Thư Viện Linh Quy
← Danh sách

Tương Ưng Bà La Môn 2 - Hãy Từ Bỏ Củi Lửa

2026-03-03 00:53:04
Kinh Nikāya Giảng Giải

TƯƠNG ƯNG BÀ LA MÔN 2

HÃY TỪ BỎ CỦI LỬA

Thích Minh Thành

MỤC LỤC

TOC \o "1-3" \h \z \u I. Người thờ lửa PAGEREF _Toc113976914 \h 1

II. Từ bỏ lửa trong nội tâm PAGEREF _Toc113976915 \h 8

III. Đời sống tu hành an lạc PAGEREF _Toc113976916 \h 13

I. Người thờ lửa

Chúng ta nghe về Tương Ưng Bà-la-môn, lần trước chúng ta đã thấy được cảnh các vị Bà-la-môn đi đến sân hận, chỉ trích, nói những lời hung ác với Đức Phật, sau đó được Đức Thế Tôn cảm hóa bằng chánh pháp, các vị này quy y và có những vị xuất gia thành những bậc A-la-hán cho nên đây là Tương Ưng Bà-la-môn nhưng lại là phẩm A-la-hán thứ nhất.

Trong phần này Minh Thành sẽ trích dẫn những sự kiện ấn tượng, sâu sắc, lần trước chúng ta học về an trú tâm như đất, nước, gió, lửa của ngài Xá-lợi-phất, đó là sự tu tập theo chánh pháp và bây giờ chúng ta sẽ thấy những đạo khác cũng tôn thờ lửa, sẽ có những mẩu chuyện họ tôn thờ nước nhưng khác rất xa với sự thực tập an trú tâm như đất, nước, gió, lửa của ngài Xá-lợi-phất dạy, nghĩa lí bên trong vận dụng khác nhau rất nhiều.

"Một thời Thế Tôn ở Ràjagaha, Veluvana, tại chỗ nuôi dưỡng các con sóc.

Lúc bấy giờ, một món ăn gồm gạo và sữa đông được sửa soạn cho Bà-la-môn Aggika Bhàradvàja để vị này sắp đặt: 'Tôi sẽ tế lửa, tôi sẽ làm lễ cúng dường lửa'.

Rồi Thế Tôn vào buổi sáng đắp y, cầm y bát đi vào Ràjagaha để khất thực. Trong khi đi khất thực thứ lớp ở Ràjagaha, Thế Tôn đi đến trú xứ của Bà-la-môn Aggika Bhàradvàja; sau khi đến, Thế Tôn đứng một bên.

Bà-la-môn Aggika Bhàradvàja thấy Thế Tôn đi khất thực đến, thấy vậy liền nói lên bài kệ với Thế Tôn:

Vị đầy đủ ba minh,

Thiện sanh và nghe nhiều,

Minh hạnh được trọn vẹn,

Hãy thọ món ăn này!

(Thế Tôn):

Dầu lẩm bẩm nhiều chú,

Nhưng không vì thọ sanh,

Ðược gọi Bà-la-môn.

Nội ô nhiễm bất tịnh,

Y cứ trên lừa đảo,

Thấy thiên giới ác thú,

Ðoạn diệt được tái sanh,

Thắng trí, bậc Mâu-ni,

Ðầy đủ ba minh này,

Ba minh, Bà-la-môn,

Minh hạnh được đầy đủ,

Hãy thọ món ăn này.

- Mong Tôn giả thọ lãnh món ăn này. Tôn giả Gotama thật là bậc Bà-la-môn.

(Thế Tôn):

Ta không có hưởng thọ,

Vì tụng hát kệ chú,

Thường pháp không phải vậy,

Ðối vị có tri kiến.

Chư Phật đã loại bỏ,

Tụng hát các kệ chú,

Chân thật niệm Chánh pháp,

Sở hành là như vậy.

Bậc Ðại Sĩ vẹn toàn,

Cúng dường phải khác biệt,

Ðoạn tận các lậu hoặc,

Dao động được lắng dịu.

Với những bậc như vậy,

Ăn uống phải cúng dường,

Thật chính là phước điền,

Cho những ai cầu phước.

Ðược nghe như vậy, Bà-la-môn Aggika Bhàradvàja bạch Thế Tôn:

-- Thật vi diệu thay Tôn giả Gotama!...

Và Tôn giả Bhàradvàja trở thành một vị A-la-hán nữa".

(Tương Ưng Bộ, Tập I. Thiên Có Kệ, Chương VII. Tương Ưng Bà La Môn, I. Phẩm A-la-hán Thứ Nhất, VIII. Aggika: Thờ lửa)

Vị Bà-la-môn này đang cúng tế lửa thì Đức Thế Tôn đi khất thực đến, vị Bà-la-môn này có hiểu biết Phật pháp, có lòng tin Phật nên vị này tán thán Đức Phật là người có đầy đủ ba minh, có đức hạnh trong sáng, trọn vẹn, thức ăn đang tế lửa đã được vị Bà-la-môn này dâng cúng cho Đức Phật nhưng Thế Tôn chẳng những không khen mà còn có những lời khai thị cho vị Bà-la-môn này thấy rằng không phải thì thầm tụng chú hay được thọ sanh trong giai cấp cao quý mà được gọi là Bà-la-môn. Vị này mời đồ ăn cúng dường thì Đức Phật nói rằng ngài không hưởng thọ vì tụng hát kệ chú, tức là không phải tụng niệm rồi nói những lời pháp để mong được mọi người cúng dường. Đối với vị đã thấy biết sự thật thì chư Phật đã loại bỏ hết tất cả những sự tụng hát kệ chú, chân thật niệm chánh pháp.

Ở đây chúng ta thấy rằng thời Đức Phật không có tụng hát kệ chú mà là chân thật niệm chánh pháp, chỗ này đáng để chiêm nghiệm, càng về sau căn cơ của chúng sanh càng thấp kém, tâm càng dao động, lậu hoặc, tập khí và nghiệp lực lại càng sâu dày cho nên các ngài sau này lập ra rất nhiều phương pháp nhưng nếu có người hiểu đó chỉ là phương tiện và nhờ phương tiện đó để đi vào chỗ chân thật của Phật pháp thì phương tiện đó sẽ có ích cho người sơ cơ, còn nếu không tìm hiểu thấu đáo, tận tường sẽ dính mắc vào phương tiện và cho phương tiện đó là cứu cánh của sự tu, mình đọc lẩm bẩm nhưng lại không chân thật niệm chánh pháp. Sự tu hành của các bậc chánh kiến không phải là tụng hát các kệ chú mà là chân thật niệm chánh pháp, như vậy chân thật niệm chánh pháp nghĩa là ba pháp mà chúng ta thường học là văn, tư và tu.

Bước đầu tiên là phải nghe đúng pháp, bước thứ hai là tư niệm, suy niệm, quán niệm, nghiền ngẫm, tư duy, ví dụ ngài Xá-lợi-phất nói rằng ngài an trú tâm như miếng vải lau chùi thì chúng ta lấy hình ảnh đó, lấy cách thực tập đó để quán chiếu, suy tư để làm cho tâm mình được an tịnh, lắng dịu, hiền hòa, hạ thấp bản ngã, kiêu ngạo để làm con người khiêm nhường, khiêm tốn, như vậy nghe rồi chiêm nghiệm, suy tư thì gọi là chân thật niệm chánh pháp. Khi Đức Phật nói "các hành là vô thường" thì đầu tiên là mình nghe được câu đó, kế đó là nhớ nghĩ về câu này, tiếp theo là nghiền ngẫm, các sắc pháp luôn dịch chuyển, đổi dời, luôn biến động trong sanh diệt, các cảm giác luôn vận động, biến động sanh diệt, những hình bóng, suy nghĩ, những sự nhận thức của mình trong sự không hiểu biết, trong sự đam mê, dính mắc, nắm chặt với những cái động chuyển này làm mình đau khổ, tâm mình từ từ mới thức tỉnh khỏi sự u tối.

Đức Phật nói "tham, sân, si là ác pháp, là gốc rễ của tất cả tội ác", mình nghe câu này rồi nghiền ngẫm, mình thực sự thấy những cảm thọ sân hận làm mình khổ người khổ, trong sự nhận diện năm uẩn quay về cảm thọ mình thấy sự tham muốn này làm mình mệt mỏi, khổ sở, nhọc nhằn, cái vô minh, không thấy biết thật sự làm mình tổn hại, hiểm nguy, gặp nhiều bất lợi, cái chấp ngã này là khổ, làm chia rẽ, phân ly, làm mất đi tình bạn, tình thầy trò, tình cha con, mẹ con, anh em, bằng sự nhìn ngó vào trong các hành, bằng sự tư sát, quán sát, đem cái pháp đó đối chiếu với đời sống thực tế và soi rọi vào trong thân tâm mình thì chúng ta thấy quả thật là vậy, mình thấy được tính chất nguy hiểm và tác hại của nó, thấy được bản chất của nó nên không ham thích, không chấp thủ nữa, không cho tham, sân, si, bản ngã là tôi, là của tôi nữa, từ từ mình tách ra khỏi nó, tránh né, viễn ly khỏi nó, mình thật sự đi đến sự xuất ly là thành tựu pháp, đó gọi là chân thật niệm chánh pháp, đó là cách tu của chư Phật, của các bậc thấy biết chánh tri kiến chứ không phải chỉ niệm ê a trên miệng, cái niệm đó là bước đầu để thực hành. Sau đây là một vị Bà-la-môn tên Sundarika cũng đang tế lửa bên bờ sông.

"Một thời Thế Tôn ở giữa dân tộc Kosala, trên bờ sông Sundarika.

Lúc bấy giờ Bà-la-môn Sundarika Bhàradvàja tế lửa trên bờ sông Sundarika, làm lễ cúng dường lửa.

Rồi Bà-la-môn Sundarika Bhàradvàja sau khi tế lửa, làm lễ cúng dường lửa xong, từ chỗ ngồi đứng dậy, nhìn xung quanh tất cả bốn phương và nghĩ: 'Ai có thể hưởng họ món ăn cúng tế còn lại này?'

Bà-la-môn Sundarika Bhàradvàja thấy Thế Tôn đang ngồi dưới gốc cây, đầu được bao trùm, thấy vậy, tay trái cầm món ăn cúng tế còn lại, tay phải cầm bình nước đi đến Thế Tôn.

Và Thế Tôn nghe tiếng chân của Bà-la-môn Sundarika Bhàradvàja liền tháo đồ trùm ở đầu.

Và Bà-la-môn Sundarika Bhàradvàja nghĩ: 'Ðầu vị này trọc, vị này là người trọc đầu', nghĩ vậy, muốn trở lui.

Rồi Bà-la-môn Sundarika Bhàradvàja lại suy nghĩ: 'Trọc đầu ở đây, một số Bà-la-môn cũng như vậy. Vậy ta hãy đến và hỏi vấn đề thọ sanh'.

Rồi Bà-la-môn Sundarika Bhàradvàja đi đến Thế Tôn; sau khi đến, nói với Thế Tôn:

-- Thọ sanh Tôn giả là gì?

(Thế Tôn):

Chớ hỏi về thọ sanh,

Hãy hỏi về sở hành.

Tùy theo mọi thứ củi,

Ngọn lửa được sanh khởi.

Dầu thuộc nhà hạ tiện,

Bậc ẩn sĩ tinh cần,

Ðược xem như thượng sanh,

Biết tàm quý, trừ ác.

Ðiều thuận bởi chân lý,

Thuần thục trong hành trì,

Thông đạt các Thánh kinh,

Phạm hạnh được viên thành.

Tế vật đã đem lại,

Hãy cầu khẩn vị ấy,

Lễ tế làm đúng thời,

Vị ấy xứng cúng dường.

Sundarika:

Vật cúng này của con,

Thật sự khéo cúng dường,

Nay con đã thấy được,

Bậc sáng suốt như Ngài.

Con không thấy một ai

Có thể sánh được Ngài,

Không có người nào khác

Thọ hưởng vật cúng này.

Tôn giả Gotama,

Hãy thọ hưởng vật cúng.

Ngài thật là Bà-la-môn,

Là bậc đáng tôn trọng.

(Thế Tôn):

Ta không có hưởng thọ,

Vì tụng hát kệ chú,

Thường pháp không phải vậy,

Ðối vị có tri kiến.

Chư Phật đã loại bỏ

Tụng hát các kệ chú,

Chân thật niệm Chánh pháp,

Sở hành là như vậy.

Bậc Ðại Sĩ vẹn toàn,

Cúng dường phải khác biệt.

Ðoạn tận các lậu hoặc,

Trạo hối được lắng dịu,

Với những bậc như vậy,

Cơm nước phải cúng dường,

Thật chính là phước điền,

Cho những ai cầu phước".

(Tương Ưng Bộ, Tập I. Thiên Có Kệ, Chương VII. Tương Ưng Bà La Môn, I. Phẩm A-la-hán Thứ Nhất, IX. Sundarika)

Đọc kinh Nikāya chúng ta mới thấy được rằng những bức tượng của Thế Tôn được làm như vậy để thể hiện tướng hảo của ngài chứ không phải là các vị Tỳ-kheo cạo tóc còn ngài lại không cạo, trong kinh nói rất rõ đầu Thế Tôn lúc đó cạo trọc. Ngày xưa ở Ấn Độ rất chú trọng và phân biệt về giai cấp, trong đó có các giai cấp của các bậc tu hành (Bà-la-môn), giai cấp của vua chúa quan quyền (Sát- đế-lỵ), giai cấp của các bậc thương nhân (Vệ-xá), giai cấp thấp nhất hay còn gọi là tiện nhân (Thủ-đà-la) và cuối cùng là không có giai cấp (Chiên-đà-la), chính vì vậy vị Bà-la-môn này đi đến Thế Tôn để hỏi ngài sanh trong giai cấp nào, Thế Tôn trả lời đừng hỏi về việc sanh trong giai cấp nào mà hãy hỏi về việc hành trì, dù có sanh trong giai cấp thấp kém nhưng bậc ẩn sĩ siêng năng, tinh tấn tu hành vẫn được xem như sanh trong dòng dõi cao quý, cho nên quý ở chỗ sở hành chứ không phải quý ở chỗ thọ sanh.

Thông đạt các Thánh kinh là thông đạt những lời dạy của bậc Thánh, hãy tế lễ cho những người tuy sanh ra thấp kém nhưng siêng năng tu hành, biết xấu hổ và sợ hãi đối tội lỗi, biết từ bỏ pháp ác, biết điều phục và thuận theo chân lý, hành trì thuần thục, thông đạt lời dạy của bậc Thánh, có đời sống trong sạch, thành tựu viên mãn thì hãy tế vật cho những người đó, làm lễ cho những vị đó chứ không phải đi cúng tế cho lửa, đó là những người xứng đáng được cúng dường. Vị Bà-la-môn này nhận ra Đức Phật và nói Thế Tôn là người đáng được cúng dường.

II. Từ bỏ lửa trong nội tâm

"-- Vậy thưa Tôn giả Gotama, con phải cho ai vật cúng còn lại này?

-- Này Bà-la-môn, trong toàn thế giới chư Thiên, Ma giới, Phạm thiên giới, trong chúng Sa-môn và Bà-la-môn, trong thế giới chư Thiên và loài Người, Ta không thấy một ai ăn vật cúng còn lại này có thể tiêu hóa được, ngoại trừ Như Lai hay đệ tử Như Lai. Này Bà-la-môn, vậy này Bà-la-môn, hãy quăng vật cúng còn lại này tại chỗ không có cỏ xanh, hay nhận chìm xuống nước, nơi không có loài hữu tình.

Rồi Bà-la-môn Sundarika Bhàradvàja nhận chìm vật cúng còn lại ấy vào trong nước, nơi không có loài hữu tình.

Vật cúng ấy khi được quăng vào trong nước liền xì lên, sôi lên, phun hơi và phun khói lên. Ví như lưỡi cày đốt nóng cả ngày, khi bỏ vào trong nước, bèn xì lên, sôi lên, phun hơi và phun khói lên. Cũng vậy, vật cúng còn lại ấy khi được quăng vào trong nước bèn xì lên, sôi lên, phun hơi và phun khói lên.

Rồi Bà-la-môn Sundarika Bhàradvàja hoảng hốt, lông tóc dựng ngược, đi đến Thế Tôn; sau khi đến liền đứng một bên.

Thế Tôn nói lên bài kệ cho Bà-la-môn Sundarika Bhàradvàja đang đứng một bên:

Này Bà-la-môn kia,

Chớ có nghĩ gì tịnh.

Sự sắp đặt củi lửa,

Như vậy chỉ bề ngoài.

Bậc thiện nhân dạy rằng,

Người ấy không thanh tịnh,

Với những ai chỉ muốn

Thanh tịnh mặt bên ngoài.

Này Bà-la-môn kia,

Ta từ bỏ củi lửa,

Ta chỉ nhen nhúm lên

Ngọn lửa từ nội tâm,

Ngọn lửa thường hằng cháy,

Thường nồng cháy nhiệt tình.

Ta là bậc La-hán,

Ta sống đời Phạm hạnh.

Này Bà-la-môn kia,

Người mang ách kiêu mạn,

Phẫn nộ là khói hương,

Vọng ngôn là tro tàn,

Lưỡi là chiếc muỗng tế,

Tâm là chỗ tế tự,

Tự ngã là ngọn lửa.

Còn người khéo điều phục,

Chánh pháp là ao hồ,

Giới là bến nước tắm,

Không cấu uế, trong sạch,

Ðược thiện nhơn tán thán,

Là chỗ bậc có trí,

Thường tắm, trừ uế tạp.

Khi tay chân trong sạch,

Họ qua bờ bên kia.

Chánh pháp là chân lý,

Tự chế là Phạm hạnh,

Chính con đường trung đạo,

Giúp đạt tối thắng vị,

Ðảnh lễ bậc trực tâm,

Ta gọi tùy pháp hành.

Khi được nói vậy, Bà-la-môn Sundarika Bhàradvàja bạch Thế Tôn:

-- Thật vi diệu thay, Tôn giả Gotama! Thật vi diệu thay, Tôn giả Gotama!...

Và Tôn giả Bhàradvàja trở thành một vị A-la-hán nữa".

(Tương Ưng Bộ, Tập I. Thiên Có Kệ, Chương VII. Tương Ưng Bà La Môn, I. Phẩm A-la-hán Thứ Nhất, IX. Sundarika)

Qua câu chuyện này chúng ta thấy có thuốc độc trong món đồ cúng của vị Bà-la-môn này, trong món đồ ăn có độc mà vị này không biết, Thế Tôn nhìn thấy là ngài biết nên ngài nói không có ai ăn mà tiêu hóa được ngoại trừ Như Lai và đệ tử của Như Lai vì có tâm từ. Ngài nói rằng đừng nghĩ rằng sắp đặt củi lửa cúng tế, đọc ê a mà cho đó là thanh tịnh, đó chỉ là hình thức bề ngoài mà thôi, đừng chạy theo những hình thức sáo rỗng, bậc thiện nhân dạy như vậy là không trong sạch, bậc thiện nhân chính là Đức Thế Tôn và các bậc giác ngộ.

Thế Tôn nói ngài từ bỏ củi lửa, củi lửa ở đây là vô minh, là chất liệu để làm sanh khởi ra ngọn lửa của sân si, của tham ái, lậu hoặc là nhiên liệu để đốt lên ngọn lửa của hận thù, tranh đấu, khổ đau, sự chấp thủ là nhiên liệu, là thứ để đốt lên sự hơn thua, giành giật, đấu đá trên cuộc đời này, đốt lên từ nhiên liệu của năm thủ uẩn, sự nắm chặt vào trong hình hài, nghĩ tưởng này đốt lên ngọn lửa của chiến tranh, khẩu tranh. Các nước ở Trung Đông ngày đêm sống trong lửa đạn, sống trong máu hồng, sống trong sự tan nát, sụp đổ của chiến tranh trong nhiều năm, nhiều chục năm cho nên Thế Tôn nói ngài từ bỏ củi lửa. Mình đã từ bỏ củi lửa chưa? Tâm mình còn hơn thua không? Tâm mình còn giành phần thắng, giành phần cao không? Đó chính là củi lửa cho nên hãy từ bỏ những củi lửa đó, những sự thị phi, nhân ngã trên cuộc đời này là củi lửa. Đối với bạn bè mình có cạnh tranh không? Đối với huynh đệ, tỉ muội mình có giành phần hơn, phần giỏi không? Đó chính là củi lủa, hãy tập tâm an tịnh, mát mẻ, hãy dập tắt các nhiêu liệu có thể đốt cháy mình và người. Mẹ con giận nhau là do có củi lửa, anh em không nhìn mặt nhau là do có củi lửa, vợ chồng oán hận nhau cũng do có củi lửa…

Tất cả mọi sự hận thù, tức giận đều do có củi lửa, chỉ với một câu "Này Bà-la-môn kia, Ta từ bỏ củi lửa" là vị Bà-la-môn cảm thấy thấm vào tận xương tủy nên đã quỳ lạy Thế Tôn, câu này như đi thẳng vào tim người nghe, nhìn nơi nào cũng có sẵn nhiêu liệu, có đầy những bình gas, hầm xăng nên đâu đâu cũng có sự đau khổ của chúng sanh, đó là nguyên nhân của hận thù, phân ly, phá vỡ sự hòa hợp của nhau. Mình lầm tưởng bản thân không có sân nhưng củi lửa chất đầy trong tâm nên sự tu cần nhìn sâu vào trong cảm thọ sẽ thấy được những cái vi tế, nhỏ nhiệm. Ở trong tâm sanh khởi lên những cảm thọ bực bội, tức giận, bức xúc, thiêu đốt thì tác ý "hãy từ bỏ củi lửa đi", sự lắng dịu, an tịnh, mát mẽ sẽ lập tức xuất hiện cho nên tất cả những câu trong kinh đều dùng để tác ý, niệm pháp. Cách thuyết pháp của Đức Phật thiện xảo cùng tột:

"Ta chỉ nhen nhúm lên,

Ngọn lửa từ nội tâm,

Ngọn lửa thường hằng cháy,

Thường nồng cháy nhiệt tình",

Cũng là lửa nhưng lửa ở trên khác với lửa ở dưới, như vậy ngài từ bỏ củi lửa tham, sân, si, hơn thua, bản ngã nhưng ngài nhen nhúm ngọn lửa từ nội tâm. Chúng ta đang ngồi nghe pháp là đang làm cho ngọn lửa từ nội tâm được cháy lên nhiệt tình, hãy nhen nhúm lên ngọn lửa từ nội tâm, lửa trong lòng chứ không phải lửa tham, sân, si, bản ngã, nhen nhúm lên ngọn lửa nhiệt tình của tu học, của hướng thượng, của sự tinh cần đối với thiện pháp, Thánh pháp và đối với đạo pháp, đừng bao giờ để ngọn lửa nồng cháy nhiệt tình đối với sự tu học bị tắt đi. Hãy nhen nhúm lên ngọn lửa tu học dù cho già, bệnh, dù cho đang gần đất xa gần nhưng hãy trân quý từng bài pháp, từng thời tu, trân quý từng suy nghĩ về pháp. Hãy bùng cháy lên ngọn lửa nghe pháp, suy tư pháp, thực hành pháp, thể nhập pháp, tuy đi ra ngoài nhưng hãy nhìn thấy tất cả sự vận hành đều là pháp, không có ai ở đây ngoại từ những ngũ uẩn đang vận hành, chỉ là vô minh, tham ái đang hoạt động. Hãy thắp sáng ngọn lửa này lên, đừng bao giờ để nó tắt, đừng bao giờ để mất trí tuệ dù cho đang ở trong bất kì hoàn cảnh nào, giữ ngọn lửa hướng tới sự trong sạch, hướng tới sự cao thượng, thanh cao, thánh thiện, ngọn lửa hướng đến tẩy sạch tất cả cấu nhiễm, ngọn lửa xuất ly, ngọn lửa nhàm chán đối với tất cả các hành vô thường, vô ngã này, hằng ngày mình nghe pháp là đang để củi vào, hàng ngày mình thiền quán là đang để nhiên liệu vào, dặp tắt ngọn lửa tham, sân, si và làm bừng sáng ngọn lửa của giới, định, tuệ, của Thánh trí huệ. Không bao giờ thấy chán nản đối với pháp, nếu phải vượt qua biển lửa để cầu Thánh pháp thì cũng phải vượt qua, phải vượt qua vực sâu hoặc thậm chí mất mạng cũng phải vượt qua, không gì có thể ngăn cản sự tu học của mình.

Trong người còn mang một ách kiêu mạn thì người đó còn đốt lửa, ngọn lửa của họ là tự ngã, là một cái tôi, một bản ngã, phẫn nộ chính là khói, tức giận là khói, ngọn lửa là bản ngã, nói dối là tro tàn, lưỡi là muỗng tế tự, tâm là chỗ tế tự. Người còn hơn thua, ta đây, còn sự kiêu căng, hống hách, vênh váo thì người đó còn củi lửa, vẫn chưa từ bỏ củi lửa của tham, sân, si nên người đó sẽ đốt lên ngọn lửa, tâm chính là chỗ để cúng tế. Ngược lại người nào khéo điều phục thì chánh pháp là ao hồ, giới là bến nước để tắm, đây là chỗ mà những bậc có trí thường tắm để làm sạch những chất dơ bẩn, họ tắm trong ao hồ của chánh pháp, tắm trong bến nước của giới hạnh, tắm ở chỗ bậc thiện nhân tán thán, khi tắm sạch không còn dơ nữa, thân thể thanh tịnh thì họ sẽ bước qua bờ bên kia. Những lời pháp của Đức Thế Tôn đầy sự siêu việt, văn học và cũng đầy pháp nghĩa, vô biên thậm thâm pháp nghĩa, đó là cách sử dụng ngôn từ của bậc Chánh Đẳng Chánh Giác tối tôn tối thượng trong tâm giới, đây là văn chương tối thượng trong tam giới chứ không chỉ riêng loài người, đó là sự thiện xảo trong cách thuyết pháp của Đức Phật.

Ngài dùng nhiều hình ảnh để giải thích, người bên kia thì tự ngã là ngọn lửa, phẫn nộ là khói hương, nói dối là tro tàn, còn người bên đây là khéo điều phục, không để sự phẫn nộ, dối trá, ngọn lửa của tự ngã bùng cháy, tắm trong ao hồ của chánh pháp, ngồi trên bến nước của giới hạnh trong sạch, mát mẻ để tẩy gội những uế tạp, làm thân thể sạch sẽ là qua bờ bên kia. Hằng ngày đi tắm phải quán chiếu mình đang gội rửa những uế nhiễm của thân tâm để qua bờ bên kia, lấy chánh pháp làm ao hồ, lấy giới hạnh làm bến tắm. Chánh pháp là sự thật tối thượng, sự thật vĩ đại, tự mình phải chế ngự chính mình thì đó là hạnh trong sạch, tự mình tu sửa, tự mình quản lý, phòng hộ, bảo vệ chính mình thì đó là đức hạnh trong sạch, thanh cao, thánh thiện, chính là con đường trung đạo giúp cho người đó đạt đến địa vị tối thắng, vượt hơn tất cả những địa vị khác.

Đảnh lễ bậc trực tâm nghĩa là con đem đầu con cúi lạy dưới chân của người có một cái tâm chánh trực, ngay thẳng, chân chánh. Con đem đỉnh đầu cao nhất đặt xuống mũi chân thấp nhất của người, con xin cúi lạy bậc có tâm tánh chánh trực, ngay thẳng, nhìn thấu được ngũ uẩn thân tâm và thế giới này, đó gọi là tùy pháp hành nghĩa là theo pháp mà hành động, suy nghĩ, nói năng, theo pháp mà làm việc, ứng xử. Tùy là theo, pháp là chánh pháp, hành là thực hành, tùy pháp hành là nghĩ theo pháp, nói theo pháp, làm theo pháp, đó là ba nghiệp theo pháp, sau đây là ngũ uẩn theo pháp, hình sắc của mình đặt theo pháp (sắc tùy pháp), những cảm giác an trú trong pháp chính là sự nhàm chán, rời xa, đoạn tận, chấm dứt (thọ tùy pháp), những hình bóng trong tâm phải là những hình bóng của pháp, đó là hình bóng của sự tan nát, tan hoại, khổ đau, vô thường, vô ngã (tưởng tùy pháp), những suy tư của mình phải là suy tư về pháp, những suy nghĩ đó là ly sân tư duy, ly dục tư duy, bất hại tư duy, suy nghĩ các hành là vô thường, là biến hoại, tan nát (hành tùy pháp), nhận thức của mình là biết theo pháp (thức tùy pháp). Mọi sự thấy, nghe, suy nghĩ, nhận thức, suy tư, cảm xúc đều theo pháp thì gọi là bậc tùy pháp hành, đây là bậc đáng được chắp tay cung kính, đảnh lễ, cúng dường, là ruộng phước vô thượng ở trên đời.

III. Đời sống tu hành an lạc

"Một thời Thế Tôn trú ở giữa dân chúng Kosala, tại một khu rừng.

Lúc bấy giờ, một Bà-la-môn thuộc dòng họ Bhàradvàja bị mất mười bốn con bò.

Rồi Bà-la-môn thuộc dòng họ Bhàradvàja trong khi đi tìm những con bò đực ấy, đi đến khu rừng kia; sau khi đến, thấy Thế Tôn ngồi kiết-già trong khu rừng ấy, lưng giữ thẳng và để chánh niệm trước mặt.

Thấy vậy, Bà-la-môn đi đến Thế Tôn; sau khi đến, nói lên bài kệ này với Thế Tôn:

Với vị Sa-môn này,

Không có mười bốn bò,

Nên không thấy sáu mươi (ajjasatthi),

Do vậy được an lạc.

Với vị Sa-môn này,

Không có ruộng mè hư,

Một hai lá cây mè,

Do vậy được an lạc.

Với vị Sa-môn này,

Không kho trống, không chuột,

Chạy chơi và múa nhảy,

Do vậy được an lạc.

Với vị Sa-môn này,

Không tấm nệm bảy tháng,

Tràn đầy những chí rận,

Do vậy được an lạc.

Với vị Sa-môn này

Không bảy gái quả phụ

Hoặc một con, hai con,

Do vậy được an lạc.

Với vị Sa-môn này,

Không vợ đen, mặt rỗ.

Lấy chân thúc đá dậy,

Do vậy được an lạc.

Với vị Sa-môn này,

Không kẻ nợ buổi sáng,

Mắng nhiếc:'Hãy trả đi'

Do vậy được an lạc.

(Thế Tôn):

Bà-la-môn, với Ta,

Không có mười bốn bò,

Nên không thấy sáu mươi,

Do vậy Ta an lạc.

Bà-la-môn, với Ta,

Không có ruộng mè hư,

Một hai lá cây mè,

Do vậy Ta an lạc.

Bà-la-môn, với Ta,

Không kho trống, không chuột,

Chạy chơi và múa chảy,

Do vậy Ta an lạc.

Bà-la-môn, với Ta,

Không tấm nệm bảy tháng,

Tràn đầy những chí rận,

Do vậy Ta an lạc.

Bà-la-môn, với Ta,

Không bảy gái quả phụ,

Hoặc một con, hai con,

Do vậy Ta an lạc.

Bà-la-môn, với Ta,

Không vợ đen, mặt rỗ,

Lấy chân thúc đá dậy,

Do vậy Ta an lạc.

Bà-la-môn, với Ta,

Không kẻ nợ buổi sáng,

Mắng nhiếc: 'Hãy trả đi',

Do vậy Ta an lạc.

Ðược nghe nói vậy, Bà-la-môn thuộc dòng họ Bhàradvàja bạch Thế Tôn:

-- Thật vi diệu thay, Tôn giả Gotama! Thật vi diệu thay, Tôn giả Gotama! Tôn giả Gotama như người dựng đứng lại những gì bị quăng ngã xuống, phơi bày ra những gì bị che kín, chỉ đường cho kẻ lạc hướng, đem đèn sáng vào trong bóng tối để những ai có mắt có thế thấy sắc.

Cũng vậy, Chánh pháp đã được Tôn giả Gotama dùng nhiều phương tiện trình bày, giải thích. Vậy nay con xin quy y Thế Tôn Gotama, quy y Pháp và quy y Tỳ-kheo Tăng. Mong cho con được xuất gia với Tôn giả Gotama, cho con được thọ đại giới.

Rồi Bà-la-môn Bhàradvàja được xuất gia với Tôn giả Gotama, được thọ đại giới.

Thọ đại giới không bao lâu, Tôn giả Bhàradvàja ở một mình, viễn ly, không phóng dật, nhiệt tâm, tinh cần. Và không bao lâu, vị này chứng được mục đích tối cao mà các thiện nam tử đã xuất gia, từ bỏ gia đình sống không gia đình hướng đến: Ðó là vô thượng cứu cánh Phạm hạnh, ngay trong hiện tại tự mình với thượng trí, chứng ngộ, chứng đạt và an trú. Vị ấy biết: 'Sanh đã tận, Phạm hạnh đã thành, những gì nên làm đã làm, không có trở lại trạng thái này nữa'.

Và Tôn giả Bhàradvàja trở thành một vị A-la-hán nữa".

(Tương Ưng Bộ, Tập I. Thiên Có Kệ, Chương VII. Tương Ưng Bà La Môn, I. Phẩm A-la-hán Thứ Nhất, X. Bahudhiti)

Vị Bà-la-môn này mất bò nên đi tìm bò thì lại có may mắn gặp được Thế Tôn, khi thấy dung sắc, vẻ an tường, chánh niệm, thiền định của Thế Tôn nên vị này mới khen ngợi ngài thật là an lạc vì không có bò nên không bị mất bò rồi phải đi tìm cực khổ, Thế Tôn cũng không có ruộng nên không sợ mất mùa, hư hại nên có sự an lạc, cũng không có kho cất chứa nên không sợ những con chuột phá phách trong đó nên có sự an lạc, cũng không có những tấm nệm bảy tháng không giặt đầy chí rận nên an lạc, cũng không có vợ lớn vợ nhỏ, không con cái chỉ có một mình nên thanh tịnh, không gặp cảnh vợ đen mặt rổ đá chân gọi dậy nên được an lạc, không gặp cảnh bị đòi nợ nên ngài ngồi an lạc, điềm nhiên dưới gốc cây.

Vị Bà-la-môn này thấy dáng ngồi của Đức Thế Tôn tỏa ra sự an lạc, thanh tịnh trong khi bản thân ngài đầy sự cực khổ, đi tìm bò khó khăn, có kho gạo đầy chuột cũng khổ, có ruộng vườn, vợ con đầy sự mệt mỏi, lo lắng. Bây giờ, có nhiều Phật tử nói biết khổ vậy đã đi tu rồi, vợ ốm con đau, ngoại tình, gây gổ, chỉ biết ước ao “biết vậy hồi xưa đi tu cho khỏe”.

Chúc tất cả quý vị từ bỏ củi lửa tham, sân, si và thắp lên ngọn lửa tu học nồng cháy và thường hằng cháy.

./.