VÔ MINH 3 - ĐÂM THỦNG VÔ MINH UẨN
Tinh Hoa Nikāya
VÔ MINH 3
ĐÂM THỦNG VÔ MINH UẨN
Thích Minh Thành
MỤC LỤC TOC \o "1-3" \h \z \u
TOC \o "1-3" \h \z \u I.Trùng tuyên bài kinh Sàlha PAGEREF _Toc98253018 \h 1
II.Ý nghĩa bài kinh Sàlha PAGEREF _Toc98253019 \h 5
1.Tu tập thành tựu về giới PAGEREF _Toc98253020 \h 5
2.Ba hình ảnh bắn cung PAGEREF _Toc98253021 \h 7
a. Chánh định PAGEREF _Toc98253022 \h 8
b.Chánh tri kiến PAGEREF _Toc98253023 \h 9
c.Chánh giải thoát PAGEREF _Toc98253024 \h 11
Trùng tuyên bài kinh Sàlha
Chúng ta sẽ tìm hiểu về các khía cạnh của vô minh qua bài kinh Sàlha, Tăng Chi Bộ, tập II. Nội dung kinh này nói về chánh giải thoát đâm thủng vô minh uẩn, tức là sự thoát ra chân chính sẽ đâm thủng được khối vô minh to lớn của chúng ta.
Một thời, Thế Tôn trú ở Vesàli (Tỳ-xá-ly) tại Đại Lâm, trong ngôi nhà có nóc nhọn. Rồi Licchavì Sàlha và Licchavì Abhaya đi đến Thế Tôn; sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, Licchavì Sàlha bạch Thế Tôn:
- Bạch Thế Tôn, có những Sa-môn, Bà-la-môn trình bày sự vượt qua dòng nước mạnh với hai pháp môn: nhân giới thanh tịnh và nhân khổ hạnh nhàm chán. Ở đây, bạch Thế Tôn, Thế Tôn có nói gì?
Vị này đi đến hỏi Đức Phật, người tu hành nói rằng: có thể vượt qua được dòng thác lũ, dòng nước chảy mạnh, chảy xiết, tức là vượt qua được sự đau khổ bằng hai cách:
Một là giữ giới trong sạch.
Hai là sự khổ hạnh, nhàm chán, tức là hành hạ thân xác của mình bằng sự khổ sở, luôn có một sự nhàm chán.
Vị này đã hỏi Đức Thế Tôn: “Bạch bậc tôn quý trên đời, bạch Thế Tôn, ở đây Thế Tôn có nói gì?” Tức là ở đây Ngài dạy như thế nào, làm sao để vượt qua dòng nước xiết, dòng nước chảy mạnh, thác lũ, có nghĩa là giải thoát.
Này Sàlha, Ta nói rằng giới thanh tịnh là một chi phần của Sa-môn hạnh (Giới thanh tịnh, giữ giới trong sạch là một chi phần trong đức hạnh của người tu). Các vị Sa-môn, Bà- la-môn nào, này Salha, sống chủ trương nhân khổ hạnh nhàm chán, xem khổ hạnh nhàm chán là lõi cây, chấp chặt vào khổ hạnh nhàm chán, những vị ấy không thể nào vượt qua dòng nước mạnh.
Đức Thế Tôn trả lời giới trong sạch là một chi phần chứ không phải là tất cả, những người tu nào chủ trương hành hạ thân xác mình cho khổ sở và nhàm chán, xem cái khổ hạnh và nhàm chán đó là lõi cây, là quan trọng nhất, chấp chặt vào trong sự khổ hạnh và nhàm chán đó, cho nó là nhất, là quan trọng, tối yếu. Đức Thế Tôn nói rằng những vị ấy không thể vượt qua dòng nước mạnh, dòng nước xiết.
Các vị Sa-môn, Bà-la-môn nào, này Sàlha, thân hành không thanh tịnh, lời nói không thanh tịnh, ý hành không thanh tịnh, sanh sống không thanh tịnh, những vị ấy không có thể đạt được tri kiến vô thượng Bồ-đề.
Đức Thế Tôn nói rằng những người tu hành mà hành động của thân không trong sạch, thanh tịnh, lời nói của miệng không trong sạch, thanh tịnh, suy nghĩ của tâm ý không trong sạch, thanh tịnh. Tức là thân – miệng – ý không trong sạch. Sinh sống không trong sạch, thanh tịnh. Sinh sống là mưu sinh, sống bằng nghề, làm những nghề không trong sạch như buôn rượu bán thịt, bán vũ khí, thuốc độc, buôn bán người... Đây là các giới của cư sĩ, nói về các giới xuất gia còn nhiều hơn. Những người mà thân – miệng – ý không trong sạch, và cái mưu sinh, sinh sống không thạnh tịnh thì những người đó không đạt được tri kiến vô thượng Bồ-đề, không đạt được sự thấy biết, giác ngộ cùng tột. Trong đó, tri kiến là sự thấy biết, vô thượng là không có gì hơn nữa, Bồ-đề là giác ngộ. Khi thân không sạch, miệng không sạch, ý không sạch và sinh sống không sạch thì không thể thành tựu được Chánh giác, không có sự thấy biết, giác ngộ cùng tột, riết ráo.
Ví như, này Sàlhà, một người muốn vượt qua sông, cầm một cây búa sắc bén đi vào rừng. Tại đấy, nó thấy một cây sàhla lớn, cao, thẳng, còn trẻ, không có lồi lõm. Nó chặt cây ấy tại gốc, sau khi chặt ở gốc, nó đốn ngọn. Sau khi đốn ngọn, nó tỉa cành lá và làm cho thân cây trơn tru. Sau khi tỉa cành lá và làm cho thân cây trơn tru, nó gọt đẽo với cái búa. Sau khi gọt đẽo với cái búa, nó gọt đẽo với con dao. Sau khi gọt đẽo với con dao, nó bào sạch với cái bào. Sau khi bào sạch với cái bào, nó bào sạch với hòn đá mài. Sau khi bào sạch với hòn đá mài, nó đem cây ấy xuống sông.
Đức Phật hỏi: “Ý Ông nghĩ thế nào, này Sàlhà người ấy có thể vượt qua sông được không?” Người này chặt đúng một cây Sàhla, tuy làm rất kỹ lưỡng, chặt cành, bỏ lá, lưạ cây lớn, cao, thẳng, đón ngọn, tỉa cành lá, làm cho cây tơn tru, gọt, đẽo, bào, chà cho sạch... sau đó bỏ xuống sông, liệu cây này có đưa người đó qua sông được không?
- Thưa không, bạch Thế Tôn. Bạch Thế Tôn, vì cây sàla ấy, tuy bề ngoài rất khéo làm, (tức là làm rất thận trọng, kỹ lưỡng, cây lớn, cao, thẳng, không lồi lõm, người đó đã tỉa cành, chặt gốc làm trơn tru, đẽo gọt, chùi, bào...) nhưng bề trong không được làm sạch. Do vậy, sự việc chờ đợi rằng: "Cây sàla ấy chìm xuống và người ấy rơi vào ách nạn”.
Cũng vậy, này Sàlhà, những Sa-môn, Bà-la-môn nào chủ trương sống khổ hạnh nhàm chán, xem khổ hạnh nhàm chán là lõi cây, chấp chặt lấy khổ hạnh nhàm chán, những vị ấy không có thể vượt qua dòng nước mạnh, dòng nước siết. Này Sàlhà, những vị Sa-môn, Bà-la-môn nào, thân hành không thanh tịnh, lời nói không thanh tịnh, ý hành không thanh tịnh, sinh sống không thanh tịnh, chúng không có thể chứng được tri kiến vô thượng Bồ-đề. Này Sàlhà, những Sa-môn, Bà-la-môn nào sống không chủ trương khổ hạnh nhàm chán, không xem khổ hạnh nhàm chán là lõi cây, không chấp chặt lấy khổ hạnh nhàm chán, những vị ấy có thể vượt qua dòng nước chảy mạnh. Này Sàlhà, những vị Sa-môn, Bà-la-môn nào, thân hành thanh tịnh, lời nói thanh tịnh, ý hành thanh tịnh, sinh sống thanh tịnh, những vị ấy có thể chứng được tri kiến vô thượng Bồ-đề (đạt được sự thấy biết, giác ngộ cùng tột).
Ví như, này Sàlhà, một người muốn vượt qua sông, cầm một cây búa sắc bén đi vào rừng. Tại đấy, người ấy thấy một cây sàla lớn, cao, thẳng, còn trẻ, không có lồi lõm. Nó chặt cây ấy tại gốc, sau khi chặt ở gốc, người ấy đốn ngọn. Sau khi đốn ngọn, người ấy tỉa cành lá và làm cho thân cây trơn tru. Sau khi tỉa cành lá và làm cho thân cây trơn tru, người ấy gọt đẽo với cái búa. Sau khi gọt đẽo với cái búa, người ấy gọt đẽo với con dao. Sau khi gọt đẽo với con dao, người ấy bào sạch với cái bào. Sau khi bào sạch với cái bào, người ấy bào sạch với hòn đá mài. Sau khi bào sạch với hòn đá mài, người ấy làm thành chiếc thuyền, cột với cái chèo và bánh lái, rồi cuối cùng người ấy thả xuống sông. Người này đã biết làm thành chiếc thuyền, biết cột với mái chèo và bánh lái.
- Ý ông nghĩ thế nào, này Sàlhà người ấy có thể vượt qua sông được không?
- Thưa được, bạch Thế Tôn.
- Vì sao?
- Bạch Thế Tôn, vì cây sàla ấy, bề ngoài rất khéo làm, bề trong được làm sạch, được cột với cái chèo và bánh lái. Do vậy, sự việc chờ đợi rằng: "Chiếc thuyền ấy không chìm, và người ấy sẽ đến bờ bên kia an toàn".
Đức Phật nói: Cũng vậy, này Sàlhà, những Sa-môn, Bà-la- môn nào không chủ trương khổ hạnh nhàm chán, những vị ấy có thể vượt qua dòng nước mạnh. Này Sàlhà, những vị Sa-môn, Bà-la-môn nào, thân hành thanh tịnh, lời nói thanh tịnh, ý hành thanh tịnh, sinh sống thanh tịnh, những vị ấy có thể chứng được tri kiến vô thượng Bồ-đề”. Một người tu mà thân – miệng – ý, đời sống trong sạch thì người đó có thể đạt được sự thấy biết, giác ngộ cùng tột.
Ví như, này Sàlhà, một chiến sĩ dầu biết được nhiều cung thuật, nhưng về ba phương diện nó không xứng đáng là của vua, thuộc sở hữu của vua, đi đến làm biểu tượng của vua. Nếu về ba phương diện này mà người này không thành công thì người này không xứng đáng là dũng sĩ của nhà vua. Thế nào là ba phương diện? Bắn xa (bắn cung), bắn nhanh như chớp nhoáng, và bắn thủng được vật lớn. Đạt được ba kỹ thuật này, có được ba phương diện, tài năng, kỹ năng này thì mới xứng đáng là dũng sĩ, chiến sĩ về cung thuật của nhà vua, thuộc sở hữu của vua, làm biểu tượng của nhà vua.
Ví như, này Sàlhà, người chiến sĩ bắn xa, cũng vậy, này Sàlhà, là Thánh đệ tử có chánh định. Phàm có sắc gì quá khứ, vị lai, hiện tại, hoặc nội hay ngoại, hoặc thô hay tế, hoặc liệt hay thắng, hoặc xa hay gần, cần phải như thật thấy với trí tuệ rằng: "Cái này không phải của tôi, cái này không phải là tôi, cái này không phải là tự ngã của tôi”. Như vậy được gọi là bắn xa. Phàm có cảm thọ gì… phàm có tưởng gì… phàm có hành gì…phàm có suy nghĩ gì... phàm có thức gì... , quá khứ, vị lai, hiện tại (trước kia, hiện nay hay sau này), hoặc nội hay ngoại, hoặc thô hay tế, hoặc liệt hay thắng, hoặc xa hay gần, cần phải như thật thấy với trí tuệ rằng: "Cái này không phải của tôi, cái này không phải là tôi, cái này không phải là tự ngã của tôi”. (Tất cả những sắc, thọ, tưởng, hành thức này không phải của tôi, cái này không phải là tôi, cái này không phải là tự ngã của tôi). Như vậy mới được gọi là vị thánh đệ tử của chánh định, là một chiến sĩ bắn xa. Chỉ có chánh định mới nhận thấy được như vậy, có một tâm an tịnh, có sự nhận diện sâu sắc.
Ví như, này Sàlhà, người chiến sĩ bắn như chớp nhoáng. Cũng vậy, này Sàlhà là vị Thánh đệ tử có chánh tri kiến. Vị Thánh đệ tử này Sàlhà, có chánh tri kiến như thật quán tri: "Đây là khổ…, Đây là khổ tập…, Đây là khổ diệt…, Đây là con đường đưa đến khổ diệt”. Vị đệ tử của bậc thánh này có thấy biết, chân xác, chân chánh đúng đắn và quán xét một cách đúng sự thật: “ngũ uẩn này là khổ”. Đây là khổ. Người này có thấy biết chân chánh, quán sát đúng sự thật, những dục ái, tham sân si, vô minh, bản ngã này là nguyên nhân của đau khổ. Người này với sự thấy biết chân chánh, quán chiếu một cách sâu sắc, chữ khổ này chấm dứt. Và đây Bát thánh đạo, sự nhận diện ngũ uẩn, nhận diện lậu hoặc, sự tẩy rửa những cái ác bất thiện pháp và cấu nhiễm bằng phương pháp tám đúng, đây là con đường đưa đến chấm dứt khổ đau. Như vậy được gọi là bắn như chớp nhoáng.
Ví như, này Sàlhà, người chiến sĩ đâm thủng được thân hình lớn. Cũng vậy, này Sàlhà là vị Thánh đệ tử có chánh giải thoát. Vị Thánh đệ tử này Sàlhà, có chánh giải thoát đâm thủng được vô minh uẩn to lớn. (Tăng Chi Bộ kinh – tập II, 4. Chương Bốn Pháp, XX. Đại Phẩm, kinh Sàlha)
Ý nghĩa bài kinh Sàlha
Đức Phật đã dạy rằng: “điều căn bản trong sự tu tập của mình là thân – miệng – ý và đời sống trong sạch, thì mới vượt qua dòng thác lũ, tức là vượt qua sinh tử luân hồi.” Phải đi từ cái căn bản, có nghĩa là giữ giới, nhưng phải luôn nhớ rằng “giới chỉ là chi phần”, không phải toàn phần, tuy nhiên, muốn thành tựu được toàn phần thì trước hết phải thành tựu về giới.
Tu tập thành tựu về giới
Cho nên, dù là tại gia hay xuất gia, dù là cư sĩ hay tu sĩ chúng ta đều phải chú trọng, để ý nhiều đến giới hạnh, giới đức của một người tu. Từ các hành vi của mình, từ lời nói, thậm chí là ở trong suy nghĩ mà không ai biết chúng ta cũng đều phải giữ gìn. Lấy các giới mà chúng ta đã thọ đễ làm chuẩn mực, làm thước đo.
Giới không sát sinh: Đối với người tu sĩ, tập giữ giới không sát sinh, hạn chế sát sinh đến mức tối đa, hết mức có thể. Từ bỏ sự giết hại sinh mạng dù là hữu tình hay vô tình.
Giới không trộm cắp: Từ bỏ lấy của không cho, người khác không cho thì tuyệt đối mình sẽ không lấy. Chúng ta nên cố gắng tập hết mức, tối đa để có thể làm được, thường xuyên tác ý nhắc nhở về các giới.
Giới không tà dâm: Từ bỏ tà hạnh trong các dục, từ bỏ tà dâm, ngoại tình. Có đời sống trong sạch trong gia đình của mình.
Giới không nói dối: Đối với lời nói, chúng ta tập nói lời chân thật, nói lời chân chính, từ ái, ngay thẳng. Cố gắng nhớ và luôn nhắc mình không nói dối, nói lời lưỡi đôi chiều, nói lời thêu dệt, lời hung ác, đâm thọc, đâm bị thóc thọc bị gạo. Không nói lời phù phiếm, vô nghĩa, vô ích. Không nói những lời nói chơi, nói đùa, lời nói không có ý nghĩa, không có lợi ích, không có giá trị. Không nói những lời làm cho loạn tâm, lý luận phù phiếm, nói luyên thuyên, nói những điều không cần thiết phải nói, làm cho tâm chúng ta bị loạn động, đồng thời cũng làm cho tâm người khác cũng bị loạn động. Điều này rất quan trọng, nếu tu tập được như vậy thì thật tốt. Dù là nói trực tiếp hay ngay cả khi chúng ta nói chuyện điện thoại thì chỉ nên nói những điều cần thiết, nói điều lợi mình, lợi người, tốt cho mình cho người, nói để ly tham, để dẹp cái sân, nói để hạ thấp bản ngã, phá vỡ vô minh. Chứ không nên nói qua nói lại, nói tới nói lui; không phải nói để tăng thêm lòng tham, nói để người khác nổi nóng, thêm ganh đấu, tranh đấu hơn thua, đó là lời nói không trong sạch, không thanh tịnh.
Bởi vậy, điều căn bản đầu tiên trong sự tu tập của bản thân là giữ gìn thân, miệng, ý. Phải luôn luôn hộ trì, phòng hộ, giữ gìn, quán xét, soi rọi, kiểm soát, kiểm tra, theo dõi, bảo hộ, bảo vệ, quản lý, quản trị, quản thúc thân, miệng, ý bằng giới và sự chánh niệm tỉnh thức. Khi chúng ta nhớ đến giới là chúng ta đã bớt đi một phần vô minh. Khi chúng ta chánh niệm tỉnh thức là chúng ta đã đang sống trong minh trí của Phật.
Trong đời sống thường ngày, nên tránh làm những nghề khiến tâm chúng ta bất an, thân chúng ta tạo nghiệp, làm người khác khổ đau như nghề bán thuốc độc, bán rượu khiến người khác say xỉn, bán thịt khiến người ta phải giết mổ, bán vũ khí tạo nên chiến tranh, sát sinh, hay buôn bán con người... Sự sống của mình dựa trên sinh mạng của người khác, gây ra sự đau khổ của người ta. Điều này Đức Phật đã nhắc nhỡ chúng ta rất kỹ, nên giữ gìn, không làm những điều sai trái đó, như vậy sẽ khiến đời sống của chúng ta trở nên trong sạch và dần dần đi đến sự thanh tịnh. Khi có thân – miệng – ý và đời sống trong sạch, thanh tịnh thì mới có thể đạt được chánh kiến thật viên mãn, thấy biết thấu đáo, triệt để về sự thật của thân tâm này, về thế giời này.
Ngài Sàlha đã hỏi Đức Phật, khi đã giữ giới trong sạch và hành thân khổ hạnh, nhàm chán sẽ đắc đạo và giải thoát được không? Đức Phật nói rằng đó chỉ là một chi phần thôi. Cũng như người muốn qua sông mà chỉ chặt một cái cây thì không thể qua sống được. Cho nên, ngoài thành tựu giới và giữ gìn sự khổ hạnh, nhàm chán thì cần phải có thêm pháp. Điều quan trọng Đức Phật nói là nếu những người tu hành cứ mãi chấp thủ vào trong giới, chấp thủ vào khổ hạnh, nhàm chán đã thành tựu và luôn cho đó là nhất, là số một, là tuyệt diệu, là tối cao, là lõi cây thì những người chấp thủ, nắm giữ quan điểm, chủ trương như vậy sẽ không đạt được sự thấy biết viên mãn, rốt ráo của sự giác ngộ.
Ba hình ảnh bắn cung
Đức Phật cũng nói rằng, tuy giữ được giới và khổ hạnh nhàm chán là tốt nhưng phải tiến lên thêm nữa. Giống như việc chặt một cây Sàlha để qua sông là không được mà phải làm thành chiếc bè, cột với mái chèo và bánh lái. Cũng vậy, chỉ với giới và khổ hạnh nhàm chán là chưa đủ mà phải có Chánh định, Chánh kiến và Chánh giải thoát qua ba hình ảnh của nghệ thuật bắn cung.
Đức Phật lấy hình ảnh của một chiến sĩ giỏi về cung thuật (kỹ thuật bắn cung) trong ba phương diện: bắn xa, bắn nhanh và bắn thủng được vật lớn. Khi bắn ra mũi tên thì mũi tên đi rất xa, bắn rất nhanh như chớp nhoáng, và bắn thủng, bắn xuyên được vật lớn. Khi đạt được thành tựu về cả ba kỹ thuật này thì người đó mới được gọi là chiến sĩ, dũng sĩ xứng đáng của nhà vua.
a. Chánh định
Đức Phật lấy ví dụ bắn xa, ở đây, người bắn xa là Thánh đệ tử có Chánh định. Chúng ta nên hiểu Chánh định theo nghĩa gần để dễ tu học.
Chánh định có nghĩa là có tâm an tịnh, lắng dịu để nhìn thấy được hình hài này, cảm giác này, hình bóng trong tâm, những suy nghĩ, những nhận thức dù là thuở xưa, hiện nay hay mai sau, dù đẹp hay xấu, dù xa hay gần, trong hay ngoài… thì chúng ta nhìn thấy nó không phải là của tôi, không phải là tôi, không phải là tự ngã của tôi. Đối với bất cứ sắc, thọ, tưởng, hành thức nào, chúng ta có sự nhận diện ngũ uẩn, có tâm an tịnh, lắng dịu và nhìn sâu sắc, nhìn kỹ. Phải thấy rõ sắc là sắc, nó không phải là mình, không phải là của mình và không phải là tự ngã của mình. Thấy được những cảm thọ chỉ là những cảm giác sinh rồi diệt, phồng lên rồi xẹp xuống, nổi lên rồi nát tan ra. Đối với những hình bóng, suy nghĩ, nhận thức, chúng ta cũng phải thường để tâm an tịnh để thấy sự sinh diệt của chúng, thấy được sự vận hành của chúng, thấy được những vở tuồng, sự diễn tuồng của chúng và không bị lầm tưởng nhận nó là của mình, là mình, là tự ngã của mình.
Nhờ có tâm an tịnh, lắng dịu nên chúng ta nhìn thấy được những sắc, thọ, tưởng, hành thức sinh khởi, vận hành, hoại diệt, biến chuyển, dịch chuyển, thiên lưu. Khi có được tâm an tịnh để nhận biết, nhìn thấy được những điều đó thì người Thánh đệ tử này được gọi là người giỏi bắn xa. Trong kinh Đức Phật sử dụng các từ ngữ: cần phải như thật thấy với trí tuệ rằng vị Thánh đệ tử đó có tâm an tịnh, kiên định nhận diện, nhìn rõ, cần phải thấy biết một cách đúng sự thật với trí tuệ rằng “cái này không phải của tôi, không phải là tôi, không phải là tự ngã của tôi”.
Ví dụ, một lần Minh Thành đi công việc về, lúc đó xe chạy lên chùa đông đúc nên đường lên chùa không chạy được, Minh Thành phải đi bộ, xách đồ lên. Khi đó, Minh Thành cảm thấy xe cộ chạy nhanh muốn tông vào người, lên chùa thì ồn ào. Lúc đó còn cảm thấy con người tại sao cứ tham lam, ích kỷ, sân si, giành giật… Thế là tâm khó chịu sanh khởi lên, ngay lúc đó Minh Thành tác ý lập tức: “Thái tử Tất-đạt-đa ngày xưa từ cung vàng điện ngọc còn bỏ được, còn cái chùa này là của bá gia bá tánh mà mình lại không bỏ được hay sao? Cuộc đời luôn là vậy, đều là tham sân si, là bản ngã, là ích kỷ, vậy nên hãy buông xả cái tâm của mình”. Trước đó Minh Thành đã nghĩ phải sắp xếp nhờ người mở đường, làm rào, cửa cổng đủ kiểu, nhưng khi tác ý được, lập tức tâm Minh Thành an tịnh, lắng dịu, dễ chịu, sinh hỷ lạc. Không tính đến những điều kiện khách quan khác, chỉ riêng việc lúc đó tâm mình khởi lên khó chịu là bản thân mình đã sai. Bởi lẽ, những thứ vô thường, tai họa, tan nát này không phải là của mình, không phải là của ai hết. Tác ý buông xả để lập tức tâm được nhẹ tênh, khinh an, hỷ lạc. Sau đó, Minh Thành đi bộ, xách đồ, cúi đầu xuống mà đi lên núi, thậm chí xe muốn tông vào mình nhưng tâm vẫn an lạc, vẫn hỷ lạc, vẫn nhẹ nhàng.
Giáo pháp này thật tuyệt diệu, tối thượng. Đức Thế Tôn đã chỉ cho mình biết rằng “không có gì là ta”, cần phải như thật thấy với trí tuệ rằng tất cả mọi thứ, ngay cả thân tâm này đều không phải của tôi, không phải là tôi, không phải tự ngã của tôi. Tất cả chỉ là thọ, là sắc... không là gì cả. Sắc, thọ, tưởng, hành thức tạo ra mọi vở tuồng. Sắc, thọ, tưởng, hành thức là nguồn của khổ đau. Sắc, thọ, tưởng, hành thức đã dựng nên bao nhiêu vở tuồng, với đầy nước mắt, đầy sân hận, đầy giành giật. Trên thực tế, đến anh chị em ruột, vì một con đường đi mấy tấc mà đau khổ, phiền não với nhau, rơi nước mắt, mất ăn mất ngủ, tâm bất an... thậm chí mất mạng.
Cho nên, chúng ta luôn niệm “cần phải như thật thấy với chánh trí tuệ rằng cái này không phải của tôi, cái này không phải là tôi, cái này không phải tự ngã của tôi”. Không có gì là của tôi, tắt thở rồi cái này là của ai? Tai nạn giao thông xảy ra rồi thì cái này là của ai? Đột quỵ đến rồi cái này là của ai? Tai biến mạch máu não, nằm như người thực vật thì cái này là của ai? Mắc dịch bệnh, khi trả về còn mớ tro hũ cốt rồi cái này là của ai?... Không là của ai cả, bản chất nó là trống rổng, trống không, trống trơn, chỉ là cảnh mộng cho nên tâm mình thường trú trong sự xả ly, viễn ly, đoạn ly, xuất ly đối với ngũ uẩn. Thường xuyên thực tập câu: “Niệm tâm lặng yên, tâm dễ chịu – Niệm ngũ uẩn này không phải taLuôn nhớ “không gì là ta, không gì là của ta, không gì là tự ngã của ta”. Luôn niệm như vậy dù khi có phiền, có giận, có buồn, có hờn, có hơn có thua. Đó là bí kíp của Chánh pháp, vô cùng vi diệu, thù thắng.
Chánh tri kiến
Khi chúng ta có Chánh định và thực hành sự tác ý thì ngay lập tức Chánh trí, Chánh giải thoát hiện ra. Đức Phật cho rằng, bắn như chớp nhoáng là vị Thánh đệ tử có chánh tri kiến như thật quán tri, quán xét, quán biết rằng đây là khổ. Mang đống da thịt này là đống khổ; mang đống đất, đống tiền, đống nhà, đống xe này là đống khổ; mang cái mắt kiếng này là cái khổ; mang cái mũi, miệng, tai này là khổ; mang cái mình này là khổ, là đói, là khát, là bệnh, là đau, là ốm; mang cái thân này thật khổ, tấm thân đồ gốm, thân giòn, thân dễ vở, thân dễ tan dễ nát, dễ hoại, dễ bệnh.
Vị Thánh đệ tử bắn như chớp nhoáng là vị có chánh tri kiến thấy đây là khổ. Luôn nhớ đây là khổ, mang cái thân này là mang cái khổ, mang cái nhà này là mang cái khổ, mang cái miếng đất này là mang cái khổ, mang cái xe này, mớ tiền này là mang cái khổ. Như chúng ta đi trên đường, nghe điện thoại, bị giật rồi đập đầu xuống và chết hoặc bị toác đầu chảy máu, có phải mang điện thoại là mang cái khổ? Nếu không mang điện thoại thì không bị đập đầu, không bị giật, không chết – đây là khổ. Vì vậy, cần phải nhìn ra được Thánh trí tuệ này, phải nhìn ra được đây là khổ, không được quên.
Khi nhìn vào Thánh trí tuệ phải soi từng phương diện, từng khía cạnh của đời sống này. Khi làm việc thì vẫn phải làm để tròn bổn phận nhưng không bị vô minh, si ám. Chúng ta làm việc để tròn bổn phận nhưng làm với tâm từ, với chánh niệm, khi có thể thì bỏ ngay lập tức. Đối với tất cả mọi thứ trên thế gian này, không có gì là của tôi, là tôi, là tự ngã của tôi, mà chỉ là do mình ảo tưởng, vọng tưởng, mộng tưởng, điên đảo tưởng, si mê tưởng, viễn tưởng. Tự mình cho rằng cái gì cũng tôi, cái gì cũng của tôi. Trong cái tết vừa qua, rất nhiều người đã chết vì tai nạn giao thông, vậy, bây giờ những người đó ở đâu, nhà cửa, vợ con đâu, tiền đâu, xe đâu, tài sản đâu?
Vậy nên, chúng ta phải thâm nhập Thánh trí tuệ, thâm nhập vào Khổ Thánh trí, thâm nhập thật sâu, ngấm thật sâu, thấm đượm thật sâu trí tuệ này vào trong tủy não của mình. Phải thấy được nguyên nhân của khổ là những vô minh, tham dục, tham ái, sân si, bản ngã. Mỗi lần sanh khởi lên những sân hận, tham muốn, hơn thua thì phải chỉ thẳng vào cảm thọ này và tác ý rằng đó là khổ, là nguyên nhân của khổ, là căn nguyên cội nguồn của đau khổ, sầu bi, ưu não. Đó là suối nguồn, mạch nguồn của sự khổ đau. Chúng ta cần nhìn ra nguyên nhân đau khổ ở bên trong sắc, thọ, tưởng, hành thức, nhận diện được những cảm thọ thúc giục, suy nghĩ cao thấp, hơn thua trong những ảo tưởng về tự ngã thì mới có thể đi trên con đường diệt khổ. Hãy tác ý, nhiếp phục, đoạn tận, tẩy sạch, diệt trừ những rác bẩn đó bằng vũ khí Thánh trí tuệ, bằng Như lý tác ý thần kiếm, đầy đanh thép, mạnh mẽ, hùng lực.
Chánh giải thoát
Thế nào là chiến sĩ đâm thủng được thân hình to lớn? Vị Thánh đệ tử này có Chánh giải thoát đâm thủng được vô minh uẩn to lớn. Chánh giải thoát giúp tâm mình tác ý và thoát ra sự chi phối của ngũ uẩn một cách nhẹ nhàng; thoát ra khỏi thọ, tưởng, hành thức; thoát ra khỏi cảm thọ tiêu cực; thoát ra khỏi những suy nghĩ tự ngã, những cảm giác bức xúc, không bị nó xâm chiếm áp đảo, vây hãm, nhốt, xiềng xích bản thân. Chúng ta phải thoát ra một cách khéo léo, một cú thoát ra ngoạn mục, được gọi là Chánh giải thoát, đâm thủng được đống vô minh to lớn. Đập tan được đống vô minh cho rằng là của ta, là ta, là tự ngã của ta. Người tu chúng ta phải đâm thủng để thoát ra khỏi đống vô minh to lớn ấy. Như vậy mới là người chiến sĩ bắn thủng được vật lớn.
Đó là toàn bộ ý nghĩa của bài kinh Sàlha, Tăng Chi Bộ kinh – tập II.
./.
VÔ MINH 3
ĐÂM THỦNG VÔ MINH UẨN
Thích Minh Thành
MỤC LỤC TOC \o "1-3" \h \z \u
TOC \o "1-3" \h \z \u I.Trùng tuyên bài kinh Sàlha PAGEREF _Toc98253018 \h 1
II.Ý nghĩa bài kinh Sàlha PAGEREF _Toc98253019 \h 5
1.Tu tập thành tựu về giới PAGEREF _Toc98253020 \h 5
2.Ba hình ảnh bắn cung PAGEREF _Toc98253021 \h 7
a. Chánh định PAGEREF _Toc98253022 \h 8
b.Chánh tri kiến PAGEREF _Toc98253023 \h 9
c.Chánh giải thoát PAGEREF _Toc98253024 \h 11
Trùng tuyên bài kinh Sàlha
Chúng ta sẽ tìm hiểu về các khía cạnh của vô minh qua bài kinh Sàlha, Tăng Chi Bộ, tập II. Nội dung kinh này nói về chánh giải thoát đâm thủng vô minh uẩn, tức là sự thoát ra chân chính sẽ đâm thủng được khối vô minh to lớn của chúng ta.
Một thời, Thế Tôn trú ở Vesàli (Tỳ-xá-ly) tại Đại Lâm, trong ngôi nhà có nóc nhọn. Rồi Licchavì Sàlha và Licchavì Abhaya đi đến Thế Tôn; sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, Licchavì Sàlha bạch Thế Tôn:
- Bạch Thế Tôn, có những Sa-môn, Bà-la-môn trình bày sự vượt qua dòng nước mạnh với hai pháp môn: nhân giới thanh tịnh và nhân khổ hạnh nhàm chán. Ở đây, bạch Thế Tôn, Thế Tôn có nói gì?
Vị này đi đến hỏi Đức Phật, người tu hành nói rằng: có thể vượt qua được dòng thác lũ, dòng nước chảy mạnh, chảy xiết, tức là vượt qua được sự đau khổ bằng hai cách:
Một là giữ giới trong sạch.
Hai là sự khổ hạnh, nhàm chán, tức là hành hạ thân xác của mình bằng sự khổ sở, luôn có một sự nhàm chán.
Vị này đã hỏi Đức Thế Tôn: “Bạch bậc tôn quý trên đời, bạch Thế Tôn, ở đây Thế Tôn có nói gì?” Tức là ở đây Ngài dạy như thế nào, làm sao để vượt qua dòng nước xiết, dòng nước chảy mạnh, thác lũ, có nghĩa là giải thoát.
Này Sàlha, Ta nói rằng giới thanh tịnh là một chi phần của Sa-môn hạnh (Giới thanh tịnh, giữ giới trong sạch là một chi phần trong đức hạnh của người tu). Các vị Sa-môn, Bà- la-môn nào, này Salha, sống chủ trương nhân khổ hạnh nhàm chán, xem khổ hạnh nhàm chán là lõi cây, chấp chặt vào khổ hạnh nhàm chán, những vị ấy không thể nào vượt qua dòng nước mạnh.
Đức Thế Tôn trả lời giới trong sạch là một chi phần chứ không phải là tất cả, những người tu nào chủ trương hành hạ thân xác mình cho khổ sở và nhàm chán, xem cái khổ hạnh và nhàm chán đó là lõi cây, là quan trọng nhất, chấp chặt vào trong sự khổ hạnh và nhàm chán đó, cho nó là nhất, là quan trọng, tối yếu. Đức Thế Tôn nói rằng những vị ấy không thể vượt qua dòng nước mạnh, dòng nước xiết.
Các vị Sa-môn, Bà-la-môn nào, này Sàlha, thân hành không thanh tịnh, lời nói không thanh tịnh, ý hành không thanh tịnh, sanh sống không thanh tịnh, những vị ấy không có thể đạt được tri kiến vô thượng Bồ-đề.
Đức Thế Tôn nói rằng những người tu hành mà hành động của thân không trong sạch, thanh tịnh, lời nói của miệng không trong sạch, thanh tịnh, suy nghĩ của tâm ý không trong sạch, thanh tịnh. Tức là thân – miệng – ý không trong sạch. Sinh sống không trong sạch, thanh tịnh. Sinh sống là mưu sinh, sống bằng nghề, làm những nghề không trong sạch như buôn rượu bán thịt, bán vũ khí, thuốc độc, buôn bán người... Đây là các giới của cư sĩ, nói về các giới xuất gia còn nhiều hơn. Những người mà thân – miệng – ý không trong sạch, và cái mưu sinh, sinh sống không thạnh tịnh thì những người đó không đạt được tri kiến vô thượng Bồ-đề, không đạt được sự thấy biết, giác ngộ cùng tột. Trong đó, tri kiến là sự thấy biết, vô thượng là không có gì hơn nữa, Bồ-đề là giác ngộ. Khi thân không sạch, miệng không sạch, ý không sạch và sinh sống không sạch thì không thể thành tựu được Chánh giác, không có sự thấy biết, giác ngộ cùng tột, riết ráo.
Ví như, này Sàlhà, một người muốn vượt qua sông, cầm một cây búa sắc bén đi vào rừng. Tại đấy, nó thấy một cây sàhla lớn, cao, thẳng, còn trẻ, không có lồi lõm. Nó chặt cây ấy tại gốc, sau khi chặt ở gốc, nó đốn ngọn. Sau khi đốn ngọn, nó tỉa cành lá và làm cho thân cây trơn tru. Sau khi tỉa cành lá và làm cho thân cây trơn tru, nó gọt đẽo với cái búa. Sau khi gọt đẽo với cái búa, nó gọt đẽo với con dao. Sau khi gọt đẽo với con dao, nó bào sạch với cái bào. Sau khi bào sạch với cái bào, nó bào sạch với hòn đá mài. Sau khi bào sạch với hòn đá mài, nó đem cây ấy xuống sông.
Đức Phật hỏi: “Ý Ông nghĩ thế nào, này Sàlhà người ấy có thể vượt qua sông được không?” Người này chặt đúng một cây Sàhla, tuy làm rất kỹ lưỡng, chặt cành, bỏ lá, lưạ cây lớn, cao, thẳng, đón ngọn, tỉa cành lá, làm cho cây tơn tru, gọt, đẽo, bào, chà cho sạch... sau đó bỏ xuống sông, liệu cây này có đưa người đó qua sông được không?
- Thưa không, bạch Thế Tôn. Bạch Thế Tôn, vì cây sàla ấy, tuy bề ngoài rất khéo làm, (tức là làm rất thận trọng, kỹ lưỡng, cây lớn, cao, thẳng, không lồi lõm, người đó đã tỉa cành, chặt gốc làm trơn tru, đẽo gọt, chùi, bào...) nhưng bề trong không được làm sạch. Do vậy, sự việc chờ đợi rằng: "Cây sàla ấy chìm xuống và người ấy rơi vào ách nạn”.
Cũng vậy, này Sàlhà, những Sa-môn, Bà-la-môn nào chủ trương sống khổ hạnh nhàm chán, xem khổ hạnh nhàm chán là lõi cây, chấp chặt lấy khổ hạnh nhàm chán, những vị ấy không có thể vượt qua dòng nước mạnh, dòng nước siết. Này Sàlhà, những vị Sa-môn, Bà-la-môn nào, thân hành không thanh tịnh, lời nói không thanh tịnh, ý hành không thanh tịnh, sinh sống không thanh tịnh, chúng không có thể chứng được tri kiến vô thượng Bồ-đề. Này Sàlhà, những Sa-môn, Bà-la-môn nào sống không chủ trương khổ hạnh nhàm chán, không xem khổ hạnh nhàm chán là lõi cây, không chấp chặt lấy khổ hạnh nhàm chán, những vị ấy có thể vượt qua dòng nước chảy mạnh. Này Sàlhà, những vị Sa-môn, Bà-la-môn nào, thân hành thanh tịnh, lời nói thanh tịnh, ý hành thanh tịnh, sinh sống thanh tịnh, những vị ấy có thể chứng được tri kiến vô thượng Bồ-đề (đạt được sự thấy biết, giác ngộ cùng tột).
Ví như, này Sàlhà, một người muốn vượt qua sông, cầm một cây búa sắc bén đi vào rừng. Tại đấy, người ấy thấy một cây sàla lớn, cao, thẳng, còn trẻ, không có lồi lõm. Nó chặt cây ấy tại gốc, sau khi chặt ở gốc, người ấy đốn ngọn. Sau khi đốn ngọn, người ấy tỉa cành lá và làm cho thân cây trơn tru. Sau khi tỉa cành lá và làm cho thân cây trơn tru, người ấy gọt đẽo với cái búa. Sau khi gọt đẽo với cái búa, người ấy gọt đẽo với con dao. Sau khi gọt đẽo với con dao, người ấy bào sạch với cái bào. Sau khi bào sạch với cái bào, người ấy bào sạch với hòn đá mài. Sau khi bào sạch với hòn đá mài, người ấy làm thành chiếc thuyền, cột với cái chèo và bánh lái, rồi cuối cùng người ấy thả xuống sông. Người này đã biết làm thành chiếc thuyền, biết cột với mái chèo và bánh lái.
- Ý ông nghĩ thế nào, này Sàlhà người ấy có thể vượt qua sông được không?
- Thưa được, bạch Thế Tôn.
- Vì sao?
- Bạch Thế Tôn, vì cây sàla ấy, bề ngoài rất khéo làm, bề trong được làm sạch, được cột với cái chèo và bánh lái. Do vậy, sự việc chờ đợi rằng: "Chiếc thuyền ấy không chìm, và người ấy sẽ đến bờ bên kia an toàn".
Đức Phật nói: Cũng vậy, này Sàlhà, những Sa-môn, Bà-la- môn nào không chủ trương khổ hạnh nhàm chán, những vị ấy có thể vượt qua dòng nước mạnh. Này Sàlhà, những vị Sa-môn, Bà-la-môn nào, thân hành thanh tịnh, lời nói thanh tịnh, ý hành thanh tịnh, sinh sống thanh tịnh, những vị ấy có thể chứng được tri kiến vô thượng Bồ-đề”. Một người tu mà thân – miệng – ý, đời sống trong sạch thì người đó có thể đạt được sự thấy biết, giác ngộ cùng tột.
Ví như, này Sàlhà, một chiến sĩ dầu biết được nhiều cung thuật, nhưng về ba phương diện nó không xứng đáng là của vua, thuộc sở hữu của vua, đi đến làm biểu tượng của vua. Nếu về ba phương diện này mà người này không thành công thì người này không xứng đáng là dũng sĩ của nhà vua. Thế nào là ba phương diện? Bắn xa (bắn cung), bắn nhanh như chớp nhoáng, và bắn thủng được vật lớn. Đạt được ba kỹ thuật này, có được ba phương diện, tài năng, kỹ năng này thì mới xứng đáng là dũng sĩ, chiến sĩ về cung thuật của nhà vua, thuộc sở hữu của vua, làm biểu tượng của nhà vua.
Ví như, này Sàlhà, người chiến sĩ bắn xa, cũng vậy, này Sàlhà, là Thánh đệ tử có chánh định. Phàm có sắc gì quá khứ, vị lai, hiện tại, hoặc nội hay ngoại, hoặc thô hay tế, hoặc liệt hay thắng, hoặc xa hay gần, cần phải như thật thấy với trí tuệ rằng: "Cái này không phải của tôi, cái này không phải là tôi, cái này không phải là tự ngã của tôi”. Như vậy được gọi là bắn xa. Phàm có cảm thọ gì… phàm có tưởng gì… phàm có hành gì…phàm có suy nghĩ gì... phàm có thức gì... , quá khứ, vị lai, hiện tại (trước kia, hiện nay hay sau này), hoặc nội hay ngoại, hoặc thô hay tế, hoặc liệt hay thắng, hoặc xa hay gần, cần phải như thật thấy với trí tuệ rằng: "Cái này không phải của tôi, cái này không phải là tôi, cái này không phải là tự ngã của tôi”. (Tất cả những sắc, thọ, tưởng, hành thức này không phải của tôi, cái này không phải là tôi, cái này không phải là tự ngã của tôi). Như vậy mới được gọi là vị thánh đệ tử của chánh định, là một chiến sĩ bắn xa. Chỉ có chánh định mới nhận thấy được như vậy, có một tâm an tịnh, có sự nhận diện sâu sắc.
Ví như, này Sàlhà, người chiến sĩ bắn như chớp nhoáng. Cũng vậy, này Sàlhà là vị Thánh đệ tử có chánh tri kiến. Vị Thánh đệ tử này Sàlhà, có chánh tri kiến như thật quán tri: "Đây là khổ…, Đây là khổ tập…, Đây là khổ diệt…, Đây là con đường đưa đến khổ diệt”. Vị đệ tử của bậc thánh này có thấy biết, chân xác, chân chánh đúng đắn và quán xét một cách đúng sự thật: “ngũ uẩn này là khổ”. Đây là khổ. Người này có thấy biết chân chánh, quán sát đúng sự thật, những dục ái, tham sân si, vô minh, bản ngã này là nguyên nhân của đau khổ. Người này với sự thấy biết chân chánh, quán chiếu một cách sâu sắc, chữ khổ này chấm dứt. Và đây Bát thánh đạo, sự nhận diện ngũ uẩn, nhận diện lậu hoặc, sự tẩy rửa những cái ác bất thiện pháp và cấu nhiễm bằng phương pháp tám đúng, đây là con đường đưa đến chấm dứt khổ đau. Như vậy được gọi là bắn như chớp nhoáng.
Ví như, này Sàlhà, người chiến sĩ đâm thủng được thân hình lớn. Cũng vậy, này Sàlhà là vị Thánh đệ tử có chánh giải thoát. Vị Thánh đệ tử này Sàlhà, có chánh giải thoát đâm thủng được vô minh uẩn to lớn. (Tăng Chi Bộ kinh – tập II, 4. Chương Bốn Pháp, XX. Đại Phẩm, kinh Sàlha)
Ý nghĩa bài kinh Sàlha
Đức Phật đã dạy rằng: “điều căn bản trong sự tu tập của mình là thân – miệng – ý và đời sống trong sạch, thì mới vượt qua dòng thác lũ, tức là vượt qua sinh tử luân hồi.” Phải đi từ cái căn bản, có nghĩa là giữ giới, nhưng phải luôn nhớ rằng “giới chỉ là chi phần”, không phải toàn phần, tuy nhiên, muốn thành tựu được toàn phần thì trước hết phải thành tựu về giới.
Tu tập thành tựu về giới
Cho nên, dù là tại gia hay xuất gia, dù là cư sĩ hay tu sĩ chúng ta đều phải chú trọng, để ý nhiều đến giới hạnh, giới đức của một người tu. Từ các hành vi của mình, từ lời nói, thậm chí là ở trong suy nghĩ mà không ai biết chúng ta cũng đều phải giữ gìn. Lấy các giới mà chúng ta đã thọ đễ làm chuẩn mực, làm thước đo.
Giới không sát sinh: Đối với người tu sĩ, tập giữ giới không sát sinh, hạn chế sát sinh đến mức tối đa, hết mức có thể. Từ bỏ sự giết hại sinh mạng dù là hữu tình hay vô tình.
Giới không trộm cắp: Từ bỏ lấy của không cho, người khác không cho thì tuyệt đối mình sẽ không lấy. Chúng ta nên cố gắng tập hết mức, tối đa để có thể làm được, thường xuyên tác ý nhắc nhở về các giới.
Giới không tà dâm: Từ bỏ tà hạnh trong các dục, từ bỏ tà dâm, ngoại tình. Có đời sống trong sạch trong gia đình của mình.
Giới không nói dối: Đối với lời nói, chúng ta tập nói lời chân thật, nói lời chân chính, từ ái, ngay thẳng. Cố gắng nhớ và luôn nhắc mình không nói dối, nói lời lưỡi đôi chiều, nói lời thêu dệt, lời hung ác, đâm thọc, đâm bị thóc thọc bị gạo. Không nói lời phù phiếm, vô nghĩa, vô ích. Không nói những lời nói chơi, nói đùa, lời nói không có ý nghĩa, không có lợi ích, không có giá trị. Không nói những lời làm cho loạn tâm, lý luận phù phiếm, nói luyên thuyên, nói những điều không cần thiết phải nói, làm cho tâm chúng ta bị loạn động, đồng thời cũng làm cho tâm người khác cũng bị loạn động. Điều này rất quan trọng, nếu tu tập được như vậy thì thật tốt. Dù là nói trực tiếp hay ngay cả khi chúng ta nói chuyện điện thoại thì chỉ nên nói những điều cần thiết, nói điều lợi mình, lợi người, tốt cho mình cho người, nói để ly tham, để dẹp cái sân, nói để hạ thấp bản ngã, phá vỡ vô minh. Chứ không nên nói qua nói lại, nói tới nói lui; không phải nói để tăng thêm lòng tham, nói để người khác nổi nóng, thêm ganh đấu, tranh đấu hơn thua, đó là lời nói không trong sạch, không thanh tịnh.
Bởi vậy, điều căn bản đầu tiên trong sự tu tập của bản thân là giữ gìn thân, miệng, ý. Phải luôn luôn hộ trì, phòng hộ, giữ gìn, quán xét, soi rọi, kiểm soát, kiểm tra, theo dõi, bảo hộ, bảo vệ, quản lý, quản trị, quản thúc thân, miệng, ý bằng giới và sự chánh niệm tỉnh thức. Khi chúng ta nhớ đến giới là chúng ta đã bớt đi một phần vô minh. Khi chúng ta chánh niệm tỉnh thức là chúng ta đã đang sống trong minh trí của Phật.
Trong đời sống thường ngày, nên tránh làm những nghề khiến tâm chúng ta bất an, thân chúng ta tạo nghiệp, làm người khác khổ đau như nghề bán thuốc độc, bán rượu khiến người khác say xỉn, bán thịt khiến người ta phải giết mổ, bán vũ khí tạo nên chiến tranh, sát sinh, hay buôn bán con người... Sự sống của mình dựa trên sinh mạng của người khác, gây ra sự đau khổ của người ta. Điều này Đức Phật đã nhắc nhỡ chúng ta rất kỹ, nên giữ gìn, không làm những điều sai trái đó, như vậy sẽ khiến đời sống của chúng ta trở nên trong sạch và dần dần đi đến sự thanh tịnh. Khi có thân – miệng – ý và đời sống trong sạch, thanh tịnh thì mới có thể đạt được chánh kiến thật viên mãn, thấy biết thấu đáo, triệt để về sự thật của thân tâm này, về thế giời này.
Ngài Sàlha đã hỏi Đức Phật, khi đã giữ giới trong sạch và hành thân khổ hạnh, nhàm chán sẽ đắc đạo và giải thoát được không? Đức Phật nói rằng đó chỉ là một chi phần thôi. Cũng như người muốn qua sông mà chỉ chặt một cái cây thì không thể qua sống được. Cho nên, ngoài thành tựu giới và giữ gìn sự khổ hạnh, nhàm chán thì cần phải có thêm pháp. Điều quan trọng Đức Phật nói là nếu những người tu hành cứ mãi chấp thủ vào trong giới, chấp thủ vào khổ hạnh, nhàm chán đã thành tựu và luôn cho đó là nhất, là số một, là tuyệt diệu, là tối cao, là lõi cây thì những người chấp thủ, nắm giữ quan điểm, chủ trương như vậy sẽ không đạt được sự thấy biết viên mãn, rốt ráo của sự giác ngộ.
Ba hình ảnh bắn cung
Đức Phật cũng nói rằng, tuy giữ được giới và khổ hạnh nhàm chán là tốt nhưng phải tiến lên thêm nữa. Giống như việc chặt một cây Sàlha để qua sông là không được mà phải làm thành chiếc bè, cột với mái chèo và bánh lái. Cũng vậy, chỉ với giới và khổ hạnh nhàm chán là chưa đủ mà phải có Chánh định, Chánh kiến và Chánh giải thoát qua ba hình ảnh của nghệ thuật bắn cung.
Đức Phật lấy hình ảnh của một chiến sĩ giỏi về cung thuật (kỹ thuật bắn cung) trong ba phương diện: bắn xa, bắn nhanh và bắn thủng được vật lớn. Khi bắn ra mũi tên thì mũi tên đi rất xa, bắn rất nhanh như chớp nhoáng, và bắn thủng, bắn xuyên được vật lớn. Khi đạt được thành tựu về cả ba kỹ thuật này thì người đó mới được gọi là chiến sĩ, dũng sĩ xứng đáng của nhà vua.
a. Chánh định
Đức Phật lấy ví dụ bắn xa, ở đây, người bắn xa là Thánh đệ tử có Chánh định. Chúng ta nên hiểu Chánh định theo nghĩa gần để dễ tu học.
Chánh định có nghĩa là có tâm an tịnh, lắng dịu để nhìn thấy được hình hài này, cảm giác này, hình bóng trong tâm, những suy nghĩ, những nhận thức dù là thuở xưa, hiện nay hay mai sau, dù đẹp hay xấu, dù xa hay gần, trong hay ngoài… thì chúng ta nhìn thấy nó không phải là của tôi, không phải là tôi, không phải là tự ngã của tôi. Đối với bất cứ sắc, thọ, tưởng, hành thức nào, chúng ta có sự nhận diện ngũ uẩn, có tâm an tịnh, lắng dịu và nhìn sâu sắc, nhìn kỹ. Phải thấy rõ sắc là sắc, nó không phải là mình, không phải là của mình và không phải là tự ngã của mình. Thấy được những cảm thọ chỉ là những cảm giác sinh rồi diệt, phồng lên rồi xẹp xuống, nổi lên rồi nát tan ra. Đối với những hình bóng, suy nghĩ, nhận thức, chúng ta cũng phải thường để tâm an tịnh để thấy sự sinh diệt của chúng, thấy được sự vận hành của chúng, thấy được những vở tuồng, sự diễn tuồng của chúng và không bị lầm tưởng nhận nó là của mình, là mình, là tự ngã của mình.
Nhờ có tâm an tịnh, lắng dịu nên chúng ta nhìn thấy được những sắc, thọ, tưởng, hành thức sinh khởi, vận hành, hoại diệt, biến chuyển, dịch chuyển, thiên lưu. Khi có được tâm an tịnh để nhận biết, nhìn thấy được những điều đó thì người Thánh đệ tử này được gọi là người giỏi bắn xa. Trong kinh Đức Phật sử dụng các từ ngữ: cần phải như thật thấy với trí tuệ rằng vị Thánh đệ tử đó có tâm an tịnh, kiên định nhận diện, nhìn rõ, cần phải thấy biết một cách đúng sự thật với trí tuệ rằng “cái này không phải của tôi, không phải là tôi, không phải là tự ngã của tôi”.
Ví dụ, một lần Minh Thành đi công việc về, lúc đó xe chạy lên chùa đông đúc nên đường lên chùa không chạy được, Minh Thành phải đi bộ, xách đồ lên. Khi đó, Minh Thành cảm thấy xe cộ chạy nhanh muốn tông vào người, lên chùa thì ồn ào. Lúc đó còn cảm thấy con người tại sao cứ tham lam, ích kỷ, sân si, giành giật… Thế là tâm khó chịu sanh khởi lên, ngay lúc đó Minh Thành tác ý lập tức: “Thái tử Tất-đạt-đa ngày xưa từ cung vàng điện ngọc còn bỏ được, còn cái chùa này là của bá gia bá tánh mà mình lại không bỏ được hay sao? Cuộc đời luôn là vậy, đều là tham sân si, là bản ngã, là ích kỷ, vậy nên hãy buông xả cái tâm của mình”. Trước đó Minh Thành đã nghĩ phải sắp xếp nhờ người mở đường, làm rào, cửa cổng đủ kiểu, nhưng khi tác ý được, lập tức tâm Minh Thành an tịnh, lắng dịu, dễ chịu, sinh hỷ lạc. Không tính đến những điều kiện khách quan khác, chỉ riêng việc lúc đó tâm mình khởi lên khó chịu là bản thân mình đã sai. Bởi lẽ, những thứ vô thường, tai họa, tan nát này không phải là của mình, không phải là của ai hết. Tác ý buông xả để lập tức tâm được nhẹ tênh, khinh an, hỷ lạc. Sau đó, Minh Thành đi bộ, xách đồ, cúi đầu xuống mà đi lên núi, thậm chí xe muốn tông vào mình nhưng tâm vẫn an lạc, vẫn hỷ lạc, vẫn nhẹ nhàng.
Giáo pháp này thật tuyệt diệu, tối thượng. Đức Thế Tôn đã chỉ cho mình biết rằng “không có gì là ta”, cần phải như thật thấy với trí tuệ rằng tất cả mọi thứ, ngay cả thân tâm này đều không phải của tôi, không phải là tôi, không phải tự ngã của tôi. Tất cả chỉ là thọ, là sắc... không là gì cả. Sắc, thọ, tưởng, hành thức tạo ra mọi vở tuồng. Sắc, thọ, tưởng, hành thức là nguồn của khổ đau. Sắc, thọ, tưởng, hành thức đã dựng nên bao nhiêu vở tuồng, với đầy nước mắt, đầy sân hận, đầy giành giật. Trên thực tế, đến anh chị em ruột, vì một con đường đi mấy tấc mà đau khổ, phiền não với nhau, rơi nước mắt, mất ăn mất ngủ, tâm bất an... thậm chí mất mạng.
Cho nên, chúng ta luôn niệm “cần phải như thật thấy với chánh trí tuệ rằng cái này không phải của tôi, cái này không phải là tôi, cái này không phải tự ngã của tôi”. Không có gì là của tôi, tắt thở rồi cái này là của ai? Tai nạn giao thông xảy ra rồi thì cái này là của ai? Đột quỵ đến rồi cái này là của ai? Tai biến mạch máu não, nằm như người thực vật thì cái này là của ai? Mắc dịch bệnh, khi trả về còn mớ tro hũ cốt rồi cái này là của ai?... Không là của ai cả, bản chất nó là trống rổng, trống không, trống trơn, chỉ là cảnh mộng cho nên tâm mình thường trú trong sự xả ly, viễn ly, đoạn ly, xuất ly đối với ngũ uẩn. Thường xuyên thực tập câu: “Niệm tâm lặng yên, tâm dễ chịu – Niệm ngũ uẩn này không phải taLuôn nhớ “không gì là ta, không gì là của ta, không gì là tự ngã của ta”. Luôn niệm như vậy dù khi có phiền, có giận, có buồn, có hờn, có hơn có thua. Đó là bí kíp của Chánh pháp, vô cùng vi diệu, thù thắng.
Chánh tri kiến
Khi chúng ta có Chánh định và thực hành sự tác ý thì ngay lập tức Chánh trí, Chánh giải thoát hiện ra. Đức Phật cho rằng, bắn như chớp nhoáng là vị Thánh đệ tử có chánh tri kiến như thật quán tri, quán xét, quán biết rằng đây là khổ. Mang đống da thịt này là đống khổ; mang đống đất, đống tiền, đống nhà, đống xe này là đống khổ; mang cái mắt kiếng này là cái khổ; mang cái mũi, miệng, tai này là khổ; mang cái mình này là khổ, là đói, là khát, là bệnh, là đau, là ốm; mang cái thân này thật khổ, tấm thân đồ gốm, thân giòn, thân dễ vở, thân dễ tan dễ nát, dễ hoại, dễ bệnh.
Vị Thánh đệ tử bắn như chớp nhoáng là vị có chánh tri kiến thấy đây là khổ. Luôn nhớ đây là khổ, mang cái thân này là mang cái khổ, mang cái nhà này là mang cái khổ, mang cái miếng đất này là mang cái khổ, mang cái xe này, mớ tiền này là mang cái khổ. Như chúng ta đi trên đường, nghe điện thoại, bị giật rồi đập đầu xuống và chết hoặc bị toác đầu chảy máu, có phải mang điện thoại là mang cái khổ? Nếu không mang điện thoại thì không bị đập đầu, không bị giật, không chết – đây là khổ. Vì vậy, cần phải nhìn ra được Thánh trí tuệ này, phải nhìn ra được đây là khổ, không được quên.
Khi nhìn vào Thánh trí tuệ phải soi từng phương diện, từng khía cạnh của đời sống này. Khi làm việc thì vẫn phải làm để tròn bổn phận nhưng không bị vô minh, si ám. Chúng ta làm việc để tròn bổn phận nhưng làm với tâm từ, với chánh niệm, khi có thể thì bỏ ngay lập tức. Đối với tất cả mọi thứ trên thế gian này, không có gì là của tôi, là tôi, là tự ngã của tôi, mà chỉ là do mình ảo tưởng, vọng tưởng, mộng tưởng, điên đảo tưởng, si mê tưởng, viễn tưởng. Tự mình cho rằng cái gì cũng tôi, cái gì cũng của tôi. Trong cái tết vừa qua, rất nhiều người đã chết vì tai nạn giao thông, vậy, bây giờ những người đó ở đâu, nhà cửa, vợ con đâu, tiền đâu, xe đâu, tài sản đâu?
Vậy nên, chúng ta phải thâm nhập Thánh trí tuệ, thâm nhập vào Khổ Thánh trí, thâm nhập thật sâu, ngấm thật sâu, thấm đượm thật sâu trí tuệ này vào trong tủy não của mình. Phải thấy được nguyên nhân của khổ là những vô minh, tham dục, tham ái, sân si, bản ngã. Mỗi lần sanh khởi lên những sân hận, tham muốn, hơn thua thì phải chỉ thẳng vào cảm thọ này và tác ý rằng đó là khổ, là nguyên nhân của khổ, là căn nguyên cội nguồn của đau khổ, sầu bi, ưu não. Đó là suối nguồn, mạch nguồn của sự khổ đau. Chúng ta cần nhìn ra nguyên nhân đau khổ ở bên trong sắc, thọ, tưởng, hành thức, nhận diện được những cảm thọ thúc giục, suy nghĩ cao thấp, hơn thua trong những ảo tưởng về tự ngã thì mới có thể đi trên con đường diệt khổ. Hãy tác ý, nhiếp phục, đoạn tận, tẩy sạch, diệt trừ những rác bẩn đó bằng vũ khí Thánh trí tuệ, bằng Như lý tác ý thần kiếm, đầy đanh thép, mạnh mẽ, hùng lực.
Chánh giải thoát
Thế nào là chiến sĩ đâm thủng được thân hình to lớn? Vị Thánh đệ tử này có Chánh giải thoát đâm thủng được vô minh uẩn to lớn. Chánh giải thoát giúp tâm mình tác ý và thoát ra sự chi phối của ngũ uẩn một cách nhẹ nhàng; thoát ra khỏi thọ, tưởng, hành thức; thoát ra khỏi cảm thọ tiêu cực; thoát ra khỏi những suy nghĩ tự ngã, những cảm giác bức xúc, không bị nó xâm chiếm áp đảo, vây hãm, nhốt, xiềng xích bản thân. Chúng ta phải thoát ra một cách khéo léo, một cú thoát ra ngoạn mục, được gọi là Chánh giải thoát, đâm thủng được đống vô minh to lớn. Đập tan được đống vô minh cho rằng là của ta, là ta, là tự ngã của ta. Người tu chúng ta phải đâm thủng để thoát ra khỏi đống vô minh to lớn ấy. Như vậy mới là người chiến sĩ bắn thủng được vật lớn.
Đó là toàn bộ ý nghĩa của bài kinh Sàlha, Tăng Chi Bộ kinh – tập II.
./.