Thư Viện Linh Quy
← Danh sách

1. GIÁ TRỊ VÀ LỢI ÍCH CỦA TU TÂM HIỀN - TÂM HIỀN - NGHIỆP THIỆN - HẠNH THÁNH 1

2026-03-03 00:53:04
Tinh Hoa Nikāya

GIÁ TRỊ VÀ LỢI ÍCH CỦA TU TÂM HIỀN

Thích Minh Thành

MỤC LỤC

TOC \o "1-3" \h \z \u I.Tu tập tâm hiền PAGEREF _Toc90979352 \h 1

II.Tầm quan trọng của tu tâm hiền PAGEREF _Toc90979353 \h 7

III.Thiền tập tâm hiền, khơi dậy tình thương PAGEREF _Toc90979354 \h 10

IV.Phát huy cảm thọ dâng trào khi thiền quán PAGEREF _Toc90979355 \h 15

Tu tập tâm hiền

Đức Thế Tôn đã dạy: “Tất cả pháp hội tụ nơi cảm thọ” (Tăng Chi Bộ Kinh, bài kinh Cội Rễ Của Sự Vật), vì vậy, nếu có một cảm thọ dao động, manh động, nhiễu động, náo động, sôi động sẽ làm cho chúng ta mệt mỏi, nhọc nhằn, phiền não và khổ đau.

Ví dụ, bất thình lình có một tiếng nổ vang lên thì chúng ta cảm thấy rất bất an, lo sợ; hoặc đột nhiên có người la lối lớn tiếng thì mọi người xung quanh cảm thấy sợ hãi, bức xúc, khó chịu; hoặc bất ngờ nghe tiếng sấm sét, địa chấn, bão tố nổi lên thì tất cả chúng ta cũng bất an, lo lắng, khổ đau. Đó là một số ví dụ về sự chấn động bên ngoài của tứ đại và bên trong cảm thọ của chúng ta cũng như vậy. Đối với một người không tu tập thì các cảm thọ sẽ hoạt động một cách tự do, lúc nào muốn nổi loạn thì nổi loạn, lúc nào muốn bùng cháy thì bùng cháy, lúc nào muốn phá huỷ thì phá huỷ… chính điều này dễ dẫn chúng ta vào ba đường ác: địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh.

Cho nên, sự tu tập căn bản đầu tiên mà Đức Thế Tôn dạy chúng ta trong kinh Nikāya là các vị tu hành mỗi khi gặp nhau sẽ gọi nhau là “chư hiền”, tức là các bậc hiền nhân; hoặc gọi nhau là các bậc “hiền trí”, nghĩa là những bậc vừa hiền lành, vừa có trí tuệ. Thế nên, vào đầu mỗi buổi chia sẻ, Minh Thành thường thưa là “Kính bạch các bậc hiền trí”, đó là Minh Thành khơi gợi và tập cho tất cả chúng ta làm quen với những danh từ, những cảm xúc, những cảm thọ của tâm hiền. “Hiền trí” là một danh từ rất thông dụng vào thời Đức Thế Tôn còn tại thế. Chính vì vậy, tâm hiền là một pháp tu quan trọng cần phải có và nhất định phải có đối với mỗi một người dù là Phật tử tại gia hay người xuất gia. Vậy, chữ “hiền” trong đạo Phật và các từ như “chư hiền”, “hiền giả”, “hiền trí”, “hiền nhân”… được tu tập từ đâu?

Đầu tiên, Đức Phật dạy từ việc giữ giới. Ví dụ sát sanh là một hành động ác tâm, từ việc giết con vật nhỏ, đến con vật lớn và đến con người, cho nên, Đức Phật đặt ra giới “từ bỏ sát sanh”. Vì vậy, đầu tiên là hiền từ nơi Thân, từ nơi hành động, cho nên có những giới ngăn chặn trên thân như “từ bỏ sát sanh”, “từ bỏ trộm cắp”. Khi lấy đồ của người khác, hoặc có những hành động ác hại đối với người khác để cướp giật sẽ làm họ sẽ làm cho họ khổ đau. Thế nên, Đức Phật đặt ra các giới “từ bỏ sát sanh”, “từ bỏ trộm cắp”, “từ bỏ tà dâm” để tránh làm cho con người đau đớn, khổ sở, gia đình tan nát. Như vậy, những giới Đức Phật đặt ra đều để giữ cho mọi người được hiền, không có những hành động tội lỗi, ác độc xuất phát từ những tâm ác, tâm hại.

Đối với những lời nói từ nơi miệng, Đức Phật dạy không nói lời thô ác, hung bạo, đâm thọc, đôi chiều, thêu dệt, không nói những lời làm đau khổ mình, đau khổ người, làm tan rã, làm chia rẽ, làm mâu thuẫn, làm đổ vỡ tình thương yêu giữa mọi người với nhau. Đây cũng chính là hướng đến tâm hiền, cụ thể là hiền ở nơi Miệng.

Hơn nữa, tinh thần kinh Nikāya dạy chúng ta phải đi đến tâm hiền từ nơi Ý. Chữ “ý” này có nghĩa là “tâm”, gồm thọ, tưởng, hành, thức. Trước hết, chúng ta phải tu tập một cảm thọ lắng dịu, an yên, nhẹ nhàng và phải có sự tu tập trong từng suy nghĩ. Mỗi khi suy nghĩ về một người nào thì hãy suy nghĩ về điều tốt của họ, hãy suy nghĩ về điểm tích cực của họ, hãy suy nghĩ về những điều thiện, điều lành, hãy suy nghĩ về công, về ơn, về nghĩa, về đức của người đó, như vậy mới là suy nghĩ hiền. Còn một người không biết tu hiền thì thường nghĩ xấu người khác. Nhiều khi người ta có ba điều xấu, bảy điều tốt nhưng mình cứ nghĩ về những điều xấu của họ thì đó là suy nghĩ không hiền.

Thế nên, tu tập tâm hiền rất hay. Từ hành động mà Đức Phật dạy chúng ta những giới của thân, đến giới của miệng và đi sâu vào giới của ý, tức là sự từ bỏ tham vọng, từ bỏ nóng giận, từ bỏ si mê, tăm tối, không thấy không biết ngũ uẩn, không nhận thức rõ những hành động, lời nói, ý nghĩ. Vì vậy, chúng ta phải tập tâm hiền trong từng ý nghĩ. Khi nghĩ về cha mẹ thì phải nghĩ về ân đức nghĩa tình, công lao sanh thành dưỡng dục chứ đừng chỉ nghĩ đến tật xấu. Đôi khi chúng ta quên hết ân đức của hai đấng sinh thành mà chỉ nhớ đến những tật xấu của ba, những điều không hay của mẹ, như vậy là chúng ta vừa không hiền mà vừa quên ơn, bất hiếu.

Thành ra, trong mỗi lời nói, mỗi ý nghĩ nếu không nhận diện, không xem xét, không quán xét, không dò xét, không kiểm tra thì bên trong đó chỉ toàn là ác, bất thiện pháp mà chúng ta không thấy không biết. Chúng ta cứ nghĩ người ta có xấu thì mình mới nghĩ họ xấu và mình cứ suy nghĩ những điều xấu, điều dở của họ, mà chính từ những suy nghĩ đó sẽ phát ra miệng, từ miệng sẽ phát ra hành động, mà hành động đó sẽ trở thành nghiệp, mà nghiệp này là nghiệp ác, bất thiện thì sẽ đưa đến quả báu khổ. Như vậy, từ suy nghĩ không hiền, lời nói ra sẽ khó chịu và sẽ phát ra những hành động đưa đến nghiệp quả xấu ác.

Cho nên, chúng ta phải tập cho những suy nghĩ thật hiền và cả những hình bóng trong tâm cũng phải hiền, tức là hành uẩn hiền và tưởng uẩn cũng phải hiền. Đi sâu hơn là cảm thọ phải hiền. Chúng ta tu tập, tu hành, tu sửa là vậy. Tu tập là phải tập tới tập lui trong suy nghĩ, trong các tưởng, trong cảm giác. Tu hành là phải thực hành, cụ thể là thực hành trên hành động của thân, thực hành trên lời nói của miệng, thực hành ở trong tâm ý, suy nghĩ, tư tưởng, cảm thọ, nhận thức. Chúng ta phải tu tập để hướng thức uẩn, hướng những tri thức, kiến thức, nhận thức, rõ biết đến chỗ hiền thiện, hiền trí. Đừng để cho những cảm thọ hung hăng, cọc cằn, dữ dằn, hung bạo, nổi loạn, chính cảm thọ đó khiến mình phát ra những ác nghiệp và dẫn mình xuống địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh ngay lập tức.

Hằng ngày, trên mặt báo hiện lên đầy rẫy những cảnh địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh. Biết bao vụ án trộm cắp, giết người, hãm hiếp xảy ra, thậm chí người thân với nhau cũng gây gổ, ngỗ nghịch, bất hiếu… Những việc này diễn ra là bởi vì con người không biết tu hiền, suy nghĩ không hiền nên phát ra lời nói hung dữ, làm ra những hành động ác độc, đưa đến ác nghiệp và quả báu khổ. Như vậy, tất cả đều do con người không tu tập tâm hiền.

Thế nên, để tu tập tâm hiền thì chúng ta phải tu tập từ cảm thọ, đầu tiên thuộc lòng bốn câu thơ:

Người tu tâm thật là hiền,

Trong ngoài thanh tịnh, nụ cười bình yên.

Người tu tâm thật là yên,

Thọ hiền toả sáng, thân tâm rạng ngời.

Chúng ta cần học thuộc lòng những câu này, mỗi ngày tự nhắc nhở bản thân: “Mình là người tu thì tâm mình phải thật là hiền”. Hãy nhắc cảm thọ, cảm xúc của mình rằng: “Hiền nha, an tịnh nha, lắng dịu nha!”. Chúng ta phải nhớ mình là người tu, người tu thì tâm phải hiền. Mà hiền ở đây là hiền một cách chân thành, chân thật, thật sự, chứ không phải hiền dỏm, hiền giả, đóng phim hiền, nhập vai hiền. Phải hiền thật hiền, hiền từ trong tim, trong xương trong máu, trong tuỷ, hiền từ trong não, trong những suy nghĩ, hình bóng, cảm giác, nhận thức.

Chúng ta tu tâm hiền bắt đầu từ những điều nhỏ. Hãy tập từng lời nói thật êm dịu. Hãy tập cho mỗi bước đi thật lắng dịu, đừng đi giống như “thùng phuy chuyển động”. Lấy từng cái tô, cái chén, cái muỗng, đôi đũa cũng phải thật nhẹ nhàng. Như vậy, từng lời ăn tiếng nói, từng bước chân, từng cử chỉ, từng hành động phải tập cho an tịnh, lắng dịu, nhẹ nhàng. Đây là điều căn bản nhất, nếu không tập được những điều này thì không thể đi sâu vào sự tu tập bên trong.

Nhiều người nói chuyện rổn rảng, vang cả xóm làng; cầm chén, cầm tô thì rớt bể… chính những hành động thô tháo này chứng tỏ bên trong họ còn manh động, những cảm thọ còn rất bốc đồng, động loạn, không được lắng dịu. Những lúc bình thường mà thô tháo, thô động, manh động như vậy thì khi sân, si, bản ngã nổi lên sẽ không ai tưởng tượng nổi. Lúc đó những sân hận, bản ngã sẽ bung ra, phát ra, phình ra, trương ra, tung chưởng ra và làm khổ mình khổ người, hại mình hại người, huỷ hoại mình huỷ hoại người. Cho nên, chúng ta phải tu tập từ những việc nhỏ nhặt nhất. Để ly, để chén lên bàn phải từ tốn, cẩn thận, nhẹ nhàng. Nhiều người dọn mâm cơm lên, đặt đồ ăn xuống là người ngồi ăn đã thấy sợ, dù không phải cố ý, không phải giận ai nhưng do người này thô tháo, không tu tập tâm hiền. Vì vậy, tâm hiền này có ý nghĩa vô cùng sâu sắc, chúng ta phải tập trong từng cái đi, cái đứng, cái ngồi, cái nằm, cách ăn, cách mặc; trong lúc ngồi thiền, nghe pháp nếu khó chịu muốn gãi cũng phải gãi trong chánh niệm, từ tốn, không làm người bên cạnh động niệm.

Như vậy, hiền là hiền từ những cái nhỏ, hiền từ hình tướng bên ngoài như vậy, sau đó mới đến tập hiền trong từng lời nói. Nhiều khi dù rất giận nhưng lời mình nói ra cũng không làm người khác khó chịu, bởi vì mỗi ngày mình có tu tập nhiếp phục được cảm thọ bức xúc, gắt gỏng, cau có, bực bội, nóng giận, sân hận. Mỗi khi bên trong có cảm thọ thúc giục đi nhanh thì mình không cho nó đi nhanh, bắt nó đi chậm lại. Đó là những sự chế ngự, nhiếp phục những cảm thọ thúc giục, bức bách. Thay vì muốn nói cho to, cho lớn lên thì mình bắt nó nói cho nhỏ lại, nói vừa đủ nghe. Thay vì muốn làm cho hả dạ, chẳng hạn món ăn ngon nên muốn gấp lia gấp lịa thì mình bắt nó phải ăn chậm lại.

Muốn tu được như vậy thì quý vị thường xuyên phải theo dõi, dò xét, dòm ngó, kiểm tra, quán xét tâm. Trong Tứ Niệm Xứ chính là dòm ngó thân thể, hành động (quán thân); dòm ngó cảm giác (quán thọ); dòm ngó nội tâm xem có những hình bóng, suy nghĩ, cảm thọ gì (quán tâm); dòm ngó những thứ đang có mặt, đang diễn ra, đang vận hành ở trong tâm (quán pháp). Phải luôn nhìn xem những thứ đang vận hành trong tâm là thiện hay bất thiện; hiền hay dữ; thiện hay ác; dễ chịu hay khó chịu; mát mẻ hay nóng bức; từ tâm hay sân hận; khiêm cung, khiêm hạ, khiêm nhường, khiêm tốn hay đang phình trương, hất mặt, ưỡn ngực. Chúng ta phải kiểm soát được thân thể, kiểm tra được những hành vi, cử chỉ của bản thân… ai dò xét, quán chiếu được như vậy mới gọi là tu.

Còn việc lạy Phật, cầu nguyện, van xin chỉ là một phần trong sự tu học, hành động này có tác dụng nhắc nhở bản thân mỗi người tự quay vào bên trong chính mình tu tập, thực hành. Nếu không chịu làm mà cứ hướng ra bên ngoài cầu xin thì dù có cầu xin suốt đời thì vẫn còn nguyên sân, si, bản ngã, manh động, nổi loạn. Giống như hình ảnh một người ở bên bờ sông, lạy từ sáng đến trưa, từ trưa đến chiều, từ chiều đến tối để mong cầu qua được bờ bên kia. Cứ như vậy lạy hết tháng này qua tháng khác, hết năm này đến năm khác, lạy mấy chục năm đến già thì vẫn không thể nào qua được bờ bên kia, mà muốn qua bờ bên kia thì phải có ghe, có thuyền, có xuồng, có phà, có phương tiện để qua. Cho nên, mọi người tu thường không có kết quả, tham, sân, si vẫn hoàn tham, sân, si, mèo vẫn hoàn mèo là bởi vì không chịu làm, không chịu thực hành. Người không chịu tự mình lội qua, bơi qua, chèo xuồng, làm cầu để qua sông, mà cứ ngồi đó lạy lục, cầu xin cho qua bờ bên kia, rồi còn rủ thêm trăm người, ngàn người lạy bờ sông với mình thì cũng không thể nào qua bờ kia được. Thế nên, phải tự mình lội qua, bơi qua, chèo qua thì mới đến được bờ bên kia.

Tu đúng Chánh Pháp chính là như vậy, đối với tất cả mọi việc đều phải quay trở về, nhiếp phục, chế ngự, đoạn tận những ác và bất thiện pháp. Mỗi ngày tự nhắc nhở tâm mình: “Hiền nè, ngoan nè, dễ dạy, dễ bảo, dễ thương nè! Đừng quậy, đừng kiếm chuyện, đừng sanh sự nữa nghe không!”. Nhắc nhớ như vậy thì tâm mình mới ghi nhớ, đến khi đụng chuyện sân si, khó chịu, mình dạy dỗ: “Thôi đừng giận nữa, hiền đi!” thì nó nghe lời ngay lập tức. Còn bình thường không tu tập, khi giận lên mình kêu tâm này hiền đi thì nó không chịu hiền, có khi còn dữ hơn.

Cho nên, chúng ta đừng đợi đến lúc sân si thì mới quán tâm hiền, tâm từ vì khi đó đã không còn kịp. Thay vào đó mình phải tu tập, huấn luyện tâm hiền ngay cả những lúc bình thường. Trong mỗi cái nhìn phải tập cái nhìn từ mẫn, hiền lành, mắt thương nhìn cuộc đời. Chứ đừng nhìn bằng đôi mắt liếc liếc, trừng trừng, trợn trợn, làm người khác bất an. Vì vậy, phải tu tập một ánh nhìn gọi là “từ nhãn thị chúng sanh”, tức là mắt thương nhìn cuộc đời.

Đối với cái nghe thì tập nghe theo chiều hướng hiền thiện, đừng chỉ để ý vào những điều không hay. Ví dụ, trong cả buổi nói chuyện chỉ có một chỗ không hay thì cứ chằm chằm vào chỗ đó để sân si lên, như vậy là đáng hay không đáng, khôn hay không khôn, thông minh hay vô minh? Thay vào đó hãy nghe và học theo chín điều hay, còn điều không hợp ý mình thì hãy bỏ qua. Như vậy, trong cái nghe thì hãy lái cái nghe theo chiều hướng hiền thiện.

Trong cái ngửi cũng vậy, phải tu theo hướng hiền thiện. Minh Thành thường ví dụ, bất thình lình phải đi nhà vệ sinh ở chỗ công cộng, không may người đi trước để lại trong đó một “bãi chiến trường” bốc mùi kinh khủng, vậy ngay tại chỗ đó chúng ta tu hiền đối với cái mùi như thế nào? Lúc đó hãy tác ý: “Chỗ này dơ quá, thôi mình hãy dội giùm để người sau đi vào được sạch sẽ”. Tại vì mình không muốn dơ, khi thấy dơ như vậy thì rất khó chịu, cho nên người đi sau chắc chắn cũng sẽ khó chịu, bây giờ mình không muốn ai khó chịu nữa thì mình hãy chịu khó. Đó là quý vị ngửi mùi nhưng là ngửi mùi theo chiều hiền thiện, đó là tu trong sự ngửi mùi.

Như vậy, trong sự tiếp xúc của sáu căn đối với sáu trần thì chúng ta phải hướng đến chiều hiền thiện, an tịnh, lắng dịu, dễ chịu và dễ thương. Thường xuyên niệm câu “an tịnh, lắng dịu, dễ chịu, dễ thương” thay cho câu niệm Phật.

Mình nhớ niệm thầm trong tự tâm,

Niệm “Tâm lặng yên, tâm dễ chịu!”,

Niệm “Ngũ uẩn này, không phải ta!”.

Đây là những câu tác ý, nhắc nhở mình niệm thầm trong tự tâm rằng tâm này là tâm lặng yên, tâm dễ chịu, niệm rằng ngũ uẩn này không phải là mình. Bình thường cứ nhắc nhở, cứ tu tập một cảm giác an tịnh, lắng dịu, dễ chịu, ngọt ngào, dễ thương thì khi gặp một người khó thương, khó chịu, gặp hoàn cảnh bức xúc thì mình có đầy đủ cảm thọ hiền thiện, dễ chịu để đưa ra hoá giải, giải toả, giải phá, giải phóng cảm thọ bức xúc đó ngay lập tức. Được như vậy là nhờ mình có chất chứa một kho cảm thọ của sự hiền lành, dễ thương, dễ chịu, dễ mến, ngọt ngào. Còn nếu bên trong không có cảm thọ hiền thiện thì ngay khi chuyện bức xúc xảy đến là chúng ta liền bực bội, sận giận. Chúng ta vừa thấy là bực, vừa nghe là sân là do bên trong không có cảm thọ hiền thiện, mà toàn chất chứa những cảm giác manh động, bạo động, nổi loạn, bên trong là bếp ga, bếp lửa, là lựu đạn, là mìn, là súng đạn.

Tầm quan trọng của tu tâm hiền

Gần đây có những chuyện rất là xót thương, một cựu quân nhân ở nước ngoài khi được nhắc nhở mang khẩu trang thì người này liền lấy súng bắn chết hai người và làm vài người khác bị thương, sau đó người này phải vào tù. Qua đó chúng ta thấy rằng, những cảm thọ hung hăng, hung dữ, bạo động, bạo loạn, manh động chỉ đem đến khổ cho tự thân và khổ cho những người họ tiếp xúc, hơn nữa, người cựu quân nhân này sẽ đau khổ, dằn vặt, hối hận suốt cuộc đời trong tù. Cho nên, chỉ vì một chút cảm thọ mà phải chịu khổ đau như vậy, đó cũng bởi vì không tu tâm hiền, không tu cảm thọ an tịnh, lắng dịu. Đối với chúng ta thì có ai nhắc mình đeo khẩu trang là chuyện rất bình thường, chỉ cần lấy khẩu trang mang vào là xong. Còn người đàn ông này lại giết người một cách vô duyên, vô cớ, vô lý cũng vì không tu tập cảm thọ. Qua đó, chúng ta mới thấy được cái hay, thấy được lợi ích, thấy được giá trị tuyệt diệu của tâm hiền, thọ hiền.

Người tu tâm thật là yên,

Thọ hiền toả sáng, thân tâm rạng ngời.

Thân tâm chúng ta lúc nào cũng rạng ngời, tươi thăm như đoá hoa sen đang nở rộ, viên mãn, bởi vì bên trong lúc nào dào dạt sự ngọt ngào, lắng dịu, dễ chịu, dễ thương. Hơn nữa, dễ thương đối với người dễ thương là chuyện dễ nhưng dễ thương đối với người khó thương mới là điều tuyệt diệu. Một người dễ thương với mình thì mình dễ thương lại là chuyện bình thường, ai làm cũng được, còn đối với người khó thương, khó chịu mà mình vẫn dễ thương được thì sự dễ thương này dễ thương thật sự.

Cho nên, chúng ta cần phải tu tập thật nhiều để trở thành một người dễ thương. Vợ chồng, con cái là những người thương mình nhất hạng nên mình phải thương họ trước hết. Vì người đáng dễ thương nhất mà mình không dễ thương được thì mình dễ thương với ai! Suốt ngày chúng ta chỉ lo dễ thương với người dưng, gặp người ngoài thì lịch sự, giữ kẽ, nói chuyện văn minh, cẩn trọng, còn về đến nhà thì xổ ra hết, không còn giữ gìn, giữ kẽ gì nữa, cho nên gia đình không được hạnh phúc, bình an. Cứ giữ kẽ với người ngoài, lịch sự với người dưng, còn đối với người trong nhà thì bung ra hết những tập khí, chúng ta làm như vậy là thất bại.

Vì vậy, quý vị tu là tu từ trong nhà tu ra, tu từ những người thân thương nhất. Những người ở chung mà cảm nhận được tâm hiềncủa mình thì tu như vậy mới là tu có kết quả. Còn tu mà chỉ có người ở xa thương mến, ai ở gần cũng sợ hết thì đó là thất bại trong sự tu học.

Chính vì vậy, sự tu tập cảm thọ an tịnh, hiền thiện, lắng dịu này có lợi lạc rất nhiều, làm cho mình bớt tham dục, bớt nóng giận, hạ thấp bớt cái ta cái tôi, làm cho mình an tịnh, lắng dịu, nhẹ nhàng, khinh an. Chính sự nhẹ nhàng, an tịnh, lắng dịu, khinh an đó được tu tập, thực tập, tập luyện, thực hành, tu hành nhiều lần, nhiều ngày, nhiều tháng, nhiều năm, nhiều chục năm thì dần dần cảm thọ sôi sục bên trong phải chịu phép, trở nên ngoan hiền, nghe lời, dễ dạy, dễ bảo, dễ thương. Bằng không, cảm thọ của chúng ta rất khó dạy, mình dạy nhưng nó không nghe, kêu nó hiền nhưng nó vẫn giận dữ, kêu nó từ bi nhưng nó vẫn sân si. Đó là bởi vì cảm thọ này chưa được huấn luyện, chưa được rèn luyện, chưa được đào tạo, chưa được giáo dục.

Cho nên, sự tu tập tâm hiền là rất quan trọng. Tu được tâm hiền thì cuộc sống sẽ rất tuyệt vời, bớt được nhiều nỗi khổ và thêm được nhiều an lành, an ổn trong gia đình. Suốt tháng cả nhà đều được êm ái, dù có chuyện rất đáng giận nhưng nói chuyện vẫn có chừng mực, chứ không phóng tên, phi tiêu, đốt lửa lẫn nhau. Khi tu tập được cảm thọ ngoan hiền này, nếu lỡ có bực bội con cái thì quý vị vẫn dạy bảo nhẹ nhàng, bằng hiền tâm, như thế thì con cái vẫn nghe lời, vẫn kính trọng, vẫn thương mình. Còn nếu quý Phật tử dạy con bằng tâm sân hận, dùng búa bổ, búa tạ để la rầy thì con cái vẫn nghe lời vì mình là cha mẹ nhưng bên trong vẫn bực tức, ấm ức. Cách dạy dỗ như vậy kéo dài lâu ngày thì con cái sẽ chất chứa cảm thọ khó chịu, bức xúc, sân giận bên trong, cuối cùng đến lúc nào đó sẽ bùng nổ, không nghe lời, nổi loạn.

Vì thế, nếu quý vị biết tu tập cảm thọ, làm chủ được cảm xúc thì mỗi khi nói chuyện, dạy dỗ, giáo dục con cái hoặc chia sẻ giữa vợ chồng với nhau thì đối phương sẽ chịu lắng nghe, nhìn nhận, cảm động, cảm nhận và cảm hoá được nhau. Đó là sự “Phật hoá gia đình”, tức là đem Phật pháp để giáo hoá gia đình, giáo hoá người thân, giáo hoá thân bằng quyến thuộc, bà con, cô bác cùng một huyết thống bằng tâm hiền khi mình đã có sự nhìn thấy, nhiếp phục, chế ngự, giáo dục, dạy dỗ, huấn luyện cảm thọ, cảm xúc của mình. Lợi ích của sự tu tâm hiền tuyệt vời như vậy, cho nên, chúng ta phải thật để tâm vào cảm thọ hiền thiện này.

Đây là Minh Thành chỉ giới thiểu tổng quát về sự tu tập tâm hiền để mọi người thấy được tầm quan trọng của tâm hiền chính là ở nơi cảm thọ, suy tư, nghĩ tưởng. Vì vậy, chúng ta phải hướng tâm về những suy nghĩ hiền, suy nghĩ thiện; hướng cảm thọ về những cảm thọ lắng dịu, an tịnh, ngọt ngào, dễ chịu, dễ thương. Còn những ai đi tu, đi chùa ngày càng nhiều nhưng người ta thấy mình ngày càng dễ ghét thì tu như vậy là sai đường. Cho nên, chúng ta phải tu sao cho càng ngày cảm thọ càng dễ nghe, dễ dạy, dễ nói, dễ nuôi, dễ ăn, dễ mặc, dễ sống, trong hoàn cảnh nào cũng dễ chịu, không bực bội, không sân hận, không bức xúc, không chống đối, không nổi loạn nhờ vào công phu huấn luyện, giáo dục, dạy dỗ tâm.

Thiền tập tâm hiền, khơi dậy tình thương

Tu tập tâm hiền là sự tu rất là quan trọng, trước giờ chúng ta không để ý rằng phải tu từ trong cảm thọ. Đức Phật dạy sự quán thân trên thân, tức là nhìn ngó thân mình khi đi, đứng, ngồi, nằm phải luôn chánh niệm tỉnh giác, có sự an tịnh lắng dịu, đó chính là tâm hiền. Khi nói thì nói những lời dễ nghe, hiền dịu, như vậy mới gọi là lời nói hiền. Còn khi im lặng thì lúc đó có phải đã là hiền không? Nhiều khi thấy một người im lặng không nói gì nhưng bên trong vẫn còn nói luyên thuyên không ngừng, như vậy cũng không được xem là hiền. Cho nên, khi im lặng thì cũng phải im lặng trong sự hiền thiện. Khi ngồi thiền, cần phải tác ý, kêu gọi cảm thọ thức dậy vì nó đã ngủ say, ngủ mê từ nhiều đời: “Thọ ơi, thọ hiền ơi”.

Ta khơi dậy trong ta

Tình thương và tâm hiền

Ta khơi dậy trong ta

Tâm hiền và tình thương.

Mỗi khi ngồi thiền hoặc thiền quán, để làm sanh khởi tâm hiền thì chúng ta khơi dậy tâm hiền bằng cách gọi nó giống như gọi mẹ vậy. Thay vì gọi tha thiết “mẹ ơi” thì chúng ta gọi “tâm hiền ơi”. Khi gọi như vậy thì chúng ta thấy trong lồng ngực, trong tim dâng lên một cảm xúc hiền thiện, ngọt ngào, thấm thía. Cảm xúc hiền này từ lồng ngực lan lên đến mặt, mắt, lỗ tai, lan đến đỉnh đầu, lan đến cổ, cánh tay, hai vai, từng ngón tay, bàn tay, sau đó lan xuống đến bụng, ngực, mông, chân, ống chân, bàn chân, lòng bàn chân, lan từ đảnh tóc cho đến gót chân. Cảm thọ này ngọt ngào, êm ái, hiền lành, dễ chịu làm sao! Chúng ta phải làm cho sanh khởi cảm thọ hiền thiện trong thân tâm và không ngừng nuôi dưỡng, tưới tẩm, phát triển, tăng trưởng nó. Giống như đi tắm, chúng ta xối một ca nước hoặc mở vòi hoa sen cho nước tuôn xuống thấm ướt từ đảnh tóc cho đến gót chân của mình. Cảm giác hiền thiện, hiền lành này cũng vậy, phải để nó thấm đượm toàn bộ cơ thể mình. Thường xuyên khơi gợi cảm thọ của tâm hiền dễ thương, ngọt ngào.

Tình thương sống trong ta

Tâm hiền sống trong ta

Tình thương có trong ta

Tâm hiền có trong ta.

Hãy làm cho tâm hiền này sanh khởi, lan toả, thấm đượm và sau đó tâm hiền này được an trú, hiện hữu, có mặt trong người mình càng lâu dài chừng nào, càng tốt chừng đó. Những câu thơ này là những câu tác ý giúp chúng ta duy trì, kéo dài cảm thọ hiền thiện. Chúng ta thấy thương mình vì trước đây mình không hiền, thương mình vì lúc trước mình tạo ác nghiệp. Thương những suy nghĩ dại khờ, dại dột, nông nổi, hung dữ, hung hăng, hung bạo, hung tàn lúc trước của mình. Thương những suy nghĩ làm cho mình khổ, dày vò, dày xéo làm cho tâm mình phải hối tiếc, hối hận, trạo hối. Thương những lời nói hung dữ mình từng phát ra làm cho chồng mình khổ, con cái bất an, cha mẹ buồn tủi, thương những lời nói không hiền, làm khổ mình, đau người, làm sầu bi cho những người xung quanh.

Từ đó, chúng ta thấy được sự nguy hiểm, tai hại của tâm không hiền, thấy được sự tác hại của những cảm thọ hung hăng, hung dữ, hung bạo, hung tàn. Sau đó chúng ta thấy hối hận, hối tiếc, hối lỗi và nhìn lại những hành động không hiền ngày xưa. Lúc đó, chúng ta nhớ lại những khi mình lỡ gây ra những tội lỗi như sát sanh, nói dối, trộm cắp, tà dâm, uống rượu.

Chúng ta nhớ những lời nói ác độc, gây chia rẻ, thêm thắt, đâm bị thóc chọc bị gạo. Từ đó mình thấy thương cái miệng của mình, thương những lời nói của mình, thương khẩu nghiệp của mình, vì tâm mê mà mình nói ra những lời tạo nghiệp. Chúng ta thấy thương và hối tiếc những hành động theo tâm sân hận, tâm bản ngã, hơn thua, không chịu thua ai, muốn giành phần hơn, phần thắng, khẩu tranh, đấu tranh, chiến tranh. Những hành động đó làm cho mình khổ, làm cho người khổ và đau đớn nhất là chính mình làm cho những người thân thương nhất đau khổ. Chúng ta thấy thương và hối lỗi, hối hận, hối tiếc, sám hối đối với tất cả những lỗi lầm này. Chính những suy nghĩ hung dữ, những lời nói hung dữ, những hành động hung dữ là tai hoạ, là tai hại, là tai nạn, là những thứ ác độc, ngu si, dại khờ, dại dột, vô minh, mù loà và đáng thương.

Chúng ta phải khởi lên tình thương đối với quá khứ đã tạo nhiều ác nghiệp của mình và thật xót xa, đau xót, nhận lỗi, hối lỗi, xin lỗi, sám hối với tự tâm của mình. Tự nhắc nhở mình rằng: “Từ nay về sau đừng hung dữ nữa tâm ơi, tội nghiệp tâm lắm. Tâm đừng hung dữ, tâm đừng hung hăng, tâm đừng hung tàn, tâm đừng hung ác. Vì tâm hung dữ, hung tàn, hung bạo, hung ác thì miệng sẽ hung dữ, hung tàn, hung bạo, hung ác và thân cũng sẽ hung dữ, hung tàn, hung bạo, hung ác, kết quả cuối cùng sẽ là địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh nha tâm!”.

Chúng ta làm cho tâm này thức dậy, tỉnh dậy, làm cho tâm này thấm đượm những sự nguy hiểm và tác hại của ba nghiệp ác: ý hành hung ác, khẩu hành hung ác, thân hành hung ác. Phải thấy được sự nguy hiểm, tác hại, thấy được con đường mà tâm ác dẫn đến là khổ đau, là nước mắt, là đoạ đày, là khổ cảnh, là ác thú, là địa ngục. Vì vậy, phải cố gắng tưới tẩm tâm hiền mỗi ngày: “Tâm ơi, hiền đi tâm. Hãy ngoan, hãy hiền, hãy lắng dịu, hãy an tịnh, hãy ngọt ngào đi tâm. Ta thương tâm nhiều lắm, ta thương thọ này nhiều lắm thọ ơi”.

Thương lâu rồi ta thiếu

Thương hiểu cảm thọ mình

Để tham, sân hành hạ

Ta để mình khổ đau.

Hãy làm thấm đượm cả lồng ngực, lan toả khắp châu thân một cảm giác thương vô cùng thương. Thương chính mình vô minh, thương chính mình mê lầm, thương chính mình tạo ác nghiệp để rồi chính mình phải chịu khổ đau.

Nay hiểu rồi thọ ạ

Ta nhớ đến thọ rồi

Thôi thọ đừng sân giận

Thọ thương mình nhiều nha.

“Nay ta đã hiểu được những khổ đau phải chịu, thế nên cảm thọ hãy hiền hoà, hiền dịu, hiền lành, hiền lương, hiền đức, hiền từ, hiền trí để chúng ta cùng nhau bước lên bậc Hiền Thánh nha cảm thọ!”. Chúng ta tập nói chuyện, lòng nhủ với lòng, tâm nói với tâm như vậy. Đó là mình đang giáo dục, dạy dỗ, thiền quán, huấn luyện những cảm thọ, tâm thức của mình.

Tâm ơi, hiền thiện ngọt ngào!

Tâm ơi, hiền thiện an tịnh!

Tâm ơi, nhẹ nhàng, từ ái tâm ơi!

Nóng giận khổ lắm tâm ơi!

Sân si khổ lắm tâm ơi!

Hơn thua khổ lắm tâm ơi!

Tranh giành, bản ngã khổ lắm tâm ơi!

Chúng ta phải tu tập tâm hiền từ hành vi; từ ngôn ngữ; từ ý nghĩ, từ cảm giác, từ hình bóng trong tâm, từ nhận thức – đó là chúng ta tập tâm hiền trong ba nghiệp thân, khẩu, ý. Hãy tập nhìn bằng đôi mắt thương; nghe, ngửi, nếm theo chiều hướng hiền thiện; tiếp xúc cũng tập tiếp xúc hiện thiện; cho đến những nhận thức, cảm giác, nghĩ, tưởng trong tâm cũng phải hướng theo chiều hướng hiền thiện. Như vậy là chúng ta tu tập ba nghiệp hiền thiện, ngũ uẩn hiền thiện, sáu căn hiền thiện và quan trọng nhất là tập được cảm thọ bên trong được hiền thiện.

Cứ như vậy mà mình tập tới tập lui, luyện tới luyện lui, thực hành tới thực hành lui thì dần dần gương mặt mình sẽ hiện ra chữ hiền. Gương mặt hung dữ ngày xưa sẽ được đổi sắc bằng một ánh mắt hiền từ, bi mẫn, một nụ cười từ ái, rừng cử chỉ, lời nói của mình trở nên hiền lành, dễ thương. Tu được như vậy thì khi trở về nhà là cha mẹ, chồng con sẽ phát cho mình tấm bằng “Hiền Nhân”. Vì chúng ta tu tập tâm hiền chính là để trở thành bậc hiền nhân, hiền trí, đó là kì tích, đó là phép màu, đó là thành quả, đó là thành công, đó là thành tích trong sự tu tập. Còn nhiều người nói chuyện trên trời dưới đất, xa vời mà ngay trong hiện tại tu không có kết quả, không có thiết thực, hiện tại.

Chánh Pháp được Đức Thế Tôn dạy theo tinh thần kinh tạng Nikāya là thiết thực, hiện tại, đến để mà thấy, không phải đợi trải qua thời gian mà sẽ có kết quả ngay trong từng ý nghĩ, lời nói, hành động, cảm thọ, suy nghĩ, tư tưởng, nhận thức, có thành tựu trong từng cái thấy, cái nghe, cái ngửi, cái nếm, cái nhìn, cái tiếp xúc. Tất cả mọi sự tu tập đều chuyển về việc “Lắng nghe thọ, tưởng, hành thật kỹ - Nghe rồi dẫn chúng đến hiền tâm”. Tức là chúng ta hãy tập lắng nghe, rõ biết được những cảm giác, suy nghĩ, hình bóng trong tâm. Sau khi nghe xong rồi thì dẫn chúng đến hiền tâm.

Cuối cùng, Minh Thành nhắc lại bốn câu thơ lúc mở đầu:

Người tu tâm thật là hiền,

Trong ngoài thanh tịnh, nụ cười bình yên.

Người tu tâm thật là yên,

Thọ hiền toả sáng, thân tâm rạng ngời.

Hãy tu tập để cảm thọ hiền thiện này làm toả sáng sáu căn và xung quanh thân tâm chúng ta là ánh sáng của sự hiền từ, hiền lương, hiền hậu, hiền hoà, hiền đức, hiền trí. Hãy toả ra cảm thọ, toả ra cảm xúc, toả ra từ trường hiền thiện này để tự mình cảm nhận được và người tiếp xúc cũng cảm nhận được, đây chính là ý nghĩa của câu “Thọ hiền toả sáng, thân tâm rạng ngời”.

Phát huy cảm thọ dâng trào khi thiền quán

Khi tu tập thiền quán về một pháp nào đó mà chúng ta có cảm thọ xúc động, cảm động, chấn động, tức là pháp đó mình có sự cảm nhận một cách sâu sắc. Cảm xúc lúc đó là những cảm xúc của trí tuệ vì chúng ta đã nhìn thấy được những điều lúc trước chưa nhìn thấy.

Khi nghe nhắc đến tâm hiền, chúng ta nhìn lại những lúc hung dữ ngày xưa thì mình càng xúc động nhiều. Bởi vì trước nay mình như mù loà đối với ngũ uẩn, đối với thân tâm, bây giờ thấy được sự thật nên chúng ta như được vỡ oà ra sự vô minh, vỡ oà ra sự không thấy không biết, vỡ oà ra sự mê lầm, si ám của ngày xưa. Khi nhìn lại những quá khứ, những ý niệm, những ngôn ngữ, những hành vi của ác, bất thiện pháp, của những sự manh động, hung bạo, nổi loạn thì mình thấy xót thương cho chính mình. Chúng ta thương những lỗi lầm, thương những sự sai quấy, thương những vô minh, thương những hành động ngu xuẩn, dại khờ thì những cảm thọ trong những tầng sâu thẳm tự động tuôn ra, không kiềm được. Đó chính là những cảm xúc của trí tuệ, những cảm xúc của thấy biết được vỡ oà, trào dâng để gội rửa những cảm thọ của bất thiện, ác độc, hung dữ, hung bạo, hung tàn ngày xưa.

Những dòng cảm thọ trí tuệ này dâng lên, tuôn lên, trào ra, vỡ oà là vì thấy biết được sự thật, cho nên điều này rất tốt trong sự tu tập của chúng ta. Đây không phải là bản ngã mà là sự rung chấn, chấn cảm, chấn động. Đây là những cảm xúc của trí tuệ, của sự thấy biết, của sự thấu hiểu và sự thương cảm chính mình. Hãy để cho cảm thọ này cứ dâng lên, bung ra, trào ra để giải phá, tẩy rửa những cảm thọ hung dữ, dại khờ, ngu muội, vô minh, si ám, hung ác ngày xưa. Tu thiền quán được như vậy là rất tốt, tức là phải có sự kinh chấn, chấn cảm, chấn động, rung động ở bên trong.

Quán bất tịnh cũng vậy, phải quán đến mức nước mắt trào dâng đầy mặt trong sự ngỡ ngàng, bàng hoàng, oà ra giống như người mù được thấy, người điếc được nghe, giống như một người có lỗi lầm và bây giờ nhìn thấy được lỗi lầm nên người này sụp xuống, đổ xuống hoàn toàn. Sự si ám, vô minh, lỗi lầm đó bị sụp xuống, ngã xuống, đó gọi là thủ chuyển, tức là những chấp thủ bên trong bị rung chuyển, chấn động, giống như một cơn địa chấn trong nội địa đại của mình. Thuỷ đại, hoả đại, phong đại, tất cả trong tứ đại cũng đều rung chấn, rung động, chuyển động, kinh chấn.

Những lần như vậy là những lần chúng ta tu tập rất tốt, rất sâu sắc, làm cho n dòng cảm thọ được xoay chuyển theo một chiều hướng mới. Đó là chiều hướng của sự thấy biết, chiều hướng của trí tuệ, chiều hướng của sự thấu hiểu, chiều hướng của sự cảm thông và thương cảm cho chính mình. Thương cảm nghĩa là cảm thông và thương xót cho những nỗi niềm, những lỗi lầm, những dại khờ, những sự ngu muội, si ám, si mê, vô minh trong quá khứ. Tự động khi đó sẽ có một sự động chuyển, rung chấn bên trong dâng lên và bắt đầu trào ra. Lúc đó chúng ta đừng kiềm lại mà hãy để cảm thọ đó tuôn trào ra, cảm thọ trào dâng nhiều chừng nào thì các dòng cảm thọ ác, bất thiện pháp, hung dữ càng được gội rửa, tẩy sạch chừng đó.

Nhiều Phật tử khi nghe về tâm hiền trong bất cứ bài pháp nào thì cũng đều khóc từ đầu đến cuối, cảm xúc trào dâng. Qua thời gian dài, các vị ấy đều chia sẻ rằng họ thấy được sự hung dữ ngày xưa của mình nên họ xót xa, bi cảm, chấn cảm, tu như vậy là rất tốt. Vì vậy, chúng ta hãy nhớ là cứ để cảm thọ tuôn ra, đừng ngăn cấm, đừng ém lại, đừng nén lại vì khi tuôn ra như vậy thì những cảm thọ của hiền trí sẽ được khai thông, khai mở. Mỗi một lần như vậy thì cả người mình sẽ nhẹ nhàng, khinh an. Những lúc đó thì trí về tâm hiền cũng được thông đạt, sâu sắc và rộng lớn thêm.

Mỗi một lần tu học mà cảm thọ tuôn trào chấn động là mỗi một lần mình được nâng cấp hơn, cảm thọ được sâu sắc hơn và mình khai mở được các dòng cảm thọ hiền thiện, hiền trí. Sau mỗi lần dâng trào như vậy thì mình càng thêm được an lạc, nhẹ nhàng. Cho nên, hãy tiếp tục nuôi dưỡng, tưới tẩm, phát triển dòng cảm thọ hiền đó để thể nhập vào tâm hiền trí và chứng nhập, chứng đạt, an trú trong đó càng lâu, càng dài, càng nhiều, càng tốt, không bị mất đi. Khi chứng đắc và an trú được vào những dòng cảm thọ hiền trí thì rất tuyệt vời!

Không dễ để nghe một điều gì mà chảy nước mắt, hơn nữa, chúng ta tu thiện pháp và có được những cảm thọ hiền thiện thì càng phải phát triển lên thêm, đừng nghi ngại. Trong các buổi thiền quán, các buổi chia sẻ pháp mà quý thầy, quý cô, quý Phật tử bị xúc động và tuôn trào nước mắt thì Minh Thành thường mời trình pháp. Đó là Minh Thành muốn tiếp tục khơi gợi, khai thông cho mọi người những gì còn bế tắc, ứ động, từ đó mở ra được những gút mắc đó để thể nhập vào những tầng thâm sâu của cảm thọ hiền trí, từ bi.

Hoặc khi thấy một vị nào hoan hỷ trong thời nghe pháp, thời ngồi thiền thì Minh Thành sẽ mời vị đó trình bày về tâm hỷ, để cho cái hỷ dâng cao lên, rộng mở ra, đi vào những cảm thọ hỷ lạc sâu sắc, sung mãn trong sự thấy biết và tu học Chánh Pháp. Chúng ta hãy nhớ phát triển, tăng trưởng những cảm thọ trí tuệ này và làm cho nó sâu rộng, sung mãn, đừng ngăn lại mà cứ để mở rộng, tuôn trào ra. Khi thiền quán hoặc nghe pháp mà tâm hỷ dâng trào lên, ngập tràn lồng ngực, những lần như vậy là rất tốt. Ở ngoài đời có những thú vui và người ta đam mê trong đó, không đi ra được. Còn chúng ta tu thì có những hỷ lạc và chính những hỷ lạc này nuôi dưỡng thân tâm, nuôi dưỡng trí tuệ, nuôi dưỡng sự xuất ly, nuôi dưỡng sự thể nhập vào dòng Thánh trí của mình.

Vì vậy, cần phải khéo léo, thiện xảo trong những lúc cảm thọ sanh khởi, vì nếu không khéo thì chẳng những ngăn chặn những cảm thọ ác mà ngay cả những cảm thọ thiện mình cũng ngăn lại thì sự ứ nén đó làm mình trơ trơ, đơ đơ, không khai mở được những dòng cảm thọ hiền trí. Nếu chú trọng vào sự chỉ, tức là cứ giữ cho tâm được yên hoài thì lâu ngày tâm này trở thành tâm si thiền, mặc dù yên nhưng là yên ở trong si mê, không khai triển được hiền trí, không khai mở được tuệ thâm sâu.

Như vậy, bất cứ khi nào tu thiền quán mà cảm thọ chúng ta dâng trào lên thì cứ tiếp tục phát triển nó. Trong Trưởng Lão Tăng Kệ, Trưởng Lão Ni kệ có nhắc đến các vị Tỳ-kheo thời Đức Phật đốt cháy hết tất cả lậu hoặc và thành tựu cứu cánh Phạm hạnh là trong những lúc các Ngài triển khai thiền quán. Cho nên, chúng ta hãy khéo léo dẫn dắt các dòng cảm thọ trong trong thiện pháp, trong trí tuệ của mình.

./.