Tỳ Kheo Thời Đức Phật 4 - La Hán Khôi Ngô Tuấn Tú
Kinh Nikāya Giảng Giải
Tỳ Kheo Thời Đức Phật 4
La Hán Khôi Ngô Tuấn Tú
Thích Minh Thành
MỤC LỤC
TOC \o "1-3" \h \z \u I. Tấm gương tinh tấn PAGEREF _Toc204010374 \h 1
II. Bị bệnh đến chứng Thánh Quả PAGEREF _Toc204010375 \h 3
III. Vị La Hán khôi ngô PAGEREF _Toc204010376 \h 9
IV. Vị Thánh Tăng Paripumaka PAGEREF _Toc204010377 \h 14
V. Trình pháp PAGEREF _Toc204010378 \h 18
I. Tấm gương tinh tấn
Kính bạch chư tôn đức, chư hiền trí, sáng nay sau thời thiền quán con về cũng thiền quán tiếp tục hai lần bài đó, bây giờ cảm thọ cũng chưa có phai nhòa, nước mắt chảy cũng nhiều. Con chợt nhớ có một số vị lên trên Linh Quy khóc sưng mắt, có nhiều vị lắm, thiền quán khóc sưng mắt, hồi nãy niệm bốn Dự Lưu phần thì con nhớ là có một vị thánh Tăng bị bệnh mắt lúc đó mọi người kêu ngài đi trị, ngài không có trị, ngài nói là thà là ta mù lòa để ta được đoạn tận các lậu hoặc cho nên ngài tu luôn, ngài không trị và cuối cùng ngài chứng thánh quả A-la-hán nhưng ngài mù mắt. Trong lúc niệm về bốn thánh trí là bên trong con các cái hành sanh khởi lên như vậy, quý vị thấy con mắt con hơi sụp sụp chút rồi phải không, nó hơi sưng sưng tí, sau buổi thiền quán về là tiếp tục hai buổi nữa ở trên phòng. Khi nãy bước vô đây cảm giác toàn thân con thấy mắt không có được bình thường, nó hơi có vẻ là sưng sưng một chút mà lúc đó con liên hệ đến các vị đi về núi đó, sư cô Huệ Lý khóc sưng mắt quá, nói "Sư phụ ơi, con sưng mắt quá rồi" thì con có nói với sư cô cứ tiếp tục, không sao hết, có nhiều vị chứ không phải một người, cứ tiếp tục cho khóc tiếp.
Như là sư cô Nguyên Tú cũng vậy, bị bệnh sao đó mà cứ chảy nước mắt là khó chịu, con nói tiếp tục cứ cho chảy, không sao. Trong lúc niệm bốn Dự Lưu phần vừa rồi thì con nhớ lại một vị Tỳ-kheo bị bệnh mắt, thầy thuốc báo với ngài là phải trị, không trị là mù mắt, ngài nói thà ngài mù mắt ngài phải đoạn tận tham, sân, si cho nên ngài dồn hết tâm lực để thiền quán thì quả thật là ngài diệt hết tham, sân, si, chứng thánh quả A-la-hán nhưng ngài bị mù mắt. Mọi người gọi ngài là vị A-la-hán khô, chắc là người ngài tiều tụy lắm, mù mà còn tiều tụy nữa nhưng mà đâu có sao, khô tươi gì cũng chết queo thôi, khô ở đây là khô hết phiền não, khô hết tham ái, khô kiệt hết bản ngã ngu si, mê muội, vô minh, hôn ám. Có cần khô cái này không ạ? Chiều nay chúng ta sẽ học các vị thánh Tăng thời Đức Phật, nãy giờ con chiêm nghiệm ở trên phòng thay gì hàng ngày mình phải nghe những cái tin tức giết cha, giết mẹ, trộm cướp, hiếp dâm, lừa đảo, giật hụi, giật nợ, xe đụng, toàn là những tin xấu, bây giờ con sẽ đưa cho các vị những cái tin của hiền thánh. Quý vị chịu không? Quý vị sẽ biết những đức hạnh của thánh hiền, đạo lộ của các bậc thánh nhân, con đường đi của các vị vô thượng phước điền ở thế gian này để mình lấy đó làm mục tiêu, làm lý tưởng, làm chí hướng, làm sự vươn tới trong cuộc đời của mình.
Có nhiều tấm gương hạnh của các bậc thánh Tăng hay lắm, quý lắm, cao đẹp lắm, quý giá lắm. Mình không nghe những cái này rất là uổng, con thật sự khi vào thất, khi vào rừng, khi ở yên một mình thì con hạnh phúc lắm, con không có muốn đi ra chút nào chết nhưng mà bị mắc nợ, mắc nợ nặng lắm. Hễ vô nhập thất là có chuyện, một thế lực vô hình ngăn trở nhưng không sao, quyết lòng sắt đá thì mình cũng đi tới thôi, nhất định là phải tới thôi, đi thì phải đến, sớm hay muộn cũng phải đến. Bây giờ mình biết được pháp rồi chỗ nào mà mình không tu được, chẳng qua là chỗ yên tịnh thì mình sâu lắng hơn, chuyên nhất hơn. Ba mươi bài kệ về "núi đẹp tuyệt trần" đúng ra cái tựa của nó là "thiên không xuất kệ" là con ngồi trên máy bay con làm. Còn ngày hôm qua mấy chục bài kệ, cái đoạn đầu là nằm ở trên xe chứ không có thời giờ rảnh như quý vị mà ngồi yên được. Pháp trong bàn tay của mình, pháp trong tâm của mình, pháp trong tim của mình, ở trong cảm thọ, trong suy nghĩ, trong ánh nhìn của mình, trong nhận thức của mình, bất cứ chỗ nào mình cũng có thể vận dụng được, mình muốn vận dụng hay là không muốn thôi, mình có nỗ lực hay là không thôi, mình có để tâm hay là không thôi.
Bây giờ dễ nhất là bấm vô điện thoại là mở ra thánh pháp, thánh trí, thánh đạo, thánh tuệ liền mà không chịu bấm. Nếu bấm nhiều vào cái này là Nhập Lưu rồi, hồi xưa mình chưa có gặp bậc đạo sư thì mình đi tìm không có ra, bây giờ ngài xuất hiện trên cuộc đời này. Chúng ta sẽ có một khóa tu hai tuần tưởng niệm ân đức của bậc đạo sư, con đang sắp xếp thời gian, cũng là khóa tu xuất gia giao duyên luôn, sẽ đốt hoa đăng tưởng niệm ân đức của thiện hữu, thiện tri thức của bậc đạo sự, của các bậc thánh hiền. Mình có chánh kiến rồi, mình niệm ân đức cũng đủ sức cho mình chứng các thánh quả, khi có Chánh kiến rồi làm cái gì cũng có thể đoạn tận được lậu hoặc hết. Không biết quý vị có nghe "bậc thánh tí hon" của chưa ạ? Tỳ-kheo tí hon mới bảy tuổi đã chứng thánh quả A-la-hán, ngài chứng được từ vô lượng tâm, đoạn tận các lậu hoặc thành thánh quả A-la-hán. Cho nên mình có chánh kiến tu từ vô lượng tâm cũng đắc quả A-la-hán, tu cái gì cũng đắc thánh quả hết khi có Chánh kiến.
Có nhiều vị Tỳ-kheo chỉ niệm một câu thôi cũng chứng thánh quả A-la-hán tại vì cứ có chánh kiến thấy đúng, thấy được ngũ uẩn, thấy được lậu hoặc. Bây giờ người mù được sáng mắt lên thấy cái nhà dơ rồi có dọn sạch không? Không sớm muộn thì cũng phải sạch thôi, sạch mau, sạch lẹ, hay sạch chậm là do cái siêng năng của cái người đó thôi, trừ người què tay, què chân. Mình không có què, không có bại liệt thì phải đứng dậy hốt, dọn, lau, chùi, đừng có không lẹ, coi chừng liệt bán thân, liệt hết phân nửa người, bị dục làm cho liệt, bị năm dục trưởng dưỡng, những thú vui ở đời, bị những cái khả lạc, khả hỷ, khả ý, khả ái liên hệ đến dục hấp dẫn làm cho mình tê liệt, mình không muốn nỗ lực tu.
II. Bị bệnh đến chứng Thánh Quả
Mọi người lâu lâu có bị không? Có khi tê liệt cả tháng luôn, không có an trú vô pháp, phải không? Mê đời, ham vui, thích vui, thích những cái khoái, thích cái dục ái, cháu nội, cháu ngoại, ăn uống, chơi vui, đám cưới, thôi nôi, đầy tháng, đám giỗ bỏ tu. Chúng ta nghe vị Tỳ-kheo bị cùi mà chứng quả A-la-hán.
"Trong thời đức Phật hiện tại, ngài sanh ở Sàvatthi, tên là Samitigutta (hộ trì nhờ hòa khí)." (Tiểu Bộ, Tập III - Trưởng Lão Tăng Kệ, Chương I - Một Kệ (tiếp theo), Phẩm Chín, (LXXXI) Samitigutta (Thera. 12))
Mình nhớ vị Tỳ-kheo cùi cho dễ nhớ tại vì tiếng nước ngoài mình khó nhớ lắm, sẽ có những từ liên hệ để mình nhớ vị Tỳ-kheo cùi, cái tên của ngài có cái nghĩa là hộ trì nhờ hòa khí. Ngài là một con người rất là hiền hòa, hòa đồng, hòa ái, hòa hợp với mọi người cho nên đức tánh của ngài hiền hòa, hài hòa, hòa hợp, hòa ái, hòa đồng với mọi người. Ngài có một sự hộ trì căn tức là có giữ gìn thân, miệng, ý, mắt, tay, mũi, lưỡi, thân tâm, đây là điểm mình cần học lắm, hộ trì nhờ hòa khí. Gia đình của mình hay là những người ở chung với mình lâu lâu có bất hòa nhiều không? Trong nhà mình nhiều khi nói mấy câu thôi là cự cãi trong suy nghĩ, trong hành động, trong lời nói cho nên một người an trú được cái tâm hiền hòa thì dễ tu lắm, dễ học, dễ tu, dễ tiến đạo thì ngài nhờ đức tánh như vậy.
"Nghe bậc Ðạo Sư thuyết pháp, ngài xuất gia và chứng được giới thanh tịnh. Do kết quả nghiệp đời trước, ngài bị bệnh hủi, tay chân của ngài rơi xuống từng phần một, ngài sống trong một nhà bệnh." (Tiểu Bộ, Tập III - Trưởng Lão Tăng Kệ, Chương I - Một Kệ (tiếp theo), Phẩm Chín, (LXXXI) Samitigutta (Thera. 12))
Bình thường ngài đã hộ trì căn rồi, đời sống cư sĩ của ngài là một đời sống rất là cẩn trọng, rất cẩn thận, rất là nghiêm cẩn, rất là giữ gìn thân tâm. Từ cái nền tảng khi còn ở tại gia ngài rất là hiền hòa, hòa hợp mọi người và rất là cẩn trọng trong thân, miệng, ý cho nên khi ngài được nghe pháp, ngài xuất gia với Đức Thế Tôn thì chứng được giới thanh tịnh. Đức Phật là dạy thánh tri kiến mà cái người có giới nữa thì Dự Lưu là rất dễ dàng, sẵn sàng luôn, giới thanh tịnh mà có tri kiến chánh trực thì Nhập Lưu, bởi vì chúng ta thấy cái này rất dễ với người có nền tảng, có căn bản tu tập, nhưng lại rất khó với người mà không có sự hành trì, sửa soạn chuẩn bị cho mình.
Đức Thế Tôn dạy hai điều kiện của một vị Nhập Lưu, một là giới thanh tịnh, mình cư sĩ năm giới thì mình giữ được năm giới đó, mình thọ trì tám giới, bát quan trai mình giữ được, hôm nay cũng là ngày trai giới, mình giữ được cái giới đó thì khi mình đã giữ giới được, mình học được chánh pháp nữa, mình thấy đúng thì hai cái này cộng lại Nhập Lưu dễ lắm. Tức là mình sẽ thành tựu được cái thấy trọn vẹn về sự thật cuộc đời này, khổ và nguyên nhân của khổ, cho nên thời đại ngày nay khó tu là giới, hồi xưa các vị Tỳ-kheo thời Đức Phật nhờ sống viễn ly, sống rời xa, các ngài giữ giới dễ hơn bây giờ lắm. Ngay cả người xuất gia bây giờ cũng khó giữ giới nữa thành ra mình để tâm nhiều vào cái giới, tụng giới mỗi tuần, mỗi ngày càng tốt. Mình thọ mấy giới mình cứ đem giới đó ra tụng, mình nhắc mình cho nên giới thanh tịnh và tri kiến chánh trực, nghe đúng chánh pháp nữa thì hai cái này cộng lại là điều kiện để cho mình thể nhập Nhập Lưu thành tựu được chánh tri kiến.
Ngài chứng được giới thanh tịnh nhưng do kết quả nghiệp đời trước ngài bị bệnh cùi cho nên cái nghiệp quả là một trong tứ bất khả tư nghì, tức là không thể tưởng tượng được, cái nghiệp nó trổ ra là không một ai trên đời này có thể tưởng tượng được hết, không một ai trên đời có thể tưởng tượng được khi quả dị thục của nghiệp trổ ra chính vì vậy mình mới tu. Nếu mình biết chắc bảy mươi mình chết, tám mươi mình chết, sáu mươi mình chết, mình biết chắc được hết thì còn tu gì nữa, mình cứ ngồi vậy hoài, ngày nào mình cũng ăn uống thoải mái, tới giờ mình đi làm rồi mình tu, vậy thì quá khỏe rồi. Mình ngồi đây mà không biết chừng nào chết, một lát nữa, mấy bữa sau, tháng sau, năm sau, ba năm sau người ta báo mình bị ung thư giai đoạn cuối, bây giờ người Việt Nam mình trên 350.000 người ung thư, sống chung với ung thư mà chết là nhiều lắm, 350.000 người sống chung với ung thư.
Chúng ta nếu mà ngồi lại thì làm sao mấy cái chùa này chứa hết 350.000 người? Chúng ta nghĩ là bao nhiêu cái khổ? Đó là con số chẵn, thành ra tất cả mọi cái nó đến con đã giải thích cái chữ vô thường là đột ngột, đột biến, đột quỵ, đột tử, giải thích chữ vô thường gọn vậy đó. Vừa rồi có một vị đột tử, đột quỵ thì như vậy mình mới tu, nó bất thình lình biểu hiện ra bệnh cùi, mà cái bệnh cùi này là khủng khiếp lắm, tay chân của ngài rơi xuống từng phần một, nó ăn xong rồi nó hoại tử, nó rớt xuống từng thân phần.
Ở đây có ai chứng kiến người bị cùi không ạ? Cô kể được không? Cô kể cái bệnh trạng của người bị ra sao được không?
Phật tử 1: Dạ con kính trên sư phụ, nhân duyên con cũng làm ở bệnh viện cho nên con cũng được nhìn thấy nhưng mà lúc đó con đang xin thực tập y. Bệnh nhân bị hoại tử c các chi phần ở tay, ở chân và thịt á lở loát, hoại ra từng phần, nó cứ rớt từng phần, mỗi lần thay vết thương, rửa vết thương rất đau, khi nó rớt từng đốt nào thì cắt đốt đó nhưng mà nó cũng không có lành, nó cứ tím tím xong rồi vết thương cứ lở lần tới, lần tới. Mới đầu cắt từng đoạn chi ngắn ngắn, nhỏ nhỏ, sau đó cắt lên khúc chi lớn, người ta may lại rồi cũng hoại, tiếp tục cắt lên chi lớn nữa, tức là cứ từng khúc, từng khúc, bệnh nhân rất là đau đớn, thịt thì cứ lở ra hôi thối, bệnh nhân rất là đau, rất là nhức, bệnh nhân rên la rất là nhiều. Con thấy xót lắm. Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật.
Sư Phụ: Do kết quả của nghiệp đời trước nên ngài bị bệnh cùi, tay chân của ngài rơi xuống từng phần một, cứ hoại tử rồi nó ăn vô như vậy, đứt lìa, rụng xuống. Chúng ta nghe rồi chúng ta dùng cái tưởng của mình để quán chiếu khủng, khiếp lắm, cái khổ trên cuộc đời này là vô vàn, vô số, vô lượng, vô biên nhưng mình không có thấy được bao nhiêu hết. Ngài sống trong nhà bệnh, ngày xưa ở trong tinh xá Đức Phật cũng có cái nhà để cho mấy thầy, mấy vị bệnh đi vô đó ở, như mình nói cái bệnh xá cho dễ hiểu. Trong các chùa lớn cũng có nhà để cho dưỡng bệnh, trị bệnh, thiền viện giờ cũng có chỗ gọi là bệnh xá là cái nhà để cho mấy người bệnh vô đó ở.
"Một hôm, Tôn giả Sàriputta đi thăm các người bệnh và hỏi thăm các bệnh nhân, thấy Samitigutta, Tôn giả cho một đề tài để thiền quán, nói rằng: 'Này Hiền giả, nếu nói về vấn đề năm thủ uẩn, thời toàn bộ khổ uẩn là một vấn đề cảm thọ. Và khi không có năm uẩn, thời không có đau khổ'. Nói xong, Tôn giả Sàriputta tiếp tục đi." (Tiểu Bộ, Tập III - Trưởng Lão Tăng Kệ, Chương I - Một Kệ (tiếp theo), Phẩm Chín, (LXXXI) Samitigutta (Thera. 12))
Chúng ta nghe để chúng ta thấy, chúng ta học nó có tương ưng không ạ? Chúng ta thấy lời dạy trí huệ của Đức Phật có nhất quán toàn bộ đại tạng kinh không? Ngài Xá-lợi-phất nói với thầy Tỳ-kheo cùi này nếu nói về năm thủ uẩn thì toàn bộ cái đống khổ này là một vấn đề cảm thọ và khi không có năm uẩn thì không có khổ đau. Cái đau khổ của thầy cũng là thọ thôi, vì có cảm thọ cho nên mới khổ vậy, nếu không có sắc; thọ; tưởng; hành; thức thì đâu có khổ đau. Khi nói xong tôn giả Xá-lợi-phất tiếp tục đi nhưng mà bệnh nhân là thầy Tỳ-kheo cùi này được phấn khởi với lời dạy.
"Nhưng bệnh nhân Samigutta được phấn khởi với bài dạy ấy, triển khai thiền quán và chứng được sáu thắng trí." (Tiểu Bộ, Tập III - Trưởng Lão Tăng Kệ, Chương I - Một Kệ (tiếp theo), Phẩm Chín, (LXXXI) Samitigutta (Thera. 12))
Thầy Tỳ-kheo bị cùi này hoan hỉ, hỷ lạc, sung sướng, vui mừng vì được cái đề tài thiền quán, vì được ngài Xá-lợi-phất là bậc tướng quân chánh pháp, bậc đại trí, đại tuệ, quảng tuệ, tiệp tuệ, tối thắng tuệ, một bậc trí tuệ sắc bén như vậy thuyết pháp cho ngài nên ngài hoan hỉ, ngài vui, ngài mừng, ngài triển khai thiền quán. Sau khi nghe được lời dạy đó ngài bắt đầu dồn hết tâm lực triển khai về sắc; thọ; tưởng; hành; thức này là một cái đống khổ đau, sắc thân này là một đống khổ, là ung nhọt, là chỗ chứa nhóm các cái thứ nhơ nhớp, bất tịnh, bệnh hoạn, lo lắng, khổ sầu, tai họa. Như vậy có cái thân cho nên mới có bệnh cùi này, có cái thân cho nên mới có bệnh hủi này, có cái thân cho nên mới có cảm thọ đau đớn, khổ sở, quằn hoại này, có cái thân cho nên nó rỉ chảy những thứ bất tịnh, nhơ nhớp, tanh hôi, tanh tưởi. Ngài triển khai thiền quán về sắc thân rồi triển khai thiền quán về các thọ "Phàm cái gì được cảm thọ đều nằm trong đau khổ", triển khai về những hình bóng trong tâm, những suy nghĩ, nhận thức này là khổ, là vô thường, là vô ngã, là bất tịnh, là tai họa, là kẻ giết người, là cái đầu của con rắn độc, là hố than hừng, là cái thứ bất hạnh.
Mang cái thân này là một sự bất hạnh, phải chịu đựng cái bệnh cùi như vậy, là một sự bất hạnh quá, bất hạnh tận cùng của sự bất hạnh. Phải chịu đựng những cảm thọ đau đớn như vậy là cực bất hạnh cùng cực của sự bất hạnh, phải mang vác một cái đống khổ to lớn như vậy. Nếu như mình hoàn toàn không còn tham, không còn dục, không còn ái, không còn thích, không còn khoái, mê đắm, không còn cho cái này là tôi, là của tôi, là tự ngã của tôi nữa, mình từ bỏ cái suy nghĩ sắc này là tôi, cái thân này là tôi, từ bỏ suy nghĩ những cảm giác này là tôi, là của tôi, là tự ngã của tôi, mình từ bỏ suy nghĩ những cái tưởng, những cái hành này, những cái suy nghĩ này, những hình bóng, nhận thức này, mình từ bỏ không cho rằng sắc; thọ; tưởng; hành; thức là tôi, là của tôi, là tự ngã của tôi nữa.
Nếu mình lìa khỏi cái tâm chấp thủ vào trong năm uẩn này thì chuyện đau chỉ là chuyện của thọ thôi chứ đâu phải mình, đó là công việc của nó, là sự vận hành của ngũ uẩn. Chúng ta thấy bậc đạo sư không ạ? Những giây phút cuối cùng của cuộc đời giống như Đức Thế Tôn, có cái gì nghi hỏi, trả lời từng câu, từng câu, từng câu hết, chúng ta có nghe không? Chấn động không? Bằng chứng sống đó, thánh nhân tại thế đó, thánh nhân nhãn tiền đó, bậc đắc đạo, bậc chứng đạo ở kế bên cạnh mình đó. Một con người nếu bệnh ung thư sắp chết là đau đớn, quằn hoại, khổ sở, làm sao làm chủ được cảm thọ? Làm sao lúc đó còn nói pháp? Làm sao lúc đó còn thuyết pháp? Chúng ta thấy chưa? Đó là thánh trí, thánh tuệ, thánh quả đó, thánh đức đó, thánh định đó.
Cho nên ngài ngay khi bệnh như vậy triển khai thiền quán chứng được sáu thắng trí, tức là lục thông: thiên nhãn thông, Thiên nhĩ thông, tha tâm thông, thần túc thông, túc mạn thông, lậu tận thông. Chứng ngộ được sáu thắng trí, chứng được lục thông ngay trên giường bệnh cùi đó, chứng đắc sáu thứ thần thông, sáu thánh trí, sáu thắng trí. Mọi người có chịu tu không? Có chịu tu mạnh mẽ lên không? Người ta cùi mà người ta chứng thánh quả, bây giờ mình lành lặn, mình khỏe mạnh lại không chịu đặt hết tâm tư vào pháp, chứng được sáu thứ thần thông, sáu thứ trí huệ, sáu thứ thù thắng là sáu thắng trí. Thiên nhãn thông là biết hết sự sanh tử của chúng sanh trong vô lượng, vô số, vô biên kiếp. Túc mạng thông biết được sự sanh tử nhiều kiếp, vô lượng kiếp của chính mình cho nên khi ngài biết như vậy rồi ngài nhớ đến những việc làm của ngài ở đời trước khiến ngài phải mắc bệnh cùi, ngài thấy được liền, ngài đã có được thần túc thông rồi, ngài nhìn là biết liền đời trước mình làm cái tội lỗi này nên nhân quả vậy, vì thế đời này mình bị nè.
Khi mình hiểu được vậy rồi tâm mình có còn khổ nữa không? Giải mã được nhân quả, giải mã được nghiệp báo, giải mã được kết quả của tội lỗi cho nên túc mạng thông thấy hết vô lượng kiếp sanh tử của mình. Thiên nhãn thông thấy hết được sanh tử của chúng sinh. Thiên nhĩ thông nghe hết tất cả âm thanh nào muốn nghe, bây giờ bậc đạo sư muốn biết mình đang nói gì về ngài, ngài nghe là ngài cười "tụi con ráng lên đi, giờ ta đang ở trên này đợi tụi con về đó". Ngài nghe hết trơn, chỉ có mình đui điếc, mù lòa thôi, còn các ngài thấy hết, nghe hết, vô ngại tự tại hết. Tha tâm thông là đọc được suy nghĩ của mình, mình nghĩ cái gì các ngài biết hết thành ra không giấu được các bậc thánh, các ngài đọc được tâm niệm của mình hết, tâm mình có hình bóng gì, có lời nói gì, có cảm thọ gì các ngài nhìn vô thấy biết hết thì làm sao giấu được, lấy vải thưa che mắt thánh, đó gọi là tha tâm thông, thiên nhãn thông là thấy hết.
Chúng ta hay hỏi tu ngũ uẩn cứ thấy khổ hoài rồi cuối cùng được cái gì, được như vậy đó. Nhiều khi thắc mắc sao mình tu cứ khổ hoài, cuối cùng mình tu được cái gì, mình được siêu việt tứ đại, siêu việt ngũ uẩn, siêu việt khổ đau, vượt qua khỏi sanh, già, bệnh, chết, tự tại trong sanh tử, trước cái chết tâm bất động, bình thản. Ngài nói giống như xách vali đi về nước nên thấy vui quá, khỏe quá, sắp sửa giải thoát rồi, mình nhớ câu này để sau này gần đi cũng nói vậy chứ đừng nói "Thầy ơi, thầy hộ niệm cho con, con khổ quá rồi", không có cần ai hộ niệm cho mình hết, tự mình hộ niệm cho mình, tự mình làm ngọn đèn cho chính mình, tự mình làm chỗ nương tựa cho chính mình, không nương tựa gì khác, dùng chánh pháp làm ngọn đèn, dùng chánh pháp làm chỗ nương tựa. Thầy ở kế bên mà tâm tham, sân, si cũng vậy thôi, cũng đâu có giải thoát được đâu cho nên nhiều khi có những người ở gần kế bên bậc thánh nhưng cũng sân si, bản ngã rồi cũng khổ đau, cũng tâm nhỏ mọn, nhỏ hẹp, chúng ta phải làm sao mới an trú được cái pháp, ngài chứng được sáu thắng trí ngay ở trên cái giường bệnh mà còn cái thân cùi như vậy. Chúng ta có thấy tuyệt diệu không?
"Nhờ đó, ngài nhớ đến các hành ngài làm đời trước, khiến nay ngài phải mắc bệnh hủi. Và tán thán sự kiện này mọi việc đã được chấm dứt, ngài nói lên bài kệ:
Việc ác ta đã làm,
Trong các đời sống trước,
Ở đây chỉ cảm thọ,
Thọ lãnh từ nghiệp ấy,
Căn bản các nghiệp khác,
Thật sự không còn nữa." (Tiểu Bộ, Tập III - Trưởng Lão Tăng Kệ, Chương I - Một Kệ (tiếp theo), Phẩm Chín, (LXXXI) Samitigutta (Thera. 12))
Sự kiện này là sự kiện vô minh, sạch khát ái, kết thúc vô lượng tập phim nước mắt và máu trong vòng luân hồi, tới đây là chấm dứt, mọi việc đã được chấm dứt, các hành tịnh chỉ, tịch diệt, không còn đi trong sanh tử nữa, không còn mang những cái thân bệnh hoạn, vô thường, khổ đau, tanh hôi, bất tịnh, cùi hủi nữa.
Mình học cái bài này mình hiểu được bậc đạo sư không? Cái thân bệnh đó là do cái nghiệp của đời trước, trả cái nợ cũ thôi chứ không có tạo thêm nợ mới nữa, hết rồi, xóa nợ, sạch nợ, hết nợ, xong nợ rồi đi, không còn trở lại đời này nữa, Bất Lai thánh quả, còn ở đây là A-la-hán. Chúng ta thấy tấm gương khủng khiếp không? Không còn trở lại đời này nữa, nợ cũ trả hết, nợ mới không vay, hoàn toàn chấm dứt, mọi việc đã được chấm dứt trong thế giới này ngay giờ này, bây giờ ngài cười vui lắm, khỏe lắm, thần thông tự tại. Mình bây giờ còn khổ đau dài dài, không chịu vào trong pháp là còn khổ dài dài, còn luân hồi hoài hoài cho nên nhớ ngài là ráng tu, nhớ ngài là ráng nỗ lực quyết tâm. Cái đó mới là cái nhớ làm động lực để tiến đạo chứ không phải nhớ theo cái thường tình, bây giờ cứ khóc nhớ theo cái thường tình là không phải, mình nhớ để thương mình chứ phải mình thương ngài được bao nhiêu đâu, nhớ để thương mình, mình nỗ lực lên.
Bây giờ nếu nói nôm ra dễ hiểu vị A-la-hán cùi dễ nhớ không ạ? Rất là bình dân, rất là sự thật, không có xa vời. Như vậy thì mình chưa có cùi mình có tu được không? Cùi nhưng vẫn đoạn đận được tham, sân, si, mình bây giờ bệnh gì mà tu không được? Bậc đạo sư của mình bệnh ung thư từ lúc mười sáu tuổi mà vẫn đoạn tận được tham, sân, si, còn để lại một công trình vĩ đại, cái tối thượng là tìm ra được đạo lộ, khai mở nhân thiên nhãn mục, mở con mắt cho trời và người để thấy con đường đi, thoát ra cái khổ. Mình thấy đường mà mình không đi nữa thì thôi rồi, hết rồi, không còn gì để nói nữa. Mình nhớ kỹ hình ảnh của ngài chưa? Cất vô tâm làm gia tài, làm của báu, làm bảo bối, làm báu vật để tu chứ không có bệnh chút là than, bệnh chút là không đi nghe pháp.
III. Vị La Hán khôi ngô
"Trong thời đức Phật hiện tại, ngài sanh ở Sàvatthi, con của một người có địa vị, được đặt tên là Eraka. Ngài khôi ngô, tuấn tú, làm mọi công việc đều thông suốt thành tựu." (Tiểu Bộ, Tập III - Trưởng Lão Tăng Kệ, Chương I - Một Kệ (tiếp theo), Phẩm Mười, (XCIII). Eraka (Thera. 14))
Vừa là con nhà giàu lại còn đẹp đẽ, khôi ngô, tuấn tú và tài giỏi, tài năng nữa.
"Cha mẹ cưới cho ngài một người vợ trẻ đẹp có giới hạnh. Nhưng vì là đời sống cuối cùng nên ngài sanh dao động và tìm kiếm đến gặp bậc Ðạo Sư." (Tiểu Bộ, Tập III - Trưởng Lão Tăng Kệ, Chương I - Một Kệ (tiếp theo), Phẩm Mười, (XCIII). Eraka (Thera. 14))
Cha mẹ cưới cho ngài một người vợ trẻ đẹp, có giới hạnh nhưng lòng của ngài vẫn khao khát để giải thoát. Chỗ này là cái chỗ đặc biệt, nhà giàu, đẹp trai, tài năng, giỏi giang rồi có vợ đẹp nữa, có giới hạnh người vợ hiền đức nhưng mà không buộc chân được ngài, bên trong ngài vẫn là một cái niềm khắc khoải, ưu tư, khao khát làm sao để giải thoát. Ngài nhìn thấy cái đó vẫn thấy khổ thôi, vẫn thấy một cái lòng luẩn quẩn rồi cuối cùng cũng già, bệnh, chết thôi nhưng vì là đời sống cuối cùng cho nên ngài sanh ra dao động và đi gặp Đức Thế Tôn. Dao động là cái tâm ngài không có yên, tuy rằng ngài ở nhà giàu, đẹp trai, tài giỏi, vợ hiền đức mà cái tâm ngài vẫn không có an lòng, tâm vẫn dao động, vẫn thao thức, vẫn trăn trở, vẫn ưu tư, vẫn suy tư.
Mình có cái tâm đó chưa? Chúng ta có được cái tâm đó chưa? Cái tâm suy tư, cái tâm trăn trở, cái tâm lẹ lẹ để mình sạch hết những cái tham, sân, si khốn đốn, khổ sở này, phải có được cái tâm đó, phải làm phát khởi được cái tâm đó. Cái tâm đó là hướng tới Dự Lưu, thấy cuộc đời này nhiều cái bất an, nhiều cái lo lắng, nhiều cái tai họa, nhiều cái khổ đau. Mình muốn có một sự thoát ra, vượt ra, đi ra thì cái tâm đó thường xuyên có là cái tâm của bậc hướng Dự Lưu, phải có được cái tâm này thì tu mau tiến lắm.
"Khi nghe bậc Ðạo Sư thuyết pháp, ngài xuất gia, bậc Ðạo Sư cho ngài đề tài để tu hành, nhưng trong một thời gian ngài bị các suy tư bất thiện ám ảnh, đức Thế Tôn biết được tâm tư của ngài nên nói lên bài kệ dạy ngài, ngài rất hối hận sở hành của mình khi nghe lời Phật dạy, ngài trở nên tinh tấn, phát triển thiền quán, không bao lâu chứng quả A-la-hán" (Tiểu Bộ, Tập III - Trưởng Lão Tăng Kệ, Chương I - Một Kệ (tiếp theo), Phẩm Mười, (XCIII). Eraka (Thera. 14))
Chúng ta thấy tuyệt vời không? Đang thao thức, đang trăn trở, đang khao khát, đang tìm kiếm mà gặp trúng núi vàng, trúng cái kho báo, trúng bậc vô thượng, tối thượng đạo sư, còn ai phúc đức cho bằng. Người ta nói rằng gặp được chánh pháp là đại phúc, đại phước mà hiểu được chánh pháp là đại đại phước, mình có không? Mới hiểu thôi đó, còn hành được chánh pháp nữa thì tối thượng phước, gặp là cực kỳ phước báo rồi, hiểu là nhân đôi lên, mà hành được nữa thì cái này vượt lên trên phước báo, công đức vô lậu, hướng đến giải thoát. Thế nào là chánh pháp? Là mình nói nãy giờ đó, thấy được ngũ uẩn là khổ, thấy được những cái nguyên nhân làm cho mình khổ, thấy rõ được hai cái đó và mình biết con đường đi ra, đó là chánh pháp, nói gọn có bao nhiêu đó. Mình học hoài tới chết để thấy được đây là khổ, xác quyết một trăm phần trăm là Nhập Lưu rồi đó, là thành tựu được cái thấy của trí tuệ, cái thấy của bậc thánh.
Phải tập an trú trong cái thấy đó thường xuyên, nhiều góc độ, khía cạnh, mọi việc đến mình phải nhìn thấy được cái khổ tới nơi rồi. Người kia lại muốn kiếm chuyện với mình, mặt mày hầm hầm, nói chuyện móc họng thì mình biết khổ tới rồi nên thấy thương, thấy tội nghiệp. Một cái tâm thương rộng lớn, sống với một tâm thương rộng lớn chứ mình không có sân hận lại chi cho mệt, thương, thương, thương thật là thương. Sáng có ngồi trải tâm thương mười phút không? Thầy Huệ cho trải là tương ứng với bài mình quán lúc sáng khổ Thánh Trí, cái khổ đó làm cho mình có một tâm từ vô lượng, không có thấy khổ thì không có thành tựu được từ vô lượng tâm đâu. Nếu không có khổ lấy gì thương? Sướng thì lấy gì thương? sướng thương là thương dục, thương ái, thương tham chứ không phải thương bằng tâm từ.
Cho nên trở lại vấn đề ngài xuất gia thì Đức Thế Tôn mới cho ngài đề tài để tu hành, cái chữ đạo sư ở trong đây, trong trưởng lão Tăng Kệ, Ni Kệ nói chữ đạo sư là chỉ cho Đức Thế Tôn, mình nhớ nha, Đức Thế Tôn tối thượng của mình, còn đạo sư trong hiện tại thì mình hiểu được, mình phân biệt cái từ. Bậc đạo sư cho ngài cái đề tài để tu hành nhưng trong một cái thời gian ngài bị các suy tư bất thiện ám ảnh. Chúng ta thấy tu không phải dễ, trong đây nói có một câu ngắn như vậy thôi mà trong đó là cả nước mắt, mồ hôi, máu, cả một sự chiến đấu khóc liệt.
Các bậc hiền trí có chiến đấu không? Có chiến đấu nhiều không? Chiến đấu với vô số giặc, giặc tâm, giặc ý, giặc thọ, giặc tưởng, giặc hành, giặc sắc, giặc thức, đủ thứ giặc, năm thằng giặc là nói đơn giản, nói sâu vô trong là biết bao nhiêu những cái ác và bất thiện pháp. Mình tu nó có chống mình không? Nó nói "tu chi? Tu gì mà khó khăn, khổ quá", đó là giặc, là yêu quái trong tâm, ma tâm, tâm ma cho nên ngài bị các suy tư bất thiện ám ảnh.
"Ngài nói lên chánh trí của ngài với bài kệ sau đây:
Hỡi này Ê-ra-ka,
Khổ thay là các dục!
Hỡi này Ê-ra-ka,
Không lạc là các dục!
Ai tham dục các dục,
Là tham dục đau khổ,
Ai không tham các dục,
Là không tham dục khổ.
Hỡi này Ê-ra-ka!
Hãy biết là như vậy." (Tiểu Bộ, Tập III - Trưởng Lão Tăng Kệ, Chương I - Một Kệ (tiếp theo), Phẩm Mười, (XCIII). Eraka (Thera. 14))
Chúng ta thấy bài kệ ngắn của Đức Phật khai thị cho ngài, chỉ điểm cho ngài, điểm đạo cho ngài. Các suy tư bất thiện ám ảnh là những cái dục, ngài nhớ lại cái sự sung sướng ở gia đình giàu sang, phú quý, địa vị rồi cái thân thể đẹp đẽ nữa, khôi ngô, tuấn tú, rồi vợ hiền đức nữa thì như vậy là tất cả mọi khả lạc, khả hỷ, khả ý, khả ái liên hệ đến dục hấp dẫn mà bây giờ mình từ bỏ nó là cả một cái sức mạnh rồi mới đi tu, tuy nhiên cái thân từ bỏ nhưng cái tâm không chịu tự bỏ. Tại vì cái tâm mình nhất thời chưa được chứng đắc cho nên có lúc mình quyết liệt, mạnh mẽ lên núi tu thì thấy "nhớ nhà, về thăm má", nếu có gia đình thì nhớ chồng nhớ con, tội nghiệp mấy đứa cháu, tiếc nên quay trở lại.
Có những lúc mình cũng mạnh mẽ, mình nói bây giờ quyết tử luôn, tu trận này là cho mình diệt hết tất cả tham, sân, si, dục ái này hết nhưng có lúc mạnh, có lúc nó yếu xuống, có lúc thì nó bừng bừng lên ngọn lửa, có lúc nó lụi tàn. Cái tâm vô thường vậy đó, lúc thì cũng quyết liệt tu giải thoát luôn, lúc thì gặp mấy cái cảnh dục, mấy cái cảnh nó kêu gọi, nó réo, nó mời, nó rủ rê cho nên mình nhất thời giải thoát chứ chưa có chứng được giải thoát toàn diện, toàn phần, các bậc thánh mới chứng được toàn diện, toàn phần, tâm giải thoát, tuệ giải thoát hoàn toàn, còn mình là đang tranh tối, tranh sáng, có lúc thì cũng tiến tới và có lúc dừng lại, có lúc thì lùi luôn, cái lúc mà mình cứ tiến tới hoài, tới hoài, tới hoài là mình tu tinh tấn, mình ì ạch đứng tại chỗ, dậm chân tại chỗ cũng dễ lùi trở lại, thối đọa.
Cho nên mình đọc ở trong đây đừng có đọc phớt phớt qua chữ, mình phải đem cả cuộc đời, cả cái sự tu của mình đặt vô đó rồi quán chiếu ra thì mới thấy được, mình mới hiểu được ngài cũng là hiểu được mình cũng là hiểu được chúng sinh. Mình đọc hết chữ là không được, mình phải đọc được cái tâm của mình, đọc được cái nghiệp của mình, đọc được những sự thật ở trong con người của mình, đọc được ngũ uẩn ở bên trong của mình. Một thời gian như vậy ngài bị cái dục đó quậy, những cái bất thiện đó ám ảnh, nhiều khi mình bị chửi chừng năm bảy câu thôi, ba mươi giây thôi nhưng giờ ba tháng sau nó có hết không? Nó ghê là cái ám ảnh này đó, cái trực tiếp có chút xíu thôi, chỉ có một tí thôi nhưng mà lúc trở về, cái pháp tưởng, pháp tư, những cái hình bóng, cảm giác, những suy tư đó cứ chập chờn rồi nó ẩn ẩn hiện hiện.
Nó là ma, nó ảnh ám ảnh trong tâm, nó cứ làm hoài, dục hay là sân cũng vậy thôi, mình không có đủ tuệ lực, tuệ quán, cái tuệ trí để mình đánh phá được những cái hình ảnh, cảm giác, suy nghĩ đó thì nó quật ngã mình thôi. Mọi người có thấy rõ chỗ này chưa hỡi những chiến sĩ của Phật giáo? Hãy mạnh mẽ lên, chiến đấu ở trong nội tâm.
Như vậy nó ám ảnh, những suy tư bất thiện ám ảnh cho nên tại sao những người tu tinh tấn là cứ cho nghe pháp, hành pháp, trì pháp này nọ kia, mình dập nó, mình đánh phủ đầu hết. Còn mấy người làm biếng tu thì "tu hoài vậy? Ngồi thiền hoài vậy? Sao mà giảng pháp nghe hoài vậy?". Người ta cho tu nhiều, học nhiều phải cảm ơn chứ, phải biết ơn những bậc chân nhân, đằng này cho tu còn sân hận, khó chịu nữa, vậy đó rồi làm sao, hết ai cứu nổi cho nên mình thấy chỗ này hay.
Đức Thế Tôn biết tâm tư của ngài nên mới nói bài kệ đó, hỡi này Ê-ra-ka các dục không có vui, cái ham muốn đó không có vui đâu, thật sự là nó không có vui đâu. Ai mà tham dục các dục là tham dục đau khổ, ai mà ham muốn các dục là ham muốn đau khổ, ai không tham các dục là không tham dục khổ, như vậy thì tham dục là đồng nghĩa với khổ, muốn cái dục tức là muốn cái khổ, tham cái dục chính là tham cái khổ, không tham cái dục tức là không tham cái khổ, không muốn cái dục tức là không còn muốn cái khổ nữa.
Khi Đức Thế Tôn nói cái bài kệ này ngài rất là hối hận cái sở hành của mình, khi nghe lời Phật dạy ngài trở nên tinh tấn triển khai thiền quán, không bao lâu chứng quả A-la-hán. Khi mà Đức Phật dạy như vậy ngài trở nên tinh tấn, triển khai thiền quán, không bao lâu đoạn tận hết tham dục, dục ái, chứng thánh quả A-la-hán.
Bằng tất cả tấm lòng thành kính chúng con đảnh lễ tôn giả Ê-ra-ka.
Bằng tất cả tâm lòng thành tính chúng con đảnh lễ A-la-hán Ê-ra-ka.
Chúng ta nhớ được hai vị A-la-hán, một vị bị cùi, một vị khôi ngô, tuấn tú, nói đơn giản là đẹp trai, dễ nhớ phải không ạ? Còn cái tên nhiều khi mình khó nhớ, bây giờ tới một vị này được ăn nhiều đồ ăn ngon lắm, cái này rất dễ nhớ.
IV. Vị Thánh Tăng Paripumaka
"Trong thời đức Phật hiện tại, ngài sanh ở Kapilavatthu trong gia đình dòng họ Thích-ca. Vì khả năng và tài sản của ngài được viên mãn. Ngài được biết với tên là Paripumaka (viên mãn), ngài có đủ điều kiện để luôn luôn thưởng thức các vị ăn ngon." (Tiểu Bộ, Tập III - Trưởng Lão Tăng Kệ, Chương I - Một Kệ (tiếp theo), Phẩm Mười, (XCI). Paripunnaka (Thera. 13))
Ngài sanh ở Kapilavatthu tức là thành Ca-tỳ-la-vệ, trong gia đình dòng họ Thích-ca, như vậy là hoàng thất, hoàng tộc, hoàng gia. Vì khả năng và tài sản của ngài được viên mãn cho nên ngài có cái tên như vậy, cái tên của ngài nghĩa là viên mãn, mình kêu là A-la-hán viên mãn đi, dễ nhớ hơn nữa là ăn ngon. Ngài có đủ điều kiện để luôn thưởng thức các món ăn ngon, đương nhiên ở trong hoàng thất, hoàng tộc, hoàng gia thì chắc có vẻ là ngài cũng thích về thực phẩm, thích thưởng thức hương vị của các món ăn.
"Nhưng khi ngài được nghe bậc Ðạo Sư dùng các đồ ăn khất thực, ngài nghĩ: 'Thế Tôn được nuôi dưỡng rất được nuông chiều, nhưng nay Ngài lại dùng các đồ ăn như vậy để hưởng Niết-bàn an lạc" (Tiểu Bộ, Tập III - Trưởng Lão Tăng Kệ, Chương I - Một Kệ (tiếp theo), Phẩm Mười, (XCI). Paripunnaka (Thera. 13))
Thế Tôn cũng là hoàng thái tử còn hơn ngài nữa mà bây giờ đầu trần chân đất, ôm bát đi ăn, ngài cũng là con cháu của hoàng tộc mà chưa phải là thái tử, chưa phải là hoàng tử, chỉ là dòng dõi của hoàng thất thôi nhưng từ đó tới giờ thưởng thức các món ăn ngon không à. Ngài nghe tin thái tử Tất-đạt-đa tu hành, chứng ngộ thành Phật mà bây giờ ôm mình bát đi ăn xin thì quý vị nghĩ ăn xin là bữa nào cũng có đồ ngon hay sao? Chúng ta nhớ có những bữa Thế Tôn không có ai cho cái gì hết, về uống nước trừ thôi, thậm chí là cho cái loại đồ ăn của ngựa. Bây giờ con đi vô trong cái vùng sâu vùng xa, ở trong những vùng dân tộc đồng bào người ta rất là nghèo khó, khổ, không có áo mặc nữa, trời lạnh cũng không có áo ấm nữa mà bây giờ là hai ngàn sáu trăm mấy chục năm so với hồi xưa. Quý vị qua Ấn Độ hoặc xem gián tiếp ở trên mạng mình thấy nghèo khổ không, rất là nghèo, rất là khổ, đồ ăn không có ăn thì lấy gì đem cho, đem cúng, phải không?
Nhà không có ăn lấy gì cúng, phải dư giả mới đem cúng chứ, mà người ta cũng không biết ông Phật là ông nào nữa, bây giờ đạo Phật được truyền bá ra cùng khắp người ta mới tôn trọng, đảnh lễ, tôn thờ chứ lúc đó người ta không biết, người ta thấy ông thầy tu thôi, thậm chí có những vùng còn phỉ báng nữa cơ. Tại vì người ta đi theo đạo Bà-la-môn là trước Đức Phật hàng ngàn năm, khi Đức Phật ra đời mới sáng lập Phật giáo thì cái này mới mẻ lắm. Như vậy là Đức Thế Tôn có những buổi nhịn đói uống nước thôi, thậm chí ăn đồ ăn của ngựa, gọi là mã mạch, thức ăn cho ngựa ăn. Bây giờ mình thấy như ở bên Đắk Nông ở chỗ làng tu chúng con là người ta trồng mấy cái bắp, cái ngô, cái đó người ta gọi thức ăn gia súc, thực phẩm cho gia súc, nó cứng lắm mình ăn không được, người ta đem mấy cái đồ đó cho Đức Phật ăn.
Chúng ta thấy Đức Phật rất là cực khổ, không có đơn giản như mình. Cái vị hoàng thân viên mãn này chiêm nghiệm mình ăn đồ ăn ngon không, ngày nào mình cũng ăn sơn hào hải vị, những món cao lương mỹ vị ngon lành, dọn ra bàn mấy chục món vậy chứ mỗi thứ gấp một miếng thôi vì ăn không hết. Bây giờ Thế Tôn mà là một thái tử như vậy bỏ đi tu rồi chứng đắc đạo quả, thành bậc thánh nhân mà giờ ôm cái bình bát đi ăn xin thì ngài mới suy ngẫm lại, ngài suy nghĩ "Thế Tôn được nuôi dưỡng rất được nuông chiều, nhưng nay Ngài lại dùng các đồ ăn như vậy để hưởng Niết-bàn an lạc. Vậy sao ta lại ham muốn đồ ăn ngon?".
Chúng ta đọc kinh thì thấy rằng Thế Tôn được phụ hoàng xây ba cái tòa lâu đài, mỗi một mùa là ở một cái một cái lâu đài khác nhau, mùa lạnh ở lâu đài mát, mùa đông thì ở lâu đài ấm. Ấn Độ có ba mùa thôi, mỗi một tòa lâu đài như vậy là bao nhiêu những cái để thụ hưởng dục lạc đầy đủ hết tất cả, một con người như vậy mà từ bỏ hết tất cả. Bây giờ mình còn kém hơn ngài, thấp hơn ngài, mình hưởng thức ăn ngon vậy mà ngài ôm bình bát đi ăn xin. Ngài thấy có một sự xúc động, xót xa ở trong lòng vì là bà con cùng một quyết thống mà, Thế Tôn khi chưa xuất gia được nuôi dưỡng rất được nuông chiều nhưng nay ngài lại dùng đồ ăn xin của người ta để hưởng Niết-bàn an lạc, vậy sao ta lại ham muốn đồ ăn.
Chúng ta nhớ câu chuyện này để bớt ham ăn, nhiều khi ăn không là hết giờ tu rồi, nấu món này món kia, đi chợ về rồi nhặt rau, rửa rau rồi chế biến, ăn một bụng no rồi khỏi ngồi thiền, nghe pháp, mở pháp lên cái nằm đó ngái khò khò, mình phải ăn nhẹ nhàng thì khỏe lắm, Đức Phật dạy vua Ba-tư-nặc ăn ít tuổi thọ dài, được trường thọ.
"Lúc bấy giờ, vua Pasenadi nước Kosala thường ăn bữa ăn thịnh soạn.
Rồi vua Pasenadi nước Kosala sau khi ăn xong, no đủ, thỏa thích, đi đến Thế Tôn sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn và ngồi xuống một bên.
Rồi Thế Tôn sau khi biết vua Pasenadi nước Kosala đã ăn xong, no đủ, thỏa thích, ngay lúc ấy nói lên bài kệ:
Con người thường chánh niệm,
Ðược ăn, biết phải chăng,
Chừng mực, cảm thọ mạnh,
Già chậm, tuổi thọ dài" (Tương Ưng Bộ, Tập I - Thiên Có Kệ, Chương III. Tương Ưng Kosala, II. Phẩm Thứ Hai, III. Đại Thực: Ăn nhiều)
Cho nên mình ăn mình chỉ bảy phần thôi, đừng có ăn lên tám, chín, ăn bảy mươi phần trăm thôi hay là ăn bảy phần mười thôi để dễ tiêu hóa, nó cũng nhẹ để mình nghe pháp, mình ngồi thiền, mình đi thiền hành. Gần tới giờ tu, gần tới giờ ngồi thiền, gần tới giờ ngủ mà mình ăn một tô to bự thì bao tử quá tải, làm việc không nổi. Xin thưa các ngài là cái bệnh của mình bảy mươi, tám mươi phần trăm là từ cái ăn, "bệnh tùng khẩu nhập, họa tùng khẩu xuất" nghĩa là bệnh từ miệng đi vô mà họa cũng từ miệng đi ra, tội phước cũng từ cái miệng. Cái miệng có tới mấy giới, từ bỏ nói dối, từ bỏ nói lưỡi hai chiều, từ bỏ nói lời hung ác, từ bỏ nói lời phù phiếm.
Mình tập cái nào cần mới nói chứ không phải lúc nào cũng bép xép, hễ gặp là nói mà không biết nói cái gì, nói phù phiếm, vô nghĩa, vô ích, hao hơi tốn sức, mất trí tuệ. Ăn cũng vậy, bây giờ ăn nhiều thuốc độc, nhiều hóa chất cho nên làng tu của chúng con hay là Linh Quy chương trình sắp tới là tự canh, tự tác, tự túc rau cải, củ quả, sắp tới phát triển về phương diện này, thậm chí là ở làng tu cung cấp thức ăn cho khóa tu của mình, khai triển về cái vấn đề để cho mình bớt bệnh, thân mình an, cái tâm mình mới tu được, thành ra trong vấn đề ăn uống mình để tâm kỹ mới tu được.
"Bị dao động, ngài từ bỏ gia đình, xuất gia, lấy đề tài tu tập về thân từ nơi bậc Ðạo Sư, cuối cùng ngài chứng quả A-la-hán." (Tiểu Bộ, Tập III - Trưởng Lão Tăng Kệ, Chương I - Một Kệ (tiếp theo), Phẩm Mười, (XCI). Paripunnaka (Thera. 13))
Ngài xót xa, ngài đau lòng, ngài thương Đức Phật, chúng ta thấy tình thân cũng hay, có nhiều người con đi tu thì bà mẹ thương quá rồi đi tu theo, đi theo vô chùa ở giống như ba con hay mẹ cũng vậy, con không đi tu thì chưa chắc ông Năm với bà Năm giờ này được vậy đâu. Đó là nhờ tình thân đó, từ cái đó kéo lên, cũng vậy, ngài cũng thương Đức Thế Tôn, dao động ở đây là ngài đau lòng, xót xa, ngài thương. Ngài mới từ bỏ gia đình đi xuất gia, trong kinh nói vắn tắt nhưng mình phải hiểu ngài có nghe pháp của Đức Phật, thấy được phong thái của Đức Phật, nghe được những lời dạy rồi cảm động, cảm xúc, dao động, chấn động mới trăn trở, suy tư rồi mới quyết định đi tu. Trong đây nói đơn giản có mấy chữ thôi mà mình phải biết cả một cái quá trình.
Ngài lấy đề tài tu tập về thân từ nơi bậc Ðạo Sư là thân hành từ đối với Đức Thế Tôn, ngài rất quý kính Đức Phật cho nên ngài lấy đề tài phụng dưỡng, phụng thờ, kính trọng Đức Phật bằng cái tâm từ ái, cái tâm biết ơn, cái tâm kính quý. Cho nên nãy con có nói một người thành tựu chánh kiến rồi niệm ơn Đức Phật cũng chứng thánh quả nữa, cái vị này tu như vậy đó, ngài nhớ ơn Đức Phật, ngài cảm ơn Đức Phật rồi ngài làm tất cả mọi cái, hướng cái tâm từ về Đức Phật, cũng như bây giờ mình thương kính sư phụ nhiều quá rồi mình có ráng tu không hay mình thấy bậc đạo sư đó mình quý kính quá, mình càng quý kính thì mình càng nỗ lực tu. Mình càng tôn trọng thì mình càng hết mình để hành trị, như vậy gọi là tu tập về thân từ nơi bậc đạo sư, lúc nào ngài cũng nhớ về Đức Phật, ngài làm cái gì cũng nhớ, ngài nói gì cũng nhớ, ngài nghĩ gì cũng nhớ, phải làm cho được lời dạy của Đức Thế Tôn.
Thế Tôn thương mình hết cỡ như vậy, ngài đem hết ruột gan, vắt hết tủy não truyền pháp cho mình vậy mà bây giờ mình sống vậy. Có xấu hổ không? Có nhục nhã không? Có tội lỗi không? Có bất hiếu, bất kính không? Hễ nhớ Đức Thế Tôn là phải ráng lên, nỗ lực lên, phải thương ngài, phải đền ơn đáp nghĩa ngài, cái đề tài đó viên mãn trong con người ngài rồi cuối cùng ngài chứng thánh quả A-la-hán.
"Rồi ngài nói lên bài kệ này:
Dầu có hưởng món ăn,
Như cam lồ trăm vị,
Nhưng không thể sánh bằng,
Món ta ăn hôm nay;
Đây là Pháp vi diệu,
Được Phật Go-ta-ma,
Bậc tri kiến vô lượng,
Đã thuyết giảng cho ta." (Tiểu Bộ, Tập III - Trưởng Lão Tăng Kệ, Chương I - Một Kệ (tiếp theo), Phẩm Mười, (XCI). Paripunnaka (Thera. 13))
Dầu có hưởng món ăn như cam lồ trăm vị nhưng không thể sánh bằng món ta ăn hôm nay, đây là pháp vi diệu được Phật Gotama bậc tri kiến vô lượng đã thuyết giảng cho ta. Chúng ta gọi là A-la-hán ăn ngon cho dễ nhớ, dầu cho có hưởng món ăn như cam lồ trăm vị nhưng không thể sánh bằng món ta ăn hôm nay. Món ta ăn ở đây là ăn pháp vi diệu được bậc Chánh Giác Gotama, bậc thấy biết vô lượng thuyết giảng cho ta, món ăn cam lộ bất tử, ăn vô xong là vĩnh viễn không bao giờ chết, đạt được Niết-bàn bất tử.
Hôm nay là mình được mấy vị A-la-hán, vị thứ nhất là gì vị A-la-hán cùi, kế là A-la-hán đẹp trai, nói cho dễ hiểu, ba là A-la-hán ăn ngon. Ba cái đề tài này mọi người về quán chiếu thêm, từ giã cái đẹp của thế gian để đạt được trí tuệ xuất thế, từ giã thân thể bệnh hoạn để đạt thân kim cương bất hoại, từ giã món ăn thấp hèn để đạt được hương vị bất tử. Chúng ta chêm nghiệm chia sẻ cảm thọ của mình về ba vị thánh Tăng, chúng ta có chiêm nghiệm gì về ba vị thánh Tăng, ba bài học sống động, ba đề mục thiền quán, ba cái cuộc đời cao thượng, ba cái ánh mặt trời chói lọi nhân thiên, ba cái mảnh ruộng phước vô thượng của chư thiên và loài người mà hết sức là bình dị, hết sức là gần gũi.
Mình có trong đó không? Mình có bệnh không? Mình có thích ăn không? Mình có thích đẹp không? Mình có trong đó hết trơn mà mình vẫn còn mê hoài, các ngài ở trong đó mà các ngài vượt thoát ra, chiêm nghiệm đi, chia sẻ đi, nhìn lại ba cái phương diện đó trong con người mình. Khi mình bệnh mình có tu được không? Khi mình ăn mình có quán gì không? Khi mình được những cái đẹp trên cuộc đời này, được cái thân đẹp, được cái đồ đẹp, được cái nhà đẹp được, những cái đẹp mình có sự tu như thế nào?
V. Trình pháp
Cô Liên Trâm: Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật, bậc tôn kính của chúng con, bằng sự chân thành tri ân trên sư phụ ân sư, con xin kính thưa quý Tăng, chư Ni, các sư cô cùng các bậc hiền trí. Chiều hôm nay có mặt tại chánh điện chùa Bửu Liên một lần nữa con được sư phụ cho nghe bài thiền quán, đặc biệt là sư phụ nói về ba vị A-la-hán, con không biết sao từ lúc con xuống núi đến giờ con khó khóc lắm, con cũng không có cách nào để gột rửa được cảm thọ nhưng cứ mỗi lần con đến với pháp Phật, kinh tạng Nikāya nói chung và những bài thiền quán của sư phụ thì cảm thọ trong con rất là dạt dào, một loại cảm thọ mà con rất là khó tìm ở bên ngoài.
Khi ngồi nghe từng tấm gương của mọi bậc A-la-hán mà sư phụ đã chia sẻ với chúng con thì cảm thọ đầu tiên của con trò là rất xấu hổ. Con xấu hổ là vì con nhìn thấy được mình ở trong một phần của ba vị A-la-hán, vị thứ nhất là vị A-la-hán mà sư phụ nói về bệnh tật, cũng có nhiều lần con đến với trại cùi ở Di Linh và những hình ảnh của các con trẻ ở nơi đó đã làm cho con rất là xúc động. Hôm nay con được sư phụ cho mình hồi tưởng lại những hình đó, vị thứ hai là vị có đầy đủ những sắc tướng, điều kiện để thụ hưởng ở thế gian này nhưng ngài đã có trí tuệ và sự giác ngộ để cho chúng con có bài học. Vị cuối cùng con cũng cảm thọ được ở ngài đó là sự đầy đủ về vật thực, thọ thực, trong con lúc nãy khi sư phụ cho hát bài kinh về quy y thì trong con có một sự run động, sự run động này con có thể cảm được rất rõ về sự mang ơn lời dạy của bậc cha lành là Đức Thế Tôn.
Nhờ những lời này con cảm thấy rất là hổ thẹn vì thấy mình đã có những khoảng thời gian trải qua những sự thụ hưởng của ngũ dục thế gian, những sự ngã mạn, kiêu căng khi mình có đầy đủ những cái điều kiện vật chất. Và cuối cùng con được gặp thánh pháp là một sự phúc phần may mắn cho con trò để nhận ra ra từng bước. Ý hành của con lúc con khởi lên những giọt nước mắt hiền thiện là vì con biết ơn Đức Phật, con không dằn được sự biết ơn vô tận vì hơn ai hết chính người nhà và mẹ con đã được thọ ân trên pháp bảo. Người mẹ già đã từng bước tuy sức tàn lực kiệt nhưng mẹ con rất là chịu nghe pháp và anh chị con đã được đến Linh Quy Pháp Ấ dưới sự trưởng dưỡng và hướng dẫn của quý thầy, quý cô nơi đó và lòng từ của sư phụ để ngày hôm nay tất cả các thành viên trong gia đình cùng con đều từng bước thức tập ngũ uẩn mỗi đêm bên cạnh mẹ. Con cảm thấy rất là hạnh phúc khi từ bỏ tất cả những điều kiện vật chất bên ngoài, an trú trong pháp và con có mặt nơi đây cũng muốn cảm tạ ân đức của tam bảo và đặc biệt là tri ân trên sư phụ đã không quảng đường xa xuống đây truyền chánh pháp cho chúng con. Một lần nữa con cảm ơn cha già và con sẽ cố gắng. Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật.
Sư Phụ: Thưa chư tôn đức và chư hiền trí hôm nay có một Phật tử, cô được thỉnh mẹ đi dự khóa tu, đây cũng là cơ hội quý báu và cô muốn thể hiện lòng biết ơn đối với mẹ thì con rất là hoan hỉ để mời hai mẹ con bước lên để thực tập thiền biết ơn. Đây là cơ hội rất quý báu để mẹ được lắng nghe tình thương, lòng hiếu thảo của con đối với mẹ, không dễ gì mẹ con cùng được đi tu học, càng không dễ gì được gặp chánh pháp, càng không dễ gì được hiểu chánh pháp và được thực hành chánh pháp nên đây là những giây phút hiếm có hy hữu, quý báu trong cuộc đời ở trong dòng luân hồi này. Được làm mẹ con với nhau là cả một phước lành, cả một tình thương, cả một trái tim của mẹ. Cô quỳ hướng mặt về mẹ chiêm nghiệm những gì mẹ đã hy sinh, những gì mẹ đã đổ xuống để cho mình được đứng lên, mẹ đã tiều tụy, yếu gầy để cho mình được vững mạnh, được thành đạt trên cuộc đời này và giờ phút này cô hồi tưởng lại tất cả những hy sinh của cha mẹ.
Bằng tất cả tấm lòng biết ơn của mình giờ này cô hãy bày tỏ với mẹ.
Cô Phật tử: Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật, con kính chiên sư phụ, con kính tri ân các quý thầy, quý cô và tất cả các bậc hiền trí. Từ khi con biết đến dòng kinh Nikāya cách đây hơn một tháng và con chạm nhất là lòng biết ơn của sư phụ đã giảng, con ngày đêm xem về lòng biết ơn, con quán chiếu về mình, con thấy mình thực sự là một đứa con vô cùng vô ơn. Con không chỉ vô ơn với người mẹ còn sống mà con vô ơn với tất cả những người cha đã sinh ra con, từ đó con rất là đau khổ, con vô cùng dằn vặt với những cái vô minh của mình. Sau đó con tác ý nhất định phải lên trên núi để gặp sư phụ, đảnh lễ sư phụ để con được học, được hành và để con có được cơ hội trả ơn cho cha mẹ của mình và con cũng đã thực hiện được điều đó. Rất là may mắn cho con là hơn một tuần trước thì con có lên trên núi và con cũng đã tác bạch với sư phụ là con mong có một ngày mẹ cùng với con đi gặp sư phụm được đảnh lễ sư phụ.
Ngày hôm nay con cũng đã làm được điều này và con cũng vô cùng biết ơn sư phụ, mặc dù con không báo trước nhưng sư phụ vẫn cho con một cái ân huệ này, con vô cùng biết ơn ngài, cho con xin phép được nói đôi lời với mẹ con. Con xin lỗi mẹ, từ ngày mẹ sanh con ra chưa một ngày nào con làm cho mẹ được an lòng, dù khi con bé thì con cũng đã làm khổ mẹ bằng những cái bệnh tật mà con mang. Nhưng con không biết mà lúc nào con cũng chỉ trách mẹ, con có một bài trình pháp với sư phụ hành trang của con vào đời đó là sự hận cha và ghét mẹ nhưng bây giờ con đã học, con đã hiểu, con mong mẹ tha lỗi cho con tất cả những điều con làm cho mẹ phải đau khổ, phải buồn lòng về con. Mong mẹ hãy tha lỗi cho con, con xin biết ơn.
Nhờ sự chịu đựng của mẹ, nhờ sự vượt qua những cái ô nhục của mẹ để con có được thân hình ngày hôm nay. Con nhớ con sẽ không làm cho mẹ buồn lòng, ngày mai là ngày giỗ của bố, con cũng mong bố sẽ hiểu được sự thay đổi của con mà bố sẽ tha thứ cho con cũng như con đã tha thứ cho bố. Tâm nguyện của con giờ này các cháu cũng đã lớn rồi, chỉ mong mẹ hãy dành thời gian cho chính mẹ, mẹ hãy tập trung vào chính mẹ, chỉ có tu tập mới thay đổi được nên con mong mẹ hãy đồng hành cùng con. Con biết ơn mẹ rất là nhiều.
Sư Phụ: Mẹ có vào lời trong lúc này với người con gái con.
Mẹ: Con kính bạch sư phụ, các sư cô và tất cả đại chúng, từ trước đến giờ vì cuộc sống mưu sinh của con người, cho nên con cũng sống vào tình cảnh thiếu thốn ở nhà quê cho nên cũng không lo cho các con. Đến hôm nay con đến đây con được gặp sư phụ, các sư cô và tất cả đại chúng con mới hiểu được những cái cuộc sống trước đây nó như thế nào đến bây giờ cho nên con cũng không thể trách các con được. Mẹ sẽ tha thứ cho con tất cả. A-di-đà Phật.
Sư Phụ: Cô có mong muốn con mình sau này như thế nào không? Cô quay hướng về mẹ để nghe mẹ dạy
Mẹ: Con muốn rằng con mình sau này nó sẽ tỉnh thức ra được các điều từ trước đến nay nó lầm lỡ. Con cũng mong rằng con nó đi theo đạo của thầy cho nên nó mới hiểu được những cái Phật pháp, những cái giáo lý mà trước đây cứ mải mê làm ăn, cứ mải mê bon chen cuộc sống, cũng không nghĩ gì đến chuyện gia đình, cũng không có nghĩ gì đến những chuyện cha mẹ gì hết. Cho nên giờ thì con đã tỉnh thức được ra thì con cũng rất mừng và rất cảm ơn sư phụ, các sư cô và các đại chúng đưa dắt con của con nó được hiểu được đạo lý. A-di-đà Phật.
Sư Phụ: Cô tăng cho mẹ bông hướng dương này, từ nay về sau cô hướng về mặt trời hướng về mặt trời ân đức, hướng về mặt trời trí tuệ, hướng về mặt trời hiếu thảo để đền đáp ân đức cao dày của mẹ, của những người đã có ân nghĩa, ân tình, ân đức với mình. Chúng ta cho tràng vỗ tay lớn lên ạ, đây là giây phút hạnh phúc nhất của người làm mẹ, cũng là giây phút ngọt ngào nhất của những người làm con, cũng là giây phút đẹp nhất của một người Phật tử, là những cảm thọ hiền thiện, hiền trí, hiền đức, hiếu thảo, hiếu hạnh, hiếu nghĩa, hiếu từ.
Nguyện rằng cảm thọ này, hình ảnh này, những suy nghĩ này sẽ thấm vào tất cả tim, tất cả tâm của tất cả người con trên khắp hành tinh này, luôn sống hiếu hạnh, hiếu nghĩa, hiếu lễ, hiếu từ, hiếu thảo đối với cha mẹ, đối như những bậc có ân đức, ân nghĩa với mình.
Phật tử 2: Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật, con kính trên sư phụ tôn kính, con kính trên quý thầy và các bậc hiền trí. Dạ sau khi nghe thiền biết ơn của cô với mẹ cô, lòng con rất là xúc động, con nghĩ đến mẹ con, hồi xưa con chưa biết đến chánh pháp con đã làm nhiều lỗi lầm với mẹ, con làm cho mẹ buồn lòng. Mỗi khi con đi làm về nhiều chuyện uất ức trong công ty, khi mẹ thấy con về mẹ mừng lắm, mẹ con tâm sự với con, con lại không biết là mẹ thương con nhưng mà cái sự bực tức trong công ty con lại đổ cho mẹ.
Bây giờ con biết đến chánh pháp nhưng mà con không có cơ hội để quỳ lạy mẹ, người đã hy sinh cho chúng con, mẹ sanh ra chúng con mới có mười mấy ngày mẹ phải làm lao động cực khổ, làm những việc vất vả để nuôi chúng con lại còn bị ba con đánh đập mỗi khi ba con buồn hoặc đi nhậu về. Con thật có lỗi với mẹ, giờ con muốn sám hối với mẹ mà mẹ cũng không con nữa. Xin mẹ ở trên có linh thiêng nghe lời sám hối của con.
Sư Phụ: Ai còn cha mẹ hãy nhớ hình ảnh này, đừng để cho mẹ mất rồi mình mới sám hối, nếu mình còn cha mẹ bằng tất cả tấm lòng hiếu thảo của mình, hãy bằng tâm từ, bằng lời nói hiền từ, bằng hành động hiền kính, hiền từ đối đãi với mẹ cha để sau này mình không có hối hận. Hiếu là gốc của trăm hạnh, là cội của tất cả đạo đức, phước lành cho nên những giây phút này khơi gợi lên những cảm thọ hiếu từ, hiếu thảo vô cùng quý giá, nhiều khi suốt cuộc đời của mình chưa một lần mình quỳ trước cha mẹ để sám hối, để mình cảm ơn.
Cho nên các vị nào có thể nên khuyến khích cha mẹ tối thiểu đến chùa một lần, hoặc lên núi một lần để mình làm thiền biết ơn ít nhất một lần có thể để cha mẹ được nếm được hương vị ngọt ngào, để mình có thể trải nghiệm được những cảm xúc hiếu hạnh ngắn ngủi nhất trong cuộc đời và từ đó về sau mình tiếp tục tăng trưởng phát triển lớn mạnh, sự hiếu thảo trong người của mình, sự biết ơn, sự nhớ ơn, sự cảm ơn từ đây cho đến mạng chung cho đến nhiều kiếp sau. Nếu mình chưa cắt đứt dòng luân hồi sanh tử mình vẫn tiếp tục là một người con hiếu thảo, ân đức, nghĩa tình.
Phật tử 3: Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật, kính thưa sư phụ, kính thưa quý thầy, kính thưa quý vị hiền giả, hôm con lại cảm thấy nhớ về bố con nhiều hơn, con đã làm thiền biết ơn với mẹ con ba lần nhưng mà chưa có lần nào con làm với bố con cả vì bây giờ con không còn cơ hội nào nữa rồi. Con nhớ lúc bố mất, khi con nắm tay bố thì lúc đó đã là một bàn tay lạnh ngắt rồi, nó không phải là một bàn tay ấm áp mà con từng biết nữa. Khi đó con nhận ra là đã bao lâu rồi mình mới được nắm tay bố mà lần cuối cùng nó lại là bàn tay lạnh ngắt như vậy, không còn hơi ấm, không còn biết được là con trai mình đang nắm tay mình.
Con biết là bố vẫn còn ở bên con, con vẫn còn cảm nhận được điều đó, từng hơi thở, từng giọt máu của con chính là bố mà từ trước đến giờ con chưa từng nói một lời cảm ơn, chưa từng ôm bố hay nắm tay bố một lần nào. Thật sự chỉ đợi đến khi bố đã mất rồi, đã là một cái xác không hồn, cứng đờ và lạnh ngắt thì lúc đó con mới biết xót thương, mới biết được trước giờ mình từng sai lầm, phạm lỗi nhiều như thế nào. Con chợt nghĩ đến bà nội, con chưa gặp bà nội con lần nào vì bà nội đã mất quá sớm, con đấy thương bố rất nhiều vì khi bà nội bố mới có 16 tuổi. Mỗi lần đám giỗ bà nội, các cô chú kể là bố vào trong nhìn lên bàn thờ, nhìn lên di ảnh bà nội mà khóc thút thít trong đó nên mỗi lần mẹ con nghe bài hát "mẹ ơi con đã già rồi, con ngồi nhớ mẹ khóc như trẻ con" thì con cứ nghĩ đến hình ảnh của bố nhớ đến bà nội bơ vơ, lạc lõng, còn quá trẻ mà đã mồ côi mẹ rồi.
Còn con bây giờ vẫn còn mẹ, tại sao trước giờ con lại không biết trân trọng điều đó, lúc con làm mẹ con buồn dù là con có nói hết bao nhiêu lần với mẹ con đi nữa, con nghĩ con cũng không thể giải bày hết nỗi lòng của mình, cũng không thể cảm ơn mẹ con hết lòng được. Càng thương mẹ thì con càng thương những người mẹ trên thế gian nhiều hơn, những người mẹ trên thế gian này cũng cực khổ giống như mẹ con vậy, giống như bà nội con, bà ngoại con. Bà ngoại con cũng cả một đời vất vả lo cho con cháu, ngày mà mẹ mang thai anh em tụi con, mẹ biết là mẹ mang thai sinh đôi mẹ rất là sợ sẽ nuôi không được, mẹ nằm trên giường mà mẹ cứ run, mẹ gọi điện về cho bà ngoại, mẹ khóc với bà ngoại.
Bà ngoại lúc đó chỉ nói với mẹ là nếu mẹ nuôi không được thì bà ngoại nuôi, chỉ bằng một câu như thế rồi mà mẹ con có thêm sức mạnh, có thêm dũng khí để nuôi hai anh em con đến bây giờ. Vậy mà càng về già bà ngoại mất trí nhớ, bà ngoại không thể nào nhận biết được anh em tụi con, không thể nhận biết được mẹ con, không thể nhớ được là bà ngoại đã yêu thương hai anh em tụi con nhiều như thế nào, còn tụi con cũng còn quá nhỏ để cảm nhận được điều đó.
Đến bây giờ nghĩ lại con lại càng thương cả gia đình con, bà nội, bố con, tất cả ông bà, cha mẹ con, con càng thương mọi người nhiều hơn. Sao trước giờ mình chưa từng biết ơn, chưa từng nghĩ về những ơn nghĩa đó mà cứ buông lung, không nghe lời, lắm lúc làm mọi người buồn. Con xin cảm ơn sư phụ, từ ngày biết đến chánh pháp của sư phụ, con cảm nhận ra là mình đã sai lầm rất nhiều, rất nhiều, nhưng con đã học được cách sửa đổi dần dần từ đó, con xin biết ơn sư phụ.
Sư Phụ:
Tâm biết ơn này tỏa rộng
Cùng khắp thế giới này
Tâm biết ơn này tỏa rộng
Khắp trời đất bao la.
./.
Tỳ Kheo Thời Đức Phật 4
La Hán Khôi Ngô Tuấn Tú
Thích Minh Thành
MỤC LỤC
TOC \o "1-3" \h \z \u I. Tấm gương tinh tấn PAGEREF _Toc204010374 \h 1
II. Bị bệnh đến chứng Thánh Quả PAGEREF _Toc204010375 \h 3
III. Vị La Hán khôi ngô PAGEREF _Toc204010376 \h 9
IV. Vị Thánh Tăng Paripumaka PAGEREF _Toc204010377 \h 14
V. Trình pháp PAGEREF _Toc204010378 \h 18
I. Tấm gương tinh tấn
Kính bạch chư tôn đức, chư hiền trí, sáng nay sau thời thiền quán con về cũng thiền quán tiếp tục hai lần bài đó, bây giờ cảm thọ cũng chưa có phai nhòa, nước mắt chảy cũng nhiều. Con chợt nhớ có một số vị lên trên Linh Quy khóc sưng mắt, có nhiều vị lắm, thiền quán khóc sưng mắt, hồi nãy niệm bốn Dự Lưu phần thì con nhớ là có một vị thánh Tăng bị bệnh mắt lúc đó mọi người kêu ngài đi trị, ngài không có trị, ngài nói là thà là ta mù lòa để ta được đoạn tận các lậu hoặc cho nên ngài tu luôn, ngài không trị và cuối cùng ngài chứng thánh quả A-la-hán nhưng ngài mù mắt. Trong lúc niệm về bốn thánh trí là bên trong con các cái hành sanh khởi lên như vậy, quý vị thấy con mắt con hơi sụp sụp chút rồi phải không, nó hơi sưng sưng tí, sau buổi thiền quán về là tiếp tục hai buổi nữa ở trên phòng. Khi nãy bước vô đây cảm giác toàn thân con thấy mắt không có được bình thường, nó hơi có vẻ là sưng sưng một chút mà lúc đó con liên hệ đến các vị đi về núi đó, sư cô Huệ Lý khóc sưng mắt quá, nói "Sư phụ ơi, con sưng mắt quá rồi" thì con có nói với sư cô cứ tiếp tục, không sao hết, có nhiều vị chứ không phải một người, cứ tiếp tục cho khóc tiếp.
Như là sư cô Nguyên Tú cũng vậy, bị bệnh sao đó mà cứ chảy nước mắt là khó chịu, con nói tiếp tục cứ cho chảy, không sao. Trong lúc niệm bốn Dự Lưu phần vừa rồi thì con nhớ lại một vị Tỳ-kheo bị bệnh mắt, thầy thuốc báo với ngài là phải trị, không trị là mù mắt, ngài nói thà ngài mù mắt ngài phải đoạn tận tham, sân, si cho nên ngài dồn hết tâm lực để thiền quán thì quả thật là ngài diệt hết tham, sân, si, chứng thánh quả A-la-hán nhưng ngài bị mù mắt. Mọi người gọi ngài là vị A-la-hán khô, chắc là người ngài tiều tụy lắm, mù mà còn tiều tụy nữa nhưng mà đâu có sao, khô tươi gì cũng chết queo thôi, khô ở đây là khô hết phiền não, khô hết tham ái, khô kiệt hết bản ngã ngu si, mê muội, vô minh, hôn ám. Có cần khô cái này không ạ? Chiều nay chúng ta sẽ học các vị thánh Tăng thời Đức Phật, nãy giờ con chiêm nghiệm ở trên phòng thay gì hàng ngày mình phải nghe những cái tin tức giết cha, giết mẹ, trộm cướp, hiếp dâm, lừa đảo, giật hụi, giật nợ, xe đụng, toàn là những tin xấu, bây giờ con sẽ đưa cho các vị những cái tin của hiền thánh. Quý vị chịu không? Quý vị sẽ biết những đức hạnh của thánh hiền, đạo lộ của các bậc thánh nhân, con đường đi của các vị vô thượng phước điền ở thế gian này để mình lấy đó làm mục tiêu, làm lý tưởng, làm chí hướng, làm sự vươn tới trong cuộc đời của mình.
Có nhiều tấm gương hạnh của các bậc thánh Tăng hay lắm, quý lắm, cao đẹp lắm, quý giá lắm. Mình không nghe những cái này rất là uổng, con thật sự khi vào thất, khi vào rừng, khi ở yên một mình thì con hạnh phúc lắm, con không có muốn đi ra chút nào chết nhưng mà bị mắc nợ, mắc nợ nặng lắm. Hễ vô nhập thất là có chuyện, một thế lực vô hình ngăn trở nhưng không sao, quyết lòng sắt đá thì mình cũng đi tới thôi, nhất định là phải tới thôi, đi thì phải đến, sớm hay muộn cũng phải đến. Bây giờ mình biết được pháp rồi chỗ nào mà mình không tu được, chẳng qua là chỗ yên tịnh thì mình sâu lắng hơn, chuyên nhất hơn. Ba mươi bài kệ về "núi đẹp tuyệt trần" đúng ra cái tựa của nó là "thiên không xuất kệ" là con ngồi trên máy bay con làm. Còn ngày hôm qua mấy chục bài kệ, cái đoạn đầu là nằm ở trên xe chứ không có thời giờ rảnh như quý vị mà ngồi yên được. Pháp trong bàn tay của mình, pháp trong tâm của mình, pháp trong tim của mình, ở trong cảm thọ, trong suy nghĩ, trong ánh nhìn của mình, trong nhận thức của mình, bất cứ chỗ nào mình cũng có thể vận dụng được, mình muốn vận dụng hay là không muốn thôi, mình có nỗ lực hay là không thôi, mình có để tâm hay là không thôi.
Bây giờ dễ nhất là bấm vô điện thoại là mở ra thánh pháp, thánh trí, thánh đạo, thánh tuệ liền mà không chịu bấm. Nếu bấm nhiều vào cái này là Nhập Lưu rồi, hồi xưa mình chưa có gặp bậc đạo sư thì mình đi tìm không có ra, bây giờ ngài xuất hiện trên cuộc đời này. Chúng ta sẽ có một khóa tu hai tuần tưởng niệm ân đức của bậc đạo sư, con đang sắp xếp thời gian, cũng là khóa tu xuất gia giao duyên luôn, sẽ đốt hoa đăng tưởng niệm ân đức của thiện hữu, thiện tri thức của bậc đạo sự, của các bậc thánh hiền. Mình có chánh kiến rồi, mình niệm ân đức cũng đủ sức cho mình chứng các thánh quả, khi có Chánh kiến rồi làm cái gì cũng có thể đoạn tận được lậu hoặc hết. Không biết quý vị có nghe "bậc thánh tí hon" của chưa ạ? Tỳ-kheo tí hon mới bảy tuổi đã chứng thánh quả A-la-hán, ngài chứng được từ vô lượng tâm, đoạn tận các lậu hoặc thành thánh quả A-la-hán. Cho nên mình có chánh kiến tu từ vô lượng tâm cũng đắc quả A-la-hán, tu cái gì cũng đắc thánh quả hết khi có Chánh kiến.
Có nhiều vị Tỳ-kheo chỉ niệm một câu thôi cũng chứng thánh quả A-la-hán tại vì cứ có chánh kiến thấy đúng, thấy được ngũ uẩn, thấy được lậu hoặc. Bây giờ người mù được sáng mắt lên thấy cái nhà dơ rồi có dọn sạch không? Không sớm muộn thì cũng phải sạch thôi, sạch mau, sạch lẹ, hay sạch chậm là do cái siêng năng của cái người đó thôi, trừ người què tay, què chân. Mình không có què, không có bại liệt thì phải đứng dậy hốt, dọn, lau, chùi, đừng có không lẹ, coi chừng liệt bán thân, liệt hết phân nửa người, bị dục làm cho liệt, bị năm dục trưởng dưỡng, những thú vui ở đời, bị những cái khả lạc, khả hỷ, khả ý, khả ái liên hệ đến dục hấp dẫn làm cho mình tê liệt, mình không muốn nỗ lực tu.
II. Bị bệnh đến chứng Thánh Quả
Mọi người lâu lâu có bị không? Có khi tê liệt cả tháng luôn, không có an trú vô pháp, phải không? Mê đời, ham vui, thích vui, thích những cái khoái, thích cái dục ái, cháu nội, cháu ngoại, ăn uống, chơi vui, đám cưới, thôi nôi, đầy tháng, đám giỗ bỏ tu. Chúng ta nghe vị Tỳ-kheo bị cùi mà chứng quả A-la-hán.
"Trong thời đức Phật hiện tại, ngài sanh ở Sàvatthi, tên là Samitigutta (hộ trì nhờ hòa khí)." (Tiểu Bộ, Tập III - Trưởng Lão Tăng Kệ, Chương I - Một Kệ (tiếp theo), Phẩm Chín, (LXXXI) Samitigutta (Thera. 12))
Mình nhớ vị Tỳ-kheo cùi cho dễ nhớ tại vì tiếng nước ngoài mình khó nhớ lắm, sẽ có những từ liên hệ để mình nhớ vị Tỳ-kheo cùi, cái tên của ngài có cái nghĩa là hộ trì nhờ hòa khí. Ngài là một con người rất là hiền hòa, hòa đồng, hòa ái, hòa hợp với mọi người cho nên đức tánh của ngài hiền hòa, hài hòa, hòa hợp, hòa ái, hòa đồng với mọi người. Ngài có một sự hộ trì căn tức là có giữ gìn thân, miệng, ý, mắt, tay, mũi, lưỡi, thân tâm, đây là điểm mình cần học lắm, hộ trì nhờ hòa khí. Gia đình của mình hay là những người ở chung với mình lâu lâu có bất hòa nhiều không? Trong nhà mình nhiều khi nói mấy câu thôi là cự cãi trong suy nghĩ, trong hành động, trong lời nói cho nên một người an trú được cái tâm hiền hòa thì dễ tu lắm, dễ học, dễ tu, dễ tiến đạo thì ngài nhờ đức tánh như vậy.
"Nghe bậc Ðạo Sư thuyết pháp, ngài xuất gia và chứng được giới thanh tịnh. Do kết quả nghiệp đời trước, ngài bị bệnh hủi, tay chân của ngài rơi xuống từng phần một, ngài sống trong một nhà bệnh." (Tiểu Bộ, Tập III - Trưởng Lão Tăng Kệ, Chương I - Một Kệ (tiếp theo), Phẩm Chín, (LXXXI) Samitigutta (Thera. 12))
Bình thường ngài đã hộ trì căn rồi, đời sống cư sĩ của ngài là một đời sống rất là cẩn trọng, rất cẩn thận, rất là nghiêm cẩn, rất là giữ gìn thân tâm. Từ cái nền tảng khi còn ở tại gia ngài rất là hiền hòa, hòa hợp mọi người và rất là cẩn trọng trong thân, miệng, ý cho nên khi ngài được nghe pháp, ngài xuất gia với Đức Thế Tôn thì chứng được giới thanh tịnh. Đức Phật là dạy thánh tri kiến mà cái người có giới nữa thì Dự Lưu là rất dễ dàng, sẵn sàng luôn, giới thanh tịnh mà có tri kiến chánh trực thì Nhập Lưu, bởi vì chúng ta thấy cái này rất dễ với người có nền tảng, có căn bản tu tập, nhưng lại rất khó với người mà không có sự hành trì, sửa soạn chuẩn bị cho mình.
Đức Thế Tôn dạy hai điều kiện của một vị Nhập Lưu, một là giới thanh tịnh, mình cư sĩ năm giới thì mình giữ được năm giới đó, mình thọ trì tám giới, bát quan trai mình giữ được, hôm nay cũng là ngày trai giới, mình giữ được cái giới đó thì khi mình đã giữ giới được, mình học được chánh pháp nữa, mình thấy đúng thì hai cái này cộng lại Nhập Lưu dễ lắm. Tức là mình sẽ thành tựu được cái thấy trọn vẹn về sự thật cuộc đời này, khổ và nguyên nhân của khổ, cho nên thời đại ngày nay khó tu là giới, hồi xưa các vị Tỳ-kheo thời Đức Phật nhờ sống viễn ly, sống rời xa, các ngài giữ giới dễ hơn bây giờ lắm. Ngay cả người xuất gia bây giờ cũng khó giữ giới nữa thành ra mình để tâm nhiều vào cái giới, tụng giới mỗi tuần, mỗi ngày càng tốt. Mình thọ mấy giới mình cứ đem giới đó ra tụng, mình nhắc mình cho nên giới thanh tịnh và tri kiến chánh trực, nghe đúng chánh pháp nữa thì hai cái này cộng lại là điều kiện để cho mình thể nhập Nhập Lưu thành tựu được chánh tri kiến.
Ngài chứng được giới thanh tịnh nhưng do kết quả nghiệp đời trước ngài bị bệnh cùi cho nên cái nghiệp quả là một trong tứ bất khả tư nghì, tức là không thể tưởng tượng được, cái nghiệp nó trổ ra là không một ai trên đời này có thể tưởng tượng được hết, không một ai trên đời có thể tưởng tượng được khi quả dị thục của nghiệp trổ ra chính vì vậy mình mới tu. Nếu mình biết chắc bảy mươi mình chết, tám mươi mình chết, sáu mươi mình chết, mình biết chắc được hết thì còn tu gì nữa, mình cứ ngồi vậy hoài, ngày nào mình cũng ăn uống thoải mái, tới giờ mình đi làm rồi mình tu, vậy thì quá khỏe rồi. Mình ngồi đây mà không biết chừng nào chết, một lát nữa, mấy bữa sau, tháng sau, năm sau, ba năm sau người ta báo mình bị ung thư giai đoạn cuối, bây giờ người Việt Nam mình trên 350.000 người ung thư, sống chung với ung thư mà chết là nhiều lắm, 350.000 người sống chung với ung thư.
Chúng ta nếu mà ngồi lại thì làm sao mấy cái chùa này chứa hết 350.000 người? Chúng ta nghĩ là bao nhiêu cái khổ? Đó là con số chẵn, thành ra tất cả mọi cái nó đến con đã giải thích cái chữ vô thường là đột ngột, đột biến, đột quỵ, đột tử, giải thích chữ vô thường gọn vậy đó. Vừa rồi có một vị đột tử, đột quỵ thì như vậy mình mới tu, nó bất thình lình biểu hiện ra bệnh cùi, mà cái bệnh cùi này là khủng khiếp lắm, tay chân của ngài rơi xuống từng phần một, nó ăn xong rồi nó hoại tử, nó rớt xuống từng thân phần.
Ở đây có ai chứng kiến người bị cùi không ạ? Cô kể được không? Cô kể cái bệnh trạng của người bị ra sao được không?
Phật tử 1: Dạ con kính trên sư phụ, nhân duyên con cũng làm ở bệnh viện cho nên con cũng được nhìn thấy nhưng mà lúc đó con đang xin thực tập y. Bệnh nhân bị hoại tử c các chi phần ở tay, ở chân và thịt á lở loát, hoại ra từng phần, nó cứ rớt từng phần, mỗi lần thay vết thương, rửa vết thương rất đau, khi nó rớt từng đốt nào thì cắt đốt đó nhưng mà nó cũng không có lành, nó cứ tím tím xong rồi vết thương cứ lở lần tới, lần tới. Mới đầu cắt từng đoạn chi ngắn ngắn, nhỏ nhỏ, sau đó cắt lên khúc chi lớn, người ta may lại rồi cũng hoại, tiếp tục cắt lên chi lớn nữa, tức là cứ từng khúc, từng khúc, bệnh nhân rất là đau đớn, thịt thì cứ lở ra hôi thối, bệnh nhân rất là đau, rất là nhức, bệnh nhân rên la rất là nhiều. Con thấy xót lắm. Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật.
Sư Phụ: Do kết quả của nghiệp đời trước nên ngài bị bệnh cùi, tay chân của ngài rơi xuống từng phần một, cứ hoại tử rồi nó ăn vô như vậy, đứt lìa, rụng xuống. Chúng ta nghe rồi chúng ta dùng cái tưởng của mình để quán chiếu khủng, khiếp lắm, cái khổ trên cuộc đời này là vô vàn, vô số, vô lượng, vô biên nhưng mình không có thấy được bao nhiêu hết. Ngài sống trong nhà bệnh, ngày xưa ở trong tinh xá Đức Phật cũng có cái nhà để cho mấy thầy, mấy vị bệnh đi vô đó ở, như mình nói cái bệnh xá cho dễ hiểu. Trong các chùa lớn cũng có nhà để cho dưỡng bệnh, trị bệnh, thiền viện giờ cũng có chỗ gọi là bệnh xá là cái nhà để cho mấy người bệnh vô đó ở.
"Một hôm, Tôn giả Sàriputta đi thăm các người bệnh và hỏi thăm các bệnh nhân, thấy Samitigutta, Tôn giả cho một đề tài để thiền quán, nói rằng: 'Này Hiền giả, nếu nói về vấn đề năm thủ uẩn, thời toàn bộ khổ uẩn là một vấn đề cảm thọ. Và khi không có năm uẩn, thời không có đau khổ'. Nói xong, Tôn giả Sàriputta tiếp tục đi." (Tiểu Bộ, Tập III - Trưởng Lão Tăng Kệ, Chương I - Một Kệ (tiếp theo), Phẩm Chín, (LXXXI) Samitigutta (Thera. 12))
Chúng ta nghe để chúng ta thấy, chúng ta học nó có tương ưng không ạ? Chúng ta thấy lời dạy trí huệ của Đức Phật có nhất quán toàn bộ đại tạng kinh không? Ngài Xá-lợi-phất nói với thầy Tỳ-kheo cùi này nếu nói về năm thủ uẩn thì toàn bộ cái đống khổ này là một vấn đề cảm thọ và khi không có năm uẩn thì không có khổ đau. Cái đau khổ của thầy cũng là thọ thôi, vì có cảm thọ cho nên mới khổ vậy, nếu không có sắc; thọ; tưởng; hành; thức thì đâu có khổ đau. Khi nói xong tôn giả Xá-lợi-phất tiếp tục đi nhưng mà bệnh nhân là thầy Tỳ-kheo cùi này được phấn khởi với lời dạy.
"Nhưng bệnh nhân Samigutta được phấn khởi với bài dạy ấy, triển khai thiền quán và chứng được sáu thắng trí." (Tiểu Bộ, Tập III - Trưởng Lão Tăng Kệ, Chương I - Một Kệ (tiếp theo), Phẩm Chín, (LXXXI) Samitigutta (Thera. 12))
Thầy Tỳ-kheo bị cùi này hoan hỉ, hỷ lạc, sung sướng, vui mừng vì được cái đề tài thiền quán, vì được ngài Xá-lợi-phất là bậc tướng quân chánh pháp, bậc đại trí, đại tuệ, quảng tuệ, tiệp tuệ, tối thắng tuệ, một bậc trí tuệ sắc bén như vậy thuyết pháp cho ngài nên ngài hoan hỉ, ngài vui, ngài mừng, ngài triển khai thiền quán. Sau khi nghe được lời dạy đó ngài bắt đầu dồn hết tâm lực triển khai về sắc; thọ; tưởng; hành; thức này là một cái đống khổ đau, sắc thân này là một đống khổ, là ung nhọt, là chỗ chứa nhóm các cái thứ nhơ nhớp, bất tịnh, bệnh hoạn, lo lắng, khổ sầu, tai họa. Như vậy có cái thân cho nên mới có bệnh cùi này, có cái thân cho nên mới có bệnh hủi này, có cái thân cho nên mới có cảm thọ đau đớn, khổ sở, quằn hoại này, có cái thân cho nên nó rỉ chảy những thứ bất tịnh, nhơ nhớp, tanh hôi, tanh tưởi. Ngài triển khai thiền quán về sắc thân rồi triển khai thiền quán về các thọ "Phàm cái gì được cảm thọ đều nằm trong đau khổ", triển khai về những hình bóng trong tâm, những suy nghĩ, nhận thức này là khổ, là vô thường, là vô ngã, là bất tịnh, là tai họa, là kẻ giết người, là cái đầu của con rắn độc, là hố than hừng, là cái thứ bất hạnh.
Mang cái thân này là một sự bất hạnh, phải chịu đựng cái bệnh cùi như vậy, là một sự bất hạnh quá, bất hạnh tận cùng của sự bất hạnh. Phải chịu đựng những cảm thọ đau đớn như vậy là cực bất hạnh cùng cực của sự bất hạnh, phải mang vác một cái đống khổ to lớn như vậy. Nếu như mình hoàn toàn không còn tham, không còn dục, không còn ái, không còn thích, không còn khoái, mê đắm, không còn cho cái này là tôi, là của tôi, là tự ngã của tôi nữa, mình từ bỏ cái suy nghĩ sắc này là tôi, cái thân này là tôi, từ bỏ suy nghĩ những cảm giác này là tôi, là của tôi, là tự ngã của tôi, mình từ bỏ suy nghĩ những cái tưởng, những cái hành này, những cái suy nghĩ này, những hình bóng, nhận thức này, mình từ bỏ không cho rằng sắc; thọ; tưởng; hành; thức là tôi, là của tôi, là tự ngã của tôi nữa.
Nếu mình lìa khỏi cái tâm chấp thủ vào trong năm uẩn này thì chuyện đau chỉ là chuyện của thọ thôi chứ đâu phải mình, đó là công việc của nó, là sự vận hành của ngũ uẩn. Chúng ta thấy bậc đạo sư không ạ? Những giây phút cuối cùng của cuộc đời giống như Đức Thế Tôn, có cái gì nghi hỏi, trả lời từng câu, từng câu, từng câu hết, chúng ta có nghe không? Chấn động không? Bằng chứng sống đó, thánh nhân tại thế đó, thánh nhân nhãn tiền đó, bậc đắc đạo, bậc chứng đạo ở kế bên cạnh mình đó. Một con người nếu bệnh ung thư sắp chết là đau đớn, quằn hoại, khổ sở, làm sao làm chủ được cảm thọ? Làm sao lúc đó còn nói pháp? Làm sao lúc đó còn thuyết pháp? Chúng ta thấy chưa? Đó là thánh trí, thánh tuệ, thánh quả đó, thánh đức đó, thánh định đó.
Cho nên ngài ngay khi bệnh như vậy triển khai thiền quán chứng được sáu thắng trí, tức là lục thông: thiên nhãn thông, Thiên nhĩ thông, tha tâm thông, thần túc thông, túc mạn thông, lậu tận thông. Chứng ngộ được sáu thắng trí, chứng được lục thông ngay trên giường bệnh cùi đó, chứng đắc sáu thứ thần thông, sáu thánh trí, sáu thắng trí. Mọi người có chịu tu không? Có chịu tu mạnh mẽ lên không? Người ta cùi mà người ta chứng thánh quả, bây giờ mình lành lặn, mình khỏe mạnh lại không chịu đặt hết tâm tư vào pháp, chứng được sáu thứ thần thông, sáu thứ trí huệ, sáu thứ thù thắng là sáu thắng trí. Thiên nhãn thông là biết hết sự sanh tử của chúng sanh trong vô lượng, vô số, vô biên kiếp. Túc mạng thông biết được sự sanh tử nhiều kiếp, vô lượng kiếp của chính mình cho nên khi ngài biết như vậy rồi ngài nhớ đến những việc làm của ngài ở đời trước khiến ngài phải mắc bệnh cùi, ngài thấy được liền, ngài đã có được thần túc thông rồi, ngài nhìn là biết liền đời trước mình làm cái tội lỗi này nên nhân quả vậy, vì thế đời này mình bị nè.
Khi mình hiểu được vậy rồi tâm mình có còn khổ nữa không? Giải mã được nhân quả, giải mã được nghiệp báo, giải mã được kết quả của tội lỗi cho nên túc mạng thông thấy hết vô lượng kiếp sanh tử của mình. Thiên nhãn thông thấy hết được sanh tử của chúng sinh. Thiên nhĩ thông nghe hết tất cả âm thanh nào muốn nghe, bây giờ bậc đạo sư muốn biết mình đang nói gì về ngài, ngài nghe là ngài cười "tụi con ráng lên đi, giờ ta đang ở trên này đợi tụi con về đó". Ngài nghe hết trơn, chỉ có mình đui điếc, mù lòa thôi, còn các ngài thấy hết, nghe hết, vô ngại tự tại hết. Tha tâm thông là đọc được suy nghĩ của mình, mình nghĩ cái gì các ngài biết hết thành ra không giấu được các bậc thánh, các ngài đọc được tâm niệm của mình hết, tâm mình có hình bóng gì, có lời nói gì, có cảm thọ gì các ngài nhìn vô thấy biết hết thì làm sao giấu được, lấy vải thưa che mắt thánh, đó gọi là tha tâm thông, thiên nhãn thông là thấy hết.
Chúng ta hay hỏi tu ngũ uẩn cứ thấy khổ hoài rồi cuối cùng được cái gì, được như vậy đó. Nhiều khi thắc mắc sao mình tu cứ khổ hoài, cuối cùng mình tu được cái gì, mình được siêu việt tứ đại, siêu việt ngũ uẩn, siêu việt khổ đau, vượt qua khỏi sanh, già, bệnh, chết, tự tại trong sanh tử, trước cái chết tâm bất động, bình thản. Ngài nói giống như xách vali đi về nước nên thấy vui quá, khỏe quá, sắp sửa giải thoát rồi, mình nhớ câu này để sau này gần đi cũng nói vậy chứ đừng nói "Thầy ơi, thầy hộ niệm cho con, con khổ quá rồi", không có cần ai hộ niệm cho mình hết, tự mình hộ niệm cho mình, tự mình làm ngọn đèn cho chính mình, tự mình làm chỗ nương tựa cho chính mình, không nương tựa gì khác, dùng chánh pháp làm ngọn đèn, dùng chánh pháp làm chỗ nương tựa. Thầy ở kế bên mà tâm tham, sân, si cũng vậy thôi, cũng đâu có giải thoát được đâu cho nên nhiều khi có những người ở gần kế bên bậc thánh nhưng cũng sân si, bản ngã rồi cũng khổ đau, cũng tâm nhỏ mọn, nhỏ hẹp, chúng ta phải làm sao mới an trú được cái pháp, ngài chứng được sáu thắng trí ngay ở trên cái giường bệnh mà còn cái thân cùi như vậy. Chúng ta có thấy tuyệt diệu không?
"Nhờ đó, ngài nhớ đến các hành ngài làm đời trước, khiến nay ngài phải mắc bệnh hủi. Và tán thán sự kiện này mọi việc đã được chấm dứt, ngài nói lên bài kệ:
Việc ác ta đã làm,
Trong các đời sống trước,
Ở đây chỉ cảm thọ,
Thọ lãnh từ nghiệp ấy,
Căn bản các nghiệp khác,
Thật sự không còn nữa." (Tiểu Bộ, Tập III - Trưởng Lão Tăng Kệ, Chương I - Một Kệ (tiếp theo), Phẩm Chín, (LXXXI) Samitigutta (Thera. 12))
Sự kiện này là sự kiện vô minh, sạch khát ái, kết thúc vô lượng tập phim nước mắt và máu trong vòng luân hồi, tới đây là chấm dứt, mọi việc đã được chấm dứt, các hành tịnh chỉ, tịch diệt, không còn đi trong sanh tử nữa, không còn mang những cái thân bệnh hoạn, vô thường, khổ đau, tanh hôi, bất tịnh, cùi hủi nữa.
Mình học cái bài này mình hiểu được bậc đạo sư không? Cái thân bệnh đó là do cái nghiệp của đời trước, trả cái nợ cũ thôi chứ không có tạo thêm nợ mới nữa, hết rồi, xóa nợ, sạch nợ, hết nợ, xong nợ rồi đi, không còn trở lại đời này nữa, Bất Lai thánh quả, còn ở đây là A-la-hán. Chúng ta thấy tấm gương khủng khiếp không? Không còn trở lại đời này nữa, nợ cũ trả hết, nợ mới không vay, hoàn toàn chấm dứt, mọi việc đã được chấm dứt trong thế giới này ngay giờ này, bây giờ ngài cười vui lắm, khỏe lắm, thần thông tự tại. Mình bây giờ còn khổ đau dài dài, không chịu vào trong pháp là còn khổ dài dài, còn luân hồi hoài hoài cho nên nhớ ngài là ráng tu, nhớ ngài là ráng nỗ lực quyết tâm. Cái đó mới là cái nhớ làm động lực để tiến đạo chứ không phải nhớ theo cái thường tình, bây giờ cứ khóc nhớ theo cái thường tình là không phải, mình nhớ để thương mình chứ phải mình thương ngài được bao nhiêu đâu, nhớ để thương mình, mình nỗ lực lên.
Bây giờ nếu nói nôm ra dễ hiểu vị A-la-hán cùi dễ nhớ không ạ? Rất là bình dân, rất là sự thật, không có xa vời. Như vậy thì mình chưa có cùi mình có tu được không? Cùi nhưng vẫn đoạn đận được tham, sân, si, mình bây giờ bệnh gì mà tu không được? Bậc đạo sư của mình bệnh ung thư từ lúc mười sáu tuổi mà vẫn đoạn tận được tham, sân, si, còn để lại một công trình vĩ đại, cái tối thượng là tìm ra được đạo lộ, khai mở nhân thiên nhãn mục, mở con mắt cho trời và người để thấy con đường đi, thoát ra cái khổ. Mình thấy đường mà mình không đi nữa thì thôi rồi, hết rồi, không còn gì để nói nữa. Mình nhớ kỹ hình ảnh của ngài chưa? Cất vô tâm làm gia tài, làm của báu, làm bảo bối, làm báu vật để tu chứ không có bệnh chút là than, bệnh chút là không đi nghe pháp.
III. Vị La Hán khôi ngô
"Trong thời đức Phật hiện tại, ngài sanh ở Sàvatthi, con của một người có địa vị, được đặt tên là Eraka. Ngài khôi ngô, tuấn tú, làm mọi công việc đều thông suốt thành tựu." (Tiểu Bộ, Tập III - Trưởng Lão Tăng Kệ, Chương I - Một Kệ (tiếp theo), Phẩm Mười, (XCIII). Eraka (Thera. 14))
Vừa là con nhà giàu lại còn đẹp đẽ, khôi ngô, tuấn tú và tài giỏi, tài năng nữa.
"Cha mẹ cưới cho ngài một người vợ trẻ đẹp có giới hạnh. Nhưng vì là đời sống cuối cùng nên ngài sanh dao động và tìm kiếm đến gặp bậc Ðạo Sư." (Tiểu Bộ, Tập III - Trưởng Lão Tăng Kệ, Chương I - Một Kệ (tiếp theo), Phẩm Mười, (XCIII). Eraka (Thera. 14))
Cha mẹ cưới cho ngài một người vợ trẻ đẹp, có giới hạnh nhưng lòng của ngài vẫn khao khát để giải thoát. Chỗ này là cái chỗ đặc biệt, nhà giàu, đẹp trai, tài năng, giỏi giang rồi có vợ đẹp nữa, có giới hạnh người vợ hiền đức nhưng mà không buộc chân được ngài, bên trong ngài vẫn là một cái niềm khắc khoải, ưu tư, khao khát làm sao để giải thoát. Ngài nhìn thấy cái đó vẫn thấy khổ thôi, vẫn thấy một cái lòng luẩn quẩn rồi cuối cùng cũng già, bệnh, chết thôi nhưng vì là đời sống cuối cùng cho nên ngài sanh ra dao động và đi gặp Đức Thế Tôn. Dao động là cái tâm ngài không có yên, tuy rằng ngài ở nhà giàu, đẹp trai, tài giỏi, vợ hiền đức mà cái tâm ngài vẫn không có an lòng, tâm vẫn dao động, vẫn thao thức, vẫn trăn trở, vẫn ưu tư, vẫn suy tư.
Mình có cái tâm đó chưa? Chúng ta có được cái tâm đó chưa? Cái tâm suy tư, cái tâm trăn trở, cái tâm lẹ lẹ để mình sạch hết những cái tham, sân, si khốn đốn, khổ sở này, phải có được cái tâm đó, phải làm phát khởi được cái tâm đó. Cái tâm đó là hướng tới Dự Lưu, thấy cuộc đời này nhiều cái bất an, nhiều cái lo lắng, nhiều cái tai họa, nhiều cái khổ đau. Mình muốn có một sự thoát ra, vượt ra, đi ra thì cái tâm đó thường xuyên có là cái tâm của bậc hướng Dự Lưu, phải có được cái tâm này thì tu mau tiến lắm.
"Khi nghe bậc Ðạo Sư thuyết pháp, ngài xuất gia, bậc Ðạo Sư cho ngài đề tài để tu hành, nhưng trong một thời gian ngài bị các suy tư bất thiện ám ảnh, đức Thế Tôn biết được tâm tư của ngài nên nói lên bài kệ dạy ngài, ngài rất hối hận sở hành của mình khi nghe lời Phật dạy, ngài trở nên tinh tấn, phát triển thiền quán, không bao lâu chứng quả A-la-hán" (Tiểu Bộ, Tập III - Trưởng Lão Tăng Kệ, Chương I - Một Kệ (tiếp theo), Phẩm Mười, (XCIII). Eraka (Thera. 14))
Chúng ta thấy tuyệt vời không? Đang thao thức, đang trăn trở, đang khao khát, đang tìm kiếm mà gặp trúng núi vàng, trúng cái kho báo, trúng bậc vô thượng, tối thượng đạo sư, còn ai phúc đức cho bằng. Người ta nói rằng gặp được chánh pháp là đại phúc, đại phước mà hiểu được chánh pháp là đại đại phước, mình có không? Mới hiểu thôi đó, còn hành được chánh pháp nữa thì tối thượng phước, gặp là cực kỳ phước báo rồi, hiểu là nhân đôi lên, mà hành được nữa thì cái này vượt lên trên phước báo, công đức vô lậu, hướng đến giải thoát. Thế nào là chánh pháp? Là mình nói nãy giờ đó, thấy được ngũ uẩn là khổ, thấy được những cái nguyên nhân làm cho mình khổ, thấy rõ được hai cái đó và mình biết con đường đi ra, đó là chánh pháp, nói gọn có bao nhiêu đó. Mình học hoài tới chết để thấy được đây là khổ, xác quyết một trăm phần trăm là Nhập Lưu rồi đó, là thành tựu được cái thấy của trí tuệ, cái thấy của bậc thánh.
Phải tập an trú trong cái thấy đó thường xuyên, nhiều góc độ, khía cạnh, mọi việc đến mình phải nhìn thấy được cái khổ tới nơi rồi. Người kia lại muốn kiếm chuyện với mình, mặt mày hầm hầm, nói chuyện móc họng thì mình biết khổ tới rồi nên thấy thương, thấy tội nghiệp. Một cái tâm thương rộng lớn, sống với một tâm thương rộng lớn chứ mình không có sân hận lại chi cho mệt, thương, thương, thương thật là thương. Sáng có ngồi trải tâm thương mười phút không? Thầy Huệ cho trải là tương ứng với bài mình quán lúc sáng khổ Thánh Trí, cái khổ đó làm cho mình có một tâm từ vô lượng, không có thấy khổ thì không có thành tựu được từ vô lượng tâm đâu. Nếu không có khổ lấy gì thương? Sướng thì lấy gì thương? sướng thương là thương dục, thương ái, thương tham chứ không phải thương bằng tâm từ.
Cho nên trở lại vấn đề ngài xuất gia thì Đức Thế Tôn mới cho ngài đề tài để tu hành, cái chữ đạo sư ở trong đây, trong trưởng lão Tăng Kệ, Ni Kệ nói chữ đạo sư là chỉ cho Đức Thế Tôn, mình nhớ nha, Đức Thế Tôn tối thượng của mình, còn đạo sư trong hiện tại thì mình hiểu được, mình phân biệt cái từ. Bậc đạo sư cho ngài cái đề tài để tu hành nhưng trong một cái thời gian ngài bị các suy tư bất thiện ám ảnh. Chúng ta thấy tu không phải dễ, trong đây nói có một câu ngắn như vậy thôi mà trong đó là cả nước mắt, mồ hôi, máu, cả một sự chiến đấu khóc liệt.
Các bậc hiền trí có chiến đấu không? Có chiến đấu nhiều không? Chiến đấu với vô số giặc, giặc tâm, giặc ý, giặc thọ, giặc tưởng, giặc hành, giặc sắc, giặc thức, đủ thứ giặc, năm thằng giặc là nói đơn giản, nói sâu vô trong là biết bao nhiêu những cái ác và bất thiện pháp. Mình tu nó có chống mình không? Nó nói "tu chi? Tu gì mà khó khăn, khổ quá", đó là giặc, là yêu quái trong tâm, ma tâm, tâm ma cho nên ngài bị các suy tư bất thiện ám ảnh.
"Ngài nói lên chánh trí của ngài với bài kệ sau đây:
Hỡi này Ê-ra-ka,
Khổ thay là các dục!
Hỡi này Ê-ra-ka,
Không lạc là các dục!
Ai tham dục các dục,
Là tham dục đau khổ,
Ai không tham các dục,
Là không tham dục khổ.
Hỡi này Ê-ra-ka!
Hãy biết là như vậy." (Tiểu Bộ, Tập III - Trưởng Lão Tăng Kệ, Chương I - Một Kệ (tiếp theo), Phẩm Mười, (XCIII). Eraka (Thera. 14))
Chúng ta thấy bài kệ ngắn của Đức Phật khai thị cho ngài, chỉ điểm cho ngài, điểm đạo cho ngài. Các suy tư bất thiện ám ảnh là những cái dục, ngài nhớ lại cái sự sung sướng ở gia đình giàu sang, phú quý, địa vị rồi cái thân thể đẹp đẽ nữa, khôi ngô, tuấn tú, rồi vợ hiền đức nữa thì như vậy là tất cả mọi khả lạc, khả hỷ, khả ý, khả ái liên hệ đến dục hấp dẫn mà bây giờ mình từ bỏ nó là cả một cái sức mạnh rồi mới đi tu, tuy nhiên cái thân từ bỏ nhưng cái tâm không chịu tự bỏ. Tại vì cái tâm mình nhất thời chưa được chứng đắc cho nên có lúc mình quyết liệt, mạnh mẽ lên núi tu thì thấy "nhớ nhà, về thăm má", nếu có gia đình thì nhớ chồng nhớ con, tội nghiệp mấy đứa cháu, tiếc nên quay trở lại.
Có những lúc mình cũng mạnh mẽ, mình nói bây giờ quyết tử luôn, tu trận này là cho mình diệt hết tất cả tham, sân, si, dục ái này hết nhưng có lúc mạnh, có lúc nó yếu xuống, có lúc thì nó bừng bừng lên ngọn lửa, có lúc nó lụi tàn. Cái tâm vô thường vậy đó, lúc thì cũng quyết liệt tu giải thoát luôn, lúc thì gặp mấy cái cảnh dục, mấy cái cảnh nó kêu gọi, nó réo, nó mời, nó rủ rê cho nên mình nhất thời giải thoát chứ chưa có chứng được giải thoát toàn diện, toàn phần, các bậc thánh mới chứng được toàn diện, toàn phần, tâm giải thoát, tuệ giải thoát hoàn toàn, còn mình là đang tranh tối, tranh sáng, có lúc thì cũng tiến tới và có lúc dừng lại, có lúc thì lùi luôn, cái lúc mà mình cứ tiến tới hoài, tới hoài, tới hoài là mình tu tinh tấn, mình ì ạch đứng tại chỗ, dậm chân tại chỗ cũng dễ lùi trở lại, thối đọa.
Cho nên mình đọc ở trong đây đừng có đọc phớt phớt qua chữ, mình phải đem cả cuộc đời, cả cái sự tu của mình đặt vô đó rồi quán chiếu ra thì mới thấy được, mình mới hiểu được ngài cũng là hiểu được mình cũng là hiểu được chúng sinh. Mình đọc hết chữ là không được, mình phải đọc được cái tâm của mình, đọc được cái nghiệp của mình, đọc được những sự thật ở trong con người của mình, đọc được ngũ uẩn ở bên trong của mình. Một thời gian như vậy ngài bị cái dục đó quậy, những cái bất thiện đó ám ảnh, nhiều khi mình bị chửi chừng năm bảy câu thôi, ba mươi giây thôi nhưng giờ ba tháng sau nó có hết không? Nó ghê là cái ám ảnh này đó, cái trực tiếp có chút xíu thôi, chỉ có một tí thôi nhưng mà lúc trở về, cái pháp tưởng, pháp tư, những cái hình bóng, cảm giác, những suy tư đó cứ chập chờn rồi nó ẩn ẩn hiện hiện.
Nó là ma, nó ảnh ám ảnh trong tâm, nó cứ làm hoài, dục hay là sân cũng vậy thôi, mình không có đủ tuệ lực, tuệ quán, cái tuệ trí để mình đánh phá được những cái hình ảnh, cảm giác, suy nghĩ đó thì nó quật ngã mình thôi. Mọi người có thấy rõ chỗ này chưa hỡi những chiến sĩ của Phật giáo? Hãy mạnh mẽ lên, chiến đấu ở trong nội tâm.
Như vậy nó ám ảnh, những suy tư bất thiện ám ảnh cho nên tại sao những người tu tinh tấn là cứ cho nghe pháp, hành pháp, trì pháp này nọ kia, mình dập nó, mình đánh phủ đầu hết. Còn mấy người làm biếng tu thì "tu hoài vậy? Ngồi thiền hoài vậy? Sao mà giảng pháp nghe hoài vậy?". Người ta cho tu nhiều, học nhiều phải cảm ơn chứ, phải biết ơn những bậc chân nhân, đằng này cho tu còn sân hận, khó chịu nữa, vậy đó rồi làm sao, hết ai cứu nổi cho nên mình thấy chỗ này hay.
Đức Thế Tôn biết tâm tư của ngài nên mới nói bài kệ đó, hỡi này Ê-ra-ka các dục không có vui, cái ham muốn đó không có vui đâu, thật sự là nó không có vui đâu. Ai mà tham dục các dục là tham dục đau khổ, ai mà ham muốn các dục là ham muốn đau khổ, ai không tham các dục là không tham dục khổ, như vậy thì tham dục là đồng nghĩa với khổ, muốn cái dục tức là muốn cái khổ, tham cái dục chính là tham cái khổ, không tham cái dục tức là không tham cái khổ, không muốn cái dục tức là không còn muốn cái khổ nữa.
Khi Đức Thế Tôn nói cái bài kệ này ngài rất là hối hận cái sở hành của mình, khi nghe lời Phật dạy ngài trở nên tinh tấn triển khai thiền quán, không bao lâu chứng quả A-la-hán. Khi mà Đức Phật dạy như vậy ngài trở nên tinh tấn, triển khai thiền quán, không bao lâu đoạn tận hết tham dục, dục ái, chứng thánh quả A-la-hán.
Bằng tất cả tấm lòng thành kính chúng con đảnh lễ tôn giả Ê-ra-ka.
Bằng tất cả tâm lòng thành tính chúng con đảnh lễ A-la-hán Ê-ra-ka.
Chúng ta nhớ được hai vị A-la-hán, một vị bị cùi, một vị khôi ngô, tuấn tú, nói đơn giản là đẹp trai, dễ nhớ phải không ạ? Còn cái tên nhiều khi mình khó nhớ, bây giờ tới một vị này được ăn nhiều đồ ăn ngon lắm, cái này rất dễ nhớ.
IV. Vị Thánh Tăng Paripumaka
"Trong thời đức Phật hiện tại, ngài sanh ở Kapilavatthu trong gia đình dòng họ Thích-ca. Vì khả năng và tài sản của ngài được viên mãn. Ngài được biết với tên là Paripumaka (viên mãn), ngài có đủ điều kiện để luôn luôn thưởng thức các vị ăn ngon." (Tiểu Bộ, Tập III - Trưởng Lão Tăng Kệ, Chương I - Một Kệ (tiếp theo), Phẩm Mười, (XCI). Paripunnaka (Thera. 13))
Ngài sanh ở Kapilavatthu tức là thành Ca-tỳ-la-vệ, trong gia đình dòng họ Thích-ca, như vậy là hoàng thất, hoàng tộc, hoàng gia. Vì khả năng và tài sản của ngài được viên mãn cho nên ngài có cái tên như vậy, cái tên của ngài nghĩa là viên mãn, mình kêu là A-la-hán viên mãn đi, dễ nhớ hơn nữa là ăn ngon. Ngài có đủ điều kiện để luôn thưởng thức các món ăn ngon, đương nhiên ở trong hoàng thất, hoàng tộc, hoàng gia thì chắc có vẻ là ngài cũng thích về thực phẩm, thích thưởng thức hương vị của các món ăn.
"Nhưng khi ngài được nghe bậc Ðạo Sư dùng các đồ ăn khất thực, ngài nghĩ: 'Thế Tôn được nuôi dưỡng rất được nuông chiều, nhưng nay Ngài lại dùng các đồ ăn như vậy để hưởng Niết-bàn an lạc" (Tiểu Bộ, Tập III - Trưởng Lão Tăng Kệ, Chương I - Một Kệ (tiếp theo), Phẩm Mười, (XCI). Paripunnaka (Thera. 13))
Thế Tôn cũng là hoàng thái tử còn hơn ngài nữa mà bây giờ đầu trần chân đất, ôm bát đi ăn, ngài cũng là con cháu của hoàng tộc mà chưa phải là thái tử, chưa phải là hoàng tử, chỉ là dòng dõi của hoàng thất thôi nhưng từ đó tới giờ thưởng thức các món ăn ngon không à. Ngài nghe tin thái tử Tất-đạt-đa tu hành, chứng ngộ thành Phật mà bây giờ ôm mình bát đi ăn xin thì quý vị nghĩ ăn xin là bữa nào cũng có đồ ngon hay sao? Chúng ta nhớ có những bữa Thế Tôn không có ai cho cái gì hết, về uống nước trừ thôi, thậm chí là cho cái loại đồ ăn của ngựa. Bây giờ con đi vô trong cái vùng sâu vùng xa, ở trong những vùng dân tộc đồng bào người ta rất là nghèo khó, khổ, không có áo mặc nữa, trời lạnh cũng không có áo ấm nữa mà bây giờ là hai ngàn sáu trăm mấy chục năm so với hồi xưa. Quý vị qua Ấn Độ hoặc xem gián tiếp ở trên mạng mình thấy nghèo khổ không, rất là nghèo, rất là khổ, đồ ăn không có ăn thì lấy gì đem cho, đem cúng, phải không?
Nhà không có ăn lấy gì cúng, phải dư giả mới đem cúng chứ, mà người ta cũng không biết ông Phật là ông nào nữa, bây giờ đạo Phật được truyền bá ra cùng khắp người ta mới tôn trọng, đảnh lễ, tôn thờ chứ lúc đó người ta không biết, người ta thấy ông thầy tu thôi, thậm chí có những vùng còn phỉ báng nữa cơ. Tại vì người ta đi theo đạo Bà-la-môn là trước Đức Phật hàng ngàn năm, khi Đức Phật ra đời mới sáng lập Phật giáo thì cái này mới mẻ lắm. Như vậy là Đức Thế Tôn có những buổi nhịn đói uống nước thôi, thậm chí ăn đồ ăn của ngựa, gọi là mã mạch, thức ăn cho ngựa ăn. Bây giờ mình thấy như ở bên Đắk Nông ở chỗ làng tu chúng con là người ta trồng mấy cái bắp, cái ngô, cái đó người ta gọi thức ăn gia súc, thực phẩm cho gia súc, nó cứng lắm mình ăn không được, người ta đem mấy cái đồ đó cho Đức Phật ăn.
Chúng ta thấy Đức Phật rất là cực khổ, không có đơn giản như mình. Cái vị hoàng thân viên mãn này chiêm nghiệm mình ăn đồ ăn ngon không, ngày nào mình cũng ăn sơn hào hải vị, những món cao lương mỹ vị ngon lành, dọn ra bàn mấy chục món vậy chứ mỗi thứ gấp một miếng thôi vì ăn không hết. Bây giờ Thế Tôn mà là một thái tử như vậy bỏ đi tu rồi chứng đắc đạo quả, thành bậc thánh nhân mà giờ ôm cái bình bát đi ăn xin thì ngài mới suy ngẫm lại, ngài suy nghĩ "Thế Tôn được nuôi dưỡng rất được nuông chiều, nhưng nay Ngài lại dùng các đồ ăn như vậy để hưởng Niết-bàn an lạc. Vậy sao ta lại ham muốn đồ ăn ngon?".
Chúng ta đọc kinh thì thấy rằng Thế Tôn được phụ hoàng xây ba cái tòa lâu đài, mỗi một mùa là ở một cái một cái lâu đài khác nhau, mùa lạnh ở lâu đài mát, mùa đông thì ở lâu đài ấm. Ấn Độ có ba mùa thôi, mỗi một tòa lâu đài như vậy là bao nhiêu những cái để thụ hưởng dục lạc đầy đủ hết tất cả, một con người như vậy mà từ bỏ hết tất cả. Bây giờ mình còn kém hơn ngài, thấp hơn ngài, mình hưởng thức ăn ngon vậy mà ngài ôm bình bát đi ăn xin. Ngài thấy có một sự xúc động, xót xa ở trong lòng vì là bà con cùng một quyết thống mà, Thế Tôn khi chưa xuất gia được nuôi dưỡng rất được nuông chiều nhưng nay ngài lại dùng đồ ăn xin của người ta để hưởng Niết-bàn an lạc, vậy sao ta lại ham muốn đồ ăn.
Chúng ta nhớ câu chuyện này để bớt ham ăn, nhiều khi ăn không là hết giờ tu rồi, nấu món này món kia, đi chợ về rồi nhặt rau, rửa rau rồi chế biến, ăn một bụng no rồi khỏi ngồi thiền, nghe pháp, mở pháp lên cái nằm đó ngái khò khò, mình phải ăn nhẹ nhàng thì khỏe lắm, Đức Phật dạy vua Ba-tư-nặc ăn ít tuổi thọ dài, được trường thọ.
"Lúc bấy giờ, vua Pasenadi nước Kosala thường ăn bữa ăn thịnh soạn.
Rồi vua Pasenadi nước Kosala sau khi ăn xong, no đủ, thỏa thích, đi đến Thế Tôn sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn và ngồi xuống một bên.
Rồi Thế Tôn sau khi biết vua Pasenadi nước Kosala đã ăn xong, no đủ, thỏa thích, ngay lúc ấy nói lên bài kệ:
Con người thường chánh niệm,
Ðược ăn, biết phải chăng,
Chừng mực, cảm thọ mạnh,
Già chậm, tuổi thọ dài" (Tương Ưng Bộ, Tập I - Thiên Có Kệ, Chương III. Tương Ưng Kosala, II. Phẩm Thứ Hai, III. Đại Thực: Ăn nhiều)
Cho nên mình ăn mình chỉ bảy phần thôi, đừng có ăn lên tám, chín, ăn bảy mươi phần trăm thôi hay là ăn bảy phần mười thôi để dễ tiêu hóa, nó cũng nhẹ để mình nghe pháp, mình ngồi thiền, mình đi thiền hành. Gần tới giờ tu, gần tới giờ ngồi thiền, gần tới giờ ngủ mà mình ăn một tô to bự thì bao tử quá tải, làm việc không nổi. Xin thưa các ngài là cái bệnh của mình bảy mươi, tám mươi phần trăm là từ cái ăn, "bệnh tùng khẩu nhập, họa tùng khẩu xuất" nghĩa là bệnh từ miệng đi vô mà họa cũng từ miệng đi ra, tội phước cũng từ cái miệng. Cái miệng có tới mấy giới, từ bỏ nói dối, từ bỏ nói lưỡi hai chiều, từ bỏ nói lời hung ác, từ bỏ nói lời phù phiếm.
Mình tập cái nào cần mới nói chứ không phải lúc nào cũng bép xép, hễ gặp là nói mà không biết nói cái gì, nói phù phiếm, vô nghĩa, vô ích, hao hơi tốn sức, mất trí tuệ. Ăn cũng vậy, bây giờ ăn nhiều thuốc độc, nhiều hóa chất cho nên làng tu của chúng con hay là Linh Quy chương trình sắp tới là tự canh, tự tác, tự túc rau cải, củ quả, sắp tới phát triển về phương diện này, thậm chí là ở làng tu cung cấp thức ăn cho khóa tu của mình, khai triển về cái vấn đề để cho mình bớt bệnh, thân mình an, cái tâm mình mới tu được, thành ra trong vấn đề ăn uống mình để tâm kỹ mới tu được.
"Bị dao động, ngài từ bỏ gia đình, xuất gia, lấy đề tài tu tập về thân từ nơi bậc Ðạo Sư, cuối cùng ngài chứng quả A-la-hán." (Tiểu Bộ, Tập III - Trưởng Lão Tăng Kệ, Chương I - Một Kệ (tiếp theo), Phẩm Mười, (XCI). Paripunnaka (Thera. 13))
Ngài xót xa, ngài đau lòng, ngài thương Đức Phật, chúng ta thấy tình thân cũng hay, có nhiều người con đi tu thì bà mẹ thương quá rồi đi tu theo, đi theo vô chùa ở giống như ba con hay mẹ cũng vậy, con không đi tu thì chưa chắc ông Năm với bà Năm giờ này được vậy đâu. Đó là nhờ tình thân đó, từ cái đó kéo lên, cũng vậy, ngài cũng thương Đức Thế Tôn, dao động ở đây là ngài đau lòng, xót xa, ngài thương. Ngài mới từ bỏ gia đình đi xuất gia, trong kinh nói vắn tắt nhưng mình phải hiểu ngài có nghe pháp của Đức Phật, thấy được phong thái của Đức Phật, nghe được những lời dạy rồi cảm động, cảm xúc, dao động, chấn động mới trăn trở, suy tư rồi mới quyết định đi tu. Trong đây nói đơn giản có mấy chữ thôi mà mình phải biết cả một cái quá trình.
Ngài lấy đề tài tu tập về thân từ nơi bậc Ðạo Sư là thân hành từ đối với Đức Thế Tôn, ngài rất quý kính Đức Phật cho nên ngài lấy đề tài phụng dưỡng, phụng thờ, kính trọng Đức Phật bằng cái tâm từ ái, cái tâm biết ơn, cái tâm kính quý. Cho nên nãy con có nói một người thành tựu chánh kiến rồi niệm ơn Đức Phật cũng chứng thánh quả nữa, cái vị này tu như vậy đó, ngài nhớ ơn Đức Phật, ngài cảm ơn Đức Phật rồi ngài làm tất cả mọi cái, hướng cái tâm từ về Đức Phật, cũng như bây giờ mình thương kính sư phụ nhiều quá rồi mình có ráng tu không hay mình thấy bậc đạo sư đó mình quý kính quá, mình càng quý kính thì mình càng nỗ lực tu. Mình càng tôn trọng thì mình càng hết mình để hành trị, như vậy gọi là tu tập về thân từ nơi bậc đạo sư, lúc nào ngài cũng nhớ về Đức Phật, ngài làm cái gì cũng nhớ, ngài nói gì cũng nhớ, ngài nghĩ gì cũng nhớ, phải làm cho được lời dạy của Đức Thế Tôn.
Thế Tôn thương mình hết cỡ như vậy, ngài đem hết ruột gan, vắt hết tủy não truyền pháp cho mình vậy mà bây giờ mình sống vậy. Có xấu hổ không? Có nhục nhã không? Có tội lỗi không? Có bất hiếu, bất kính không? Hễ nhớ Đức Thế Tôn là phải ráng lên, nỗ lực lên, phải thương ngài, phải đền ơn đáp nghĩa ngài, cái đề tài đó viên mãn trong con người ngài rồi cuối cùng ngài chứng thánh quả A-la-hán.
"Rồi ngài nói lên bài kệ này:
Dầu có hưởng món ăn,
Như cam lồ trăm vị,
Nhưng không thể sánh bằng,
Món ta ăn hôm nay;
Đây là Pháp vi diệu,
Được Phật Go-ta-ma,
Bậc tri kiến vô lượng,
Đã thuyết giảng cho ta." (Tiểu Bộ, Tập III - Trưởng Lão Tăng Kệ, Chương I - Một Kệ (tiếp theo), Phẩm Mười, (XCI). Paripunnaka (Thera. 13))
Dầu có hưởng món ăn như cam lồ trăm vị nhưng không thể sánh bằng món ta ăn hôm nay, đây là pháp vi diệu được Phật Gotama bậc tri kiến vô lượng đã thuyết giảng cho ta. Chúng ta gọi là A-la-hán ăn ngon cho dễ nhớ, dầu cho có hưởng món ăn như cam lồ trăm vị nhưng không thể sánh bằng món ta ăn hôm nay. Món ta ăn ở đây là ăn pháp vi diệu được bậc Chánh Giác Gotama, bậc thấy biết vô lượng thuyết giảng cho ta, món ăn cam lộ bất tử, ăn vô xong là vĩnh viễn không bao giờ chết, đạt được Niết-bàn bất tử.
Hôm nay là mình được mấy vị A-la-hán, vị thứ nhất là gì vị A-la-hán cùi, kế là A-la-hán đẹp trai, nói cho dễ hiểu, ba là A-la-hán ăn ngon. Ba cái đề tài này mọi người về quán chiếu thêm, từ giã cái đẹp của thế gian để đạt được trí tuệ xuất thế, từ giã thân thể bệnh hoạn để đạt thân kim cương bất hoại, từ giã món ăn thấp hèn để đạt được hương vị bất tử. Chúng ta chêm nghiệm chia sẻ cảm thọ của mình về ba vị thánh Tăng, chúng ta có chiêm nghiệm gì về ba vị thánh Tăng, ba bài học sống động, ba đề mục thiền quán, ba cái cuộc đời cao thượng, ba cái ánh mặt trời chói lọi nhân thiên, ba cái mảnh ruộng phước vô thượng của chư thiên và loài người mà hết sức là bình dị, hết sức là gần gũi.
Mình có trong đó không? Mình có bệnh không? Mình có thích ăn không? Mình có thích đẹp không? Mình có trong đó hết trơn mà mình vẫn còn mê hoài, các ngài ở trong đó mà các ngài vượt thoát ra, chiêm nghiệm đi, chia sẻ đi, nhìn lại ba cái phương diện đó trong con người mình. Khi mình bệnh mình có tu được không? Khi mình ăn mình có quán gì không? Khi mình được những cái đẹp trên cuộc đời này, được cái thân đẹp, được cái đồ đẹp, được cái nhà đẹp được, những cái đẹp mình có sự tu như thế nào?
V. Trình pháp
Cô Liên Trâm: Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật, bậc tôn kính của chúng con, bằng sự chân thành tri ân trên sư phụ ân sư, con xin kính thưa quý Tăng, chư Ni, các sư cô cùng các bậc hiền trí. Chiều hôm nay có mặt tại chánh điện chùa Bửu Liên một lần nữa con được sư phụ cho nghe bài thiền quán, đặc biệt là sư phụ nói về ba vị A-la-hán, con không biết sao từ lúc con xuống núi đến giờ con khó khóc lắm, con cũng không có cách nào để gột rửa được cảm thọ nhưng cứ mỗi lần con đến với pháp Phật, kinh tạng Nikāya nói chung và những bài thiền quán của sư phụ thì cảm thọ trong con rất là dạt dào, một loại cảm thọ mà con rất là khó tìm ở bên ngoài.
Khi ngồi nghe từng tấm gương của mọi bậc A-la-hán mà sư phụ đã chia sẻ với chúng con thì cảm thọ đầu tiên của con trò là rất xấu hổ. Con xấu hổ là vì con nhìn thấy được mình ở trong một phần của ba vị A-la-hán, vị thứ nhất là vị A-la-hán mà sư phụ nói về bệnh tật, cũng có nhiều lần con đến với trại cùi ở Di Linh và những hình ảnh của các con trẻ ở nơi đó đã làm cho con rất là xúc động. Hôm nay con được sư phụ cho mình hồi tưởng lại những hình đó, vị thứ hai là vị có đầy đủ những sắc tướng, điều kiện để thụ hưởng ở thế gian này nhưng ngài đã có trí tuệ và sự giác ngộ để cho chúng con có bài học. Vị cuối cùng con cũng cảm thọ được ở ngài đó là sự đầy đủ về vật thực, thọ thực, trong con lúc nãy khi sư phụ cho hát bài kinh về quy y thì trong con có một sự run động, sự run động này con có thể cảm được rất rõ về sự mang ơn lời dạy của bậc cha lành là Đức Thế Tôn.
Nhờ những lời này con cảm thấy rất là hổ thẹn vì thấy mình đã có những khoảng thời gian trải qua những sự thụ hưởng của ngũ dục thế gian, những sự ngã mạn, kiêu căng khi mình có đầy đủ những cái điều kiện vật chất. Và cuối cùng con được gặp thánh pháp là một sự phúc phần may mắn cho con trò để nhận ra ra từng bước. Ý hành của con lúc con khởi lên những giọt nước mắt hiền thiện là vì con biết ơn Đức Phật, con không dằn được sự biết ơn vô tận vì hơn ai hết chính người nhà và mẹ con đã được thọ ân trên pháp bảo. Người mẹ già đã từng bước tuy sức tàn lực kiệt nhưng mẹ con rất là chịu nghe pháp và anh chị con đã được đến Linh Quy Pháp Ấ dưới sự trưởng dưỡng và hướng dẫn của quý thầy, quý cô nơi đó và lòng từ của sư phụ để ngày hôm nay tất cả các thành viên trong gia đình cùng con đều từng bước thức tập ngũ uẩn mỗi đêm bên cạnh mẹ. Con cảm thấy rất là hạnh phúc khi từ bỏ tất cả những điều kiện vật chất bên ngoài, an trú trong pháp và con có mặt nơi đây cũng muốn cảm tạ ân đức của tam bảo và đặc biệt là tri ân trên sư phụ đã không quảng đường xa xuống đây truyền chánh pháp cho chúng con. Một lần nữa con cảm ơn cha già và con sẽ cố gắng. Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật.
Sư Phụ: Thưa chư tôn đức và chư hiền trí hôm nay có một Phật tử, cô được thỉnh mẹ đi dự khóa tu, đây cũng là cơ hội quý báu và cô muốn thể hiện lòng biết ơn đối với mẹ thì con rất là hoan hỉ để mời hai mẹ con bước lên để thực tập thiền biết ơn. Đây là cơ hội rất quý báu để mẹ được lắng nghe tình thương, lòng hiếu thảo của con đối với mẹ, không dễ gì mẹ con cùng được đi tu học, càng không dễ gì được gặp chánh pháp, càng không dễ gì được hiểu chánh pháp và được thực hành chánh pháp nên đây là những giây phút hiếm có hy hữu, quý báu trong cuộc đời ở trong dòng luân hồi này. Được làm mẹ con với nhau là cả một phước lành, cả một tình thương, cả một trái tim của mẹ. Cô quỳ hướng mặt về mẹ chiêm nghiệm những gì mẹ đã hy sinh, những gì mẹ đã đổ xuống để cho mình được đứng lên, mẹ đã tiều tụy, yếu gầy để cho mình được vững mạnh, được thành đạt trên cuộc đời này và giờ phút này cô hồi tưởng lại tất cả những hy sinh của cha mẹ.
Bằng tất cả tấm lòng biết ơn của mình giờ này cô hãy bày tỏ với mẹ.
Cô Phật tử: Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật, con kính chiên sư phụ, con kính tri ân các quý thầy, quý cô và tất cả các bậc hiền trí. Từ khi con biết đến dòng kinh Nikāya cách đây hơn một tháng và con chạm nhất là lòng biết ơn của sư phụ đã giảng, con ngày đêm xem về lòng biết ơn, con quán chiếu về mình, con thấy mình thực sự là một đứa con vô cùng vô ơn. Con không chỉ vô ơn với người mẹ còn sống mà con vô ơn với tất cả những người cha đã sinh ra con, từ đó con rất là đau khổ, con vô cùng dằn vặt với những cái vô minh của mình. Sau đó con tác ý nhất định phải lên trên núi để gặp sư phụ, đảnh lễ sư phụ để con được học, được hành và để con có được cơ hội trả ơn cho cha mẹ của mình và con cũng đã thực hiện được điều đó. Rất là may mắn cho con là hơn một tuần trước thì con có lên trên núi và con cũng đã tác bạch với sư phụ là con mong có một ngày mẹ cùng với con đi gặp sư phụm được đảnh lễ sư phụ.
Ngày hôm nay con cũng đã làm được điều này và con cũng vô cùng biết ơn sư phụ, mặc dù con không báo trước nhưng sư phụ vẫn cho con một cái ân huệ này, con vô cùng biết ơn ngài, cho con xin phép được nói đôi lời với mẹ con. Con xin lỗi mẹ, từ ngày mẹ sanh con ra chưa một ngày nào con làm cho mẹ được an lòng, dù khi con bé thì con cũng đã làm khổ mẹ bằng những cái bệnh tật mà con mang. Nhưng con không biết mà lúc nào con cũng chỉ trách mẹ, con có một bài trình pháp với sư phụ hành trang của con vào đời đó là sự hận cha và ghét mẹ nhưng bây giờ con đã học, con đã hiểu, con mong mẹ tha lỗi cho con tất cả những điều con làm cho mẹ phải đau khổ, phải buồn lòng về con. Mong mẹ hãy tha lỗi cho con, con xin biết ơn.
Nhờ sự chịu đựng của mẹ, nhờ sự vượt qua những cái ô nhục của mẹ để con có được thân hình ngày hôm nay. Con nhớ con sẽ không làm cho mẹ buồn lòng, ngày mai là ngày giỗ của bố, con cũng mong bố sẽ hiểu được sự thay đổi của con mà bố sẽ tha thứ cho con cũng như con đã tha thứ cho bố. Tâm nguyện của con giờ này các cháu cũng đã lớn rồi, chỉ mong mẹ hãy dành thời gian cho chính mẹ, mẹ hãy tập trung vào chính mẹ, chỉ có tu tập mới thay đổi được nên con mong mẹ hãy đồng hành cùng con. Con biết ơn mẹ rất là nhiều.
Sư Phụ: Mẹ có vào lời trong lúc này với người con gái con.
Mẹ: Con kính bạch sư phụ, các sư cô và tất cả đại chúng, từ trước đến giờ vì cuộc sống mưu sinh của con người, cho nên con cũng sống vào tình cảnh thiếu thốn ở nhà quê cho nên cũng không lo cho các con. Đến hôm nay con đến đây con được gặp sư phụ, các sư cô và tất cả đại chúng con mới hiểu được những cái cuộc sống trước đây nó như thế nào đến bây giờ cho nên con cũng không thể trách các con được. Mẹ sẽ tha thứ cho con tất cả. A-di-đà Phật.
Sư Phụ: Cô có mong muốn con mình sau này như thế nào không? Cô quay hướng về mẹ để nghe mẹ dạy
Mẹ: Con muốn rằng con mình sau này nó sẽ tỉnh thức ra được các điều từ trước đến nay nó lầm lỡ. Con cũng mong rằng con nó đi theo đạo của thầy cho nên nó mới hiểu được những cái Phật pháp, những cái giáo lý mà trước đây cứ mải mê làm ăn, cứ mải mê bon chen cuộc sống, cũng không nghĩ gì đến chuyện gia đình, cũng không có nghĩ gì đến những chuyện cha mẹ gì hết. Cho nên giờ thì con đã tỉnh thức được ra thì con cũng rất mừng và rất cảm ơn sư phụ, các sư cô và các đại chúng đưa dắt con của con nó được hiểu được đạo lý. A-di-đà Phật.
Sư Phụ: Cô tăng cho mẹ bông hướng dương này, từ nay về sau cô hướng về mặt trời hướng về mặt trời ân đức, hướng về mặt trời trí tuệ, hướng về mặt trời hiếu thảo để đền đáp ân đức cao dày của mẹ, của những người đã có ân nghĩa, ân tình, ân đức với mình. Chúng ta cho tràng vỗ tay lớn lên ạ, đây là giây phút hạnh phúc nhất của người làm mẹ, cũng là giây phút ngọt ngào nhất của những người làm con, cũng là giây phút đẹp nhất của một người Phật tử, là những cảm thọ hiền thiện, hiền trí, hiền đức, hiếu thảo, hiếu hạnh, hiếu nghĩa, hiếu từ.
Nguyện rằng cảm thọ này, hình ảnh này, những suy nghĩ này sẽ thấm vào tất cả tim, tất cả tâm của tất cả người con trên khắp hành tinh này, luôn sống hiếu hạnh, hiếu nghĩa, hiếu lễ, hiếu từ, hiếu thảo đối với cha mẹ, đối như những bậc có ân đức, ân nghĩa với mình.
Phật tử 2: Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật, con kính trên sư phụ tôn kính, con kính trên quý thầy và các bậc hiền trí. Dạ sau khi nghe thiền biết ơn của cô với mẹ cô, lòng con rất là xúc động, con nghĩ đến mẹ con, hồi xưa con chưa biết đến chánh pháp con đã làm nhiều lỗi lầm với mẹ, con làm cho mẹ buồn lòng. Mỗi khi con đi làm về nhiều chuyện uất ức trong công ty, khi mẹ thấy con về mẹ mừng lắm, mẹ con tâm sự với con, con lại không biết là mẹ thương con nhưng mà cái sự bực tức trong công ty con lại đổ cho mẹ.
Bây giờ con biết đến chánh pháp nhưng mà con không có cơ hội để quỳ lạy mẹ, người đã hy sinh cho chúng con, mẹ sanh ra chúng con mới có mười mấy ngày mẹ phải làm lao động cực khổ, làm những việc vất vả để nuôi chúng con lại còn bị ba con đánh đập mỗi khi ba con buồn hoặc đi nhậu về. Con thật có lỗi với mẹ, giờ con muốn sám hối với mẹ mà mẹ cũng không con nữa. Xin mẹ ở trên có linh thiêng nghe lời sám hối của con.
Sư Phụ: Ai còn cha mẹ hãy nhớ hình ảnh này, đừng để cho mẹ mất rồi mình mới sám hối, nếu mình còn cha mẹ bằng tất cả tấm lòng hiếu thảo của mình, hãy bằng tâm từ, bằng lời nói hiền từ, bằng hành động hiền kính, hiền từ đối đãi với mẹ cha để sau này mình không có hối hận. Hiếu là gốc của trăm hạnh, là cội của tất cả đạo đức, phước lành cho nên những giây phút này khơi gợi lên những cảm thọ hiếu từ, hiếu thảo vô cùng quý giá, nhiều khi suốt cuộc đời của mình chưa một lần mình quỳ trước cha mẹ để sám hối, để mình cảm ơn.
Cho nên các vị nào có thể nên khuyến khích cha mẹ tối thiểu đến chùa một lần, hoặc lên núi một lần để mình làm thiền biết ơn ít nhất một lần có thể để cha mẹ được nếm được hương vị ngọt ngào, để mình có thể trải nghiệm được những cảm xúc hiếu hạnh ngắn ngủi nhất trong cuộc đời và từ đó về sau mình tiếp tục tăng trưởng phát triển lớn mạnh, sự hiếu thảo trong người của mình, sự biết ơn, sự nhớ ơn, sự cảm ơn từ đây cho đến mạng chung cho đến nhiều kiếp sau. Nếu mình chưa cắt đứt dòng luân hồi sanh tử mình vẫn tiếp tục là một người con hiếu thảo, ân đức, nghĩa tình.
Phật tử 3: Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật, kính thưa sư phụ, kính thưa quý thầy, kính thưa quý vị hiền giả, hôm con lại cảm thấy nhớ về bố con nhiều hơn, con đã làm thiền biết ơn với mẹ con ba lần nhưng mà chưa có lần nào con làm với bố con cả vì bây giờ con không còn cơ hội nào nữa rồi. Con nhớ lúc bố mất, khi con nắm tay bố thì lúc đó đã là một bàn tay lạnh ngắt rồi, nó không phải là một bàn tay ấm áp mà con từng biết nữa. Khi đó con nhận ra là đã bao lâu rồi mình mới được nắm tay bố mà lần cuối cùng nó lại là bàn tay lạnh ngắt như vậy, không còn hơi ấm, không còn biết được là con trai mình đang nắm tay mình.
Con biết là bố vẫn còn ở bên con, con vẫn còn cảm nhận được điều đó, từng hơi thở, từng giọt máu của con chính là bố mà từ trước đến giờ con chưa từng nói một lời cảm ơn, chưa từng ôm bố hay nắm tay bố một lần nào. Thật sự chỉ đợi đến khi bố đã mất rồi, đã là một cái xác không hồn, cứng đờ và lạnh ngắt thì lúc đó con mới biết xót thương, mới biết được trước giờ mình từng sai lầm, phạm lỗi nhiều như thế nào. Con chợt nghĩ đến bà nội, con chưa gặp bà nội con lần nào vì bà nội đã mất quá sớm, con đấy thương bố rất nhiều vì khi bà nội bố mới có 16 tuổi. Mỗi lần đám giỗ bà nội, các cô chú kể là bố vào trong nhìn lên bàn thờ, nhìn lên di ảnh bà nội mà khóc thút thít trong đó nên mỗi lần mẹ con nghe bài hát "mẹ ơi con đã già rồi, con ngồi nhớ mẹ khóc như trẻ con" thì con cứ nghĩ đến hình ảnh của bố nhớ đến bà nội bơ vơ, lạc lõng, còn quá trẻ mà đã mồ côi mẹ rồi.
Còn con bây giờ vẫn còn mẹ, tại sao trước giờ con lại không biết trân trọng điều đó, lúc con làm mẹ con buồn dù là con có nói hết bao nhiêu lần với mẹ con đi nữa, con nghĩ con cũng không thể giải bày hết nỗi lòng của mình, cũng không thể cảm ơn mẹ con hết lòng được. Càng thương mẹ thì con càng thương những người mẹ trên thế gian nhiều hơn, những người mẹ trên thế gian này cũng cực khổ giống như mẹ con vậy, giống như bà nội con, bà ngoại con. Bà ngoại con cũng cả một đời vất vả lo cho con cháu, ngày mà mẹ mang thai anh em tụi con, mẹ biết là mẹ mang thai sinh đôi mẹ rất là sợ sẽ nuôi không được, mẹ nằm trên giường mà mẹ cứ run, mẹ gọi điện về cho bà ngoại, mẹ khóc với bà ngoại.
Bà ngoại lúc đó chỉ nói với mẹ là nếu mẹ nuôi không được thì bà ngoại nuôi, chỉ bằng một câu như thế rồi mà mẹ con có thêm sức mạnh, có thêm dũng khí để nuôi hai anh em con đến bây giờ. Vậy mà càng về già bà ngoại mất trí nhớ, bà ngoại không thể nào nhận biết được anh em tụi con, không thể nhận biết được mẹ con, không thể nhớ được là bà ngoại đã yêu thương hai anh em tụi con nhiều như thế nào, còn tụi con cũng còn quá nhỏ để cảm nhận được điều đó.
Đến bây giờ nghĩ lại con lại càng thương cả gia đình con, bà nội, bố con, tất cả ông bà, cha mẹ con, con càng thương mọi người nhiều hơn. Sao trước giờ mình chưa từng biết ơn, chưa từng nghĩ về những ơn nghĩa đó mà cứ buông lung, không nghe lời, lắm lúc làm mọi người buồn. Con xin cảm ơn sư phụ, từ ngày biết đến chánh pháp của sư phụ, con cảm nhận ra là mình đã sai lầm rất nhiều, rất nhiều, nhưng con đã học được cách sửa đổi dần dần từ đó, con xin biết ơn sư phụ.
Sư Phụ:
Tâm biết ơn này tỏa rộng
Cùng khắp thế giới này
Tâm biết ơn này tỏa rộng
Khắp trời đất bao la.
./.