quan trọng, chỉ có Chánh Pháp là quan trọng. Nếu người thật sự chân tu tìm cầu con đường thoát ra, thì người đó quan trọng với Chánh Pháp. Cho nên phải tu tập, phải quán chiếu, phải thường xuyên liên tục. Tất cả sự lòe loẹt của thế giới làm cho chúng sanh điên đảo, đảo lộn hết, không còn cha con, mẹ con, vợ chồng, anh em. Chỉ vì một chút đồng tiền, một chút dục tham vật chất tài sản có thể biến thành huynh đệ tương tàn, con giết mẹ, giết cha, chồng phân xác vợ, tất cả những thứ này rất là khủng khiếp.

Vật dụng ngày càng phát triển thì lòng tham con người càng khủng khiếp, kinh khủng, không biết bao nhiêu cho đủ, làm cho họ điên loạn. Ngày xưa vài đồng thì đủ ăn, còn bây giơ phải có tiền tỷ, nếu không có thì cuối cùng là ăn cắp, ăn cướp, giết người. Cho nên mình quán không ưa thích đối với tất cả thế giới, vì đi theo nó thì càng dục càng tham, không bao giờ thỏa mãn. Vì vậy xung quanh xanh xanh, đỏ đỏ nhìn chán quá, khi lên chùa không có màu nhìn cho mát mắt, lên chùa không có gì để làm mình tăng thêm tham. Do đó có người đã lên chùa rất nhiều lần, tại vì nơi này làm cho lắng dịu, làm cho ly tham. Kiến trúc của Linh Quy mang tính chất như vậy, chủ ý xây dựng là đưa ra chất liệu đó, cho nên mọi người lên đây thấy nhẹ nhàng, thoải mái, an tịnh. Từ cảnh trí và kiến trúc bên ngoài mình đã được như vậy, nên nếu đi được vào pháp ly tham thì càng tuyệt diệu, tối thượng thừa. Đó gọi là vừa có hình thức, vừa có nội dung, vừa có chất vừa có lượng, vừa có danh vừa có thực, phải đạt được con đường ly tham của Đức Thế Tôn mới xứng danh là đệ tử Phật, dầu cho cư sĩ hay người xuất gia. Làm sao người ta đến đây, nghe thấy pháp, tất cả đều có thể hướng theo chiều hướng ly tham, bớt tham, giảm tham, không tham là thành công. Phải quay lưng với tất cả thế giới, dù cho người đó ở đâu tới, dù là chức sắc giàu có thì cũng ngồi nơi ghế tre uống chung trà. Phải từ bỏ phương tiện chấp thủ, những cái gì làm cho tâm mình sanh khởi dục tham thì tập từ bỏ những thứ đó.

Ví dụ, mình thích uống sữa nên ngày nào cũng uống, mình sẽ tập ba ngày uống một lần, tập từ từ gỡ từ từ. Hay thích cây kiểng thì mình sẽ tặng hoặc cúng dường, đó là phương pháp ly tham. Hoặc mình hài lòng với cái áo này lắm, đem áo cúng dường cho sư huynh, đó là chiến sĩ, dũng sĩ. Mình thích được khen có con mắt đẹp, có ai khen thì rất thích thú, nhưng khi nghe khen thì mình sẽ chửi nó ngu si vô minh, đây là phương tiện của chấp thủ, đây là tùy miên, phải đánh tan cảm giác ưa thích, thích thú đó. Còn nếu con mắt bị chê thì chắc chắn khổ. Do đó phải tập gỡ từ từ, làm cho tâm mình ly tham đối với tất cả sự lòe loẹt thế giới, không có gì khoan khoái, thích thú, đam mê, tất cả là vô thường, vô ngã, trống rỗng, ngay cả thân xác này. Tập như vậy thì sẽ an lạc và sẽ thành tựu trí huệ, sẽ thể nhập trí kiến của bậc Thánh. Mình phải tập hoài, ba tháng, ba năm cho đến ngày chết thì chắc chắn sẽ đi vào Nhập Lưu.

Ví dụ, mình thích món cà phê sữa, sáng nào cũng uống, nhưng khi đến một nơi không có thì sẽ khổ, khó chịu đó là phương tiện của chấp thủ, mình lệ thuộc vào cái gì thì nó sẽ làm cho mình khổ, không có sẽ khổ. Bây giờ mình không lệ thuộc vào thứ gì hết, có thì uống không có thì thôi, mình phải tập như vậy, có ti vi thì xem không có thì thôi, có nhà thì càng phải giữ, mệt, nên thôi mình giao nhà lại cho con thì khỏe. Quay lưng lại tất cả vật chất lòe loẹt của thế gian, tại vì sớm muộn gì cũng bỏ, nên bỏ càng sớm thì càng khỏe. Bây giờ không tập bỏ đến lúc chết thì sẽ quay lại giữ nhà vì mình không đi được. Do buộc căn nhà vào tâm, buộc vào cảm giác, nghĩ tưởng, nhận thức của mình nên mình không đi được mà phải quay lại vì quen với cảm giác, nghĩ tưởng, nhận thức đó.

Cho nên phải thường trú trong tưởng không ưa thích đối với tất cả thế giới, mình sẵn sàng ra đi, mang một cái đãi, một tấm y. Có người đủ sức gánh được pháp, hướng dẫn cho mọi người tu đúng Chánh Pháp là đi, đi qua khu núi khác không ai làm cản trở, khi nào giảng thì xuống núi. Đã huấn luyện, tu tập tâm như vậy từ lâu. Từ khi chưa dựng lập Linh Quy Pháp Ấn thì tâm đã như vậy huống chi bây giờ đi vào giáo pháp ly tham tuyệt vời như thế này. Chùa Bửu Liên chưa nhận mà Minh Thành đã giao, bây giờ có người trông chừng hết. Minh Thành chỉ có một lý do duy nhất để mở cửa phòng đi ra đó là giảng pháp và hướng dẫn tu học tại chùa Bửu Liên hay ở Linh Quy Pháp Ấn, ngoài lý do đó không còn lý do nào khác, trừ khi cấp cứu hay đi bệnh viện.

Sự nghiệp người tu là Tìm Pháp – Cầu Pháp – Học Pháp – Chứng Pháp – Hoằng Pháp. Suốt cuộc đời không rời chữ pháp, còn những thứ khác là sự lòe loẹt của thế giới, là phương tiện của chấp thủ, là rắn độc. Đừng nhìn thấy mà mê, đừng nhìn thấy người ta đưa bao thư mà ham, đó là rắn độc, nó cắn thì nọc sẽ chạy khắp người, có thể chết. Chỉ có pháp, xác định rõ mục tiêu như vậy thì tu hành mới đi đến mục đích, còn không thì rất nhiều lối tẻ.

Quán tưởng vô thường trong tất cả hành

Và này các Tỷ-kheo, thế nào là tưởng vô thường trong tất cả hành?

Ở đây, này Ànanda, Tỷ-kheo bực phiền, xấu hổ, nhàm chán đối với tất cả hành. Này Ànanda, đây gọi là vô thường trong tất cả hành. (Tăng Chi Bộ Kinh – Tập 4, 10. Chương Mười Pháp, VI. Phẩm Tâm Của Mình, bài kinh Girimànanda)

Đúng là bực phiền cho tấm thân này, mặc bộ đồ cũng phiền, ngứa khắp người nên bực mình xấu hổ, quần áo rách cũng xấu hổ. Tấm thân này bản chất là như vậy phải che lại, nếu không mặc là người ta chạy. Bản chất Tỷ-kheo bực phiền, xấu hổ, nhàm chán đối với tất cả sự vận hành của sắc uẩn. Không có gì bên trong mà thích thú đam mê khủng khiếp. Đói bụng là quạu, khát là bực phiền, nhàm chán. Nhìn kỹ thân này là như vậy.

Quán tưởng vô thường trong tất cả các hành, bực phiền, xấu hổ, nhàm chán. Không có gì trong thân này, nhìn sâu sắc sẽ thấy không có cái gì mà dương dương tự đắc, cống cao ngã mạn, khen mình chê người, mang thân xấu hổ, thân lủng lỗ, mới đổ mồ hôi đã có mùi. Ví dụ đang nói chuyện bình thường mà ợ lên thì rất phiền rồi, tất cả đều là xấu hổ. Toàn thân của mình là như vậy, có gì đâu để kiêu căng, ta đây, vậy mà đam mê trong vô minh, tự hào dương dương tự đắc, cống cao ngã mạn. Vì vậy phải bực phiền, xấu hổ, nhàm chán đối với tất cả hành.

Chỉ cảm giác đã hành hạ mình rồi, đi theo cảm giác dục, tham, ái, làm biếng là đã xấu hổ. Ngồi thiền mà ngủ hoài rất xấu hổ, muốn trị mà không được nên rất là xấu hổ, bực với cảm giác này, thấy bực mình, phiền phức. Nhàm chán với tưởng, cái dục xúi mình nhiều thứ. Phải quán tưởng được vô thường trong tất cả các hành. Thà không thấy không nghe thì không sao, nghe thì có chuyện. Ví dụ cuộc điện thoại không thấy không nghe thì không sao, nhưng nghe được là sân si lên, sanh khởi cảm thọ, suy nghĩ trong đó, là bắt đầu có chuyện, mà những chuyện đó chỉ là vô thường. Các hành là vô thường, sự vận hành của sắc, sự vận hành của cảm giác, vận hành của nghĩ tưởng và nhận thức là vô thường, tất cả chỉ lòng vòng trong đó, nhưng mình không thấy đó là phiền não, không thấy nó đáng xấu hổ, phải nhàm chán đối với nó, mà chỉ thấy những thứ khác rồi đổ thừa, không biết tự thân mới là thứ đáng nhàm chán.

Nhiều người nói chuyện nhiều đến nỗi văng nước bọt vào mặt mình, nếu không chánh niệm tỉnh giác thì có nhiều chuyện đáng tiếc xảy ra. Mình xem cảnh bà già bệnh nặng nằm một chỗ và đi ị, có đứa cháu chăm sóc muốn dời bà qua một chỗ để hốt, nhưng bà ấy giả bộ không cho, ý nói không có, bà ấy khổ khóc, do câm nằm một chỗ, thấy hình ảnh đó rất là tội nghiệp. Mà may mình có chút phước không có bị vào những thân như cụ. Nếu vào thân cùi, ghẻ lở, mù, điếc, chột, đui, ngọng, câm, truyền nhiễm, ung thư thì làm sao mà sống, mà ngoài thế gian thì đầy rẫy những cảnh thân xấu hổ như vậy.

Mình ngồi đây mà còn thấy khổ, còn những ngồi lê lết ăn xin ngoài đường thì đau khổ cỡ nào. Hoặc người bán thân bất toại nằm liệt gường liệt chiếu hay bị tâm thần trong trại tâm thần, họ câm muốn nói chuyện mà không được, hoặc điếc muốn nghe mà không nghe thể nghe, tự đặt mình vào những trường hợp đó thì thấy thế nào. Đôi khi mình lại quên có những người đó, cho nên phải xem hình để mình nhớ, để mỗi khi mình lười biếng, giải đãi thì quán những điều đó, đặt vào những trường hợp đó để mình phấn chấn, đánh tan hôn trầm, lười biếng. Phải quán tưởng những điều đó để nỗ lực, mong cầu ra khỏi, tức là xuất ly đạo lộ, thoát ra tấm thân bực phiền, xấu hổ, nhàm chán này.

Nếu thường nhìn lại để quán thì rất xấu hổ. Trong tâm thì đầy rẫy dục, tham, ái, sân si, bản ngã, vô minh, chấp thủ; còn ở ngoài thì phân, nước tiểu, nước miếng, máu mủ, mỡ, cức ráy, mồ hôi. Mình chỉ khéo che đậy chút xíu rồi đánh son lên, chụp hình ta đây khoe nhưng thực ra không có gì hết, chỉ cần bốc vỏ ra thì máu mủ trào ra kinh khiếp, khủng khiếp. Nằm một chỗ nước tiểu chảy ra, phân chảy ra, máu mủ chảy ra, mà mình quên không nhớ, không ai nói cho biết. Chỉ có bậc Chánh Đẳng Chánh Giác mới chỉ cho mình biết thân lủng lỗ đáng xấu hổ, thân bất tịnh đáng nhàm chán, đáng gớm giếc, cho nên mình cần phải cố gắng nỗ lực tu hành. Phải trân trọng những giây phút này ở đây, những giây phút nói, nghe, nhưng giây phút tư duy, quán chiếu như thế này, những giây phút thiêng liêng thần thánh làm cho mình bừng sáng Thánh trí, để cho mình nhìn triệt để, thấu suốt đống thịt khổ ách, khổ nạn, khổ sở, khổ não. Nó đã hành hạ mình 60-70 năm, trăm đời ngàn kiếp, mà mình không chịu tỉnh, cứ mê hoài. Phải quán thâm sâu như vậy, tháo tung hết phương tiện của chấp thủ, để đi đến chỗ bực phiền, nhàm chán đối với tất cả các sắc, thọ, tưởng, hành, thức, lúc đó mình mới có con đường thoát ra.

Quán tưởng niệm hơi thở vào – ra

Cuối cùng là tưởng niệm hơi thở vào hơi thở ra – 16 hơi thở. Ở đây mình thường tập nhận biết hơi thở vào, hơi thở ra, hơi thở ngắn, dài; tập cảm giác toàn thân, an tịnh thân hành. Bài này rất sâu sắc, mình nói đơn giản là tập nhận biết hơi thở vào, hơi thở ra, hơi thở dài, hơi thở ngắn, cảm giác toàn thân, làm cho hơi thở yên tịnh, thân yên tịnh, tâm yên tịnh, làm cho cảm giác hỷ lạc sanh khở. Đó là pháp quán số mười.

Rồi Tôn giả Ànanda, sau khi học thuộc từ Thế Tôn mười tưởng này, đi đến Tôn giả Girimànanda, sau khi đến, nói lên với Tôn giả Girimànanda mười tưởng này. Và Tôn giả Girimànanda, sau khi nghe mười tưởng này, bệnh của vị ấy được thuyên giảm ngay lập tức. Tôn giả Girimànanda, được thoát khỏi bệnh ấy. Được đoạn tận như vậy là chứng bệnh ấy của Tôn giả Girimànanda. (Tăng Chi Bộ Kinh – Tập 4, 10. Chương Mười Pháp, VI. Phẩm Tâm Của Mình, bài kinh Girimànanda)

Như vậy, đây là mười pháp quán tưởng trị bệnh của Đức Phật.

Trình pháp

Sư phụ: Thiếm Một thấy thế nào? Từ sáng đến giờ cảm nhận điều gì? Tâm cảm thấy như thế nào? Cảm thấy trong tâm có hiểu được và thấy ớn thân thể này không?

Thiếm Một: Dạ thấy ớn lắm thầy.

Sư phụ: Ớn như thế nào?

Thiếm Một: Con có nghe pháp của thầy, khi nghe bài Nghiệp quả đáng sợ, cả nhà thấy ghê sợ nhưng con nói không sợ, vì nghiệp quả ai cũng phải trả hết. Mình phải xem để mình để tinh tấn lên. Mô Phật.

Sư phụ:Có lo cho chuyến đi xa không? Có lo cho cái chết của mình không? Có nghĩ đến cái chết không?

Thiếm Một: Con nghĩ đến cái chết nhưng con không sợ, con nghĩ trời Phật kêu con thì con chấp nhận, nhưng bây giờ có bệnh nhiều nhưng con xin trả nghiệp, lúc má con còn sống thì con xin cho trả nghiệp từ từ, nhưng bây giờ thì con chấp nhận bệnh, không đi bác sĩ không uống thuốc, con chấp nhận ở đây.

Sư phụ: Khi mẹ thiếm Một mất, cảm giác như thế nào?

Thiếm Một: Đau khổ lắm thầy, con chăm sóc mẹ mấy năm, đến lúc mẹ đi mà con không về kịp để gặp mẹ, do không có chuyến bay. Lúc đó con ngồi niệm Phật nhiều lần, con nhìn thấy hình ảnh qua facebook, lúc đó con cũng khuyên mấy chị em niệm Phật cho mẹ con.

Sư phụ:Thiếm Một thấy kết thúc một kiếp người như thế nào?

Thiếm Một: Con không biết nói, mặc dù con nghe thì hiểu trong lòng nhưng không biết nói, con nghe cô thầy nói nghe hay con để trong lòng con hiểu, mà khi phát xuất ra thì không nói được.

Sư phụ: Út nói giúp đi, cảm nhận từ sáng đến giờ, Phật dạy có đúng như vậy không?

Thiếm Út: Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật!

Từ sáng đến giờ con nghe cảm nhận, con nghe thầy giảng thì con nghe rất sợ, không biết mình sau này ra sao?

Sư phụ: Bây giờ mình phải tinh tấn tu.

Thiếm Út: Thầy nói đôi khi con không hiểu

Sư phụ: Phải hiểu từ từ, mà hiểu mới sợ, nếu không hiểu thì không sợ.

Thiếm Út: Nhiều khi thầy nói cao, con không hiểu.

Sư phụ: Nhưng hiểu cái chết, bệnh, già, nghiệp quả?

Thiếm Út: Con hiểu, ai cũng tạo nghiệp quả thì phải chịu chứ sao.

Sư phụ: Do đó bây giờ mình phải tinh tấn lên, đừng có ngủ nhiều, đừng trốn giờ tu, giờ nghe pháp.

Mời chú Tịnh Hiếu.

Chú Tịnh Hiếu:

Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.

Kính bạch trên sư phụ, quý thầy cùng toàn thể quý Phật tử ở đây.

Sáng giờ qua khóa của sư phụ giảng và bày tỏ từng chi tiết, bản thân con cảm nhận cuộc đời con người mình từ khi thức dậy cho đến khi ngủ, lúc nào cũng tiếp xúc với toàn bộ khổ đau, nhưng mình không nhận ra nó, không nghĩ nó là vô thường. Mỗi bước chân, mỗi khi ăn uống nằm ngồi tất cả đều sự tham lam, chấp thủ mà mình không nhận biết là vô thường để cho mình đau khổ sau này. Cho nên hôm nay nghe thầy giảng dạy, con mở thêm được suy nghĩ, cho nên mỗi ngày mình phải quán tất cả vì thế gian này là vô thường, khổ vô ngã, để chúng con không có chấp thủ nó, để không dính mắc với nó và trở lại với tâm thanh tịnh và sống tự tại. Hôm nay qua bài pháp này con tri ân thành kính đến sư phụ và con mong có nhiều bài pháp để không dính mắc để nhìn rõ cuộc đời, vô thường, vô ngã của thế gian này.

Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.

Chú Phật tử:

Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.

Con nghe thầy giảng con hiểu được, tại vì hàng ngày con thấy cuộc đời vô thường, con quán vô thường con thấy sinh, già, bệnh, chết, ân ái, biệt ly, thân cầu bất đắc – tất cả những thứ đó đều là khổ, nên con đang xả bỏ từ từ, đi tiếp con đường. Con nghe thầy nói con đã hiểu và con cố gắng thực hành, đi tiếp con đường đó. Trong cuộc sống con đi làm mệt mỏi, khi về chỉ muốn ngủ, nhưng khi tĩnh tâm ngồi lại quán chiếu cuộc sống vô thường, cũng vậy nên con rất an lạc trong cuộc sống của con, tự tại không lo lắng, sống vô tư yêu thương tất cả mọi người, dùng tình yêu thương đó đối xử với tất cả mọi người. Cho nên con rất hạnh phúc vì con đã có được hạt giống của bồ đề con sẽ cố gắng nương vào đó tu tiếp, cho đến khi vứt bỏ báo thân quay về với bậc giác ngộ, giải thoát thân khổ này.

Chú Trí Hòa:

Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.

Con kính thưa sư phụ, kính bạch trên sư phụ, kính thưa quý thầy cùng toàn thể đại chúng!

Trong từ sáng đến giờ nghe được sư phụ giảng hai thời pháp, khi con nghe pháp con đều thực hành thiền quán. Bên trong thọ của con khởi lên lạc hỷ suốt suốt hai thời pháp và cả ngày khởi lên lạc hỷ. Mà mỗi lần sư phụ giảng thì tưởng con hướng tới từ bỏ ly tham, trong hành của con từ bỏ ly tham, từ bỏ thân này không muốn tiếp tục nữa, thức thì rõ được sự vận hành của thọ, tưởng, hành, thức. Từ sáng đến giờ con nghe thời pháp buổi sáng thì bị nhức đầu, nhưng đến bây giờ nghe sư phụ giảng, con thiền quán thâm sâu vào thì con hết nhức đầu, tâm con không có lăng xăng như trước mà an tịnh, nhẹ nhàng, bình an. Con xin tri ân sư phụ, giảng hai thời pháp rất là thâm sâu, mỗi lần sư phụ giảng thì con rất là hoan hỷ, con nghe và thiền quán con rất là lạc hỷ, con muốn sư phụ giảng nhiều hơn nữa để con được nghe, thiền quán, để an trú cái tâm xuyên suốt như vậy, để hướng tới thành quả tốt đẹp hơn.

Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.

Sư phụ:

Không phải là mình muốn bỏ cái thân, mà phải nhìn thấy bản chất của thân là vô thường, khổ, vô ngã để mình tẩy sạch tham, sân, si, chấp ngã đối với thân, đối với năm uẩn, chứ không phải mình muốn bỏ thân đi, phải nắm vững tinh thần đó. Quán bất tịnh cũng vậy, đó là để mình đánh tan dục, tham, ái, si ái, vô minh đối với thân, chứ không phải quán bất tịnh là mình chết và bỏ thân đi. Khi Đức Phật tại thế, có một số vị Tỷ-kheo quán bất tịnh thâm sâu, có những vị muốn tự vẫn, có một số tự sát thì Đức Phật quở trách là không đúng. Vì mục đích của quán bất tịnh là trị dục, tham, ái, chấp thủ vào tấm thân này, chứ không phải quán để hủy hoại thân trong khi mình chưa chứng ngộ Thánh trí. Vì vậy, phải hiểu được tinh thần đó để tu học cho đúng Chánh Pháp./.