Thư Viện Linh Quy
← Danh sách

TỰ MÌNH TIẾN LÊN 2

2026-03-03 00:53:03
TỰ MÌNH TIẾN LÊN 2

Thích Minh Thành

MỤC LỤC

TOC \o "1-3" \h \z \u I.Thế giới tăng thượng PAGEREF _Toc113197376 \h 1

II.Pháp tăng thượng PAGEREF _Toc113197377 \h 6

III.Quyết chí tiến tu PAGEREF _Toc113197378 \h 9

IV.Trình pháp PAGEREF _Toc113197379 \h 11

Thế giới tăng thượng

Chúng ta tiếp tục tìm hiểu tiếp bài kinh “Tăng Thượng”. Mình đã học phần “Ngã tăng thượng” – nghĩa là tự mình bước lên, tiếp theo chúng ta bước qua phần “Thế giới tăng thượng”.

- Như thế nào, này các Tỷ-kheo, là thế giới tăng thượng?

Ở đây, này các Tỷ-kheo, vị Tỷ-kheo đi đến ngôi rừng hay đi đến gốc cây, hay đi đến ngôi nhà trống, rồi thẩm sát như sau: "Không phải vì áo vì y áo, ta xuất gia từ bỏ gia đình, sống không gia đình. Không phải vì món ăn khất thực, không phải vì sàng tọa, không phải vì nhân có mặt hay không có mặt ở đây mà ta xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình, (nhưng với ý nghĩ như sau): “ Nay ta bị rơi vào sanh, già, chết, sầu, bi, khổ, ưu, não, rơi vào khổ, bị khổ chi phối. Có thể do làm như vậy, đoạn tận của tất cả khổ uẩn này được hiện khởi lên cho ta. Và ta đã xuất gia như vậy, lại có thể suy nghĩ về dục tầm, hay có thể suy nghĩ về sân tầm, hay có thể suy nghĩ về hại tầm.

Tại sao xuất gia rồi, nhưng vẫn còn những suy nghĩ hại như vậy? Phải tự trách tâm của mình, dùng Như Lý Tác Ý, dùng phương pháp tàm quý – xấu hổ, sợ hãi đối với các tội lỗi. Tại sao xuất gia rồi nhưng lại còn hướng tâm về dục, về sân hận, về sự nóng giận, về những suy nghĩ hại người khác?

To lớn là đại chúng này sống ở trong đời. Trong đại chúng sống ở đời, có các vị Sa-môn, Bà-la-môn có thần thông, có thiên nhãn, có tha tâm thông. Các vị này có thể thấy từ xa,…

Nói tiếng thuần Việt cho dễ hiểu, tức là đại chúng này là một đại chúng rất vĩ đại, to lớn. Ở đây nói “thế giới tăng thượng” tức là nói về các bậc tu hành trên khắp thế gian, những vị này này có thần thông, có thiên nhã, có tha tâm thông. Những vị tu hành chứng đắc đạo quả, có thể nhìn thấy được tâm mình nghĩ gì, tâm mình có tưởng, suy nghĩ, hành, cảm giác gì. Họ có tha tâm thông, có thần thông, có thiên nhãn thấy từ xa.

…tuy ở gần, nhưng không thể thấy chúng được, và chúng có thể biết tâm ta với tâm của chúng.

Tức là những người bình thường dù ở kế bên nhau, nhưng là phàm phu nên không thấy được. Ví dụ có những suy nghĩ ở trong tham, sân, si, hại nhưng dù kế bên nhau mà không thấy được. Còn người chứng đắc dù ở xa thì vẫn nhìn thấy, họ có tha tâm thông, có thiên nhã, có thần thông. Chữ “chúng” ở đây là chỉ những vị đó.

Chúng biết về ta như sau: "Hãy xem thiện nam tử này, tuy vì lòng tin xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình, nhưng sống xen lẫn với các pháp ác, bất thiện".

Khi Đức Phật trở về hoàng cung Ca-tỳ-la-vệ, được vua Tịnh Phạn ra đón. Vua hồi tưởng lại khi Đức Phật còn nhỏ, thì Đức Phật hỏi sao đang đứng đó mà vua lại suy nghĩ chuyện ngày xưa, vua Tịnh Phạn giật mình. Vì Đức Phật có tha tâm thông, nên thấy được thọ, tưởng, hành, thức của mọi người đang hiện lên những hình ảnh, cảm giác, bóng dáng gì. Cho nên đừng nghĩ mình làm gì, nghĩ gì thì không có ai biết, vì những vị chứng đắc sẽ thấy được. Chư Thiên có thần thông cũng thấy:

Lại có các chư Thiên có thần thông, có thiên nhãn, có tha tâm thông. Các vị này có thể thấy từ xa, tuy ở gần nhưng không thể thấy chúng được, và chúng có thể biết tâm ta với tâm của chúng. Các vị ấy có thể biết về ta như sau: "Các Tôn giả, hãy xem thiện nam tử này, tuy vì lòng tin xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình, nhưng sống xen lẫn với các pháp ác và bất thiện."

Cho nên, nếu đọc tạng kinh Nikāya nhiều, nhất là phần Tương Ưng Chư Thiên, thì sẽ thấy chư Thiên thường xuất hiện trước Đức Thế Tôn hỏi pháp. Các vị chư Thiên cũng xuất hiện trước những vị Tỳ-kheo, có khi họ cũng đàm luận, đối thoại với nhau. Vậy tại sao bây giờ không còn thấy nữa? Vì hiện giờ tâm mình toàn tham, sân, si, không có thiện pháp, không có phạm hạnh, giới – định – tuệ không thanh tịnh, cho nên chư Thiên không đến để cầu thỉnh pháp hoặc không đến để làm bạn. Trong phần Dự Lưu, chư Thiên thích làm bạn với bậc đã vào dòng trí huệ, đó là một trong những đặc tính. Vì vậy, điều thứ nhất các vị chứng đắc thấy được tâm của mình, điều thứ hai là chư Thiên thấy được tâm niệm của mình, cho nên phải cẩn thận. Đây gọi là “thế giới tăng thượng”.

Vị ấy lại quan sát như sau: " "Thắng tấn là tinh tấn của ta, không có thụ động; an trú là niệm của ta, không có thất niệm; khinh an là thân của ta, không có dao động; định tĩnh là tâm của ta, được nhứt tâm". Vị ấy làm cho tăng thượng thế giới, từ bỏ bất thiện, tu tập thiện, từ bỏ có tội, tu tập không có tội, giữ gìn cho tự ngã được thanh tịnh". Này các Tỷ-kheo, đây gọi là thế giới tăng thượng.

Tại sao “từ bỏ bất thiện, tu tập thiện” thì sẽ làm cho thế giới tăng thượng? Nếu nói, nghĩ, làm những pháp bất thiện, những pháp ác thì thế giới không được tăng thượng. Cho nên làm thập thiện là được sanh lên cõi Trời, tức là thế giới ngày càng tiến lên cao, bước lên cao, cao cấp hơn. Còn cứ sống với pháp bất thiện thì thế giới hạ liệt, đi xuống, thối đọa; nếu là thiện pháp thì được tăng thượng. Cho nên tâm thiện nghĩ điều lành, nói điều lành, làm việc lành thì thế giới được tăng thượng, cảnh giới được tăng thượng, hoàn cảnh được tăng thượng. Điều này, mình thấy rất rõ. Tại sao khách ưa thích đên Linh Quy Pháp Ấn, tiếng lành được đồn xa, đồn ra tới trung ương. Các vị ở tỉnh, ở huyện giới thiệu nên đến đây, mưa, gió, bão cũng đến. Những chỗ lớn khác tiệc tùng sẵn hết mời họ, nhưng người ta dẹp qua hết để lên đây. Mấy chú có thấy mưa bão, nhưng thầy vẫn cầm dù đi che người ta. Mình đối đãi với người khác bằng lời nói thiện, hành động thiện, ý nghĩ thiện về họ. Các cô, các chú Vụ trưởng của Vụ dân vận Chính phủ, nói thầy cũng đang làm dân vận. Đúng như vậy, người ta lo cho an ninh, an bình, còn mình lo cho tâm linh, đạo đức. Người ta cảm nhận được điều đó. Cứ nói thiện, nghĩ thiện, làm thiện thì chỗ của mình thành thiện, mà “thiện” là “thiên”, biểu hiện ra ở Cổng Trời – Thiên Môn – tức là Thiện Môn. Phải tin tưởng thật vững chắc, đây là nhân quả, quan trọng lắm. Đừng nghĩ xấu về bất cứ một ai, suy nghĩ xấu làm hư tư tưởng, hư con mắt của mình. Đời sau sanh ra, một là mù, hai là chột, ba là lé. Bởi vì mình nhìn bằng con mắt bất thiện đối với những người thiện. Nhân quả quan trọng lắm. Cho nên phải làm sao để cho thế giới tăng thượng, cảnh giới tăng thượng, phát triển, tăng thêm lên, rộng lớn hơn. Đó là từ cái tâm tăng thượng, tức là thiện tâm, thiện ngữ và thiện hạnh. Điều này hay lắm, là bí quyết Minh Thành thực tập suốt cuộc đời, tuyệt vời vô cùng!

Dầu cho người khác đối xấu với mình, nhưng mình vẫn nghĩ thiện về họ: “Ông đó xấu điều này chứ ổng còn những điều khác tốt. Hay biết đâu do mình hiểu lầm họ.” Đức Thế Tôn gọi đó là Đặt tâm đúng hướng. Điều này hay lắm, người ta dùng từ “hướng thiện”, tức là đưa tâm mình theo chiều hướng thiện. Ở đây nói là “dục tầm, sân tầm, hại tầm”, chữ “tầm” là cái tâm mình hướng theo. Bây giờ mình hãy hướng theo “thiện tầm, từ tầm, bi tầm, hỷ tầm”, để tâm mình hướng theo như vậy thì đó chính là sự tu. Chứ không phải tu là ngồi im re, không nghĩ gì cả, như vậy không phải. Phải hướng tâm, nếu nó hướng theo chiều xấu, mình quay nó về chiều tốt; nó hướng theo chiều xuống, thì phải hướng cho nó theo chiều phát triển đi lên. Đó là chuyển từ Tà Tư Duy thành Chánh Tư Duy; chuyển từ Phi Như Lý Tác Ý thành Như Lý Tác Ý; chuyển từ Bất Thiện Tầm thành Thiện Tầm, như vậy mới là sự tu, là công phu. Chuyện được như vậy thì hay lắm, nó sẽ biểu hiện ra cảm giác đẹp, thù thắng, được mặc đồ đẹp, xài đồ đẹp, được mời đi chỗ đẹp. Khi bên trong tâm luôn nghĩ về điều bất thiện, thì sẽ biểu hiện ra thân tướng bất thiện, ánh mắt bất thiện, dáng vẻ bất thiện và hành vi bất thiện, như vậy thì thế giới sẽ tổn giảm. Nhìn bên ngoài thấy rằng tâm tham che mờ hết tất cả. Chùa mình đã nhắc nhở bao nhiêu lần, nhưng họ bất kể ở đâu, chỉ cần tiền là được, chứ không cần thiện. Đây là chỗ rất quan trọng. Đi, đứng, ngồi, nằm, nói, nín, động, tĩnh, khởi tâm động niệm đều hướng theo chiều thiện, đừng để đi theo chiều bất thiện. Dầu người đó đối với mình bất thiện, thì vẫn phải nghĩ thiện về họ, đây là chỗ tu tuyệt vời. Nếu tâm thuần thiện thì mình sẽ sanh Thiên, được gặp bà Visàkhà, ông Cấp Cô Độc, gặp các vị Thánh giả. Bây giờ mới có 26-27 ngày trên cung trời Đao Lợi tính từ lúc Đức Phật nhập Niết-bàn (2.700 năm bằng 27 ngày trên cung Đao Lợi). Hôm qua, thăm Hòa thượng Thượng Minh Hạ Giác và vị pháp sư bên Nam Tông, Hòa thượng nói: “Ngán quá rồi, chỉ muốn lẹ lẹ sanh Thiên để gặp những vị Thánh nhân tu học, chứ ở dưới này ớn quá, nghiệp quả ác nhiều quá.” Niết-bàn chưa đủ vé nên Hòa thượng nói sanh Thiên trước.

Cho nên đây là điều rất tuyệt vời, mình phải quán chiếu, có khách đến phải làm cho sạch sẽ, đẹp đẽ, thơm tho, đốt trầm lên, để cây tùng lên, đặt tượng Phật lên bày trí, mở nhạc thiền. Đó là làm cho thanh tịnh, đem sự sạch sẽ, tốt đẹp, thơm tho đến mọi người, tất cả những điều đó là tu hành. Chứ không phải vào chánh điện ngồi mới tu, còn bên ngoài không phải tu. Nhiều khi kêu làm gì đó bên ngoài thì nghĩ sao phải làm chi cho cực, vì mình không biết đó là pháp tu, là làm cho thế giới tăng thượng, cảnh giới trang nghiêm, y báo, chánh báo. Nếu nhìn xa ra, hoa trái và sức ảnh hưởng, lan tỏa của những việc đó còn rộng hơn nữa. Một người về sẽ đồn cho người khác và khi khen ngợi họ toàn khen với những người ngang hàng. Sức lan tỏa của thiện pháp hay lắm, là từ trường, từ lực, hấp dẫn lực rất là mạnh. Cho nên 5- 7 năm trước ở Hà Nội, có một Thượng tọa trụ trì năm ngôi chùa lớn, chắc sắc lớn của Phật giáo ở tỉnh Hải Phòng. Khi vào đây rồi, hai năm sau gặp lại nhưng Thượng tọa vẫn còn khen đại chúng mình. Khen từ ông già cho đến chú tiểu nhỏ nhất, ai cũng đều trang nghiêm, lễ phép, cung kính. Đó là thiện pháp, là thế giới tăng thượng, là cảnh giới tăng thượng. Cho nên mình phải siêng năng.

Chẳng hạn có khách đến, lo nấu nướng để đãi, nếu đặt tâm đúng hướng thì sẽ nghĩ rằng như vậy là tốt, có nhân duyên đãi cho những vị có công lao với đất nước, với dân, với Phật giáo. Đó là đặt tâm đúng hướng nên khi làm sẽ rất vui và hoan hỷ. Còn đặt tâm sai hướng thì nghĩ là mệt, khách đến hoài, cực quá. Cho nên phải mở tâm của mình ra. Mình không được thông minh, đẹp đẽ, giàu có, giỏi giang, là do thiếu phước và thiếu trí, vì vậy phải làm thêm nhiều nữa. Có người khi sanh ra là đã không cần làm gì hết, xài bảy đời không hết, đó là phước họ tích lũy bao nhiêu đời rồi. Sanh ra là đã ở căn nhà mười triệu đô đi chiếc xe đơn giản chừng tám tỷ, tất cả những điều đó là nhờ phước của đời trước, họ đã tích lũy thiện pháp. Cũng có người sanh ra thì chiếc xe đạp không có để đi, quần áo rách rưới, cơm không đủ ăn, bệnh đủ thứ, xấu đau xấu đớn, đó là do trong quá khứ không tích lũy thiện pháp. Vì vậy, nếu không khéo là từ tối đi vào tối, còn biết khéo thì từ tối đi ra ánh sáng, khéo hơn nữa là từ sáng đi vào ánh sáng. Cho nên phải siêng năng.

“Vị ấy từ bỏ có tội, tu tập không có tội”, nhiều khi mới vào tu thì sợ có tội, nhưng tu được một thời gian là hết sợ tội, điều này rất nguy hiểm. Khi thấy điều gì có tội thì nhận thức nó, thấu hiểu nó, biết rõ nó và từ bỏ nó, rồi tu tập điều không có tội. Một điều Minh Thành hay nhắc, vô cùng đau lòng. Lúc mới vào chùa, siêng năng học pháp, tối ngày cứ tìm cuốn kinh mở ra đọc, sáng cũng thấy đọc, trưa thấy đọc, chiều tối mọi người đi ngủ hết rồi, cũng đốt đèn cầy, đèn dầu đọc. Nhưng ở chùa chừng 2-3 năm là dẹp hết, pháp cũng không muốn nghe, không muốn bàn gì nữa, đó là đã thoái đọa. Cho nên phải “giữ gìn cho tự ngã được thanh tịnh”, giữ gìn cho chính mình được thanh tịnh và trong sạch. Như vậy đó gọi là Thế giới tăng thượng.

Pháp tăng thượng

- Và này các Tỷ-kheo, thế nào là pháp tăng thượng? – Tức là thế nào tiến lên trong giáo pháp?

Pháp được Thế Tôn khéo thuyết, thiết thực hiện tại, có kết quả ngay tức thời, đến để mà thấy, có khả năng hướng thượng, được người có trí có thể tự mình tự giác hiểu. Nay ta có những người đồng Phạm hạnh, chúng sống biết và thấy. Ta đã được xuất gia trong pháp và Luật khéo giảng như vậy, không lẽ ta lại có thể sống biếng nhác, phóng dật. Như vậy, thật không xứng đáng cho ta".

Câu này phải học thuộc lòng:“Pháp được Thế Tôn khéo thuyết, thiết thực hiện tại, có kết quả ngay tức thời, đến để mà thấy (mình phải chiêm nghiệm), có khả năng hướng thượng (tiến lên, hướng lên), được người có trí có thể tự mình tự giác hiểu (chứng ngộ được pháp đó).

“Nay ta có những người đồng Phạm hạnh, chúng sống biết và thấy.”, hai chữ “biết” và “thấy” này tức là Chánh Tri Kiến, biết rõ pháp, thấy rõ pháp, có những người bạn đồng tu, huynh đệ.

“Ta đã được xuất gia trong pháp và Luật khéo giảng như vậy”, chữ “khéo giảng” tức là thiện xảo, tuyệt vời, tối thượng, cao tột, cứu cánh, đại trí huệ, nhưng “không lẽ ta lại có thể sống biếng nhác, phóng dật”, như vậy thì rất uổng, không xứng đáng. Sau này nếu không may ta rơi vào những đường ác, giáo pháp mất đi thì phải làm sao? Ta sanh nhằm thời khoảng 2.000 năm nữa hoặc rút ngắn hơn là giáo pháp sẽ mất đi, không còn ai biết gì nữa hết, ngay bây giờ tìm được Chánh Pháp đã là thiên nan, vạn nan. Đức Phật nói có rất nhiều trường hợp không tu được: chiến tranh; đói khát – ngồi thiền mà bụng đói thì sao mà ngồi; già – nhìn những thân già ngồi chút là buồn ngủ, đau, nhức, mỏi; bệnh và Tăng chúng bất hòa thì cũng không tu được. Bây giờ mình đang còn là thanh thiếu niên trẻ, khỏe, vậy mà không chịu học, không chịu nỗ lực tu thì đó là uổng phí. Sau này mình sẽ học bài kinh “Niệm Tử”, Đức Phật dạy các vị Tỳ-kheo : không may mình chết trong khi các thiện pháp chưa thành tựu, còn dang dở, chưa vào dòng pháp, chưa thành tựu Chánh Tri Kiến thì làm sao? Hoặc lúc sắp sửa chết, cận tử nghiệp mà lại khởi tâm hại, sân hận, tham dục mãnh liệt thì sẽ rơi vào ba đường ác thì thế nào? Cho nên không được cho phép mình biếng nhác, buông lung, phóng dật. Luôn luôn niệm Phật, niệm Pháp, niệm Tăng, niệm Giới, niệm Thí, niệm Thiên – lục niệm, và luôn niệm Tinh Tấn.

Nguyên nhân tại sao si mê, hôn trầm, đó là: không hân hoan trong tu học, biếng nhác, chán nản, ăn quá no và thụ động. Cứ ngồi nghe, ai nói thì nghe, không thấy thích thú. Ăn quá no, ăn no cành hông, buổi chiều ăn quá nhiều, nên lên ngồi thiền thì sao thiền được. Lẽ ra không ăn chiều mới đúng, nhưng nếu không thể không ăn thì mình ăn nhẹ, một chút thôi, đừng để cho đầy bụng. Ăn 70% trở xuống, chứ ăn cỡ 90% thì làm sao thiền được, lúc đó là “thiền chìm”, “thiền lủng”, “thiền lật”.

Vị ấy lại quán sát như sau: "Thắng tấn là tinh tấn của ta, không có thụ động; an trú là niệm của ta, không có thất niệm; khinh an là thân của ta, không có dao động; định tĩnh là tâm của ta, được nhứt tâm. " Vị ấy làm cho tăng thượng pháp, từ bỏ bất thiện, tu tập thiện, từ bỏ có tội, tu tập không có tội, giữ gìn cho tự ngã được thanh tịnh". Này các Tỷ-kheo, đây gọi là pháp tăng thượng.

Này các Tỷ-kheo, có ba pháp tăng thượng này.

Trên đời không giấu được,

Ác nghiệt tự mình làm,

Ngã của ngươi, ta biết,

Là thật hay là giả.

Ngươi thật khinh thiện ngã,

Mặt giáp mặt chứng kiến.

Muốn che giấu tự ngã,

Điều ác tự ngã làm.

Chư Thiên và Như Lai,

Thấy rõ ở trong đời,

Sở hành của kẻ ngu,

Làm các hạng tà vạy.

Vậy vị ngã tăng thượng,

Sở hành phải chánh niệm

Vị thế giới tăng thượng,

Hãy khôn khéo, Thiền định.

Với vị pháp tăng thượng,

Hãy sống theo tùy pháp

Đại sĩ không thối thất,

Tinh cần theo chân lý.

Nhiếp phục được ma quân,

Chiến thắng được tử thần,

Với tinh cần, tinh tấn,

Sanh đã được đoạn tận.

Bậc đạo sĩ như vậy,

Hiểu thế gian diệu trí,

Đối với tất cả pháp,

Không có gì xúc chạm.

(Tăng Chi Bộ Kinh – Tập 1, Chương Ba Pháp, IV. Phẩm Sứ Giả Của Trời, bài kinh Tăng Thượng)

“Đại sĩ không thối thất – Tinh cần theo chân lý – Nhiếp phục được ma quân – Chiến thắng được tử thần”, ở đây có từ “đại sĩ”, chứ đâu phải sau này mới có. Từ “đại sĩ” là sau này mượn, những bộ kinh này có trước, những từ ngữ sau này dùng là đã có ở trong tạng kinh.

Quyết chí tiến tu

Như vậy, bài kinh “Tăng Thượng” này có nội dung và ý nghĩa như thế nào? Đức Phật dạy rằng đi xuất gia không phải vì cơm, áo, gạo, tiền; không phải vì vật chất; không phải vì lợi dưỡng, cung kính, cúng dường, vậy đi xuất gia vì lí do, mục đích gì?

Thứ nhất, đi xuất gia là để giải quyết sầu, bi, khổ, ưu, não, không để khổ chi phối, giải quyết nỗi khổ trong nội tâm của mình. Hãy xem từ khi xuất gia đến giờ, những phiền não, lo lắng, sợ hãi, khổ đau, sân hận, ham muốn, buồn phiền, bản ngã còn hoành hành, tác động, hung hãn chiếm ngự trong nội tâm của mình không? Đó là điều thứ nhất, giải quyết những vấn đề hiện tại là sầu, bi, khổ, ưu, não.

Thứ hai, sâu sắc hơn là giải quyết sanh, già, bệnh chết. Mình đã có đủ sức mạnh đối diện với cái già không? Có đủ sức định để đối diện với cái bệnh không? Có đủ tuệ để đối diện với cái chết không?

Hãy nhìn lại để xem mình đã làm được những gì, chưa làm được những gì và đang làm những gì? Chuyện xuất gia không chỉ đơn thuần là cạo tóc, đặt pháp danh, đắp y, thọ giới, rồi cứ sống đều đều, không phải như vậy. Phải tự làm cho mình tiến lên, tự ngã tăng thượng, vượt lên, bước lên. Tại sao xuất gia rồi nhưng còn “lại còn đeo đuổi các dục vọng như kia hay còn ác tệ hơn. Như vậy, thật không xứng đáng cho ta”. Đã bỏ những dục vọng bên ngoài, mà khi xuất gia rồi vẫn tham muốn nữa, có khi còn “ác tệ hơn” – từ này Đức Phật dùng nghe rất đau đớn, xót xa, cay đắng và thốn tim. Câu này khi tự đối chiếu nghe đau xót vô cùng, nếu mình không chánh niệm tỉnh giác, không thận trọng, không canh chừng, không dòm chừng, không xem chừng là chết ngay.

Hai người anh và một người chị của Minh Thành, chỉ có một căn nhà nhỏ, bạn bè quen không bao nhiêu, đi đây đi đó cũng không nhiều. Vào đây tu, nhưng nếu không đặt tâm vào hướng giải quyết sầu, bi, khổ, ưu, não, sanh, già, bệnh, chết thì sẽ bị gắn vào ngọn núi, gắn vào hai ngôi chùa, gắn vào danh tiếng, giao thiệp rộng thì càng ác tệ hơn, nặng nề hơn. Nếu mọi người nhìn mọi thứ đều là thật thì vào đây rồi lại càng trở thành gánh nặng hơn.

Như vậy, Minh Thành xin được nhắc chung, cả ba Minh Thành – ông Pháp An, mẹ Minh Thành – bà Diệu Hiền, anh Nam, cô Út, cô Sáu: hãy tự nhắn nhủ với nhau là mình vào đây tu – nhớ kĩ mục tiêu đó, chứ không phải vào đây rồi mang thêm gánh nặng. Ở nhà gánh căn nhà nhỏ, vào chùa thì lại gánh công việc ở chùa lớn, như vậy là mình thất bại – thất bại từ cội gốc. Đừng suốt ngày để tâm vào những việc ở chùa, mà hãy để tâm vào tiêu diệt tham, sân, si, bản ngã, thành tựu thiện pháp. Như vậy mới không phụ ơn Tam bảo và cũng không phụ tấm lòng của con khi đưa cha mẹ, cô bác lên đây. Phải thấy rõ mục tiêu của mình khi đến chùa, lên ngọn núi này để làm gì? Đó là để giải quyết tham muốn, sân hận, si mê, ở nhà không ai chỉ cho mình biết hết. Ở nhà thì sao thấy được cái tôi, bản ngã; ở nhà thì sao thấy được những cấu uế, dơ bẩn trong nội tâm? Lên núi là nhờ Pháp Phật, nhờ quý thầy giúp và mình phụ được một chút nào công quả cho Tam bảo với một sự thiện hạnh nhỏ nhoi trong đạo tràng. Phải có tâm tâm niệm niệm như vậy thì mới đúng tinh thần tu học của người đệ tử Phật. Còn nếu không khéo, khi lên núi thì lại có thêm gánh nặng, làm mình lo lắng hơn nữa thì uổng công.

Tất cả trong đại chúng, người tập sự, người xuất gia cũng vậy. Chỗ này không phải chỗ của mình, đây không phải nhà của mình. Quán chiếu Tứ Niệm Xứ ngay cả sắc thân tứ đại này cũng không phải là ta, không phải của ta. Phải đi sâu vào tuệ quán như vậy thì mình mới không phụ công ơn của Cha Mẹ, Tam Bảo, Thầy Tổ. Phải thành tựu được Tối thượng tuệ pháp quán – sự quán chiếu trí huệ tối thượng, đó là sự nghiệp của người xuất gia. Như vậy mới có thể tự mình tiến lên. Chúng ta phải tinh tấn, thăng tấn lên, không được thụ động, không lười biếng trong tất cả thời gian từ làm công quả, tới pháp học cho đến pháp hành. Tâm niệm luôn an trú trong chánh niệm Tứ Niệm Xứ, không cho thất niệm, thân phải khinh an, không dao động, tâm định tĩnh, được nhứt tâm. Phải siêng năng từ bỏ những bất thiện, tu tập pháp thiện. Đừng nghĩ những việc mình nghĩ, mình nói, mình làm không ai biết, mà luôn có các bậc tu chứng đắc biết, chư Thiên biết, Đức Thế Tôn biết, Long Thiên Hộ Pháp biết. Cho nên phải cố gắng, nỗ lực. Chúng ta đã được xuất gia trong Pháp và Luật khéo thuyết giảng như vậy, cho nên không thể nào sống một đời sống biếng nhác, buông lung, phóng dật. Vậy thì uổng phí lắm!

Trình pháp

Thầy Pháp Từ:

Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.

Con – đệ tử Pháp Từ, cung kính bạch trên sư phụ, quý thầy, sư cô cùng toàn thể đại chúng.

Trước hết con xin trình pháp sau thời gian con ở trong thất, được học kinh, nghe pháp và tư duy, suy nghĩ về những lời Đức Phật dạy cùng với sự hành trì, thiền quán về Tứ Niệm Xứ. Con có đi sâu vào phần thọ quán, con xin dẫn chứng thực tế. Khi ở trong thất, đối diện với sự thật, nhìn thấy được thân tâm, bản ngã của mình. Lúc mấy huynh đệ hộ thất cho con thì chỉ có một bao gạo, mở ra thấy bao gạo không được tốt, thì khởi lên tâm phân biệt trong đó. Ý hành hoạt động nói: “Sao bao gạo này xấu vậy mà huynh đệ lại đưa lên cho mình”. Đó là điều thứ nhất và con thấy được ý hành của con là bất thiện pháp, không tốt. Khi lên lên công phu trước bàn Phật nhưng ý hành vẫn nhớ hình bóng của bao gạo ẩn hiện. Lúc đó con ngưng công phu và ngồi tác ý, cảm thấy rất xấu hổ, tại sao lại có suy nghĩ như vậy. Khi tưởng và ý hành của con tưởng như vậy thì thọ của con khó chịu, con biết những điều đó là xấu, bất thiện pháp. Con tác ý: “Mình xuất gia, ở trong thất, huynh đệ hộ thất cho mình. Tại sao không nghĩ đến cái ơn huynh đệ hộ thất, mà lại có những suy nghĩ tà bậy?” Lúc đó con sanh ra tâm hổ thẹn, nhục nhã. Không dừng ở đó, con tác ý tiếp, để đánh tan những suy nghĩ còn vi tế bên trong. Con biết mình còn bản ngã, còn lo cho thân này lắm. Càng tác ý như vậy thì sự suy nghĩ về ác bất thiện pháp, còn tâm phân biệt ngon dở, khen chê, tốt xấu tan biến. Nhờ pháp Như Lý Tác Ý, con thấy mình đánh tan được các pháp ác bất thiện pháp ngay khi trong thất. Nó rất vi tế, nếu không có cảm giác toàn thân thì con không thể nhìn thấy được cảm giác đó. Nếu như không nhìn rõ năm uẩn, không thấy được tưởng và hành hoạt động thì con sẽ không thấy được những điều đó.

Thêm chuyện khi ở trong thất hay tin mẹ bị bệnh nặng, phải nằm viện. Lúc đó thọ, tưởng, hành, thức cũng hoạt động. Nhờ sự tu tập, con biết mình có cảm thọ, đúng là có lo cho mẹ, nhưng con tác ý: “Mình phải cố gắng tu tập, làm sao thấy pháp, đạt được Chánh Tri Kiến, thì lúc đó mới báo đáp được công ơn của cha mẹ, như vậy mới thực tế. Còn tâm mình hoảng loạn, hốt hoảng, lo lắng thì cũng chẳng giúp ích được gì.” Lúc đó những cái tưởng và ý hành cũng hoạt động, thức của con rõ biết được thọ, cảm giác, những hình bóng và những ý hành, suy nghĩ nói thầm bên trong. Thời gian ở trong thất, con nhận thấy được một điều, pháp Như Lý Tác Ý giúp cho bản thân con rất nhiều khi đối diện với những ý niệm không tốt hoặc những cảm thọ chi phối tâm, cũng như các hình bóng, bóng dáng lẩn quẩn của sáu trần. Chúng không đưa đến lợi ích gì trong sự tu học của mình, nên lúc đó phải tác ý mạnh, sanh được tâm tàm quý, xấu hổ, hổ thẹn, nhục nhã. Khi ấy sự tu tập mới có sự thành tựu. Trong thời gian ở trong thất và thời gian gần đây, con thấy được tầm quan trọng của ba pháp và nhận diện năm uẩn sư phụ đã chỉ dạy, con cũng thường xuyên tu tập, thực hành và thấy có kết quả trong con. Kính trình lên sư phụ và toàn thể đại chúng.

Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.

Thầy Pháp Bảo:

Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.

Con kính bạch trên thầy, kính thưa trên quý thầy, sư cô cùng toàn thể đại chúng.

Trong thời gian vừa qua thật sự công phu tu tập hơi bị trì trệ, một phần là do bệnh thân, một phần là do không giữ được chánh niệm nhiều nên hay bị xao động. Phần quán chiếu năm uẩn của con có đôi lúc rõ sáng, nhưng có đôi lúc không được tỏ. Lúc trước thực hành quán chiếu năm uẩn, khi thấy người khác phái có khởi tâm đẹp và xấu, trong giây phút đó thì tự động Như Lý Tác Ý, sực nhớ lại những hình ảnh, những câu nói, những lời trong kinh và lời pháp sư phụ dạy về phương pháp Quán Bất Tịnh, thì tâm phân biệt đẹp xấu mất đi. Nhưng trong thời gian này con không chuyên tâm nhiều nên tâm hơi vọng động và khi quán chiếu năm uẩn không được sáng rõ. Mô Phật con xin hết.

Thầy Pháp Nhân:

Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.

Con kính bạch trên thầy, quý thầy, sư cô và toàn thể đại chúng.

Trong thời gian qua, thầy dạy chúng con nhận diện ngũ uẩn và bản thân con cũng thực hành. Đến thời điểm hiện tại, bản thân con thấy nhàm chán về sắc, nhàm chán về thọ, nhàm chán về tưởng, nhàm chán về hành và nhàm chán về thức.

Con nhàm sắc là bởi vì trong thân của mình, Đức Phật dạy có 32 thể trược, 32 vật bất tịnh. Mỗi vật bất tịnh như vậy, nó không chỉ dơ nhớp mà nó còn mang mầm bệnh trong đó. Chúng ta có càng nhiều bộ phận trên cơ thể này thì chúng ta có càng nhiều rủi ro và nguy hiểm không lường trước được. Chúng ta có bộ phận về tim, gan, nhưng ngày mai hay ngày mai nữa, nó có thể đem đến cho ta căn bệnh về tim, về gan. Trong thân này là sự cấu tạo của tứ đại: đất, nước, gió, lửa, thời gian này ở Linh Quy hay mưa đêm. Khi mưa đêm như vậy, con cảm nhận bản thân con tứ đại không điều hòa, đôi khi chảy nước mũi, bị nghẹt mũi. Quán chiếu, cảm nhận không có gì ở tự thân của mình, chỉ cần tứ đại thay đổi một chút thôi là mình khổ rồi. Bắt đầu trong tâm con khởi lên sự nhàm chán về sắc thân này.

Thứ hai, con nhàm chán về, có ba loại thọ: khó chịu, dễ chịu, không khó chịu không dễ chịu. Suốt cuộc đời, mình chỉ gắn liền với ba cảm thọ này thôi, đôi khi không tu tập trí tuệ thì sẽ bị ràng buộc trong ba cảm thọ, rồi buồn, vui, yêu, thích, thương, ghét. Chính vì thế trong thời gian qua nhận diện ngũ uẩn con cảm thấy nhàm chán với thọ của mình.

Thứ ba, về tưởng. Khi tĩnh tâm nhận diện ngũ uẩn, chúng ta thấy những hình bóng khi chúng ta thích hoặc ghét một thứ gì đó. Những hình bóng ấy cứ hiện khởi lên và đôi khi chúng chỉ hiện khởi lên thôi nhưng lại làm phát sinh những cảm thọ trong đó. Cho nên con bắt đầu cảm thấy nhàm chán đối với tưởng của mình.

Thứ tư, về hành – những lời nói, suy nghĩ trong tâm. Đôi khi những lời nói thì thầm trong tâm mà đưa đến pháp thiện thì quá tốt, nhưng đằng này có khi những lời nói thì thầm trong tâm lại xúi giục cho bản ngã, cho tâm ô uế, uế trược về tham, sân, si. Con nhớ câu thầy dạy: người tu phải cẩn thận từng li, từng tí. Con nhận ra phải cẩn thận từng li, từng tí trong tâm mình vì trong đó tâm thiện rất ít, còn tâm bất thiện thì rất nhiều, rất dễ sanh sôi nảy nở. Con bắt đầu cảm thấy nhàm chán đối với hành của mình.

Cuối cùng, về thức – sự rõ biết thọ, tưởng, hành. Chính vì sự rõ biết đó, mới làm cho mình khổ trong đó, vì nếu mình không biết thì đâu có khổ. Cho nên chính vì sự rõ biết của ý thức lại đem đến cho mình khổ, vì vậy con cảm thấy nhàm chán đối với thức của mình.

Đến thời điểm hiện tại, bản thân con tu tập còn nhiều yếu kém, con chỉ cảm nhận và thực hành pháp như vậy thôi. Mô Phật.

Tập sự 1:

Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.

Kính bạch trên thầy, quý thầy, sư cô và toàn thể đại chúng.

Lúc trước con chỉ biết cảm thọ thôi, nhưng con được sư phụ có giảng về tiến trình của ngũ uẩn. Ngày xưa con chỉ biết các cảm thọ qua xúc chạm, sắc trần, sắc căn, nhưng bây giờ con còn thấy được qua nội tâm mình. Những hành, suy nghĩ, lời nói thì thầm trong tâm đôi khi khởi lên trong tâm, đôi khi con dùng Như Lý Tác Ý để chế ngự những tưởng, hành của mình. Con thấy phương pháp Như Lý Tác Ý rất hiệu quả trong quá trình phân biệt ngũ uẩn của mình. Cho nên trong giờ ngồi thiền của con, ít vọng tưởng hơn so với lúc trước rất nhiều con xin hết.

Tập sự 2:

Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.

Con kính bạch trên thầy, quý thầy, sư cô và toàn thể đại chúng.

Trong thời gian sư phụ chỉ cho pháp hành quán chiếu năm uẩn. Lúc đầu con thấy tâm rất tinh tấn, nỗ lực, nhưng gần đây con thấy rất buông lung. Có lúc không biết nhìn vào tâm mình, hoặc nhìn được một chút là nghỉ, rồi nhớ đến chuyện khác. Có lúc nó rất thích những pháp hành, nhưng cũng có lúc rất chán ghét, không muốn nỗ lực. Lúc đó không có sự tinh tấn, không có nhìn lại, cứ thả lỏng như vậy.

Sư phụ: Lúc không muốn nỗ lực con làm sao, có làm gì không hay để luôn như vậy? Lúc chán nản đó con có dẹp nó không? Phải dùng Như Lý Tác Ý quơ trách, la rầy, chưởi mắng, làm cho nó tỉnh táo lên. Chứ không phải nhận thấy rồi xong để đó luôn.

Lúc con lên Quán Chiếu Đường, thấy Tương Ưng bộ, con đọc phần Thiên Uẩn

có nói bài kệ:

Bậc Thánh bỏ gia đình,

Du hành không trú xứ,

Đối với dân trong làng,

Không tác thành hệ lụy.

Tuyệt không các dục vọng,

Không ước vọng hão huyền,

Chấm dứt mọi tranh luận,

Bất cứ với một ai.

(Tương Ưng Bộ Kinh – Tập III – Thiên Uẩn, Chương I. Tương Ưng Uẩn Phẩm Nakulapità, bài kinh Hàliddikàni)

Lúc Đức Phật nói ngắn gọn như vậy, con thấy Ngài Xá-lợi-phất giải thích rất sâu sắc, rất rộng rãi, tâm con cảm thấy thích thú.

Sư phụ: Thích thú thì phải lấy cuốn tập với cây viết, viết bài đó ra để đọc tới, đọc lui nghiền ngẫm. Khi thích thú thì phải phát huy sự thích thú đó lên, làm cho nó lớn mạnh, chứ đừng thích thú một chút rồi thôi. Hãy viết lại, học thuộc lòng, nghiền ngẫm tới lui nghĩa lý trong đó, tưới tẩm hạt giống, nuôi lớn thích thú đó lên, phát triển pháp hỷ đó lên. Nếu không có pháp hỷ, thì mình sẽ dễ đi vào buồn chán, thụ động, giải đãi, phóng dật. Khi có pháp hỷ - Hỷ Giác Chi sẽ làm cho mình tinh tấn.

Thầy Pháp Nghĩa (lúc tập sự):

Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.

Con kính bạch sư phụ, quý thầy, sư cô và toàn thể đại chúng.

Trong một tháng qua con được lên đây học hỏi và tu tập. Con học được nhận diện năm uẩn rất phù hợp với con. Thời gian đầu xuất gia, tâm mình còn buông lung, rất vi tế. Khi nhìn mọi cảnh vật tâm mình đều dao động, nhưng nhờ nhận diện năm uẩn con có thể chế ngự được, không cho nó chế ngự lại mình. Nhờ nhận diện ngũ uẩn con cũng nhận ra được tác ý của mình trong công việc và khi giao tiếp với mọi người, hoặc là khi ở quả đường. Khi tâm con thích thú một món gì thì con từ chối món đó không ăn. Lúc đầu rất khó chịu, nhưng lần lần về sau không còn khó chịu nữa mà rất là dễ chịu, vì đã chế ngự được tham của mình. Về tâm sân, trong khi giao tiếp với mọi người tất nhiên sẽ có những bức xúc, khó chịu, mình phải cố gắng kiềm chế. Hãy đặt mình vào vị trí của người ta và xem mình là nhỏ bé, cho nên khi người ta nói xấu hay chưởi mình thì mình không có tâm tức giận, bực mình, lúc đó thấy dễ chịu hơn lúc trước. Vì lúc trước nếu không tác ý, không kiềm chế được tâm sân thì rất bực dọc, khó chịu. Còn si mê thì con khó thấy, vẫn chưa thấy được vì con không bị hôn trầm, nên si mê ở chỗ nào con cần tìm hiểu thêm. Mô Phật.

Sư phụ: Con có nói mình “thấy mình nhỏ bé”, thầy phụ thêm câu nữa là hãy quán chiếu “không có mình” luôn. Hãy thực tập Quán 32 Thể Trược, để riêng bao tử, lá lách,… rồi tự hỏi cái nào là mình. Phải đi tới chỗ “không có mình” chứ đừng dừng lại“thấy mình nhỏ bé”. Vì “thấy mình nhỏ bé” khi gặp trường hợp nào đó thì nó có thể lớn lên, cho nên phải tập như vậy để trừ hao thì vừa.

Tập sự 3:

Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.

Con kính bạch quý thầy, sư cô cùng toàn thể đại chúng.

Thời gian qua con được sư phụ dạy về ngũ uẩn, con rút ra được một số điều như sau. Sắc thì đại diện cho thân mình; còn thọ, tưởng, hành, thức đại diện cho tâm. Sắc này – đại diện cho thân mình thì không quan trọng lắm. Quan trọng nhất là thọ, tưởng, hành, thức là tâm mình. Khi mình nhiếp phục được bốn cái này – tâm mình, thì tự nhiên thân sẽ không còn nữa.

Sư phụ: Chú có thể nhận rõ thọ, tưởng, hành, thức không? Hãy trình bày nhận diện ngũ uẩn ngay lúc này cho thầy nghe.

Thưa sư phụ, bây giờ con đang bị cảm, con nhận thấy thọ là thọ khổ. Ý hành còn thì quán xét thân này là tứ đại, con nhiếp phục cảm giác lại. Cái tưởng của con thì không có bóng dáng, vì ý thức đang nghĩ về thọ khổ, nên con nhiếp phục, thưa sư phụ.

Sư phụ: Vậy là tốt, biết nhận ra cảm thọ khổ, và dùng Như Lý Tác Ý, tức là dùng ý hành để nhiếp phục nó. Phải tập nhận diện ngũ uẩn thường trực. Tập nhận diện cho rõ cái nào là sắc, cái nào là cảm giác, cái nào là những hình bóng trong tâm, cái nào là những suy nghĩ và cái thức rõ biết như thế nào. Còn cảm nhận gì khác trong thời gian tu tập gần đây không?

Con kính thưa sư phụ, qua thời gian gần đây tu tập, con học được nhiều lời giảng của sư phụ. Con cảm thấy rất hợp với những gì con suy nghĩ và con rất muốn được tu tập.

Sư cô 1:

Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.

Con kính bạch trên sư phụ, kính thưa quý thầy và toàn thể đại chúng.

Trong thời gian con được thầy cho lên đây tu học cũng khá lâu, con rất là hoan hỷ khi gần đây gặp được Chánh Pháp để tu hành. Tuy rằng sức khỏe của con thấy ngày càng yếu hơn, nhưng con cũng nỗ lực, tinh tấn tu tập. Nhất là trong thời gian được thầy dạy cho tuệ phân tích, thấy rõ được ngũ uẩn và nhận diện được toàn thân. Con luôn luôn thấy thân tâm mình và con áp dụng tác ý ở trong kinh Pháp Cú:

Sắc này bị suy già,

Ổ tật bệnh, mỏng manh,

Nhóm bất tịnh, đỗ vỡ,

Chết chấm dứt mạng sống.

(Kinh Pháp Cú – Phẩm Già)

Cũng nhờ tác ý như vậy nên con luôn được tinh tấn tu học. Tuy không giống như thời còn trẻ, công phu hành trì nghiêm mật, khi con mệt thì con nghỉ nhưng luôn luôn tác ý về thân, về thọ, tưởng, hành. Bây giờ từ trên xương cổ đến lưng đang bị thoái hóa, gai cột sống, nên con ngồi không được lâu. Cũng nhờ tác ý cảm thọ trong thân, con càng thấy rõ thân này suy già, là ổ tật bệnh, mỏng manh. Tâm tưởng của con nhiều khi nhớ tới cô Diệu Độ, thường nhờ cô cạo gió, thoa dầu. Ý hành khi nào cũng suy nghĩ về thân này, năm ngoái khác, năm nay đã khác. Thức của con luôn luôn thấy rõ được thân, thọ, tưởng, hành, thức – nói chung là thân, thọ, tâm, pháp.

Sư phụ: Ý thức thấy được mấy uẩn trong ngũ uẩn?

Ý thức của con thấy thọ, khổ thọ của thân, thấy hình bóng của thân bệnh đau nhờ người giúp đỡ và ý hành luôn thấy rõ được như vậy. Khi con nắm vững được pháp hành tu là nhờ thầy. Nhiều khi con nghĩ không biết sống được với thầy bao nhiêu năm nữa. Con thấy thầy luôn lo lắng cho ông bà Năm, cũng như quý cô. Thành ra con cũng tác ý đến gia đình con, gia đình con rất bướng bỉnh, con nguyện cầu ân đức của Phật cho con có thể chuyển hóa được gia đình, trở về với Chánh Pháp. Con rất hoan hỷ khi chỉ điện thoại về thôi mà chị dâu, anh rể nghe theo và làm được những công việc lớn lao nên con rất vui mừng trong tâm. Một sự bất ngờ là con không biết đó có phải là phước duyên của gia đình con không, gia đình con trai đàn chẩn tế rất nặng nề, nhưng con chỉ dùng ngũ uẩn được Đức Phật dạy trong Tương Ưng bộ tập III, mà con chuyển hóa được anh chị, gia đình nghe pháp của thầy để thấy được thân, thọ, tâm của mình. Thành ra con thấy rất hoan hỷ, an lạc trong thời gian tu học này, và con cũng nhờ nương lực của thầy. Con cũng muốn xoay chuyển gia đình con trong giáo pháp nên con cũng nhờ oai lực của Hòa thượng để niềm tin trong gia đình con lớn hơn. Con cũng trình bày lên thầy khi con có niềm an lạc như vậy. Hiện tại bây giờ tuy con không học được như tuổi trẻ, sự hành trì con thường tác ý trong kinh Pháp Cú. Con thường tác ý đến thân kiến – không phải ta, không phải của ta.

Sư phụ: Hổm giờ tu khá không?

Sư cô 1: Thưa thầy con thấy có sự chuyển đổi và trí tuệ con có phần tiến triển.

Sư phụ: Vậy là chưa khá, biết như thế nào là khá không? Càng thấy bản ngã của mình càng lớn; càng thấy tham, sân, si của mình càng mãnh liệt; càng thấy nội tâm mình ghê ghớm chừng nào thì lúc đó mới tu khá!

Sư cô 2:

Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.

Con kính bạch trên sư phụ, kính thưa quý thầy và toàn thể đại chúng.

Con chỉ có một ý kiến chia sẻ. Con thấy sắc, thọ, tưởng, hành, thức lúc nào cũng vận hành trong tâm của mình, nhưng con nghĩ con sống theo kiểu để cho pháp vận hành, gọi là tùy duyên thuận pháp. Ví dụ, con không hề nghĩ con lên núi con ở lâu đến vậy, nhưng bây giờ con đã ở được hơn 3 tháng. Dĩ nhiên khi ở đâu mà chỗ đó mình thấy thích thú và an lạc thì mới ở, đây là điểm thứ nhất. Điểm thứ hai về thọ, tưởng, hành, cái hành – những suy nghĩ của con chỉ ở giai đoạn không suy nghĩ việc ác, nhưng vẫn suy nghĩ việc thiện, chứ chưa đến được giai đoạn bỏ hết ác, bỏ hết thiện. Điểm thứ ba, có một câu con học và nhớ hoài là: “Bỏ tất cả các việc ác, làm tất cả các việc thiện, giữ cho tâm thanh tịnh”. Đó là yếu chỉ của con học, ngoài ra những chuyện khác con chưa để ý nhiều được, con mới học tới đó thôi.

Cô Út và Cô Sáu:

Cô Út: Bạch thầy và đại chúng. Con lên núi mỗi ngày tu được 2 thời, con lạy sám hối với Phật được. Còn ở nhà con lạy ít, con tu có một thời, con ngủ hoài, con làm biếng lắm.

Sư phụ: Sao lên đây mà có 2 thời, tăng lên 3 thời đi, ít quá không đủ.

Cô Út: Đầu hôm với khuya thôi thầy, ban ngày con niệm Phật.

Sư phụ: Bây giờ thấy tâm thế nào?

Cô Út: Tâm bình tĩnh lại, con không có sân, ở dưới nhà con sân với Hồng hoài. Lên đây có sân với bà Sáu không?

Cô Út: Không có sân, bà ấy chưởi là con nín, đỡ vậy đó.

Sư phụ: Bà có nhớ già, bệnh, chết không?

Cô Út: Có, bởi vậy con mới lên đây. Con xin 20 ngày mới lên mà 13 ngày là con lên đây rồi.

Sư phụ: Cô Sáu thấy trong cơ thể, trong tâm mình khi ở đây như thế nào? Sắp tới phải làm sao?

Cô Sáu: Mô Phật, con lên đây thấy khỏe và tu ngày được 2 thời.

Sư phụ: Có ngồi nhớ già, bệnh, chết không? Có sợ lúc chết sẽ đi đâu không?

Cô Sáu: Có sợ chết không biết về đâu. Đừng cho con xuống dưới, bị đánh dữ lắm. Con sợ như vậy, thành ra con niệm Phật.

Thầy Pháp An:

Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.

Kính bạch thầy, kính bạch quý thầy và đại chúng.

Pháp An từ khi qua khỏi cơn bạo bệnh, nhờ Phật gia hộ, nhờ sự tinh tấn và lòng thành thật của mình cầu nguyện và công phu chuyên cần theo lời dạy của thầy trụ trì – nói theo các pháp của Phật. Pháp An cảm thấy tâm hồn mình rất an lạc, nhẹ nhàng, mọi sự việc xảy ra nếu nói mình không sân là nói láo, nó vẫn nhen nhóm sân lên, nhưng mình nghĩ rằng cái chết đã sát bên lưng, chút xíu có thể chết rồi, nóng giận, hơn thua, gây gổ để làm gì? Mình giữ sự an lạc trong tâm hồn mình, mọi người giữ hòa khí với nhau. Nếu các bạn đạo cùng tu, cùng tinh tấn thì đó là phước báu của các bạn, còn các bạn không lo tinh tấn, không lo tu thì các bạn tự chuốc lấy đau khổ. Riêng cá nhân mình phải cố gắng tinh thấn theo những bài giảng của thầy trụ trì và các bậc giảng sư. Mình lo tu, lo công phu, ngoài những giờ công phu, thấy việc gì của Tam bảo thì làm,chẳng hạn như làm cỏ, quét sân, giúp đỡ Phật tử đến Pháp Ấn. Họ có thắc mắc gì thì với sự hiểu biết của Pháp An thì Pháp An hướng dẫn họ trên con đường học Phật của mình, khả năng bao nhiêu thì hướng dẫn bấy nhiêu. Khi hướng dẫn họ, lúc nào cũng theo lời dạy của Đức Phật: gia đình sum họp không chia li, cha mẹ, anh em hiếu thảo, hòa thuận với nhau, mọi người thương yêu lẫn nhau. Chúng ta đều là nhân loại, Đức Phật dạy chúng ta đều là máu hồng, nước mắt mặn, không có gì để mà đối xử không thương yêu, không bình đẳng.

Nhiều khi nói không sân là mình nói láo, mình vẫn sân nhưng nghe lời Đức Phật dạy thì tự nhiên trong lòng mình lắng lại, không còn nỗi sân hận nữa. Chẳng qua những lúc đối với bạn đạo trong Am Pháp Ấn, Pháp An có tiếng nói hơi lớn, vì lớn tuổi nên lỗ tai lãng. Được mọi người nói: “Ông Năm hay la lắm, nói um sùm bát nhã”. Cảm ơn quý vị, nhờ quý vị nói tôi vậy mà tôi mừng lắm, vì nhịn được quý vị hoài thầy tôi học được cái “nhẫn”, chứ không phải lấy đó làm hận thù, oán ghét. Nhưng khi có sự việc tôi thấy không đúng, nên tôi phải nói, ai có buồn tôi chấp nhận, trong lương tâm tôi thấy những điều đó phải đúng vậy. Còn mình là người đã xuất gia rồi, phải nghĩ đến người khác trước khi nghĩ đến mình. Chẳng hạn, nói những chuyện nhỏ nhẹ trong gia đình, thầy trụ trì thường đi xa, thầy có sự hiếu thảo đối với Pháp An, đem những đồ quý ở nước ngoài về, nói: “Ông Năm, cái này ông uống đi, khỏe, bổ, để có sức khỏe tinh tấn lo tu, ráng tu đi, mình sống không bao lâu nữa”. Pháp An rất cảm kích trong lòng, nói với thầy trụ trì để Pháp An uống ít ít, rồi chừa cho bà Năm, sức khỏe bà còn kém hơn, để bà uống, để bà Năm có sức khỏe tinh tấn, lo tu. Thật sự món đó nhiều khi mình thấy ngon, sắp sửa mình ăn, mà thấy người thân đến, là mình đưa cho người thân mình, rồi nói mình đã ăn rồi. Đó là sống ở đời phải nghĩ đến người ta trước, nghĩ mình sau. Người đời thường nói những gì tốt đẹp nhất thì phải cho mình, cái gì thừa thải mới cho người khác, như vậy thì quá ích kỉ, không phải người có tấm lòng từ bi, biết thương người. Khi được ở tại am Pháp Ấn này, Pháp An trước là cảm ơn ân đức của Tam bảo, trời Phật; sau là cảm ơn thầy trụ trì. Cuộc sống ở đây rất yên bình, an lạc. Khi có công chuyện về gia đình thì về vài bữa là không thể ở được, phải trở lên đây. Pháp An thường nghe thầy giảng, nghe lời Phật dạy. Là một người ở trong Tam bảo, mình phải có trách nhiệm giữ gìn Tam bảo từ vật thực, động sản, đến bất động sản, tiền bạc, không được phung phí, làm như vậy là không đúng bổn phận của người tập sự xuất gia và cả tu sĩ.

Pháp An còn nhiều tâm sự, nhưng lớn tuổi rồi nên đầu óc không được minh mẫn. Pháp An có những lời như vậy tác bạch đến thầy trụ trì và đại chúng. Nếu Pháp An có lỗi lầm gì mong quý vị từ bi, hoan hỷ cho. Mô Phật.

Thầy Pháp Sơn:

Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.

Kính bạch trên thầy, kính thưa quý thầy, quý sư cô và toàn thể đại chúng.

Trong giây phút này, tự thân con quay về nhận diện lại cảm giác trong tâm của mình là một hỷ thọ, rất hân hoan vì một ý hành khởi lên, suy nghĩ rằng: “Thật là may mắn cho chính bản thân mình, thật là hạnh phúc cho đời sống người xuất gia khi có một hội chúng được sống, được nghe những lời dạy của Chánh Pháp và thực hành đúng với tinh thần của Chánh Pháp mà Đức Phật đã dạy.”

Ngày hôm qua con xem đoạn phim về Cuộc đời Đức Phật, lúc Đề-bà-đạt-đa thấy Đức Phật trở về thành Ca-tỳ-la-vệ thăm lại vua cha và hoàng tộc. Khi ấy Đề-bà-đạt-đa chạy tới, xuống ngựa với một nụ cười đầy biếm nhã, nhìn vóc dáng và cách ăn của Đức Thế Tôn, lúc đó đã là Bồ Tát Sĩ-đạt-đa đã giác ngộ, hiệu là Đức Phật Thích Ca Mâu Ni. Đề-bà-đạt-đa hỏi: “Suốt bảy năm qua, những gì mà đệ đạt được chỉ như vậy thôi sao?” Lúc nghe câu trả lời của Đức Phật, tâm con chấn động. Ngài đáp rằng Ngài đã đạt được sự tịch tịnh – tức là sự vắng lặng và sự vắng lặng này không phải ai muốn có là được. Phải bằng sự nhìn nhận bản chất của tự thân và nguyên lí sanh tử để thoát ly ra khỏi sự áp bức của sanh tử. Khi nghe câu nói đó, con thấy tâm mình rất hoan hỷ trước lời đáp của Đức Phật.

Qua bài kinh “Tăng thượng”, phần “ngã tăng thượng”, con đã chiêm nghiệm rất nhiều lời dạy của Đức Phật trong bài kinh này. Đối với một người biết tư duy, gọi là như lý tư duy, tư sát, như thật quán sát: ta xuất gia không phải vì y phục, vì thức ăn, vì sàng tọa, vì cung kính, lợi dưỡng mà xuất gia vì ta thấy sự thống khổ của già, bệnh, chết và hiện tại những thống khổ của năm uẩn áp bức chính bản thân ta. Để cho mình phát khởi lên một sự hổ thẹn, vì mục đích gì mà mình đi xuất gia, có phải vì để chấm dứt vòng tử sinh luân hồi khổ đau này không? Có bốn điều con nghe được trong lời dạy Đức Phật, khi mình tư duy, nhìn nhận được mục đích chân chánh của một thiện gia nam tử từ bỏ gia đình, sống trong gia đình, vì chấm dứt nỗi thống khổ của khổ uẩn này để phát khởi lên sự thắng tấn ở trong ta, an trú chánh niệm, thân được khinh an, không dao động, tâm được định tĩnh, thành tựu được nhứt tâm. Con liên hệ đến năm sức mạnh của người tu, đó là tín, tấn, niệm, định, tuệ. Trong bài kinh này Đức Phật đã hướng người đệ tử phải phát khởi một lòng tinh tấn. Tinh tấn ở đây là phải biết tu tập thân tâm mình đạt đến chỗ an tịnh, thân không dao động, biết an trú niệm. An trú niệm ở đây là an trú nơi bốn lĩnh vực quán sát về thân, thọ, tâm và bản chất của các pháp. Từ chỗ nhìn nhận rõ được thân tâm của mình, thật ra đó là ngũ uẩn để cho mình nhàm chán, xả ly sự tham ái, chấp thủ nơi năm uẩn này để hướng đến chỗ vắng lặng, tịch tịnh. Bài kệ trong bài kinh “Tăng thượng” này, con tư duy rất nhiều:

Thứ nhất, “Ngã tăng thượng” ở đây là biết quay về khởi lên sự hổ thẹn nơi tự thân, về đời sống xuất gia của mình. Dù xuất gia chỉ một ngày đi nữa thì hãy xem ngày hôm đó mình đã tu tập được những thiện pháp gì, có những thấy biết, tư duy hướng ly dục, ly sân, ly hại không?

Thứ hai, “Thế giới tăng thượng” là phải nhìn nhận, biết được không phải mình sống trong thế giới này chỉ riêng một mình, mà còn thế giới của những loài hữu tình khác. Trong đó có những chúng sanh cao cấp hớn là chư Thiên. Lúc thầy giảng ở chỗ không phải mình làm gì không ai biết, mà có những chúng sanh như chư Thiên, những vị chứng tha tâm thông, Đức Thế Tôn quán sát được những hành nghiệp của mình. Khi ấy con lại tác ý, thật ra còn một người nữa, đó là chính mình, mình cũng là một người quán sát, vậy có khi nào mình quán sát chính mình hay không? Khi quán sát được chính mình thì chắc chắn sẽ không bao giờ làm những điều nuôi dưỡng những ác pháp bất thiện, không làm những điều không chân chánh, không tương xứng với chánh hạnh, phạm hạnh của một người tu trong ba nghiệp: thân, lời nói và ý nghĩ. Như vậy “thế giới tăng thương” ở đây cũng là từ nơi “ngã tăng thượng”, mình tu tập là mình hướng thượng đến những thiện pháp, lúc đó sẽ hướng đến chỗ làm cho ba nghiệp được hướng thượng.

Thứ ba là “Pháp tăng thượng”. Ở đây phải hiểu được giá trị của Chánh Pháp đem lại, đó là giáo pháp của Đức Thế Tôn. Trọn vẹn ý nghĩa là: Pháp và Luật của Đức Thế Tôn là khéo thuyết, thiết thực hiện tại, đến để mà thấy, có khả năng hướng thượng, được người trí tự mình giác hiểu. Như vậy đối với một người thật sự nhiệt tâm, tinh cần trong sự hành pháp thì mới thấy được sự thiết thực, hiện tại của pháp là gì, mới thấy được sự hướng thượng của giáo pháp đem lại cho tự thân của người thực hành. Mình đến để thấy được những lỗi lầm, nó phát sinh từ bản ngã, cái tôi, những kiêu mạn, tham ái đối với ngũ uẩn. Câu kệ nói để làm cho pháp tăng thượng thì hãy thực hành tùy pháp, nghĩa là muốn hướng đến sự cao thượng đó thì phải thực hành thuận theo thứ tự những pháp cho người tu mà Đức Phật đã dạy trong kinh tạng. Con thấy có ba pháp rất quan trọng đối với người tu: hộ trì các căn, tiết độ trong sự ăn uống và chú tâm tỉnh giác.

Hộ trì các căn: giúp thân mình không dao động, tránh những cái duyên đưa đến những cái xúc làm sanh khởi những cảm thọ của dục, sân, hại, bất thiện pháp. Hộ trì các căn giúp cho người tu có dáng vẻ, phong thái gọi là oai nghi chánh hạnh, thân không thô tháo dao động. Hộ trì các căn đưa đến nội tâm của người hành giả đó đạt đến chỗ vắng lặng.

Tiết chế trong sự ăn uống: giúp người hành giả không lệ thuộc vào những món ăn, những thức uống, giúp cho thân thể nhẹ nhàng, dễ tu tập thiền định. Đức Phật có dạy: ăn uống để trừ bỏ sự đói khát, không phải vì trang sức, không phải vì làm đẹp mà để có được sức khỏe, hỗ trợ phạm hạnh, diệt trừ các cảm thọ cũ, không cho sanh khởi cảm thọ mới. Diệt trừ cảm thọ cũ ở đây có nghĩa là diệt trừ đi cảm thọ đói khát; không sanh khởi cảm thọ mới là đừng để tham đắm vào vật thực, đừng để sự tham ái, dính mắc vào trong món ăn, như vậy là mình biết tiết chế trong sự ăn uống. Con cũng có nghe thầy giảng về sự ăn uống, nó hỗ trợ rất nhiều trong sự thiền định và con thấy tự thân con khi ăn uống quá no thì tâm trí của con rất nặng nề, không sáng suốt, rất mệt mỏi. Còn khi ăn ít, tránh những thức ăn ngọt và dầu mỡ, mình ăn những thức ăn vừa phải, vừa đủ thì cảm thấy thân nhẹ là tốt rồi, khi đó con thấy sự tu tập rất tốt.

Chú tâm tỉnh giác: Đức Phật có dạy ban ngày trong khi đi, khi ngồi hay đi kinh hành, tâm trừ sạch các chướng ngại pháp. Ban đêm trong khi đi, khi ngồi hay đi kinh hành, tâm trừ sạch các chướng ngại pháp. Canh giữa nằm trong tư thế của sư tử nằm, tưởng đến ánh sáng, tác ý phải thức dậy – có sự tác ý này là để mình phát khởi sự tinh tấn. Nghỉ là để cho thân nghỉ ngơi, nhưng tâm của mình phải có sự tác ý tinh tấn cho ngày mai. Vì không sự nỗ lực hết mình nên bây giờ mình vẫn còn những phiền não chi phối. Mỗi ngày trôi qua thấy tu tập chưa được lợi ích bao nhiêu, chưa đi được con đường dài xa thì mình phải cố gắng tác ý, tưởng đến ánh sáng, tưởng đến sự thức dậy của ngày mai để phát khởi sự tinh tấn ở tự thân. Con thấy ba pháp: hộ trì các căn, tiết độ trong sự ăn uống và chú tâm tỉnh giác rất quan trọng.

Đối với với việc nhìn lại năm uẩn, con cảm thấy trong thời gian gần đây được nghe pháp trên thầy và lắng nghe trên quý thầy, cùng đại chúng chia sẻ, nhìn lại sự thực tập của bản thân con, thấy càng tu thì cảm thấy càng xấu hổ. Không có ai thấy rõ được mình bằng chính tự thân của mình. Những bản ngã, những sự chấp thủ, phô trương, lọc lừa trong bản thân, nếu không chánh niệm tỉnh giác, không nhìn nhận được trong cảm thọ, trong các tưởng và những ý hành của mình thì sẽ không bao giờ điều phục được những tham, sân, si. Mình cần phải có sự nỗ lực, tinh tấn trong sự thực hành pháp, đó là thực hành Bát Chánh Đạo. Muốn thực hành đúng con đường này thì phải thấy được tầm quan trọng của Chánh Tri Kiến, đây là lợi ích trong sự học pháp, nghe pháp và thảo luận. Vì Chánh Tri Kiến sẽ khai mở cho mình thấy biết một cách như thật, trọn vẹn và thấu đáo, để tâm mình không còn nghi ngờ, do dự trong sự thực hành pháp. Mình không phát khởi được tin tấn vì mình còn nghi ngờ. Như vậy nền tảng của người mới tu tập là để tâm trong sự học pháp, hiểu rõ thấu đáo mọi pháp một cách trọn vẹn như thật. Hiểu được pháp đen, pháp trắng, pháp liệt, pháp thắng – có nghĩa là pháp hạ liệt và pháp thù thắng làm cho tâm mình hướng thượng, như vậy mới phát khởi được sự tu tập tinh tấn ở trong đó.

Đó là sự trình bày cảm nhận của con về buổi nghe pháp hôm nay cũng như về sự thực tập của mình trong thời gian được gần gũi, lắng nghe pháp và tu học cùng đại chúng.

Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.

Thầy Pháp Minh:

Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.

Con – Pháp Minh xin kính bạch trên thầy cùng toàn thể đại chúng.

Trong khoảng thời gian qua, đối với sự tu tập của bản thân, con thấy sự tu tập của chúng ta là luôn luôn đối thoại với chính tâm của mình. Cuộc đối thoại này có hai mặt, hai pháp: pháp thiện và pháp ác, chánh và tà. Trong bộ phim về Đức Phật, có hình ảnh ma vương và hình ảnh Đức Phật ngồi dưới cội bồ đề. Chúng ta thấy rõ hình ảnh ma vương hiện ra chính là tâm tham, sân, si, vô minh, ái dục của chính Bồ Tát khi Ngài ngồi dưới cội bồ đề. Khi Ngài quán chiếu, nhìn nhận ra và thấy rõ bộ mặt của nó rồi thì tâm vô minh, tham ái, tâm sân si, tâm sanh tử luân hồi mới được chấm dứt bằng con đường Trung Đạo.

Sự thực tập của chúng ta hằng ngày và bản thân con luôn luôn nhìn lại tự thân và tâm của chính mình. Nhìn ra những rác bẩn, cấu uế trong nội tâm mà bấy lâu nay chúng ta lầm tưởng nó là bạn, lầm tưởng nó là chính mình để rồi đam mê ở trong đó. Đam mê trong tài, sắc, danh, thực, thùy; đam mê trong ngũ uẩn triền miên. Sự tu tập chân chánh là luôn luôn thấy ra lỗi lầm của chính mình và thành thật với chính mình. Con đường Đức Phật đã chỉ cho chúng ta là con đường Bát Chánh Đạo, luôn quay trở về để quán chiếu thân tâm, nhìn nhận sự vận hành của những tham muốn, dục vọng, những điều bất như ý, bất toại nguyện, những khổ của tâm luôn giằng xé trong nội tâm, chúng ta phải vượt qua, điều phục và chuyển hóa nó. Như vậy sự tu của chúng ta mới có được sự thăng hoa, tiến bộ trong Chánh Kiến, trên con đường Đức Phật và các bậc Thánh đã đi. Bây giờ có nhân duyên lớn là trên thầy cùng đại chúng ở đây cũng đã tu tập và bước đi trên con đường chân chánh, thù thắng này. Riêng bản thân con nghĩ, mình còn rất vụng về, yếu kém, cần phải nương nhờ trí tuệ của những người đi trước, của bạn bè đồng tu. Chính trong cuộc sống này rèn giũa, tác thành cho mình để vun đắp được từ bi, nhẫn, bao dung. Chính cuộc sống này cũng vun đắp cho bản thân con thêm sự hiểu biết thế nào là Chánh Kiến và vận hành, thực tập ngũ uẩn. Sự thực hành không ra khỏi cuộc sống, không ra khỏi hoàn cảnh sống của chính chúng ta, điều quan trọng là phải khéo vận dụng. Cho nên cần luôn luôn nhìn ra bản thân, nhìn ra hoàn cảnh và nhìn lại nội tâm của chính mình. Con hy vọng những điều thầy cùng toàn thể đại chúng chia sẻ, mọi người hãy lắng nghe, tiếp thu và học tập để cho sự tu hành, giải thoát, giác ngộ được viên mãn.

Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật./.