Sự Hình Thành Thế Giới và Nhân Sinh I - Kinh Khởi Thế Nhân Bổn Trường Bộ
Kinh Nikāya Giảng Giải
SỰ HÌNH THÀNH THẾ GIỚI & NHÂN SINH I
KINH KHỞI THẾ NHÂN BỔN - TRƯỜNG BỘ
Thích Minh Thành
MỤC LỤC
TOC \o "1-3" \h \z \u I. Khởi đầu PAGEREF _Toc114152975 \h 1
II. Sắc đẹp PAGEREF _Toc114152976 \h 3
III. Kiêu mạn và kiêu ngạo PAGEREF _Toc114152977 \h 5
IV. Phái tính PAGEREF _Toc114152978 \h 7
V. Tích trữ của cải PAGEREF _Toc114152979 \h 8
VI. Trộm cắp PAGEREF _Toc114152980 \h 12
VII. Phân chia giai cấp PAGEREF _Toc114152981 \h 13
I. Khởi đầu
Chúng ta học bài kinh nói về sự hình thành thế giới và nhân sinh, đây là vũ trụ quan – nhân sinh quan của Phật Giáo. Qua bài kinh này chúng ta có thể thấy được trí tuệ dài xa vô lượng của Đức Phật, trước nay chúng ta đi về chiều sâu và hôm nay chúng ta sẽ thấy chiều rộng, tầm thấy biết rộng lớn, dài xa vô cùng tận của Đức Thế Tôn, đây là bài kinh số 27 Trường Bộ Kinh, kinh Khởi thế nhân bổn, chúng ta sẽ trích phần hình thành thế giới.
“Này Vàsettha, có một thời đến một giai đoạn nào đó, sau một thời hạn rất lâu, thế giới này chuyển hoại. Trong khi thế giới chuyển hoại, các loại hữu tình phần lớn sanh qua cõi Abhassara (Quang Âm thiên). Ở tại đây, những loại chúng sanh này do ý sanh, nuôi sống bằng hỷ, tự chiếu hào quang, phi hành trên hư không, sống trong sự quang vinh, và sống như vậy một thời gian khá dài.”
(Trường Bộ Kinh, 27. Kinh Khởi thế nhân bổn)
Theo kinh điển kể lại, thế giới chúng ta trải qua bốn thời kì thành – trụ - hoại – không cũng như con người có sanh – già – bệnh – chết. Thế giới hoại diệt phải chịu những đại tam tai, những chúng sanh có phước đức được sanh về cõi Quang Âm thiên, chúng sanh ở cõi này lấy sự vui mừng làm thức ăn, thân được sanh ra do ý hay còn gọi là ý sanh thân, là do phước đức tu tập, trụ trong an lạc và có thể bay trong hư không, nuôi sống bằng hỷ là tâm hoan hỉ và lấy cái hỷ đó làm nguồn sống, trong đại chúng có người nào hoan hỉ với pháp, quên mệt, quên ăn, quên đói, quên ngủ thì người đó cũng nếm được pháp hỷ.
Khi nghe pháp, khi pháp đàm, khi thảo luận về pháp, nghiền ngẫm, tu tập và quán chiếu trong pháp mà toàn thân hỷ lạc sung mãn thì gọi là pháp hỷ, pháp lạc và vị chư Thiên này do tu thiền được hỷ lạc nghĩa là tâm được an tịnh thì vị này sống ở Quang Âm thiên.
“Này Vàsettha, có một thời đến một giai đoạn nào đó, sau một thời hạn rất lâu, thế giới này chuyển thành. Trong khi thế giới này chuyển thành, một số lớn chúng sanh từ Quang Âm thiên thác sanh qua tại đây. Những chúng sanh này do ý sanh, nuôi sống bằng hỷ, tự chiếu hào quang, phi hành trên hư không, sống trong sự quang vinh và sống như vậy một thời gia khá dài.
Này Vàsettha, lúc bấy giờ, vạn vật trở thành một thế giới toàn nước đen sẫm, một màu đen khiến mắt phải mù. Mặt trăng, mặt trời không hiện ra; sao và chòm sao không hiện ra; không có ngày đêm; không có tháng và nửa tháng; không có năm và thời tiết; không có đàn bà đàn ông. Các loài hữu tình chỉ được xem là loài hữu tình mà thôi. Này Vàsettha, đối với các loài hữu tình ấy, sau một thời gian rất lâu, vị đất tan ra trong nước. Như bọt nổi lên trên mặt cháo sữa nóng đang nguội dần, cũng vậy đất hiện ra. Đất này có màu sắc, có hương và có vị. Màu sắc của đất giống như đề hồ hay thuần túy như tô, vị của đất như mật ong thuần tịnh.”
(Trường Bộ Kinh, 27. Kinh Khởi thế nhân bổn)
Giai đoạn đầu là cả thế giới chỉ toàn nước đen khiến mắt phải mù, thời gian rất lâu sau đất tan ra trong nước, nổi lên bọt như bọt cháo sữa, tiếp theo là nguội dần thì đất hiện ra, màu sắc của đất như đề hồ tức là màu của phô mai và vị như mật ong.
“Này Vàsettha, có loài hữu tình, có tánh tham, nói: "Kìa xem, vật này là gì vậy?", lấy ngón tay nếm vị của đất. Khi lấy ngón tay nếm vị của đất, vị ấy thấm vào thân và tham ái khởi lên. Này Vàsettha, các loài hữu tình khác, theo gương hữu tình kia, lấy ngón tay nếm vị của đất. Khi lấy ngón tay nếm vị của đất, vị ấy thấm vào thân và tham ái khởi lên. Rồi các hữu tình kia bắt đầu thưởng thức vị của đất, bằng cách bẻ từng cục đất với bàn tay nhỏ của họ, thời ánh sáng của họ biến mất.”
(Trường Bộ Kinh, 27. Kinh Khởi thế nhân bổn)
Lúc này từ trên quang vinh bắt đầu đi xuống hạ liệt để chúng ta thấy nguồn gốc của mình là chư Thiên ở cõi trời Quang Âm thiên.
“Khi ánh sáng của họ biến mất, mặt trăng mặt trời hiện ra. Khi mặt trăng, mặt trời hiện ra, thì sao và chòm sao hiện ra. Khi sao và chòm sao hiện ra, ngày và đêm hiện ra, khi ngày và đêm hiện ra, thì nửa tháng và tháng hiện ra. Khi nửa tháng và tháng hiện ra, thời tiết và năm hiện ra. Như vậy, này Vàsettha, thế giới này bắt đầu thành trở lại.”
(Trường Bộ Kinh, 27. Kinh Khởi thế nhân bổn)
Thời điểm lúc xưa không có mặt trời, mặt trăng mà tự thân mỗi người phát ra ánh sáng, phi hành trong hư không tự chiếu ra hào quang và nuôi sống bằng sự hỷ lạc nhưng giờ do tham ái, tham ăn, yêu thích hương vị của đất nên ánh sáng tự thân biến mất và mặt trời, mặt trăng hiện ra, tiếp theo có chòm sao, có ngày đêm, có tháng, nửa tháng, thời tiết và năm có mặt.
II. Sắc đẹp
“Này Vàsettha, những hữu tình ấy, thưởng thức vị của đất, lấy đất làm chất ăn, lấy đất làm món ăn trong một thời gian khá lâu. Này Vàsettha, vì các hữu tình ấy thưởng thức vị của đất, lấy đất làm chất ăn, lấy đất làm món ăn trong một thời gian khá lâu, thân của họ trở thành cứng rắn, và sắc đẹp của họ trở thành sai biệt.”
(Trường Bộ Kinh, 27. Kinh Khởi thế nhân bổn)
Chữ "đất' ở đây không phải đất như bây giờ mà màu sắc, hương vị của nó như phô mai và mật ong. Ngày xưa cái thân rất nhẹ nhàng, phi hành trong hư không và tỏa ra ánh sáng, còn bây giờ ăn đất vào thì thân cứng rắn, nặng nề và có dung sắc khác nhau.
“Có hạng hữu tình có sắc đẹp, có hạng hữu tình không có sắc đẹp. Ở đây các hữu tình có sắc đẹp khinh các hữu tình không có sắc đẹp: "Chúng ta có sắc đẹp hơn họ, họ không có sắc đẹp bằng chúng ta." Do họ kiêu mạn và kiêu ngạo về sắc đẹp của họ, vị của đất biến mất. Khi vị của đất biến mất, họ hội họp lại và kêu than: "Ôi vị ngon! Ôi vị ngon!", như ngày nay, khi loài Người có được vị ngon liền nói: "Ôi vị ngon! Ôi vị ngon!" Như vậy họ theo văn tự truyền thống của thời xưa mà không biết ý nghĩa của nó.”
(Trường Bộ Kinh, 27. Kinh Khởi thế nhân bổn)
Ở đây là càng ngày cái pháp càng đi xuống hạ liệt, ngày xưa là pháp ưu thắng cao thượng còn giờ là pháp thấp kém. Đức Phật trình bày rất chi tiết cho chúng ta thấy cái tâm càng thô lậu chừng nào thì pháp thiện càng suy giảm và biến mất. Lúc trước cứ ăn đất thôi nhưng giờ có sắc đẹp, sắc xấu rồi khởi lên tâm kiêu mạn về sắc đẹp thì vị của đất biến mất rồi họ kêu than, cũng như bây giờ chúng ta gặp đồ ăn ngon là kêu lên "Ôi ngon quá, ngon quá" còn ngày xưa là "Ôi vị ngon, vị ngon". Khi Đức Phật kể tới đâu là ngài liên tưởng đến sự thật của đương thời lúc đó, do sự kiêu mạn và kiêu ngạo về sắc đẹp nên vị đất biến mất.
“Này Vàsettha, khi vị đất đã biến mất với các hữu tình ấy, thời một loại nấm đất hiện ra. Như hình con rắn, chúng hiện ra như vậy. Loại nấm ấy có sắc, có hương, có vị. Mầu sắc của loại nấm này giống như đề hồ hay thuần túy như tô. Vị của đất như mật ong thuần tịnh. Này Vàsettha, những hữu tình ấy bắt đầu ăn thứ nấm đất. Họ thưởng thức nấm đất, lấy nấm đất làm chất ăn, lấy nấm đất làm món ăn trong một thời gian khá lâu. Này Vàsettha, vì các chúng sanh ấy thưởng thức nấm đất, lấy nấm đất làm chất ăn, lấy nấm đất làm món ăn trong một thời gian khá lâu, nên thân của họ trở thành cứng rắn hơn và sắc đẹp của chúng lại càng sai biệt”
(Trường Bộ Kinh, 27. Kinh Khởi thế nhân bổn)
III. Kiêu mạn và kiêu ngạo
Bây giờ thân càng ngày càng thô cứng, sắc đẹp có sự khác biệt rõ ràng.
“Có hạng hữu tình có sắc đẹp, có hạng hữu tình không có sắc đẹp. Ở đây các hữu tình có sắc đẹp khinh các hữu tình không có sắc đẹp: "Chúng ta có sắc đẹp hơn họ, họ không có sắc đẹp bằng chúng ta". Do họ kiêu mạn và kiêu ngạo về sắc đẹp của họ, nấm đất biến mất. Khi nấm đất biến mất cỏ và cây leo hiện ra. Như loại cây tre, chúng hiện ra như vậy. Loại cây leo này có sắc, có hương, có vị. Mầu sắc của loại cây này giống như đề hồ hay thuần túy như tô. Vị của loại cây leo này như mật ong thuần tịnh.
Này Vàsettha, các hữu tình này bắt đầu thưởng thức loại cây leo này. Chúng bắt đầu thưởng thức loại cây leo, lấy cây leo làm chất ăn, lấy cây leo làm món ăn trong một thời gian khá lâu. Này Vàsettha, vì những hữu tình này bắt đầu thưởng thức loại cây leo, lấy cây leo làm chất ăn, lấy cây leo làm món ăn trong một thời gian khá lâu nên thân của họ trở thành cứng rắn hơn và sắp đẹp của họ lại càng sai biệt. Có hạng hữu tình có sắc đẹp, có hạng hữu tình không có sắc đẹp. Ở đây các hữu tình có sắc đẹp khinh các hữu tình không có sắc đẹp: "Chúng ta có sắc đẹp hơn họ, họ không có sắc đẹp bằng chúng ta." Do họ kiêu mạn và kiêu ngạo về sắc đẹp của họ, cỏ và cây leo biến mất. Khi cỏ và cây leo biến mất, họ hội họp lại và kêu than: "Ôi, cái này thuộc của chúng ta! Ôi hại thay cho chúng ta, nay cỏ và cây leo đã biến đi!"; như ngày nay khi loài Người được hỏi cái gì làm cho đau khổ, bèn trả lời: "Ôi, cái này thuộc của chúng ta! Ôi hại thay cho chúng ta!" Như vậy, họ theo văn tự truyền thống của thời xưa mà không biết ý nghĩa của nó.”
(Trường Bộ Kinh, 27. Kinh Khởi thế nhân bổn)
Lúc đầu lấy niềm vui hỷ lạc để nuôi thân chứ không cần ăn uống, sau đó tham đắm hương vị đất, có sắc đẹp sắc xấu, có sự kiêu mạn ngạo mạn và biến ra nấm. Bây giờ nấm lại biến mất và cỏ cây, dây leo hiện ra, các loại cây leo này cũng có sắc, có hương, có vị và cũng ăn được, những người này thưởng thức rồi kiêu ngạo với sắc đẹp, sau đó các loại cây leo cũng biến mất và họ than thở, Đức Phật nói giống ngày nay khi bị mất cái gì thì loài người than thở "Ôi cái này của tôi nhưng bị mất rồi".
“Này Vàsettha, khi các loại cỏ, cây leo biến mất, thời lúa xuất hiện tại các khoảng trống, không có cám, không có vỏ, có mùi thơm và bột trơn nhẵn. Chỗ nào vào buổi chiều họ mang đi để ăn chiều, thời tại chỗ ấy, vào buổi sáng, lúa lại mọc lớn và chín. Chỗ nào vào buổi sáng, họ mang đi để ăn sáng, thời tại chỗ ấy, vào buổi chiều lúa lại mọc lớn và chín, không có gián đoạn.”
(Trường Bộ Kinh, 27. Kinh Khởi thế nhân bổn)
Thời đó không phải trồng lúa cực khổ như bây giờ mà lúa mọc lên là ăn được luôn hạt, không có cám, không có trấu. Sáng hái ăn thì chiều mọc lên cái khác, chiều hái ăn thì sáng lại có, không hề bị gián đoạn.
“Này Vàsettha, những hữu tình ấy thưởng thức lúa mọc tại các khoảng trống, lấy lúa làm chất ăn, lấy lúa làm món ăn trong một thời gian khá lâu. Này Vàsettha, vì các chúng sanh ấy thưởng thức lúa mọc tại khoảng trống, lấy lúa làm chất ăn, lấy lúa làm món ăn trong một thời gian khá lâu, thân hình của họ trở thành cứng rắn hơn và sắp đẹp của họ lại càng sai biệt.”
(Trường Bộ Kinh, 27. Kinh Khởi thế nhân bổn)
Mỗi lần Đức Phật nói trong một thời gian khá lâu nghĩa là trải qua thời gian rất dài nhưng các ác bất thiện pháp lại tăng trưởng, vì thế các pháp càng đi xuống. Sắp đẹp của họ lại càng sai biệt nghĩa là càng ngày lại càng xấu đi không như lúc trước nữa.
IV. Phái tính
“Về phái nữ, nữ tánh xuất hiện; về phái nam, nam tánh xuất hiện. Phái nữ nhìn phái nam hết sức kỹ lưỡng, phái nam nhìn phái nữ hết sức kỹ lưỡng. Vì họ nhìn nhau kỹ lưỡng như vậy nên tình dục khởi lên, ái luyến đối với thân thể bắt đầu. Do sự ái luyến, họ làm các hạnh dâm.”
(Trường Bộ Kinh, 27. Kinh Khởi thế nhân bổn)
Mỗi một lần thay đổi như vậy là thiện pháp bị giảm thiểu và bất thiện pháp tăng trưởng. Lúc trước không phân biệt nam nữ nhưng qua các lần thay đổi nên họ chú tâm nhìn kĩ, so sánh, phân biệt cho nên tình dục khởi lên, ái luyến đối với thân thể sanh khởi và do ái luyến nên có các hành động dâm dục.
“Này Vàsettha, lúc bấy giờ những chúng sanh ấy thấy làm các hạnh dâm như vậy, người thì quăng bùn, người thì quăng tro, người thì quăng phân bò và nói: "Hãy chết đi, đồ ô uế! Hãy chết đi, đồ ô uế! Sao một loài hữu tình lại đối xử với một loài hữu tình khác như vậy?"; như ngày nay, tại một số quốc độ, khi một cô dâu được rước đi, có người quăng bùn, có người quăng tro, có người quăng phân bò. Như vậy, chúng theo văn tự truyền thống xưa mà không biết ý nghĩa của nó.”
(Trường Bộ Kinh, 27. Kinh Khởi thế nhân bổn)
Thời Đức Phật có những quốc độ có phong tục quăng bùn, quăng tro, quăng phân bò vào người cô dâu mỗi khi rước dâu trong ngày cưới. Những vị khác quăng bùn, quăng tro và chửi rủa "hãy chết đi" trong việc hành dâm giữa nam nữ. Khi thấy như vậy thì Đức Phật đặt câu hỏi "Sao một loài hữu tình lại đối xử với một loài hữu tình khác như vậy?", trong thời đại đó người ta thấy việc làm đó là ô uế, là xấu hổ, nhục nhã nên họ chửi "Hãy chết đi, đồ ô uế! Hãy chết đi, đồ ô uế!
“Này Vàsettha, lúc bấy giờ việc làm được xem là phi pháp nay được xem là đúng pháp. Này Vàsettha, lúc bấy giờ các loài hữu tình ấy hành dâm không được phép vào làng hay xã ấp một tháng hay cả hai tháng. Vì những hữu tình ấy lúc bấy giờ chỉ trích mau chóng, vì hành động phi pháp, họ bắt đầu làm lầu, làm nhà để che dấu những hành động phi pháp của họ.”
(Trường Bộ Kinh, 27. Kinh Khởi thế nhân bổn)
Khi sự hành dâm này sanh khởi thì những người khác cho rằng hành vi ấy là xấu xa, tội lỗi, nhục nhã cho nên họ không cho những người đó vào làng hay xã ấp một tháng hay cả hai tháng. Từ đó căn nhà xuất hiện, đây là sự hình thành thế giới và nhân sinh vũ trụ, đây là nguyên nhân tại sao có nhà, là nhằm che giấu những hành động phi pháp, chính vì vậy pháp đầu đà của Đức Phật là ở dưới gốc cây, ở bên ven rừng, ở ngoài bãi đất trống. Sự bắt chước của hữu tình rất hay, lúc đầu là ăn đất rồi mọi người bắt chước theo, người có hành động phi pháp rồi những người khác cũng bắt chước theo, bị chỉ trích không cho vào làng xã mới làm nhà, làm lầu để che giấu hành động phi pháp đó. Chúng ta đã trải qua rất nhiều chặng đường từ thức ăn, thân thể, dung sắc, nam tính, nữ tính, hành dâm rồi có ra nhà cửa.
V. Tích trữ của cải
“Này Vàsettha, có loài hữu tình bản tánh biếng nhác tự nghĩ: "Sao ta lại tự làm ta mỏi mệt bằng cách đi tìm lúa buổi chiều cho buổi ăn chiều, buổi sáng cho buổi ăn sáng? Sao ta lại không tìm lúa một lần cho cả buổi ăn chiều và buổi ăn sáng?" Này Vàsettha, loài hữu tình ấy tìm lúa một lần cho cả buổi ăn chiều, cả buổi ăn sáng.”
(Trường Bộ Kinh, 27. Kinh Khởi thế nhân bổn)
Bây giờ pháp biếng nhác sanh ra, vì làm biếng nên chỉ muốn lấy một lần cho gọn để khỏi đi hai lần. Cái làm biếng này sanh ra tâm tham.
“Một hữu tình khác đến vị hữu tình này và nói:
- Này Bạn, chúng ta hãy đi tìm lúa!
- Này Bạn, tôi đã tìm lúa một lần, cả cho buổi chiều và buổi sáng.
Này Vàsettha, vị này noi theo vị hữu tình kia, đi tìm lúa một lần đủ cho cả hai ngày.
- Này Bạn, như vậy là tốt.
Này Vàsettha, rồi một hữu tình khác đến vị hữu tình ấy và nói:
- Này Bạn chúng ta hãy đi tìm lúa.
- Này Bạn, tôi đã tìm lúa một lần đủ cho cả hai ngày rồi.
Này Vàsettha, vị hữu tình này noi theo gương vị hữu tình kia, liền đi tìm lúa một lần đủ cho bốn ngày.
- Này Bạn, như vậy là tốt.
Này Vàsettha, một vị hữu tình khác lại đến vị hữu tình này và nói:
- Này Bạn, chúng ta hãy đi tìm lúa!
- Này Bạn, tôi đã tìm lúa một lần đủ cho cả bốn ngày!
Này Vàsettha, vị hữu tình này noi theo gương vị hữu tình kia, liền đi tìm lúa một lần đủ cho tám ngày.
- Này Bạn, như vậy là tốt.
Này Vàsettha, những vị hữu tình kia, bắt đầu tích trữ lúa để ăn, và cám bắt đầu bao bọc hột gạo trơn nhẵn và vỏ lúa bao bọc hột lúa; và các cây lúa bị cắt không lớn lên được; và như vậy có sự gián đoạn; và cây lúa mọc lên từng cụm, từng chùm.”
(Trường Bộ Kinh, 27. Kinh Khởi thế nhân bổn)
Đây là lý do Đức Phật dạy phải đi khất thực, đồ ăn không được để qua đêm, ăn xong là thôi. Do sự làm biếng, tham lam, tích trữ lúa để ăn nên bắt đầu có cám, có vỏ lúa bao bọc hột lúa, ở đây chúng ta thấy cái pháp thấp kém hiện ra rất rõ. Một lần cắt lúa để ăn tám ngày, chiếm hữu cho riêng mình, người khác không có ăn nên cây lúa không lớn lên được, lúc trước sáng cắt ăn thì chiều có để ăn tiếp, sướng đến vậy mà không chịu, cắt riêng cho mình để lúa mọc không kịp. Đây là điều đáng suy ngẫm và học hỏi, không được tích lũy, chất chứa, đừng tham lam, tâm phải trú trong xả thì phước mới lớn, đức được rộng nên các thiện pháp sẽ tự nhiên có. Còn đằng này tích lũy, chất chứa thì hạt gạo lúc đầu chỉ bẻ ăn thôi mà nay có cám, có vỏ gạo và cây lúa không thể lớn được nên có sự gián đoạn, tâm tham xuất hiện thì thiện pháp tổn giảm từ từ. Có sự gián đoạn nghĩa là phải chờ mọc lại mới có ăn không như lúc trước có ăn hằng ngày, bây giờ cây lúa mọc lên từng cụm, từng chùm chứ không còn mọc đại trà, rải rác như trước nữa.
“Này Vàsettha, các loài hữu tình ấy hội họp lại và than phiền:
- Này các Bạn, các ác pháp đã hiện ra giữa các loài hữu tình. Chúng ta trước kia do ý sanh, nuôi sống bằng hỷ, tự chiếu hào quang phi hành trên hư không, sống trong sự quang vinh và sống như vậy trong một thời gian khá dài. Ðối với chúng ta, sau một thời gian khá dài, vị của đất hiện ra. Vị đất này có sắc, có hương và có vị. Chúng ta bắt đầu bẻ đất từng cục bằng tay để ăn vị đất. Vì bắt đầu bẻ đất bằng tay từng cục để ăn, nên hào quang biến mất. Vì hào quang biến mất nên mặt trời, mặt trăng hiện ra. Vì mặt trăng, mặt trời hiện ra nên các sao và chùm sao hiện ra. Vì các sao và chùm sao hiện ra, nên đêm, ngày hiện ra. Vì đêm, ngày hiện ra, nên nửa tháng và tháng hiện ra. Vì nửa tháng và tháng hiện ra, nên thời tiết và năm hiện ra. Chúng ta thưởng thức vị đất, lấy vị đất làm chất ăn, lấy vị đất làm món ăn trong một thời gian khá dài. Khi ác bất thiện pháp khởi lên giữa chúng ta, vị đất biến mất. Vì vị đất biến mất, nên nấm đất hiện ra. Nấm đất này có sắc, có hương và có vị. Chúng ta bắt đầu thưởng thức nấm đất ấy, lấy nấm đất làm chất ăn, lấy nấm đất làm món ăn trong một thời gian khá dài. Vì các ác, bất thiện pháp này khởi lên giữa chúng ta nên nấm đất biến mất. Vì nấm đất biến mất, nên cỏ và cây leo hiện ra. Cỏ và cây leo này có sắc, có hương và có vị. Chúng ta bắt đầu thưởng thức cỏ và cây leo ấy, lấy cỏ và cây leo làm chất ăn, lấy cỏ và cây leo làm món ăn trong một thời gian khá dài. Vì các ác, bất thiện pháp này xảy ra giữa chúng ta nên cỏ và cây leo biến mất. Vì cỏ và cây leo biến mất, nên lúa mọc tại khoảng trống hiện ra, không có cám, không có vỏ, thuần tịnh, có mùi thơm và hột trơn nhẵn. Chỗ nào vào buổi chiều, chúng ta mang đi để ăn chiều, thời tại chỗ ấy vào buổi sáng lúa lại mọc lớn và chín. Chỗ nào vào buổi sáng, chúng ta mang đi để ăn sáng, thời tại chỗ ấy vào buổi chiều, lúa lại mọc lớn và chín, không có gián đoạn. Chúng ta thưởng thức lúa mọc tại khoảng trống, lấy lúa làm chất ăn, lấy lúa làm món ăn trong một thời gian khá dài. Vì các ác, bất thiện pháp ấy khởi lên giữa chúng ta, cám bắt đầu bọc hột lúa trơn nhẵn và vỏ lúa bao bọc hột lúa trơn nhẵn; và các cây lúc bị cắt không lớn lên được; và như vậy có sự gián đoạn. Và các cây lúa mọc lên từng cụm, từng chùm. Vậy nay, chúng ta hãy chia lúa và đắp đê làm bờ ruộng.
Này Vàsettha, các loại hữu tình ấy phân chia lúa và đắp đê làm bờ ruộng.”
(Trường Bộ Kinh, 27. Kinh Khởi thế nhân bổn)
Vị này tóm tắt lại cả chặng đường từ trước đến nay và bắt đầu có sự phân chia ranh giới thuộc quyền sở hữu cá nhân, thời điểm này có lẽ vẫn chưa tính mẫu, tính công hay sào (mét vuông-m²). Đây chính là sự phân chia xã hội loài người, chúng ta thấy được trí huệ Đức Phật đã nhìn thấy xuyên suốt các dòng diễn biến từ khi thành hoại của Trái Đất.
VI. Trộm cắp
“Này Vàsettha, có vị hữu tình, bản tánh biếng nhác, gìn giữ phần của mình, đánh cắp phần của người khác và thưởng thức phần ấy. Người ta bắt người ấy và nói:
- Này Ngươi, Ngươi đã làm ác pháp, gìn giữ phần của mình, đánh cắp phần không cho của người khác và thưởng thức phần ấy. Nhà Ngươi chớ có làm như vậy nữa.
- Thưa Bạn, vâng!
Này Vàsettha, người này vâng theo lời nói của những người ấy. Này Vàsettha, một lần thứ hai... Này Vàsettha một lần thứ ba, người này gìn giữ phần của mình, đánh cắp phần không cho của người khác và thưởng thức phần ấy. Người ta bắt người này và nói:
- Này Ngươi, Ngươi đã làm điều ác, vì Ngươi gìn giữ phần của mình, đánh cắp phần không cho của người khác và thưởng thức phần ấy... Ngươi chớ có làm như vậy nữa.
Có người đập anh ta bằng tay, có người đập anh ta bằng đá, có người đập anh ta bằng gậy. Này Vàsettha, bắt đầu như vậy, lấy của không cho xuất hiện, quở trách xuất hiện, nói láo xuất hiện, hình phạt đánh đập xuất hiện.”
(Trường Bộ Kinh, 27. Kinh Khởi thế nhân bổn)
Mình giữ phần của mình rồi đi ăn cắp phần người ta. Bị người ta bắt được, bị la mắng rồi hứa hẹn không lấy nữa, lặp lại đến lần thứ ba mới bị đánh đập, bị ném đá, như vậy pháp trộm cắp có mặt trên đời, quở trách xuất hiện, nói láo xuất hiện, hình phạt đánh đập xuất hiện và ngày nay trộm cắp là khủng khiếp. Chậu bông tết để trước cửa nhà cũng bị lấy mất, hết cẩu tặc, đinh tặc rồi đến cảnh tặc, ăn cắp chó, ăn cắp cây cảnh, ăn cắp tiền bạc, vàng vòng… Lấy của không cho đang phát triển đến cùng cực và thậm chí giết người cướp của cũng từ tâm biếng nhác nhưng tham lam muốn chiếm hữu.
VII. Phân chia giai cấp
“Này Vàsettha, những loài hữu tình ấy hội họp lại và than khóc:
- Này Tôn giả, ác pháp đã khởi lên giữa các loài hữu tình, trong hình thức lấy của không cho xuất hiện, quở trách xuất hiện, nói láo xuất hiện, hình phạt xuất hiện. Chúng ta hãy đề cử một người. Người ấy sẽ tức giận khi đáng phải tức giận, khiển trách khi đáng phải khiển trách, hay tẩn xuất khi đáng phải tẩn xuất. Chúng tôi sẽ dành cho Người một phần lúa của chúng tôi.
- Xin vâng, các Tôn giả!
Này Vàsettha, vị hữu tình này vâng theo các vị hữu tình kia, tức giận khi đáng tức giận, khiển trách khi đáng khiển trách, tẩn xuất khi đáng tẩn xuất. Và các vị hữu tình kia chia cho vị này một phần lúa.”
(Trường Bộ Kinh, 27. Kinh Khởi thế nhân bổn)
Tức là bầu ra một người có quyền tức giận, khiển trách và đuổi đi (tẩn xuất).
“Này Vàsettha, được lựa chọn bởi đại chúng, tức là Mahà-sammato. Danh từ Mahà-sammato là danh từ đầu tiên được khởi lên. Này Vàsettha, "Vị chủ của ruộng vườn" tức là Khattiyà, là danh từ thứ hai được khởi lên" Làm cho các người khác hoan hỉ bởi Pháp", tức là Ràja (vị vua). Ràja là danh từ thứ ba được khởi lên. Này Vàsettha, như vậy là sự khởi lên nguồn gốc giới vức xã hội của Khattiya theo danh từ truyền thống cổ xưa. Nguồn gốc của chúng ta ở giữa những loài hữu tình ấy, không ở ngoài loại nào khác, một cách đúng pháp tắc (dhamma), không phải phi pháp. Này Vàsettha, như vậy Pháp là tối thượng ở đời, trong hiện tại và cả cho đời sau.”
(Trường Bộ Kinh, 27. Kinh Khởi thế nhân bổn)
Cũng như trong vùng dân tộc có chức danh trưởng làng. Pháp ở đây được hiểu là pháp luật, phép tắc, luân lý đạo đức chứ không phải là Chánh Pháp của Đức Phật.
“Này Vàsettha, một số các vị hữu tình suy nghĩ:
- Này các Tôn giả, các ác, bất thiện pháp đã hiện ra giữa các loại hữu tình, như lấy của không cho, khiển trách, nói láo, hình phạt, tẩn xuất. Chúng ta hãy loại bỏ các ác, bất thiện pháp.
Các vị ấy loại bỏ các ác, bất thiện pháp, tức là Bràhmanà (Bà-la-môn), và chữ Bràhmanà là danh từ đầu tiên được khởi lên. Những vị nầy lập lên những chòi bằng lá tại các khu rừng và tu thiền trong những nhà chòi bằng lá ấy. Ðối với họ, than đỏ được dập tắt, khói được tiêu tan, cối và chầy rơi ngả nghiêng, buổi chiều lo buổi ăn chiều, buổi sáng lo buổi ăn sáng; họ đi vào làng, vào thị xã, vào kinh đô để khất thực. Khi họ xin được đồ ăn rồi, họ lại vào các chòi lá trong các khu rừng để tu thiền.”
(Trường Bộ Kinh, 27. Kinh Khởi thế nhân bổn)
Có những vị nhìn thấy những ác pháp, bất thiện pháp, có sự trộm cắp, nói láo, tẩn xuất nên họ phải loại bỏ những thứ này, những vị này đi vào rừng dựng lên chòi bằng lá để tu thiền cho nên những vị này có tên gọi Bràhmanà (Bà-la-môn), đó là ý nghĩa đầu tiên của danh từ Bà-la-môn.
“Đối với họ, than đỏ được dập tắt, khói được tiêu tan, cối và chầy rơi ngả nghiêng, buổi chiều lo ăn buổi ăn chiều, buổi sáng lo buổi ăn sáng; họ đi vào làng, vào thị xã, vào kinh đô để khất thực. Khi xin được đồ ăn rồi, họ lại vào các chòi lá trong khu rừng để tu thiền.”
(Trường Bộ Kinh, 27. Kinh Khởi thế nhân bổn)
Trước khi Đức Phật xuất hiện ở thế gian đã có chuyện đi khất thực, các ngài đi xin ăn rồi về trong các chòi lá ở khu rừng để tu thiền, đây là thiện pháp để đưa đến chư Thiên chứ không phải là Thánh Pháp để đưa đến giải thoát, đoạn tận các lậu hoặc. Than đỏ được dập tắt, khói được tiêu tan tức là không còn nấu nướng gì nữa, cối và chầy rơi ngả nghiêng nghĩa là không cày ruộng, không làm lúa gì nữa.
“- Này các Tôn giả, những loài hữu tình này lập lên những chòi bằng lá tại các khu rừng và tu thiền trong những chòi bằng lá ấy.
Đối với họ, than đỏ được dập tắt, khói được tiêu tan, cối và chầy rơi ngả nghiêng, buổi chiều lo ăn buổi ăn chiều, buổi sáng lo buổi ăn sáng; họ đi vào làng, vào thị xã, vào kinh đô để khất thực. Khi xin được đồ ăn rồi, họ lại vào các chòi lá trong khu rừng để tu thiền. Này Vàsettha, họ "Jhàyanti", tu thiền, tức là họ suy tư Jhàyakà. Jahàyakà là danh từ thứ hai được khởi lên.”
(Trường Bộ Kinh, 27. Kinh Khởi thế nhân bổn)
Những vị này ý thức được những ác bất thiện pháp nên họ đi vào rừng cất lên những chòi lá để tu. Còn mình bỏ Sài Gòn lên núi cất am tranh tu tập, loại bỏ các ác bất thiện pháp và sau đó là các lậu hoặc.
“Này Vàsettha, một số loài hữu tình này, không thể tu thiền trong các chòi bằng lá tại khu rừng, liền đi xuống xung quanh làng, xuống xung quanh thị xã để làm sách. Các người khác thấy vậy bèn nói:
"Này các Tôn giả, những loài hữu tình này, không thể tu thiền trong các chòi bằng lá tại khu rừng, đã đi xuống xung quanh làng, xuống xung quanh thị xã để làm sách. Nay những vị này không tu thiền.
Này Vàsettha, "Na dàn ime Jhàyanti" tức là ajjhàyaka, và ajjàyakà (các vị lập lại các tập sách Vedà), cũng có nghĩa là những người không tu thiền, là chữ thứ ba được khởi lên. Này Vàsettha, thời ấy họ thuộc hạ cấp. Nay họ xem là cao thượng nhất. Như vậy, này Vàsettha là sự khởi lên nguồn gốc giới vức xã hội của các Bà-la-môn, theo danh từ truyền thống cổ xưa. Nguồn gốc của họ là ở giữa những loài hữu tình ấy, không ở ngoài loại nào khác một cách đúng phép tắc, không phải phi pháp. Này Vàsettha, như vậy Pháp là tối thượng ở đời, trong hiện tại và cả cho đời sau.”
(Trường Bộ Kinh, 27. Kinh Khởi thế nhân bổn)
Những vị ở trong rừng tu thiền không được thì họ xuống dưới làng phố để làm sách, đây là những vị lập lại các tập sách Vedà, là những tập kinh cổ xưa của Bà-la-môn giáo, Ấn Độ giáo. Đó là nguồn gốc, giới vức xã hội của Bà-la-môn theo danh từ truyền thống cổ xưa. Như vậy khi ác bất thiện pháp khởi lên thì có nhiều vị muốn tránh xa, muốn từ bỏ nên người ta vào rừng cất những cái chòi tranh tu thiền, có một số vị không tu thiền được thì xuống phố làm sách, viết sách, chú giải những quyển sách cổ xưa.
“Này Vàsettha, một số loài hữu tình này, theo pháp dâm dục, thiết lập các nghề nghiệp sai khác (Vissuta). Này Vàsettha, những ai theo pháp dâm dục, thiết lập ra các nghề nghiệp sai khác, như vậy gọi là Vessà. Danh từ Vessà được khởi lên. Như vậy, này Vàsettha là sự khởi lên nguồn gốc giới vức xã hội của các Vessà, theo danh từ truyền thống cổ xưa.”
(Trường Bộ Kinh, 27. Kinh Khởi thế nhân bổn)
Đức Phật đang giải thích từng giai đoạn, từng thành phần trong xã hội Ấn Độ thời xưa.
“Này Vàsettha, một số loài hữu tình còn lại lựa chọn săn bắn. Những ai sống săn bắn và theo các nghề hèn nhỏ, này Vàsettha, được gọi là Suddà.
Này Vàsettha, một thời có vị Khattiya (Sát đế lỵ) tự trách pháp của mình, xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình: "Tôi sẽ sống làm người Sa môn". Vị Bà-la-môn, tự trách pháp của mình, xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình: "Tôi sẽ sống làm người Sa môn". Vị Vessà, tự trách pháp của mình, xuất gia từ bỏ gia đình, sống không gia đình: "Tôi sẽ sống làm người Sa môn". Vị Suddà, tự trách pháp của mình, xuất gia từ bỏ gia đình, sống không gia đình: "Tôi sẽ sống làm người Sa môn". Này Vàsettha, giai cấp Samana (Sa môn) được khởi lên từ bốn giai cấp ấy. Nguồn gốc của Sa môn là ở giữa các loài hữu tình ấy, không ở ngoài loại nào khác, một cách đúng phép tắc, không phải phi pháp. Này Vàsettha, như vậy Pháp là tối thượng ở đời, trong hiện tại và cả cho đời sau.”
(Trường Bộ Kinh, 27. Kinh Khởi thế nhân bổn)
Sát-đế-lỵ là những vị vua chúa, những giai cấp đã nói ở trên tự trách ngành nghề của mình, thấy đó là pháp ác không muốn đi theo nên muốn xuất gia, từ bỏ, không sống trong gia đình nên trở thành một vị Sa môn. Sau đó Đức Phật giải thích thêm những vị tà hạnh về thân, tà hạnh về miệng, tà hạnh về ý, có tà kiến, do tà hạnh tà kiến làm nhân duyên sau khi thân hoại mạng chung sanh vào cảnh giới khổ hoặc đường ác, đọa lạc, địa ngục.
Còn những vị có chánh hạnh về miệng, chánh hạnh về ý, chánh hạnh về thân, có chánh kiến, do chánh kiến chánh nghiệp làm nhân duyên sau khi thân hoại mạng chung sanh vào đường lành, cõi trời. Có những vị làm hai hạnh về thân tức là vừa thiện vừa ác lẫn lộn, khi nói chuyện thì có nói thiện nói ác, khi làm việc có làm thiện làm ác, khi suy nghĩ có nghĩ thiện và ác cho nên hai pháp thiện ác, tà chánh lẫn lộn, do nhân duyên đó sau khi thân hoại mạng chung thọ lãnh khổ và vui, vừa có khổ vừa có vui. Có những vị trong các giai cấp vua quan, thương buôn, nô lệ có chế ngự về thân – miệng – ý, tu tập bảy giác chi, diệt trừ các pháp ác ngay trong hiện tại thì:
“Này Vàsettha, trong bốn giai cấp này, vị Tỳ-kheo, là bậc A la hán, lậu hoặc đã diệt tận, việc phải làm đã làm, gánh nặng đã đặt xuống, mục tiêu đã đạt tới, hữu kiết sử đã trừ diệt, chánh trí giải thoát. Vị ấy được gọi là tối thượng trong tất cả giai cấp, đúng với Chánh pháp, không phải phi pháp. Này Vàsettha, như vậy Pháp là tối thượng ở đời, trong hiện tại và cho cả đời sau.”
(Trường Bộ Kinh, 27. Kinh Khởi thế nhân bổn)
Như vậy Đức Phật cho chúng ta thấy biết bao sự diễn biến của thế giới, của nhân sinh, của biết bao giai cấp, của địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh, các vị tu hành Sa môn, Bà-la-môn và sau cùng là vị Tỳ-kheo trong Giáo Pháp, là bậc A-la-hán. Ở trên Đức Phật nói pháp luật, là điều đúng đắn của kiếp người, của xã hội còn đoạn sau Đức Phật nói về Thánh Pháp là pháp của bậc Thánh do Đức Phật chứng đắc và hướng dẫn cho đệ tử của ngài. Vị thành tựu tận cùng, lậu hoặc đã diệt tận, việc phải làm đã làm, gánh nặng đã đặt xuống, mục tiêu đã đạt tới, hữu kiết sử đã trừ diệt, chánh trí giải thoát. Vị ấy được gọi là tối thượng trong tất cả giai cấp.
“Này Vàsettha, bài kệ sau đây được Phạm thiên Sanamkumàra (Thường Đồng hình Phạm thiên) tuyên thuyết:
Chúng sanh tin giai cấp,
Sát đế lỵ tối thắng.
Ai đủ cả trí, đức,
Tối thắng giữa Nhân, Thiên.
Này Vàsettha, bài kệ này được Phạm thiên Sanamkumàra, khéo hát chớ không phải vụng hát, khéo nói chớ không phải vụng nói, đầy đủ ý nghĩa chớ không phải không đầy đủ, được Ta chấp nhận. Này Vàsettha, Ta cũng nói như sau:
Chúng sanh tin giai cấp,
Sát đế lỵ tối thắng.
Ai đủ cả trí, đức,
Tối thắng giữa Nhân, Thiên.
Thế Tôn thuyết giảng như vậy. Vàsettha và Bhàradvàja hoan hỉ tín thọ lời giảng Thế Tôn.”
(Trường Bộ Kinh, 27. Kinh Khởi thế nhân bổn)
Ai đầy đủ cả trí tuệ lẫn đức hạnh thì đó mới là người cao tột giữa chư Thiên và loài người. Xin thưa đại chúng đây là bài kinh Khởi thế nhân bổn nhưng Minh Thành chỉ trích đoạn từ chỗ hình thành thế giới để học. Đức Phật thường nói cuối câu Pháp là tối thượng ở đời, trong hiện tại và cả cho đời sau và sự tu hành đoạn diệt các lậu hoặc, gánh nặng đặt xuống, mục tiêu đã đạt đến, hữu kiết sử đã trừ diệt, chánh trí giải thoát thì đó là tối thượng trong tất cả các giai cấp nên Đức Phật nói Ai đủ cả trí, đức, Tối thắng giữa Nhân, Thiên.
Đó là bậc cao tột giữa chư Thiên và loài người cho nên trong sự tu tập chúng ta cần thấy trí tuệ và giới đức của chúng ta. Chúng ta nhìn thấy cả một dòng diễn biến khi thế giới hoại diệt, hình thành cho đến hôm nay con người đầy rẫy ác bất thiện pháp, trong sự tu học chúng ta quay về núi rừng xa vắng để thiền định, tư duy, quán chiếu, tẩy rửa thân tâm để cố gắng đi đến mục tiêu, đặt gánh nặng xuống, diệt tận các lậu hoặc, việc cần làm phải làm thì đó mới là chỗ cao tột nhất, tốt thượng nhất ở đời, không có gì cao quý bằng.
./.
SỰ HÌNH THÀNH THẾ GIỚI & NHÂN SINH I
KINH KHỞI THẾ NHÂN BỔN - TRƯỜNG BỘ
Thích Minh Thành
MỤC LỤC
TOC \o "1-3" \h \z \u I. Khởi đầu PAGEREF _Toc114152975 \h 1
II. Sắc đẹp PAGEREF _Toc114152976 \h 3
III. Kiêu mạn và kiêu ngạo PAGEREF _Toc114152977 \h 5
IV. Phái tính PAGEREF _Toc114152978 \h 7
V. Tích trữ của cải PAGEREF _Toc114152979 \h 8
VI. Trộm cắp PAGEREF _Toc114152980 \h 12
VII. Phân chia giai cấp PAGEREF _Toc114152981 \h 13
I. Khởi đầu
Chúng ta học bài kinh nói về sự hình thành thế giới và nhân sinh, đây là vũ trụ quan – nhân sinh quan của Phật Giáo. Qua bài kinh này chúng ta có thể thấy được trí tuệ dài xa vô lượng của Đức Phật, trước nay chúng ta đi về chiều sâu và hôm nay chúng ta sẽ thấy chiều rộng, tầm thấy biết rộng lớn, dài xa vô cùng tận của Đức Thế Tôn, đây là bài kinh số 27 Trường Bộ Kinh, kinh Khởi thế nhân bổn, chúng ta sẽ trích phần hình thành thế giới.
“Này Vàsettha, có một thời đến một giai đoạn nào đó, sau một thời hạn rất lâu, thế giới này chuyển hoại. Trong khi thế giới chuyển hoại, các loại hữu tình phần lớn sanh qua cõi Abhassara (Quang Âm thiên). Ở tại đây, những loại chúng sanh này do ý sanh, nuôi sống bằng hỷ, tự chiếu hào quang, phi hành trên hư không, sống trong sự quang vinh, và sống như vậy một thời gian khá dài.”
(Trường Bộ Kinh, 27. Kinh Khởi thế nhân bổn)
Theo kinh điển kể lại, thế giới chúng ta trải qua bốn thời kì thành – trụ - hoại – không cũng như con người có sanh – già – bệnh – chết. Thế giới hoại diệt phải chịu những đại tam tai, những chúng sanh có phước đức được sanh về cõi Quang Âm thiên, chúng sanh ở cõi này lấy sự vui mừng làm thức ăn, thân được sanh ra do ý hay còn gọi là ý sanh thân, là do phước đức tu tập, trụ trong an lạc và có thể bay trong hư không, nuôi sống bằng hỷ là tâm hoan hỉ và lấy cái hỷ đó làm nguồn sống, trong đại chúng có người nào hoan hỉ với pháp, quên mệt, quên ăn, quên đói, quên ngủ thì người đó cũng nếm được pháp hỷ.
Khi nghe pháp, khi pháp đàm, khi thảo luận về pháp, nghiền ngẫm, tu tập và quán chiếu trong pháp mà toàn thân hỷ lạc sung mãn thì gọi là pháp hỷ, pháp lạc và vị chư Thiên này do tu thiền được hỷ lạc nghĩa là tâm được an tịnh thì vị này sống ở Quang Âm thiên.
“Này Vàsettha, có một thời đến một giai đoạn nào đó, sau một thời hạn rất lâu, thế giới này chuyển thành. Trong khi thế giới này chuyển thành, một số lớn chúng sanh từ Quang Âm thiên thác sanh qua tại đây. Những chúng sanh này do ý sanh, nuôi sống bằng hỷ, tự chiếu hào quang, phi hành trên hư không, sống trong sự quang vinh và sống như vậy một thời gia khá dài.
Này Vàsettha, lúc bấy giờ, vạn vật trở thành một thế giới toàn nước đen sẫm, một màu đen khiến mắt phải mù. Mặt trăng, mặt trời không hiện ra; sao và chòm sao không hiện ra; không có ngày đêm; không có tháng và nửa tháng; không có năm và thời tiết; không có đàn bà đàn ông. Các loài hữu tình chỉ được xem là loài hữu tình mà thôi. Này Vàsettha, đối với các loài hữu tình ấy, sau một thời gian rất lâu, vị đất tan ra trong nước. Như bọt nổi lên trên mặt cháo sữa nóng đang nguội dần, cũng vậy đất hiện ra. Đất này có màu sắc, có hương và có vị. Màu sắc của đất giống như đề hồ hay thuần túy như tô, vị của đất như mật ong thuần tịnh.”
(Trường Bộ Kinh, 27. Kinh Khởi thế nhân bổn)
Giai đoạn đầu là cả thế giới chỉ toàn nước đen khiến mắt phải mù, thời gian rất lâu sau đất tan ra trong nước, nổi lên bọt như bọt cháo sữa, tiếp theo là nguội dần thì đất hiện ra, màu sắc của đất như đề hồ tức là màu của phô mai và vị như mật ong.
“Này Vàsettha, có loài hữu tình, có tánh tham, nói: "Kìa xem, vật này là gì vậy?", lấy ngón tay nếm vị của đất. Khi lấy ngón tay nếm vị của đất, vị ấy thấm vào thân và tham ái khởi lên. Này Vàsettha, các loài hữu tình khác, theo gương hữu tình kia, lấy ngón tay nếm vị của đất. Khi lấy ngón tay nếm vị của đất, vị ấy thấm vào thân và tham ái khởi lên. Rồi các hữu tình kia bắt đầu thưởng thức vị của đất, bằng cách bẻ từng cục đất với bàn tay nhỏ của họ, thời ánh sáng của họ biến mất.”
(Trường Bộ Kinh, 27. Kinh Khởi thế nhân bổn)
Lúc này từ trên quang vinh bắt đầu đi xuống hạ liệt để chúng ta thấy nguồn gốc của mình là chư Thiên ở cõi trời Quang Âm thiên.
“Khi ánh sáng của họ biến mất, mặt trăng mặt trời hiện ra. Khi mặt trăng, mặt trời hiện ra, thì sao và chòm sao hiện ra. Khi sao và chòm sao hiện ra, ngày và đêm hiện ra, khi ngày và đêm hiện ra, thì nửa tháng và tháng hiện ra. Khi nửa tháng và tháng hiện ra, thời tiết và năm hiện ra. Như vậy, này Vàsettha, thế giới này bắt đầu thành trở lại.”
(Trường Bộ Kinh, 27. Kinh Khởi thế nhân bổn)
Thời điểm lúc xưa không có mặt trời, mặt trăng mà tự thân mỗi người phát ra ánh sáng, phi hành trong hư không tự chiếu ra hào quang và nuôi sống bằng sự hỷ lạc nhưng giờ do tham ái, tham ăn, yêu thích hương vị của đất nên ánh sáng tự thân biến mất và mặt trời, mặt trăng hiện ra, tiếp theo có chòm sao, có ngày đêm, có tháng, nửa tháng, thời tiết và năm có mặt.
II. Sắc đẹp
“Này Vàsettha, những hữu tình ấy, thưởng thức vị của đất, lấy đất làm chất ăn, lấy đất làm món ăn trong một thời gian khá lâu. Này Vàsettha, vì các hữu tình ấy thưởng thức vị của đất, lấy đất làm chất ăn, lấy đất làm món ăn trong một thời gian khá lâu, thân của họ trở thành cứng rắn, và sắc đẹp của họ trở thành sai biệt.”
(Trường Bộ Kinh, 27. Kinh Khởi thế nhân bổn)
Chữ "đất' ở đây không phải đất như bây giờ mà màu sắc, hương vị của nó như phô mai và mật ong. Ngày xưa cái thân rất nhẹ nhàng, phi hành trong hư không và tỏa ra ánh sáng, còn bây giờ ăn đất vào thì thân cứng rắn, nặng nề và có dung sắc khác nhau.
“Có hạng hữu tình có sắc đẹp, có hạng hữu tình không có sắc đẹp. Ở đây các hữu tình có sắc đẹp khinh các hữu tình không có sắc đẹp: "Chúng ta có sắc đẹp hơn họ, họ không có sắc đẹp bằng chúng ta." Do họ kiêu mạn và kiêu ngạo về sắc đẹp của họ, vị của đất biến mất. Khi vị của đất biến mất, họ hội họp lại và kêu than: "Ôi vị ngon! Ôi vị ngon!", như ngày nay, khi loài Người có được vị ngon liền nói: "Ôi vị ngon! Ôi vị ngon!" Như vậy họ theo văn tự truyền thống của thời xưa mà không biết ý nghĩa của nó.”
(Trường Bộ Kinh, 27. Kinh Khởi thế nhân bổn)
Ở đây là càng ngày cái pháp càng đi xuống hạ liệt, ngày xưa là pháp ưu thắng cao thượng còn giờ là pháp thấp kém. Đức Phật trình bày rất chi tiết cho chúng ta thấy cái tâm càng thô lậu chừng nào thì pháp thiện càng suy giảm và biến mất. Lúc trước cứ ăn đất thôi nhưng giờ có sắc đẹp, sắc xấu rồi khởi lên tâm kiêu mạn về sắc đẹp thì vị của đất biến mất rồi họ kêu than, cũng như bây giờ chúng ta gặp đồ ăn ngon là kêu lên "Ôi ngon quá, ngon quá" còn ngày xưa là "Ôi vị ngon, vị ngon". Khi Đức Phật kể tới đâu là ngài liên tưởng đến sự thật của đương thời lúc đó, do sự kiêu mạn và kiêu ngạo về sắc đẹp nên vị đất biến mất.
“Này Vàsettha, khi vị đất đã biến mất với các hữu tình ấy, thời một loại nấm đất hiện ra. Như hình con rắn, chúng hiện ra như vậy. Loại nấm ấy có sắc, có hương, có vị. Mầu sắc của loại nấm này giống như đề hồ hay thuần túy như tô. Vị của đất như mật ong thuần tịnh. Này Vàsettha, những hữu tình ấy bắt đầu ăn thứ nấm đất. Họ thưởng thức nấm đất, lấy nấm đất làm chất ăn, lấy nấm đất làm món ăn trong một thời gian khá lâu. Này Vàsettha, vì các chúng sanh ấy thưởng thức nấm đất, lấy nấm đất làm chất ăn, lấy nấm đất làm món ăn trong một thời gian khá lâu, nên thân của họ trở thành cứng rắn hơn và sắc đẹp của chúng lại càng sai biệt”
(Trường Bộ Kinh, 27. Kinh Khởi thế nhân bổn)
III. Kiêu mạn và kiêu ngạo
Bây giờ thân càng ngày càng thô cứng, sắc đẹp có sự khác biệt rõ ràng.
“Có hạng hữu tình có sắc đẹp, có hạng hữu tình không có sắc đẹp. Ở đây các hữu tình có sắc đẹp khinh các hữu tình không có sắc đẹp: "Chúng ta có sắc đẹp hơn họ, họ không có sắc đẹp bằng chúng ta". Do họ kiêu mạn và kiêu ngạo về sắc đẹp của họ, nấm đất biến mất. Khi nấm đất biến mất cỏ và cây leo hiện ra. Như loại cây tre, chúng hiện ra như vậy. Loại cây leo này có sắc, có hương, có vị. Mầu sắc của loại cây này giống như đề hồ hay thuần túy như tô. Vị của loại cây leo này như mật ong thuần tịnh.
Này Vàsettha, các hữu tình này bắt đầu thưởng thức loại cây leo này. Chúng bắt đầu thưởng thức loại cây leo, lấy cây leo làm chất ăn, lấy cây leo làm món ăn trong một thời gian khá lâu. Này Vàsettha, vì những hữu tình này bắt đầu thưởng thức loại cây leo, lấy cây leo làm chất ăn, lấy cây leo làm món ăn trong một thời gian khá lâu nên thân của họ trở thành cứng rắn hơn và sắp đẹp của họ lại càng sai biệt. Có hạng hữu tình có sắc đẹp, có hạng hữu tình không có sắc đẹp. Ở đây các hữu tình có sắc đẹp khinh các hữu tình không có sắc đẹp: "Chúng ta có sắc đẹp hơn họ, họ không có sắc đẹp bằng chúng ta." Do họ kiêu mạn và kiêu ngạo về sắc đẹp của họ, cỏ và cây leo biến mất. Khi cỏ và cây leo biến mất, họ hội họp lại và kêu than: "Ôi, cái này thuộc của chúng ta! Ôi hại thay cho chúng ta, nay cỏ và cây leo đã biến đi!"; như ngày nay khi loài Người được hỏi cái gì làm cho đau khổ, bèn trả lời: "Ôi, cái này thuộc của chúng ta! Ôi hại thay cho chúng ta!" Như vậy, họ theo văn tự truyền thống của thời xưa mà không biết ý nghĩa của nó.”
(Trường Bộ Kinh, 27. Kinh Khởi thế nhân bổn)
Lúc đầu lấy niềm vui hỷ lạc để nuôi thân chứ không cần ăn uống, sau đó tham đắm hương vị đất, có sắc đẹp sắc xấu, có sự kiêu mạn ngạo mạn và biến ra nấm. Bây giờ nấm lại biến mất và cỏ cây, dây leo hiện ra, các loại cây leo này cũng có sắc, có hương, có vị và cũng ăn được, những người này thưởng thức rồi kiêu ngạo với sắc đẹp, sau đó các loại cây leo cũng biến mất và họ than thở, Đức Phật nói giống ngày nay khi bị mất cái gì thì loài người than thở "Ôi cái này của tôi nhưng bị mất rồi".
“Này Vàsettha, khi các loại cỏ, cây leo biến mất, thời lúa xuất hiện tại các khoảng trống, không có cám, không có vỏ, có mùi thơm và bột trơn nhẵn. Chỗ nào vào buổi chiều họ mang đi để ăn chiều, thời tại chỗ ấy, vào buổi sáng, lúa lại mọc lớn và chín. Chỗ nào vào buổi sáng, họ mang đi để ăn sáng, thời tại chỗ ấy, vào buổi chiều lúa lại mọc lớn và chín, không có gián đoạn.”
(Trường Bộ Kinh, 27. Kinh Khởi thế nhân bổn)
Thời đó không phải trồng lúa cực khổ như bây giờ mà lúa mọc lên là ăn được luôn hạt, không có cám, không có trấu. Sáng hái ăn thì chiều mọc lên cái khác, chiều hái ăn thì sáng lại có, không hề bị gián đoạn.
“Này Vàsettha, những hữu tình ấy thưởng thức lúa mọc tại các khoảng trống, lấy lúa làm chất ăn, lấy lúa làm món ăn trong một thời gian khá lâu. Này Vàsettha, vì các chúng sanh ấy thưởng thức lúa mọc tại khoảng trống, lấy lúa làm chất ăn, lấy lúa làm món ăn trong một thời gian khá lâu, thân hình của họ trở thành cứng rắn hơn và sắp đẹp của họ lại càng sai biệt.”
(Trường Bộ Kinh, 27. Kinh Khởi thế nhân bổn)
Mỗi lần Đức Phật nói trong một thời gian khá lâu nghĩa là trải qua thời gian rất dài nhưng các ác bất thiện pháp lại tăng trưởng, vì thế các pháp càng đi xuống. Sắp đẹp của họ lại càng sai biệt nghĩa là càng ngày lại càng xấu đi không như lúc trước nữa.
IV. Phái tính
“Về phái nữ, nữ tánh xuất hiện; về phái nam, nam tánh xuất hiện. Phái nữ nhìn phái nam hết sức kỹ lưỡng, phái nam nhìn phái nữ hết sức kỹ lưỡng. Vì họ nhìn nhau kỹ lưỡng như vậy nên tình dục khởi lên, ái luyến đối với thân thể bắt đầu. Do sự ái luyến, họ làm các hạnh dâm.”
(Trường Bộ Kinh, 27. Kinh Khởi thế nhân bổn)
Mỗi một lần thay đổi như vậy là thiện pháp bị giảm thiểu và bất thiện pháp tăng trưởng. Lúc trước không phân biệt nam nữ nhưng qua các lần thay đổi nên họ chú tâm nhìn kĩ, so sánh, phân biệt cho nên tình dục khởi lên, ái luyến đối với thân thể sanh khởi và do ái luyến nên có các hành động dâm dục.
“Này Vàsettha, lúc bấy giờ những chúng sanh ấy thấy làm các hạnh dâm như vậy, người thì quăng bùn, người thì quăng tro, người thì quăng phân bò và nói: "Hãy chết đi, đồ ô uế! Hãy chết đi, đồ ô uế! Sao một loài hữu tình lại đối xử với một loài hữu tình khác như vậy?"; như ngày nay, tại một số quốc độ, khi một cô dâu được rước đi, có người quăng bùn, có người quăng tro, có người quăng phân bò. Như vậy, chúng theo văn tự truyền thống xưa mà không biết ý nghĩa của nó.”
(Trường Bộ Kinh, 27. Kinh Khởi thế nhân bổn)
Thời Đức Phật có những quốc độ có phong tục quăng bùn, quăng tro, quăng phân bò vào người cô dâu mỗi khi rước dâu trong ngày cưới. Những vị khác quăng bùn, quăng tro và chửi rủa "hãy chết đi" trong việc hành dâm giữa nam nữ. Khi thấy như vậy thì Đức Phật đặt câu hỏi "Sao một loài hữu tình lại đối xử với một loài hữu tình khác như vậy?", trong thời đại đó người ta thấy việc làm đó là ô uế, là xấu hổ, nhục nhã nên họ chửi "Hãy chết đi, đồ ô uế! Hãy chết đi, đồ ô uế!
“Này Vàsettha, lúc bấy giờ việc làm được xem là phi pháp nay được xem là đúng pháp. Này Vàsettha, lúc bấy giờ các loài hữu tình ấy hành dâm không được phép vào làng hay xã ấp một tháng hay cả hai tháng. Vì những hữu tình ấy lúc bấy giờ chỉ trích mau chóng, vì hành động phi pháp, họ bắt đầu làm lầu, làm nhà để che dấu những hành động phi pháp của họ.”
(Trường Bộ Kinh, 27. Kinh Khởi thế nhân bổn)
Khi sự hành dâm này sanh khởi thì những người khác cho rằng hành vi ấy là xấu xa, tội lỗi, nhục nhã cho nên họ không cho những người đó vào làng hay xã ấp một tháng hay cả hai tháng. Từ đó căn nhà xuất hiện, đây là sự hình thành thế giới và nhân sinh vũ trụ, đây là nguyên nhân tại sao có nhà, là nhằm che giấu những hành động phi pháp, chính vì vậy pháp đầu đà của Đức Phật là ở dưới gốc cây, ở bên ven rừng, ở ngoài bãi đất trống. Sự bắt chước của hữu tình rất hay, lúc đầu là ăn đất rồi mọi người bắt chước theo, người có hành động phi pháp rồi những người khác cũng bắt chước theo, bị chỉ trích không cho vào làng xã mới làm nhà, làm lầu để che giấu hành động phi pháp đó. Chúng ta đã trải qua rất nhiều chặng đường từ thức ăn, thân thể, dung sắc, nam tính, nữ tính, hành dâm rồi có ra nhà cửa.
V. Tích trữ của cải
“Này Vàsettha, có loài hữu tình bản tánh biếng nhác tự nghĩ: "Sao ta lại tự làm ta mỏi mệt bằng cách đi tìm lúa buổi chiều cho buổi ăn chiều, buổi sáng cho buổi ăn sáng? Sao ta lại không tìm lúa một lần cho cả buổi ăn chiều và buổi ăn sáng?" Này Vàsettha, loài hữu tình ấy tìm lúa một lần cho cả buổi ăn chiều, cả buổi ăn sáng.”
(Trường Bộ Kinh, 27. Kinh Khởi thế nhân bổn)
Bây giờ pháp biếng nhác sanh ra, vì làm biếng nên chỉ muốn lấy một lần cho gọn để khỏi đi hai lần. Cái làm biếng này sanh ra tâm tham.
“Một hữu tình khác đến vị hữu tình này và nói:
- Này Bạn, chúng ta hãy đi tìm lúa!
- Này Bạn, tôi đã tìm lúa một lần, cả cho buổi chiều và buổi sáng.
Này Vàsettha, vị này noi theo vị hữu tình kia, đi tìm lúa một lần đủ cho cả hai ngày.
- Này Bạn, như vậy là tốt.
Này Vàsettha, rồi một hữu tình khác đến vị hữu tình ấy và nói:
- Này Bạn chúng ta hãy đi tìm lúa.
- Này Bạn, tôi đã tìm lúa một lần đủ cho cả hai ngày rồi.
Này Vàsettha, vị hữu tình này noi theo gương vị hữu tình kia, liền đi tìm lúa một lần đủ cho bốn ngày.
- Này Bạn, như vậy là tốt.
Này Vàsettha, một vị hữu tình khác lại đến vị hữu tình này và nói:
- Này Bạn, chúng ta hãy đi tìm lúa!
- Này Bạn, tôi đã tìm lúa một lần đủ cho cả bốn ngày!
Này Vàsettha, vị hữu tình này noi theo gương vị hữu tình kia, liền đi tìm lúa một lần đủ cho tám ngày.
- Này Bạn, như vậy là tốt.
Này Vàsettha, những vị hữu tình kia, bắt đầu tích trữ lúa để ăn, và cám bắt đầu bao bọc hột gạo trơn nhẵn và vỏ lúa bao bọc hột lúa; và các cây lúa bị cắt không lớn lên được; và như vậy có sự gián đoạn; và cây lúa mọc lên từng cụm, từng chùm.”
(Trường Bộ Kinh, 27. Kinh Khởi thế nhân bổn)
Đây là lý do Đức Phật dạy phải đi khất thực, đồ ăn không được để qua đêm, ăn xong là thôi. Do sự làm biếng, tham lam, tích trữ lúa để ăn nên bắt đầu có cám, có vỏ lúa bao bọc hột lúa, ở đây chúng ta thấy cái pháp thấp kém hiện ra rất rõ. Một lần cắt lúa để ăn tám ngày, chiếm hữu cho riêng mình, người khác không có ăn nên cây lúa không lớn lên được, lúc trước sáng cắt ăn thì chiều có để ăn tiếp, sướng đến vậy mà không chịu, cắt riêng cho mình để lúa mọc không kịp. Đây là điều đáng suy ngẫm và học hỏi, không được tích lũy, chất chứa, đừng tham lam, tâm phải trú trong xả thì phước mới lớn, đức được rộng nên các thiện pháp sẽ tự nhiên có. Còn đằng này tích lũy, chất chứa thì hạt gạo lúc đầu chỉ bẻ ăn thôi mà nay có cám, có vỏ gạo và cây lúa không thể lớn được nên có sự gián đoạn, tâm tham xuất hiện thì thiện pháp tổn giảm từ từ. Có sự gián đoạn nghĩa là phải chờ mọc lại mới có ăn không như lúc trước có ăn hằng ngày, bây giờ cây lúa mọc lên từng cụm, từng chùm chứ không còn mọc đại trà, rải rác như trước nữa.
“Này Vàsettha, các loài hữu tình ấy hội họp lại và than phiền:
- Này các Bạn, các ác pháp đã hiện ra giữa các loài hữu tình. Chúng ta trước kia do ý sanh, nuôi sống bằng hỷ, tự chiếu hào quang phi hành trên hư không, sống trong sự quang vinh và sống như vậy trong một thời gian khá dài. Ðối với chúng ta, sau một thời gian khá dài, vị của đất hiện ra. Vị đất này có sắc, có hương và có vị. Chúng ta bắt đầu bẻ đất từng cục bằng tay để ăn vị đất. Vì bắt đầu bẻ đất bằng tay từng cục để ăn, nên hào quang biến mất. Vì hào quang biến mất nên mặt trời, mặt trăng hiện ra. Vì mặt trăng, mặt trời hiện ra nên các sao và chùm sao hiện ra. Vì các sao và chùm sao hiện ra, nên đêm, ngày hiện ra. Vì đêm, ngày hiện ra, nên nửa tháng và tháng hiện ra. Vì nửa tháng và tháng hiện ra, nên thời tiết và năm hiện ra. Chúng ta thưởng thức vị đất, lấy vị đất làm chất ăn, lấy vị đất làm món ăn trong một thời gian khá dài. Khi ác bất thiện pháp khởi lên giữa chúng ta, vị đất biến mất. Vì vị đất biến mất, nên nấm đất hiện ra. Nấm đất này có sắc, có hương và có vị. Chúng ta bắt đầu thưởng thức nấm đất ấy, lấy nấm đất làm chất ăn, lấy nấm đất làm món ăn trong một thời gian khá dài. Vì các ác, bất thiện pháp này khởi lên giữa chúng ta nên nấm đất biến mất. Vì nấm đất biến mất, nên cỏ và cây leo hiện ra. Cỏ và cây leo này có sắc, có hương và có vị. Chúng ta bắt đầu thưởng thức cỏ và cây leo ấy, lấy cỏ và cây leo làm chất ăn, lấy cỏ và cây leo làm món ăn trong một thời gian khá dài. Vì các ác, bất thiện pháp này xảy ra giữa chúng ta nên cỏ và cây leo biến mất. Vì cỏ và cây leo biến mất, nên lúa mọc tại khoảng trống hiện ra, không có cám, không có vỏ, thuần tịnh, có mùi thơm và hột trơn nhẵn. Chỗ nào vào buổi chiều, chúng ta mang đi để ăn chiều, thời tại chỗ ấy vào buổi sáng lúa lại mọc lớn và chín. Chỗ nào vào buổi sáng, chúng ta mang đi để ăn sáng, thời tại chỗ ấy vào buổi chiều, lúa lại mọc lớn và chín, không có gián đoạn. Chúng ta thưởng thức lúa mọc tại khoảng trống, lấy lúa làm chất ăn, lấy lúa làm món ăn trong một thời gian khá dài. Vì các ác, bất thiện pháp ấy khởi lên giữa chúng ta, cám bắt đầu bọc hột lúa trơn nhẵn và vỏ lúa bao bọc hột lúa trơn nhẵn; và các cây lúc bị cắt không lớn lên được; và như vậy có sự gián đoạn. Và các cây lúa mọc lên từng cụm, từng chùm. Vậy nay, chúng ta hãy chia lúa và đắp đê làm bờ ruộng.
Này Vàsettha, các loại hữu tình ấy phân chia lúa và đắp đê làm bờ ruộng.”
(Trường Bộ Kinh, 27. Kinh Khởi thế nhân bổn)
Vị này tóm tắt lại cả chặng đường từ trước đến nay và bắt đầu có sự phân chia ranh giới thuộc quyền sở hữu cá nhân, thời điểm này có lẽ vẫn chưa tính mẫu, tính công hay sào (mét vuông-m²). Đây chính là sự phân chia xã hội loài người, chúng ta thấy được trí huệ Đức Phật đã nhìn thấy xuyên suốt các dòng diễn biến từ khi thành hoại của Trái Đất.
VI. Trộm cắp
“Này Vàsettha, có vị hữu tình, bản tánh biếng nhác, gìn giữ phần của mình, đánh cắp phần của người khác và thưởng thức phần ấy. Người ta bắt người ấy và nói:
- Này Ngươi, Ngươi đã làm ác pháp, gìn giữ phần của mình, đánh cắp phần không cho của người khác và thưởng thức phần ấy. Nhà Ngươi chớ có làm như vậy nữa.
- Thưa Bạn, vâng!
Này Vàsettha, người này vâng theo lời nói của những người ấy. Này Vàsettha, một lần thứ hai... Này Vàsettha một lần thứ ba, người này gìn giữ phần của mình, đánh cắp phần không cho của người khác và thưởng thức phần ấy. Người ta bắt người này và nói:
- Này Ngươi, Ngươi đã làm điều ác, vì Ngươi gìn giữ phần của mình, đánh cắp phần không cho của người khác và thưởng thức phần ấy... Ngươi chớ có làm như vậy nữa.
Có người đập anh ta bằng tay, có người đập anh ta bằng đá, có người đập anh ta bằng gậy. Này Vàsettha, bắt đầu như vậy, lấy của không cho xuất hiện, quở trách xuất hiện, nói láo xuất hiện, hình phạt đánh đập xuất hiện.”
(Trường Bộ Kinh, 27. Kinh Khởi thế nhân bổn)
Mình giữ phần của mình rồi đi ăn cắp phần người ta. Bị người ta bắt được, bị la mắng rồi hứa hẹn không lấy nữa, lặp lại đến lần thứ ba mới bị đánh đập, bị ném đá, như vậy pháp trộm cắp có mặt trên đời, quở trách xuất hiện, nói láo xuất hiện, hình phạt đánh đập xuất hiện và ngày nay trộm cắp là khủng khiếp. Chậu bông tết để trước cửa nhà cũng bị lấy mất, hết cẩu tặc, đinh tặc rồi đến cảnh tặc, ăn cắp chó, ăn cắp cây cảnh, ăn cắp tiền bạc, vàng vòng… Lấy của không cho đang phát triển đến cùng cực và thậm chí giết người cướp của cũng từ tâm biếng nhác nhưng tham lam muốn chiếm hữu.
VII. Phân chia giai cấp
“Này Vàsettha, những loài hữu tình ấy hội họp lại và than khóc:
- Này Tôn giả, ác pháp đã khởi lên giữa các loài hữu tình, trong hình thức lấy của không cho xuất hiện, quở trách xuất hiện, nói láo xuất hiện, hình phạt xuất hiện. Chúng ta hãy đề cử một người. Người ấy sẽ tức giận khi đáng phải tức giận, khiển trách khi đáng phải khiển trách, hay tẩn xuất khi đáng phải tẩn xuất. Chúng tôi sẽ dành cho Người một phần lúa của chúng tôi.
- Xin vâng, các Tôn giả!
Này Vàsettha, vị hữu tình này vâng theo các vị hữu tình kia, tức giận khi đáng tức giận, khiển trách khi đáng khiển trách, tẩn xuất khi đáng tẩn xuất. Và các vị hữu tình kia chia cho vị này một phần lúa.”
(Trường Bộ Kinh, 27. Kinh Khởi thế nhân bổn)
Tức là bầu ra một người có quyền tức giận, khiển trách và đuổi đi (tẩn xuất).
“Này Vàsettha, được lựa chọn bởi đại chúng, tức là Mahà-sammato. Danh từ Mahà-sammato là danh từ đầu tiên được khởi lên. Này Vàsettha, "Vị chủ của ruộng vườn" tức là Khattiyà, là danh từ thứ hai được khởi lên" Làm cho các người khác hoan hỉ bởi Pháp", tức là Ràja (vị vua). Ràja là danh từ thứ ba được khởi lên. Này Vàsettha, như vậy là sự khởi lên nguồn gốc giới vức xã hội của Khattiya theo danh từ truyền thống cổ xưa. Nguồn gốc của chúng ta ở giữa những loài hữu tình ấy, không ở ngoài loại nào khác, một cách đúng pháp tắc (dhamma), không phải phi pháp. Này Vàsettha, như vậy Pháp là tối thượng ở đời, trong hiện tại và cả cho đời sau.”
(Trường Bộ Kinh, 27. Kinh Khởi thế nhân bổn)
Cũng như trong vùng dân tộc có chức danh trưởng làng. Pháp ở đây được hiểu là pháp luật, phép tắc, luân lý đạo đức chứ không phải là Chánh Pháp của Đức Phật.
“Này Vàsettha, một số các vị hữu tình suy nghĩ:
- Này các Tôn giả, các ác, bất thiện pháp đã hiện ra giữa các loại hữu tình, như lấy của không cho, khiển trách, nói láo, hình phạt, tẩn xuất. Chúng ta hãy loại bỏ các ác, bất thiện pháp.
Các vị ấy loại bỏ các ác, bất thiện pháp, tức là Bràhmanà (Bà-la-môn), và chữ Bràhmanà là danh từ đầu tiên được khởi lên. Những vị nầy lập lên những chòi bằng lá tại các khu rừng và tu thiền trong những nhà chòi bằng lá ấy. Ðối với họ, than đỏ được dập tắt, khói được tiêu tan, cối và chầy rơi ngả nghiêng, buổi chiều lo buổi ăn chiều, buổi sáng lo buổi ăn sáng; họ đi vào làng, vào thị xã, vào kinh đô để khất thực. Khi họ xin được đồ ăn rồi, họ lại vào các chòi lá trong các khu rừng để tu thiền.”
(Trường Bộ Kinh, 27. Kinh Khởi thế nhân bổn)
Có những vị nhìn thấy những ác pháp, bất thiện pháp, có sự trộm cắp, nói láo, tẩn xuất nên họ phải loại bỏ những thứ này, những vị này đi vào rừng dựng lên chòi bằng lá để tu thiền cho nên những vị này có tên gọi Bràhmanà (Bà-la-môn), đó là ý nghĩa đầu tiên của danh từ Bà-la-môn.
“Đối với họ, than đỏ được dập tắt, khói được tiêu tan, cối và chầy rơi ngả nghiêng, buổi chiều lo ăn buổi ăn chiều, buổi sáng lo buổi ăn sáng; họ đi vào làng, vào thị xã, vào kinh đô để khất thực. Khi xin được đồ ăn rồi, họ lại vào các chòi lá trong khu rừng để tu thiền.”
(Trường Bộ Kinh, 27. Kinh Khởi thế nhân bổn)
Trước khi Đức Phật xuất hiện ở thế gian đã có chuyện đi khất thực, các ngài đi xin ăn rồi về trong các chòi lá ở khu rừng để tu thiền, đây là thiện pháp để đưa đến chư Thiên chứ không phải là Thánh Pháp để đưa đến giải thoát, đoạn tận các lậu hoặc. Than đỏ được dập tắt, khói được tiêu tan tức là không còn nấu nướng gì nữa, cối và chầy rơi ngả nghiêng nghĩa là không cày ruộng, không làm lúa gì nữa.
“- Này các Tôn giả, những loài hữu tình này lập lên những chòi bằng lá tại các khu rừng và tu thiền trong những chòi bằng lá ấy.
Đối với họ, than đỏ được dập tắt, khói được tiêu tan, cối và chầy rơi ngả nghiêng, buổi chiều lo ăn buổi ăn chiều, buổi sáng lo buổi ăn sáng; họ đi vào làng, vào thị xã, vào kinh đô để khất thực. Khi xin được đồ ăn rồi, họ lại vào các chòi lá trong khu rừng để tu thiền. Này Vàsettha, họ "Jhàyanti", tu thiền, tức là họ suy tư Jhàyakà. Jahàyakà là danh từ thứ hai được khởi lên.”
(Trường Bộ Kinh, 27. Kinh Khởi thế nhân bổn)
Những vị này ý thức được những ác bất thiện pháp nên họ đi vào rừng cất lên những chòi lá để tu. Còn mình bỏ Sài Gòn lên núi cất am tranh tu tập, loại bỏ các ác bất thiện pháp và sau đó là các lậu hoặc.
“Này Vàsettha, một số loài hữu tình này, không thể tu thiền trong các chòi bằng lá tại khu rừng, liền đi xuống xung quanh làng, xuống xung quanh thị xã để làm sách. Các người khác thấy vậy bèn nói:
"Này các Tôn giả, những loài hữu tình này, không thể tu thiền trong các chòi bằng lá tại khu rừng, đã đi xuống xung quanh làng, xuống xung quanh thị xã để làm sách. Nay những vị này không tu thiền.
Này Vàsettha, "Na dàn ime Jhàyanti" tức là ajjhàyaka, và ajjàyakà (các vị lập lại các tập sách Vedà), cũng có nghĩa là những người không tu thiền, là chữ thứ ba được khởi lên. Này Vàsettha, thời ấy họ thuộc hạ cấp. Nay họ xem là cao thượng nhất. Như vậy, này Vàsettha là sự khởi lên nguồn gốc giới vức xã hội của các Bà-la-môn, theo danh từ truyền thống cổ xưa. Nguồn gốc của họ là ở giữa những loài hữu tình ấy, không ở ngoài loại nào khác một cách đúng phép tắc, không phải phi pháp. Này Vàsettha, như vậy Pháp là tối thượng ở đời, trong hiện tại và cả cho đời sau.”
(Trường Bộ Kinh, 27. Kinh Khởi thế nhân bổn)
Những vị ở trong rừng tu thiền không được thì họ xuống dưới làng phố để làm sách, đây là những vị lập lại các tập sách Vedà, là những tập kinh cổ xưa của Bà-la-môn giáo, Ấn Độ giáo. Đó là nguồn gốc, giới vức xã hội của Bà-la-môn theo danh từ truyền thống cổ xưa. Như vậy khi ác bất thiện pháp khởi lên thì có nhiều vị muốn tránh xa, muốn từ bỏ nên người ta vào rừng cất những cái chòi tranh tu thiền, có một số vị không tu thiền được thì xuống phố làm sách, viết sách, chú giải những quyển sách cổ xưa.
“Này Vàsettha, một số loài hữu tình này, theo pháp dâm dục, thiết lập các nghề nghiệp sai khác (Vissuta). Này Vàsettha, những ai theo pháp dâm dục, thiết lập ra các nghề nghiệp sai khác, như vậy gọi là Vessà. Danh từ Vessà được khởi lên. Như vậy, này Vàsettha là sự khởi lên nguồn gốc giới vức xã hội của các Vessà, theo danh từ truyền thống cổ xưa.”
(Trường Bộ Kinh, 27. Kinh Khởi thế nhân bổn)
Đức Phật đang giải thích từng giai đoạn, từng thành phần trong xã hội Ấn Độ thời xưa.
“Này Vàsettha, một số loài hữu tình còn lại lựa chọn săn bắn. Những ai sống săn bắn và theo các nghề hèn nhỏ, này Vàsettha, được gọi là Suddà.
Này Vàsettha, một thời có vị Khattiya (Sát đế lỵ) tự trách pháp của mình, xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình: "Tôi sẽ sống làm người Sa môn". Vị Bà-la-môn, tự trách pháp của mình, xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình: "Tôi sẽ sống làm người Sa môn". Vị Vessà, tự trách pháp của mình, xuất gia từ bỏ gia đình, sống không gia đình: "Tôi sẽ sống làm người Sa môn". Vị Suddà, tự trách pháp của mình, xuất gia từ bỏ gia đình, sống không gia đình: "Tôi sẽ sống làm người Sa môn". Này Vàsettha, giai cấp Samana (Sa môn) được khởi lên từ bốn giai cấp ấy. Nguồn gốc của Sa môn là ở giữa các loài hữu tình ấy, không ở ngoài loại nào khác, một cách đúng phép tắc, không phải phi pháp. Này Vàsettha, như vậy Pháp là tối thượng ở đời, trong hiện tại và cả cho đời sau.”
(Trường Bộ Kinh, 27. Kinh Khởi thế nhân bổn)
Sát-đế-lỵ là những vị vua chúa, những giai cấp đã nói ở trên tự trách ngành nghề của mình, thấy đó là pháp ác không muốn đi theo nên muốn xuất gia, từ bỏ, không sống trong gia đình nên trở thành một vị Sa môn. Sau đó Đức Phật giải thích thêm những vị tà hạnh về thân, tà hạnh về miệng, tà hạnh về ý, có tà kiến, do tà hạnh tà kiến làm nhân duyên sau khi thân hoại mạng chung sanh vào cảnh giới khổ hoặc đường ác, đọa lạc, địa ngục.
Còn những vị có chánh hạnh về miệng, chánh hạnh về ý, chánh hạnh về thân, có chánh kiến, do chánh kiến chánh nghiệp làm nhân duyên sau khi thân hoại mạng chung sanh vào đường lành, cõi trời. Có những vị làm hai hạnh về thân tức là vừa thiện vừa ác lẫn lộn, khi nói chuyện thì có nói thiện nói ác, khi làm việc có làm thiện làm ác, khi suy nghĩ có nghĩ thiện và ác cho nên hai pháp thiện ác, tà chánh lẫn lộn, do nhân duyên đó sau khi thân hoại mạng chung thọ lãnh khổ và vui, vừa có khổ vừa có vui. Có những vị trong các giai cấp vua quan, thương buôn, nô lệ có chế ngự về thân – miệng – ý, tu tập bảy giác chi, diệt trừ các pháp ác ngay trong hiện tại thì:
“Này Vàsettha, trong bốn giai cấp này, vị Tỳ-kheo, là bậc A la hán, lậu hoặc đã diệt tận, việc phải làm đã làm, gánh nặng đã đặt xuống, mục tiêu đã đạt tới, hữu kiết sử đã trừ diệt, chánh trí giải thoát. Vị ấy được gọi là tối thượng trong tất cả giai cấp, đúng với Chánh pháp, không phải phi pháp. Này Vàsettha, như vậy Pháp là tối thượng ở đời, trong hiện tại và cho cả đời sau.”
(Trường Bộ Kinh, 27. Kinh Khởi thế nhân bổn)
Như vậy Đức Phật cho chúng ta thấy biết bao sự diễn biến của thế giới, của nhân sinh, của biết bao giai cấp, của địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh, các vị tu hành Sa môn, Bà-la-môn và sau cùng là vị Tỳ-kheo trong Giáo Pháp, là bậc A-la-hán. Ở trên Đức Phật nói pháp luật, là điều đúng đắn của kiếp người, của xã hội còn đoạn sau Đức Phật nói về Thánh Pháp là pháp của bậc Thánh do Đức Phật chứng đắc và hướng dẫn cho đệ tử của ngài. Vị thành tựu tận cùng, lậu hoặc đã diệt tận, việc phải làm đã làm, gánh nặng đã đặt xuống, mục tiêu đã đạt tới, hữu kiết sử đã trừ diệt, chánh trí giải thoát. Vị ấy được gọi là tối thượng trong tất cả giai cấp.
“Này Vàsettha, bài kệ sau đây được Phạm thiên Sanamkumàra (Thường Đồng hình Phạm thiên) tuyên thuyết:
Chúng sanh tin giai cấp,
Sát đế lỵ tối thắng.
Ai đủ cả trí, đức,
Tối thắng giữa Nhân, Thiên.
Này Vàsettha, bài kệ này được Phạm thiên Sanamkumàra, khéo hát chớ không phải vụng hát, khéo nói chớ không phải vụng nói, đầy đủ ý nghĩa chớ không phải không đầy đủ, được Ta chấp nhận. Này Vàsettha, Ta cũng nói như sau:
Chúng sanh tin giai cấp,
Sát đế lỵ tối thắng.
Ai đủ cả trí, đức,
Tối thắng giữa Nhân, Thiên.
Thế Tôn thuyết giảng như vậy. Vàsettha và Bhàradvàja hoan hỉ tín thọ lời giảng Thế Tôn.”
(Trường Bộ Kinh, 27. Kinh Khởi thế nhân bổn)
Ai đầy đủ cả trí tuệ lẫn đức hạnh thì đó mới là người cao tột giữa chư Thiên và loài người. Xin thưa đại chúng đây là bài kinh Khởi thế nhân bổn nhưng Minh Thành chỉ trích đoạn từ chỗ hình thành thế giới để học. Đức Phật thường nói cuối câu Pháp là tối thượng ở đời, trong hiện tại và cả cho đời sau và sự tu hành đoạn diệt các lậu hoặc, gánh nặng đặt xuống, mục tiêu đã đạt đến, hữu kiết sử đã trừ diệt, chánh trí giải thoát thì đó là tối thượng trong tất cả các giai cấp nên Đức Phật nói Ai đủ cả trí, đức, Tối thắng giữa Nhân, Thiên.
Đó là bậc cao tột giữa chư Thiên và loài người cho nên trong sự tu tập chúng ta cần thấy trí tuệ và giới đức của chúng ta. Chúng ta nhìn thấy cả một dòng diễn biến khi thế giới hoại diệt, hình thành cho đến hôm nay con người đầy rẫy ác bất thiện pháp, trong sự tu học chúng ta quay về núi rừng xa vắng để thiền định, tư duy, quán chiếu, tẩy rửa thân tâm để cố gắng đi đến mục tiêu, đặt gánh nặng xuống, diệt tận các lậu hoặc, việc cần làm phải làm thì đó mới là chỗ cao tột nhất, tốt thượng nhất ở đời, không có gì cao quý bằng.
./.