Thư Viện Linh Quy
← Danh sách

Làm Sao Bình Tâm Trong Đại Dịch

2026-03-03 00:53:05
Soi Sáng Nikāya

LÀM SAO BÌNH TÂM TRONG ĐẠI DỊCH?

–Thích Minh Thành–

MỤC LỤC

TOC \o "1-3" \h \z \u I.Bí quyết bình tâm trong đại dịch PAGEREF _Toc80427346 \h 1

1.An trú cảm giác toàn thân PAGEREF _Toc80427347 \h 2

2.Ba bước xoay chuyển tình thế PAGEREF _Toc80427348 \h 5

II.Dịch bệnh là cơ hội tu học PAGEREF _Toc80427349 \h 8

1.Nhìn thấu bản chất cuộc đời PAGEREF _Toc80427350 \h 8

2.Nhìn rõ nguyên nhân dịch bệnh PAGEREF _Toc80427351 \h 9

3.Đặt tâm vào pháp PAGEREF _Toc80427352 \h 11

III.Tâm thái đối mặt cái chết PAGEREF _Toc80427353 \h 12

IV.Giải đáp khó khăn khi ngồi thiền PAGEREF _Toc80427354 \h 16

V.Tại sao chư Thiên khó tu hơn người thường PAGEREF _Toc80427355 \h 18

Bí quyết bình tâm trong đại dịch

Kính bạch quý thầy, quý cô, kính thưa toàn thể đại chúng cùng tất cả các Phật tử xa gần. Chúng ta hãy trở về thân tâm chính mình trong thực tại, phải nhớ rằng sự tu học và thực tập của chúng ta dù cho học bao lâu đi nữa thì những pháp căn bản cũng không được bỏ qua. Tức là luôn trang nghiêm, thanh tịnh, cung kính, tôn kính pháp, nghe pháp, phải đặt trọng vẹn tấm lòng, trái tim của mình trong pháp, ngồi thiền là để hết tâm của mình vào trong thiền, làm việc bằng tất cả tấm lòng của mình, đó là tu. Có nhiều câu hỏi của các Phật tử gửi về Minh Thành thấy rất thiết thực trong giờ phút này, có Phật tử hỏi:

Dạ mô Phật, con có thể thỉnh cầu sư phụ chỉ dạy tác ý như thế nào để khi sống trong tâm dịch để tâm không hoảng sợ,con nhận thấy có sự bức xúc và một loạt tâm bất thiện pháp. Con cố gắng tu tập tâm từ, bi, hỷ, xả và mặc kệ nó nhưng vì ngày nào xe cứu thương cũng inh ỏi chở người đi cách ly làm tâm con không thọ nhận, giống như tà khí bao phủ không gian này vậy. Con phải làm sao đây sư phụ? Rất mong được sự chỉ dạy của thầy.

Người này nói không thọ nhận tức là không thọ nhận sự thực tập trong pháp. Những Phật tử sống trong tâm dịch, trong những vùng dịch bệnh có phải đều có tâm trạng giống như vậy không? Ngoài ra còn một câu hỏi nữa:

Con xin sư phụ cho con một lời khuyên, nếu mình là Phật tử mà lỡ mắc dịch bệnh thì việc trước tiên mình phải làm là thế nào ạ? Liệu con có thể thiền tập tâm hiền và rải tình thương để hóa giải được không? Xin sư phụ chỉ dạy. Gần chỗ con có người bị bệnh cho nên con nghĩ có thể mình sẽ nằm trong số đó. Ban đầu con hoang mang lắm nhưng nhớ lời sư phụ dạy con bình tĩnh và suy nghĩ sẽ làm thế nào. Con suy nghĩ đó cũng là 1 chúng sanh, nếu có ngày con vướng bệnh con sẽ dùng tâm từ sám hối nghiệp, mình sẽ không sao, con tự chấn chỉnh bản thân con ạ.

Bị bệnh ở đây tức là nhiễm dịch bệnh, qua hai câu hỏi, chúng ta cần chú ý vài điểm sau đây: Tác ý như thế nào khi sống trong tâm dịch để tâm không hoảng sợ, bức xúc và những tâm bất thiện sanh khởi lên thì tác ý như thế nào? Chúng ta có rất nhiều cách tác ý. Chẳng hạn như Phật tử chia sẻ, ngày nào cũng nghe tiếng xe cứu thương inh ỏi chở người đi cách ly; có nhiều trường hợp sáng ngủ dậy bàng hoàng khi trước nhà, trước hẻm bị kéo dây, ngăn rào, phong tỏa, giãn cách… như vậy mình phải tác ý như thế nào trong tình cảnh hiện nay để bình tâm trong dịch bệnh?

An trú cảm giác toàn thân

Ở giữa những sự biến động, trước những sự đau thương, đau khổ xung quanh muốn tâm vẫn bình tĩnh vẫn là trở về cảm giác toàn thân, những từ này là phép màu được Đức Phật dạy ở phần mười sáu hơi thở trong kinh Tứ Niệm Xứ. Người thực tập đường lối kinh Nikāya lúc nào cũng phải nhớ an trú cảm giác toàn thân, không được quên điều này, nếu có quên phải lập tức trở về vì đó là căn nhà của mình. Tại sao mình bị bức xúc? Tại sao mình bị hoảng sợ? Đó là do tâm hướng ngoại không trú trong pháp, mà cứ nhìn bên ngoài thấy người này cảnh nọ, đọc những tin tức rồi mình đi theo âm thanh đó, đi theo câu chữ, hình ảnh, sắc tướng đó, không quay về an trú cảm giác toàn thân. Như vậy thì lập tức tâm sẽ bị dao động, không cần đến dịch bệnh mà chỉ cần tiếng chó sủa, tiếng xe chạy hoặc một tiếng động nào đó là lập tức tâm bị dao động, bị giật mình do không trú trong pháp, không trú trong cảm giác toàn thân cho nên mình rất dễ bị âm thanh, sắc tướng tác động. Vì thế, trú trong cảm giác toàn thân tuyệt đối quan trọng từ lúc mới tu cho đến lúc thành tựu, nếu quên điều này mình sẽ trở thành người vô gia cư, làm kẻ lang thang đầu đường xó chợ sống dưới gầm cầu, vỉa hè chứ không có căn nhà tâm linh, không có chỗ cho tâm an trú. Khi chia sẻ câu hỏi cho quý Phật tử thì Minh Thành trả lời:

Phật tử cứ niệm an tịnh, lắng dịu trú xả và thực tập thường xuyên tâm từ, khi trú vào pháp không hướng ngoại thì tâm sẽ được nhẹ nhàng ạ.

Đây là câu trả lời ngắn gọn trong tin nhắn và Minh Thành gửi bài "trải tâm từ", sau đó Minh Thành nói thêm:

Từ từ sẽ ổn vì mọi người đều căng thẳng trong lúc này là bình thường, thưa cô.

Sau đó cô gửi lại:

Con chân thành tri ân sư phụ, con bình tâm nhìn lại rồi ạ. Do thất niệm, không hộ trì căn nên để tâm hướng ngoại khiến tham ái, ưu bi, các ác bất thiện pháp khởi lên rồi vọng tưởng. Con xin nghe lời dạy của sư phụ, chánh niệm tỉnh giác trú vào pháp.

Vì vậy điều quan trọng nhất là phải trú trong cảm giác toàn thân vì trú trong cảm giác toàn thân tức là định tâm trên thân, mình có căn nhà nội tâm, căn nhà tâm linh. Còn khi không trú cảm giác toàn thân thì lập tức âm thanh, sắc tướng cuốn mình đi, mình bị gió ngoại cảnh thổi, tức là năm dục trưởng dưỡng, những âm thanh, mùi vị, những sự tiếp xúc thổi mình bay xa. Dù cho khi trú trong cảm giác toàn thân chưa được đại định như trụ đá thì mình cũng là cây cột có chân chôn xuống đất chắc chắn, còn không trú cảm giác toàn thân thì mình sẽ là bông gòn giữa ngã năm, ngã sáu bị gió thổi bay tứ tung.

"Ví như, này các Tỳ-kheo, một hột bông hay một hột bông kappàsa bị gió nhẹ thổi lên, rơi xuống đất bằng, và gió phía Ðông thổi nó qua phía Tây; gió phía Tây thổi nó qua phía Ðông; gió phía Bắc thổi nó qua phía Nam; gió phía Nam thổi nó qua phía Bắc. Vì sao? Vì hột bông kappàsa rất nhẹ, này các Tỳ-kheo.

Cũng vậy, này các Tỳ-kheo, những Sa-môn hay Bà-la-môn nào không như thật rõ biết: 'Ðây là Khổ'... không như thật rõ biết: 'Ðây là Con Ðường đưa đến khổ diệt'. Họ ngước nhìn mặt một Sa-môn hay Bà-la-môn khác và nhận xét: 'Vị Tôn giả này biết điều đáng biết, thấy điều đáng thấy'. Vì sao? Vì không chánh kiến bốn Thánh đế, này các Tỳ-kheo.

Những Sa-môn hay Bà-la-môn nào như thật rõ biết: 'Ðây là Khổ'... như thật rõ biết: 'Ðây là Con Ðường đưa đến Khổ diệt'. Họ không ngước nhìn mặt một Sa-môn hay Bà-la-môn khác và nhận xét: 'Vị Tôn giả này biết điều đáng biết, thấy điều đáng thấy'.

Ví như, này các Tỳ-kheo, một cây cột sắt hay cây cột trụ, bàn tọa được đóng sâu (gambhiiranemo), khéo chôn sâu, bất động, không có lay chuyển; nếu từ phương Ðông có gió và mưa lớn đến, cột trụ ấy không rung chuyển, không lay chuyển, không động chuyển...; nếu từ phương Tây... nếu từ phương Bắc... nếu từ phương Nam có gió và mưa lớn đến, cột trụ ấy không có rung chuyển, không lay chuyển, không động chuyển. Vì sao? Vì bàn tọa được đóng sâu, khéo chôn sâu, này các Tỳ-kheo". (Tương Ưng Bộ, Tập V - Thiên Ðại Phẩm, Chương XII. Tương Ưng Sự Thật (a), IV. Phẩm Rừng Simsapà, IX. Cột Trụ) 

Bây giờ tuy chưa được như trụ đá thì ít nhất mình cũng giống cột gỗ. Sở dĩ mình thấy, mình nghe, tiếp xúc mà bị ngoại cảnh dẫn dắt là do mình không trú cảm giác toàn thân. Khi trú cảm giác toàn thân sẽ bình tĩnh, bình ổn, đây là nguyên nhân tuyệt đối quan trọng thứ nhất, không riêng gì dịch bệnh mà trong tất cả mọi việc mà mình chỉ chạy theo cái thấy (sắc), cái nghe (thanh) và sự tiếp xúc mà không quay lại an trú cảm giác toàn thân thì lập tức ngay lúc đó mất tâm.

Thương lâu rồi ta sống,

Bỏ quên cảm thọ này,

Để tham sân hành hạ,

Ta để mình khổ đau.

Đây là bài trong "từ vô lượng tâm", từ rất lâu rồi chúng ta sống trong quên lãng, quên lãng cảm thọ nên để mình khổ đau. Chúng ta bỏ quên tại vì ta hướng ngoại. Nếu nghe quá nhiều tiếng còi xe cấp cứu thì hãy lấy tiếng đó làm đề tài quán chiếu vô thường, khổ, vô ngã, lúc đó đạo niệm phải tăng lên, tác ý phải mạnh lên, Thánh trí phải rực sáng mới đúng. Còn nghe tiếng cứu thương lại bàng hoàng, hốt hoảng là do lúc đó không trú trong Chánh Pháp mà trú trong tình thường, thế tục.

Cho nên, sự xoay trời chuyển đất, xoay chuyển càn khôn chỉ trong một niệm. Tức là đối với sự hướng tâm của mình, nếu hướng ra ngoài thì bên ngoài có gì là mình bị dao động, bị mất mình, cảm thọ bị đổi thay, bị sầu, bi, khổ, ưu, não. Còn nếu trú trong cảm giác toàn thân thì mình lấy gậy ông đập lưng ông, dùng tiếng hụ còi đó để quán chiếu "đây là khổ, khổ là đây, Thánh chuông vang động trời mây muôn ngàn". Tác ý như vậy thì làm sao mình hoảng sợ được, tác ý như vậy càng vững trú trong pháp, càng đứng vững trong sự thật, trong Khổ Thánh Đế, Khổ Thánh Trí, Khổ Thánh Pháp, khổ trong tiếng xe cứu thương, khổ trong tiếng xe cấp cứu này. Nếu mình trú được như vậy thì tiếng còi cấp cứu đó sẽ làm rực sáng trí tuệ sự thật trong thân tâm mình, như vậy làm sao mình lại hoảng loạn, sợ hãi được? Đó là sự chuyển tâm, trong thiền người ta gọi là chuyển thân, chỉ một cái xoay người là có thể thay đổi thời thế, thế cuộc, sự tu của mình bén nhạy, trí tuệ linh hoạt đến mức đó.

Cho nên tiếng còi xe cứu thương inh ỏi chở người đi cách ly làm tâm không thọ nhận được pháp, tức là lúc đó âm thanh đã bị xâm chiếm, bị áp đảo làm mình mất đi thế đứng trong cảm giác toàn thân, trong trí tuệ, trong pháp, mình bị gió cảnh giới thổi bay tứ phía. Những điều này không phải chỉ riêng bất kì ai mà đến ngay cả người xuất gia tâm vẫn bị dao động, đến cả Minh Thành cũng vậy cho nên phải trú trong cảm giác toàn thân, chỉ cần quên thôi là lập tức trở về phàm phu, trở về vô minh, buông lung phóng dật, trở về pháp hạ liệt, thấp hèn thông thường của thế tục, không còn là thượng nhân pháp, tri kiến thù thắng, xứng đáng bậc Thánh. Thế nên, mình phải trú trong trí đột ngột, đột biến, vô thường, trú trong trí đau khổ, đây là sự chứng ngộ của Đức Thế Tôn, đây là sự truyền trao của Chánh Đẳng Giác, đây là Thánh trí tuệ mà chúng ta được nghe, được thực tập, được học hỏi và bây giờ chúng ta đang chứng kiến thì tại sao lại sợ?

Ba bước xoay chuyển tình thế

Trở lại vấn đề thì thứ nhất cần trú vào cảm giác toàn thân, thứ hai cần niệm "an tịnh, lắng dịu, dễ chịu", ba từ này là ba lá bùa hộ mạng, là ba bảo bối, ba pháp khí, ba sự bình an, là chỗ y chỉ, nương dựa cho mình. Hướng vào lồng ngực, cảm giác toàn thân để niệm "an tịnh, lắng dịu, dễ chịu", cái này không phải nói cho vui mà là một sự thực tập và phải thực tập thường xuyên trong nhiều hoàn cảnh cho thuần thục, điêu luyện. Khi nói "an tịnh, lắng dịu, dễ chịu" thì lập tức mình sẽ thấy cảm giác ở lồng ngực được lắng xuống, tim đập nhẹ trở lại, sự lo lắng, sợ hãi lập tức được lắng dịu. Mình quay trở về kiểm tra hơi thở, cảm thọ, kiểm tra những suy nghĩ, hình bóng và mình lại niệm "an tịnh thân hành, an tịnh tâm hành", tức là cái thân an tịnh, cái tâm lắng dịu và dễ chịu. Đó là bước thứ hai rất quan trọng, bước này phải được thì mới đi tiếp đến bước thứ ba là xoay chuyển tình thế.

Như vậy, bước đầu tiên là an trú cảm giác toàn thân, tức là không hướng ngoại mà quay lại an trú trong cảm thọ, cảm xúc toàn thân.

Bước hai là niệm "an tịnh, lắng dịu, dễ chịu", mỗi pháp lệnh như vậy không phải chỉ là ý hành, không phải chỉ nói cho xong mà phải hướng tâm vào cảm thọ và nói đến đâu thì cảm thọ phải làm theo tới đó. Thành ra lời nói đó phải là pháp lệnh, phải được phát ra từ việc nhìn sâu vào trong cảm thọ và cảm thọ phải làm theo. Một người khó nói, khó nghe, khó dạy, cứng cỏi thì cảm thọ của người đó rất thô, ương ngạnh nên họ rất khó tu. Còn người nói dễ nghe, dễ dạy, dễ bảo đã có một phần dễ tu, nhưng một người hiền lành như vậy chưa chắc cảm thọ sâu thẳm bên trong đã được huấn luyện, chỉ là đỡ hơn người cứng cỏi thôi.

Tiến vào bước sâu hơn là người huấn luyện cảm thọ theo lệnh, tức là ra lệnh thế nào thì cảm thọ nghe theo thế ấy thì gọi là tâm nhu nhuyến, là tâm mềm mại, dễ chịu, dễ bảo, tâm chịu phép như con ngựa đã được thuần hóa. Khi chưa biết tu cảm thọ rất hung hăng, sôi sùng sục, hung bạo, bướng bỉnh, ương ngạnh nhưng khi tu rồi cảm thọ sẽ mềm mại lại cho nên phải tu tập, dạy dỗ cảm thọ hằng ngày. Chúng ta đã biết “tất cả pháp hội tụ nơi cảm thọ” thì cứ nhắm ngay cảm thọ mà dạy dỗ, huấn luyện. Khi nói "an tịnh" là phải thấy cảm giác rõ ràng được lắng xuống, nói "lắng dịu" là phải thấy có sự dịu xuống. Nói đến đâu là pháp biểu hiện đến đó gọi là pháp lệnh, nói lắng dịu là phải lắng xuống, dịu xuống, nói dễ chịu là thấy rõ ràng cảm giác dễ chịu xuất hiện, hiện hữu, có mặt, như vậy là thiền lệnh, pháp lệnh, tâm lệnh, mệnh lệnh của tâm.

Khi ra lệnh, cảm thọ phải nghe theo thì gọi là tâm nhu nhuyến dễ sử dụng. Nếu không biết cảm giác toàn thân, không an trú cảm giác toàn thân, không huấn luyện, tu tập cảm giác toàn thân thì làm sao biết được tâm nhu nhuyến ra sao? Đó chính là cảm thọ, nó hiền hòa, dễ nghe, nói khởi tâm từ là tâm từ dào dạt, nói tâm rộng mở là tâm mở ra, nói tâm bi mẫn là tràn ngập từ đảnh tóc cho đến gót chân là cảm giác xót thương, bi mẫn sanh khởi. Cho nên phải huấn luyện cảm thọ, phải an trú cảm giác toàn thân và phải huấn luyện, dạy dỗ cảm thọ chứ không để cho nó bướng bỉnh, ngông nghênh.

Sau đó, bước thứ ba là xoay chuyển tình thế, lấy tiếng xe cứu thương quán chiếu vô thường, khổ, vô ngã. "Đây là khổ, khổ là đây – Thánh chuông vang động trời mây muôn ngàn". Hãy lấy tiếng còi đó là tiếng chuông của bậc Thánh thì cái hoảng sợ lập tức biến mất mà trí tuệ, sự thật được bừng sáng trong thân tâm và có thể kiến đế ngay đó, tức là có khả năng Nhập Lưu vào dòng sự thật ngay đó. Những điều này đòi hỏi sự thực tập nhiều ngày, nhiều tháng, nhiều năm và trải qua nhiều sự việc. Bất cứ hoàn cảnh, sự việc nào mình nhìn, nghe, tiếp xúc đều phải lấy Thánh trí tuệ, Thánh pháp đặt vào đó chứ đừng nhìn theo tình cảm thương ghét. Nếu chỉ nhìn theo tình thì vĩnh viễn không bao giờ tu có kết quả, tu ngàn năm cũng ở trong phàm tình chứ không thể đạt đến Thánh trí. Đừng nhìn vào người này người nọ mà hãy nhìn vào pháp, xem lúc đó pháp gì đang vận hành, đừng thấy con người mà hãy thấy pháp đang vận hành cho nên Đức Phật đã nói:

"Này Vakkali, ai thấy Pháp, người ấy thấy Ta. Ai thấy Ta, người ấy thấy Pháp. Này Vakkali, đang thấy Pháp, là thấy Ta. Ðang thấy Ta, là thấy Pháp". (Tương Ưng Bộ, Tập III - Thiên Uẩn, Chương I. Tương Ưng Uẩn (e), IV. Phẩm Trưởng Lão, V. Vakkàli)

Phải suy tư, quán xét, thường xuyên an trú trong pháp, thường xuyên an trú trong sự thật, chánh trí, chánh lý vô thường, khổ, vô ngã, sự đột ngột, đột biến, đột tử, khổ đau, tan nát, hoại diệt. Thân này bất cứ lúc nào cũng có thể ngã xuống, té xuống, sụp xuống, thân này thành khúc cây vô tri, tan biến thành hư không. Chúng ta thường an trú như vậy, đến khi tiếng còi cấp cứu hụ inh ỏi, lúc đó nếu triển khai thiền quán mạnh mẽ có thể sẽ Nhập Lưu, thành tựu chánh trí ngay đó. Tuy nhiên, không phải mong cầu bất thình lình một ngày nào đó mình nhập chánh trí mà phải tập nhiều lần cho đến khi chín muồi thì thể nhập vào pháp, chứng ngộ sự thật. Chứng là cái thấy biết đó vĩnh viễn ở trong thân tâm không bao giờ mất, tức là khi nào cái thấy không mất đi thì gọi là chứng đắc, chứng ngộ sự thật. Còn chưa chứng thì có lúc thấy sự thật có lúc không thấy. Như vậy, ba cấp độ trong tu tập gồm: thứ nhất, an trú cảm giác toàn thân; thứ hai niệm "an tịnh, lắng dịu, dễ chịu"; thứ ba triển khai sự quán chiếu.

Dịch bệnh là cơ hội tu học

Có rất nhiều điều để tác ý trong hoàn cảnh dịch bệnh này. Nếu nhìn bằng con mắt bình thường trong hoàn cảnh này thì xấu, không ai thích, không ai mong, không ai đợi dịch bệnh, nhưng nếu nhìn bằng con mắt của pháp thì chưa hẳn là xấu. Không phải mình mong muốn có dịch bệnh mà do nhân duyên, nghiệp quả của chúng sanh biểu hiện ra để con người thức tỉnh. Nếu cuộc đời cứ êm ái, bình thản thì con người sẽ u mê, si ám, lòng tham tăng trưởng đầy rẫy, vô minh, bản ngã khủng khiếp. Vì thế những sự kiện như thế này xảy ra là cơ hội để mình phản tỉnh, thức tỉnh, tỉnh ngộ trước sự thật mà Đức Thế Tôn chứng ngộ, sự thật mà bậc Thánh đã tuyên thuyết, sự thật mà Đức Như Lai đã truyền trao cho chúng ta. Chưa bao giờ lằn ranh của sống chết lại ngắn ngủi đến thế, nó mau lẹ, tích tắc như thế. Đây là cơ hội để mình thấy sự thật, là cơ hội để chứng kiến vô thường, chứng nhập khổ đau, chứng đắc vô ngã.

Nhìn thấu bản chất cuộc đời

Cho nên, đây không phải là lúc để sợ hãi vì nếu còn sợ hãi là còn chưa tin vào pháp, chưa đặt hết tấm lòng vào pháp. Còn khi đặt hết tấm lòng vào pháp thì đây là cơ hội cực lớn để nhìn thấy pháp, thể nhập pháp, thực chứng pháp, chứng ngộ pháp. Vì vậy, hãy nhìn bằng con mắt của trí tuệ chứ đừng nhìn bằng con mắt của thường tình, nếu nhìn theo thường tình thì vĩnh viễn và mãi mãi không đi vào pháp được. Hãy nhìn bằng con mắt của pháp, nhìn bằng con mắt của trí, nhìn bằng con mắt của tuệ để thấy rằng bản chất của đời sống này là như vậy không thể vượt khỏi bản chất ấy.

"Thân này tánh chất là như vậy, bản tánh là như vậy, không vượt khỏi tánh chất ấy" (Trung Bộ Kinh, 10. Kinh Niệm xứ)

Bản chất của nó là đau khổ, tan hoại, hủy hoại, mình tác ý "mày đã thấy chưa, đã sáng mắt chưa? Còn ngu si, mê muội, tham đắm nữa không? Còn đuổi hình bắt bóng nữa không? Còn chạy theo những ảo ảnh đó nữa không? Dừng lại đi thôi", đây là cơ hội để mình tu một cách sâu sắc, thẩm thấu để thể nhập. Vì thế khi nhìn bằng con mắt pháp thì đây là cơ hội lớn để mình thực chứng sự thật vô thường, khổ đau, biến hoại, tan rã, vô ngã. Hành giả Nikāya phải nhìn cuộc đời này, nhìn thế gian, đời sống này như vậy đó. Tất cả chỉ là dục, ái, tham, sân, si, vô minh và bản ngã, chỉ là những đống đất, nước, gió, lửa, chỉ là những đống sắc; thọ; tưởng; hành; thức đang ngày đêm hoạt động, xoay vần, xoay chuyển trong dục tham, sân hận, si mê, vô minh, bản ngã.

Đời sống này là vô tình, vô nghĩa, vô thường. Ở Ấn Độ có bà mẹ chồng nhiễm dịch bệnh nên cô con dâu bảo những đứa con của mình tránh xa bà nội ra, để tự bà mẹ đi lấy đồ ăn, người mẹ chồng này tức giận vì bị kì thị, thế là người mẹ này nhào vào ôm con dâu để cả hai cùng bị nhiễm. Có trường hợp khác mẹ bị bệnh thì người con bỏ mặc mẹ ngoài đường vì sợ bị nhiễm, nếu Minh Thành lỡ bị nhiễm thì còn ai dám đến gần nữa không? Đời sống này là vô tình, vô nghĩa, vô ngã như vậy nhưng vì vô minh, tham ái cho nên mới thấy thương mến, tình nghĩa cho thật nhiều rồi sau đó khổ đau vì không có tình thương nào có thật cả. Thật sự đời sống này là vô tình, vô nghĩa, vô thường, vô ngã, bình thường có qua có lại vậy đó nhưng khi xảy ra chuyện bạn thành thù, mới lên mây xanh thì giờ xuống vực sâu. Khi đã hiểu bản chất cuộc sống này là như vậy thì chẳng có gì quan trọng nữa, ai muốn sao cũng được, chỉ có pháp mới là tối tôn, tối thượng, nắm được pháp mới bình an tuyệt đối. Còn nếu cứ nắm người là đau khổ dài dài, sầu, bi, khổ, ưu, não triền miên, nước mắt còn lăn dài trên má, còn lo lắng, khổ sầu, buồn đau, còn nhảy sông, nhảy lầu tự vẫn.

Nhìn rõ nguyên nhân dịch bệnh

Trong thời gian dịch bệnh này có rất nhiều người bị ảnh hưởng thần kinh, bệnh viện thông báo số người bị thần kinh đã tăng rất nhiều. Số người tự vẫn tăng cao vì nhiều lý do: bị tù túng bức xúc không được đi đâu, bị mất công việc không có tiền sinh sống nên gia đình xảy ra mâu thuẫn thường xuyên… Đủ lý do để làm con người bấn loạn, đó là đối với những người không biết tu, còn người biết tu phải càng thấy rõ được bản chất của cuộc đời này. Mọi người xem lại bài "Đức Phật nói nguyên nhân của dịch bệnh" Minh Thành đã giảng, do lòng tham của chúng sanh tàn ác, xấu ác làm cho mùa màng thay đổi, mưa không đều gió không hòa, làng mạc không còn là làng mạc, thị trấn không còn là thị trấn, quốc độ không còn là quốc độ.

"Do nhân gì, thưa Tôn giả Gotama, do duyên gì, ngày nay loài người lại bị tiêu diệt, bị giảm thiểu trông rõ như thế, các làng trở thành không phải làng, các thị trấn trở thành không phải thị trấn, các thành phố trở thành không phải thành phố, các quốc độ trở thành không phải quốc độ?

- Ngày nay, này Bà-la-môn, loài người bị tham ái phi pháp làm cho say đắm, và bị ác tham chinh phục, bị tà kiến chi phối. Vì bị tham ái phi pháp làm cho say đắm, vì bị ác tham chinh phục, vì bị tà kiến chi phối, chúng cầm gươm sắc bén sát hại lẫn nhau. Do vậy, nhiều người mạng chung. Ðây là nhân, này Bà-la-môn, đây là duyên, ngày nay loài người bị tiêu diệt, bị giảm thiểu trông rõ như thế, các làng trở thành không phải làng, các thị trấn trở thành không phải thị trấn, các thành phố trở thành không phải thành phố, các quốc độ trở thành không quốc độ.

Lại nữa, này Bà-la-môn, ngày nay, các loài người bị tham ái phi pháp làm cho say đắm, và bị ác tham chinh phục, bị các tà kiến chi phối. Vì bị tham ái phi pháp làm cho say đắm, vì bị ác tham chinh phục, vì bị tà kiến chi phối, trời không mưa xuống đều đặn. Vì vậy, bữa ăn khó tìm, mùa màng hư mất, trắng xóa với côn trùng, chỉ còn lại cọng dẹp. Do vậy, nhiều người mạng chung.

Lại nữa, này Bà-la-môn, ngày nay, các loài người bị tham ái phi pháp làm cho say đắm, và bị ác tham chinh phục, bị các tà kiến chi phối. Vì bị tham ái phi pháp làm cho say đắm, vì bị ác tham chinh phục, vì bị tà kiến chi phối, các loài Yakkha (Dạ-xoa) thả ra các loài phi nhân dữ tợn. Vì vậy, nhiều người mạng chung". (Tăng Chi Bộ, Chương III - Ba Pháp, VI. Phẩm Các Bà-La-Môn, 56.- Người Giàu Có)

Những người đã gây tạo ác nghiệp, oan gia trái chủ, những loài phi nhân, dạ xoa, những loài vô hình làm ra các việc để trả oán thù. Mỗi một ngày có biết bao thai nhi bị phá bỏ trở thành oan hồn, một ngày có biết bao nhiêu con heo bị thọc huyết, biết bao nhiêu gà vịt bị cắt cổ… Những oái hận, những sự bức xúc đó của các loài kể cả con người bị tích tụ, ứ động, chồng chất trong cảm thọ cho đến một lúc bung ra hết. Con người chỉ cần nói vài ba câu là chém giết, đánh nhau, là do sự hận thù của những oan gia trái chủ trong nhiều đời nhiều kiếp bị tích tụ, khi gặp trúng đối tượng là bung ra, chứ không phải tự nhiên gặp đúng người đó là đâm nhau, chém nhau. Thật ra những điều đó là do oan gia trái chủ, đúng lúc đó quả dị thục chín muồi, nghiệp biến đổi và chín muồi thì trổ quả, gọi là nghiệp dị thục, quả dị thục, ác nghiệp của chúng sanh.

Chúng ta phải nhìn thấy những việc này để thức tỉnh ác nghiệp của chúng sanh và thức tỉnh ác nghiệp của chính mình. Từ đó thức tỉnh trước tác hại và sự nguy hiểm của lòng tham lam, ác độc của con người và tự thân mình, thức tỉnh trước tâm sân hận, bực bội, cộc cằn, gắt gỏng, nóng bức. Trước những ác nghiệp này càng phải biết khiếp sợ, rúng động đối với bản ngã, sự hơn thua, đấu đá, khẩu tranh, chiến tranh.

Đặt tâm vào pháp

Trí tuệ ngũ uẩn được học trong kinh Nikāya, Thánh trí ngũ uẩn này bao trùm mọi thứ thật là lý thú. Trước khi học dòng pháp này chúng ta không giải mã được thế giới này, con người này, tâm thức này, mọi thứ đều là bóng đêm. Cho đến khi nhận diện ngũ uẩn thì tất cả những thứ bị che lấp từ ngàn xưa đều bị phơi bày, tức là giải mã nội tâm, giải mã đời sống, giải mã hành tinh này, đó chính là tham, sân, si, vô minh và bản ngã. Mọi người trên thế giới này khổ vì ngũ uẩn, khổ vì vô minh và tham ái, những điều này gọi là Thánh pháp, bậc đại Thánh tối tôn tối thượng chứng đắc trí tuệ đó. Chúng ta càng thông đạt, thẩm thấu, thấy rõ những điều này chừng nào thì càng bớt khổ chừng đó. Người chân tu là lúc nào cũng thấy tham, sân, si, vô minh, bản ngã trong nội tâm, thấy nhục nhã, xấu hổ, hổ thẹn, người này càng thấy như vậy nhiều chừng nào thì người đó lại càng đi đến an lạc, bình an. Mọi người sẽ thấy lạ vì nó ngược đời, càng thấy được nhiều tham, sân, si, vô minh, bản ngã nhiều chừng nào thì người đó càng bớt khổ, càng đi gần đến an lạc, bình an, càng gần Niết-bàn. Còn người nào càng thấy vui mừng, thích thú, đẹp đẽ, sung sướng thì lại càng khổ đau, càng sầu bi, càng lo lắng, sợ hãi, căng thẳng, bất an cho đến điên loạn.

Vì thế, phải đặt hết tâm vào pháp, đừng sống theo phàm tình, thế tình, thường tình, phải sống với chánh trí, Thánh trí, trí tuệ, sống với minh với giác, đừng sống với vô minh, bất giác. Phải cố gắng đặt hết suy nghĩ, cảm giác, nghĩ tưởng, nhận thức vào trong pháp, đi ra ngoài pháp là tà kiến. Cũng như Tôn Ngộ Không vẽ vòng tròn để sư phụ ở trong đó thì an toàn, ra khỏi nó là yêu tinh bắt đi, vòng tròn đó là Tứ Niệm Xứ, tức là lãnh vực, phạm vi của người tu, Đức Phật đã nói đừng đi ra khỏi lãnh vực của cha ông mình.

"Này các Tỳ-kheo, đối với ai đi tới chỗ không phải hành xứ của mình, đi đến cảnh giới của người khác. Do vậy, này các Tỳ-kheo, chớ có đi đến chỗ không phải hành xứ của mình, chỗ cảnh giới của người khác. Này các Tỳ-kheo, đi đến chỗ không phải hành xứ của mình, đi đến cảnh giới của người khác, thời Ác ma nắm được cơ hội, Ác ma nắm được đối tượng.

Này các Tỳ-kheo, hãy đi đến chỗ hành xứ của mình, chỗ cảnh giới của cha mẹ mình. Này các Tỳ-kheo, đi đến chỗ hành xứ của mình, đến cảnh giới của cha mẹ mình, thời Ác ma không nắm được cơ hội, không nắm được đối tượng.

Và này các Tỳ-kheo, chỗ nào là chỗ hành xứ của Tỳ-kheo? Chỗ nào là cảnh giới của cha mẹ? Chính là bốn niệm xứ. Thế nào là bốn?

Ở đây, này các Tỳ-kheo, Tỳ-kheo trú, quán thân trên thân, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm, nhiếp phục tham ưu ở đời; trú, quán thọ trên các thọ...; trú, quán tâm trên tâm...; trú, quán pháp trên các pháp, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm, nhiếp phục tham ưu ở đời. Này các Tỳ-kheo, đây là chỗ hành xứ của mình, chỗ cảnh giới của cha mẹ mình". (Tương Ưng Bộ, Tập V - Thiên Ðại Phẩm, Chương III, Tương Ưng Niệm Xứ (a), I. Phẩm Ambapàli, VI. Con Chim Ưng)

Lãnh vực, giới vức của cha mẹ mình là luôn an trú cảm giác toàn thân, là nhìn thấy được thân thể, cảm giác, suy nghĩ, nhận thức này đang vận hành bên trong, đó là ngôi nhà an ổn nhất của chúng ta, là vòng tròn trí tuệ vạch ra của chư Phật. Tôn Ngộ Không biểu trưng cho trí tuệ, có năng lực nhìn thấy và ngăn chặn những sự si mê, vô minh cho nên đi trong Tứ Niệm Xứ, đi trong sự quán chiếu thân – thọ – tâm – pháp, đi trong cảm giác toàn thân là chỗ an toàn, là chỗ đi của cha mẹ, ông bà tổ tiên mình, là chỗ đi của dòng tộc Thích-ca, dòng tộc của bậc Thánh. Vì vậy phải ghi nhớ trú trong pháp, Phật tử "con bình tâm nhìn lại do thất niệm, không hộ trì căn nên để tâm hướng ngoại khiến tham, ái, ưu, bi, các ác bất thiện pháp khởi lên rồi mới có vọng tưởng. Con xin nghe lời dạy sư phụ chánh niệm tỉnh giác, trú vào pháp".

Tâm thái đối mặt cái chết

Một Phật tử hỏi lỡ mắc dịch bệnh thì việc trước tiên cần làm là gì? Có thể thiền tập tâm hiền và trải tình thương để hóa giải không? Trước tiên là phải cẩn thận, thực hiện 5K theo chỉ dẫn của bộ y tế, đây là thời điểm thích hợp để an cư kiết hạ giống các thầy. An cư là ở yên để tu nhưng lỡ rơi vào trường hợp xấu thì phải đi điều trị, thứ hai là quán chiếu sâu sắc về nghiệp quả để mình đừng than trời trách đất, để mình đừng lo lắng hoảng sợ. Vì mình đã được học tất cả chúng sanh là bà con của nghiệp, là thừa tự của nghiệp, tất cả những gì mình làm và thừa hưởng đều từ nghiệp.

"Ta là chủ nhân của nghiệp, là thừa tự của nghiệp, nghiệp là thai tạng, nghiệp là quyến thuộc, nghiệp là điểm tựa. Phàm nghiệp nào ta sẽ làm thiện hay ác, ta sẽ thừa tự nghiệp ấy". (Tăng Chi Bộ Kinh, Chương V. Năm Pháp, VI. Phẩm Triền Cái, (VII). Sự Kiện Cần Phải Quan Sát)

Chúng ta phải quán chiếu về nghiệp, về nhân quả để mình chấp nhận sự thật và tâm không bị lo lắng, sợ hãi, bàng hoàng. Nhưng phải quán chiếu cho thông đạt thì tâm mới bình an chứ nếu không sẽ rất bất an, mới chỉ cách ly đã thấy buồn rầu chứ đừng nói gì thật sự bị nhiễm bệnh vì thế cần quán chiếu sâu sắc, thông đạt để nhìn thấy nhân quả, nghiệp quả. Một điều rất quan trọng là trải tâm từ và sám hối oan gia trái chủ, vì chắc chắn mình sẽ bị rơi vào tâm trạng bức xúc, lo lắng, sợ hãi, thậm chí bị sân hận rồi đổ thừa người này người kia làm mình bị như vậy mà không biết rằng nguyên nhân thật sự là nghiệp quả, cho nên cần trải từ vô lượng tâm. Khi mình thông đạt và chấp nhận nhân quả, nghiệp quả thì mình mới thật sự sám hối oan gia trái chủ và trải tâm từ, nghiệp quả rất quan trọng và trong thời điểm này cần thành tựu trí tuệ về nghiệp, nếu không thành tựu trí huệ về nghiệp thì gặp chuyện gì mình cũng oán trách, hờn dỗi, đổ lỗi cho người này người kia chứ không biết do nghiệp quả của mình, còn khi đã thông đạt nghiệp thì tâm mình không còn oán trách, trách hận ai nữa, không còn đổ lỗi cho hoàn cảnh bên ngoài nữa mà ngay tự thân chuyển hóa nghiệp.

Cho nên phải trải tâm từ cho nhuần nhuyễn, sau đó sám hối oan gia trái chủ một cách chân thành, tha thiết, nếu đủ sức sẽ hóa giải được hết còn nếu nghiệp của mình tới đó là tận cùng, mãn báo thân thì mình ra đi nhưng ra đi trong chánh niệm tỉnh giác, bình an, trí tuệ mới tuyệt vời. Chúng ta đừng sợ chết vì sớm muộn gì ai cũng phải chết nhưng vấn đề là chết như thế nào, chết trong tâm trạng ra sao mới quan trọng vì nó quyết định đời sau của mình. Chết trong tâm trạng uất hận, sợ hãi, bấn loạn thì cái chết đó bất bình thường. Chết trong trí tuệ thấy biết tự thân, chấp nhận nghiệp quả, sám hối oan gia trái chủ, thấu đạt pháp ngũ uẩn tứ đại này vô thường, khổ đau, hủy hoại, là thứ đáng nhàm chán, đáng từ bỏ thì cái chết đó đại phước lành, cát tường, là cái chết trí tuệ.

Vì vậy không sợ chết vì sớm muộn cũng chết nhưng chết như thế nào, chết trong tâm thái ra sao, tinh thần mình khi đó như thế nào không quan trọng. Chết già chết trẻ gì cũng là chết, chết vì tai nạn máy bay hay xe cộ cũng là chết, chết trên giường hay ngoài đường cũng là chết… đó chỉ là những hoàn cảnh bên ngoài của cái chết nên không quan trọng, mà tâm thái lúc chết như thế nào mới quan trọng. Ngài Mục-kiền-liên là tướng quân Chánh Pháp nhưng do nghiệp trong quá khứ nên cái chết của Ngài là do ngoại đạo đánh, Ngài là bậc Thánh thì đối với Ngài điều này có là gì đâu, thân này chỉ là nùi giẻ rách, là bao máu mủ chứ Ngài không coi nó là tôi, là của tôi. Vì vậy, không nên nghĩ rằng tại sao người đó tu mà lại chết như vậy, mà biết đó là do nghiệp của mỗi người, mà nghiệp là bất khả tư nghị nên mình không suy tưởng được, vì suy nghĩ sẽ dẫn đến điên loạn nhưng tâm thái, tâm trạng lúc ra đi của người đó như thế nào mới quan trọng, những điều đó rất khó biết, chỉ có bậc trí tuệ mới biết được.

"Có bốn điều này không thể nghĩ đến được, này các Tỳ-kheo, nếu nghĩ đến, thời người suy nghĩ có thể đi đến cuồng loạn và thống khổ. Thế nào là bốn? 

Phật giới của các đức Phật, này các Tỳ-kheo, không thể nghĩ đến được, nếu nghĩ đến, thời người suy nghĩ có thể đi đến cuồng loạn và thống khổ.

Thiền giới của người ngồi Thiền, này các Tỳ-kheo, không thể nghĩ được, nếu nghĩ... thống khổ.

Quả dị thục của nghiệp, này các Tỳ-kheo, không thể nghĩ đến được, nếu nghĩ đến... thống khổ.

Tâm tư thế giới, này các Tỳ-kheo, không thể nghĩ đến được, nếu nghĩ đến thời có thể đi đến cuồng loạn và thống khổ.

Có bốn điều này không thể nghĩ đến được, này các Tỳ-kheo, nếu nghĩ đến, thời có thể đi đến cuồng loạn và thống khổ". (Tăng Chi Bộ, Chương IV. Bốn Pháp, VIII. Phẩm Không Hý Luận, (VII). Không Thể Nghĩ Ðược).

Có nhiều người biết ngày giờ chết thì có lẽ người đó đã chứng ngộ nhưng cũng chưa chắc, mà do phước lành của họ, người đó có nhàm chán tứ đại ngũ uẩn không, người đó có thành tựu trí vô thường, khổ, vô ngã không, người đó có muốn từ bỏ, thoát ly đối với ngũ uẩn không, điều này mới quyết định trở thành Thánh hay phàm. Ở đây mình đang nói điều xấu nhất và mình phải chuẩn bị mọi trường hợp để nó xảy ra trường hợp nào thì mình giải quyết theo trường hợp đó. Nếu còn sợ cái chết là mình vẫn chưa thấy sự thật, chưa chấp nhận sự thật, chưa đi vào chánh kiến, Khổ Thánh Trí. Vì vậy trí tuệ này rất tuyệt vời, vượt ra khỏi hình thức, sắc tướng. Mọi hoàn cảnh, tình huống không quan trọng mà quan trọng là trí tuệ lúc chết như thế nào, có hoảng loạn, bàng hoàng, sợ hãi, có tiếc nuối, tham ái, si mê không, có bị những khát vọng bên trong trói cột không, hay lúc đó thấm nhuần trí tuệ nhàm chán, ly tham, chấm dứt, buông xả.

Thân là duyên sanh.

Thọ, tưởng, hành, thức cũng là duyên sanh.

Thân là vô thường.

Thọ, tưởng, hành, thức cũng là vô thường.

Thân là phiền não.

Thọ, tưởng, hành, thức cũng là phiền não.

Thân không là mình.

Thọ, tưởng, hành, thức cũng không là mình.

Thân này từ bỏ.

Thọ, tưởng, hành, thức cũng xin từ bỏ.

Thân xả, tâm xả - Dễ chịu, dễ chịu.

Buông xả, buông xả - Dễ chịu, dễ chịu.

(Nghi thức tu học Nikāya – niệm ngũ uẩn duyên sanh)

Những câu này tuyệt đối quan trọng, đây là bài niệm trước khi mình ra đi, lúc đó ai còn nhớ những câu này thì chắc chắn sanh ra từ nhân thiên cho đến Thánh quả, không bao giờ đọa ba đường ác.

Giải đáp khó khăn khi ngồi thiền

Câu hỏi: Dạ con có một câu hỏi, kính bạch thầy trong việc thiền quán khi con ngồi quán ngũ uẩn, đặt niệm trước mặt và cảm giác toàn thân, nội tâm tỉnh giác xong rồi con quán về sự chết và quán thân bất tịnh. Khi ngồi khoảng thời gian 30-40 phút con rất tỉnh giác nhưng về sau thì không quán được nữa vì có một niệm khác chen vào, con biết thế nên trở về hơi thở một lúc rồi thiền quán tiếp nhưng không tịnh tâm được, cuối cùng con xả thiền. Mong thầy chỉ dạy cho con vượt qua những chướng ngại ạ.

Câu hỏi trên Phật tử nói rằng khi ngồi thiền, thực hành ba pháp, nhận diện năm uẩn và quán bất tịnh được khoảng 30-40 phút thì sau đó không quán được nữa vì có niệm khác chen vào. Ở đây mình phải xem lại trạng thái tâm mình như thế nào, cái thọ như thế nào, nhiều khi mình ngồi thời gian như vậy là đến giới hạn của mình, ngồi nữa sức không chịu nổi với lại sự dụng tâm của mình chỉ tới đó thôi. Lúc đó có nhiều cấp độ nhưng quan trọng nhất hành giả phải xem trạng thái tâm như thế nào, nếu mình quán nhiều, tâm vận dụng nhiều mà mệt thì lúc đó có thể mình trở về ba pháp an tịnh, lắng dịu hoặc trải tâm từ. Nếu lúc đó mình muốn thiền quán thêm nữa mà bị vọng niệm, tạp niệm xen vào thì mình phải nhận diện ngũ uẩn một cách chín chắn, sát sao để tìm ra nguyên nhân rồi từ từ khắc phục nhưng không được vội vàng. Như vậy, thứ nhất cần xem lại thể lực ngồi ở mức độ đó đã mệt chưa, thứ hai là tâm lực, sức quán của mình đến đó vừa rồi thì nên trở về an tịnh, lắng dịu hoặc trải tâm từ, từ từ về sau mình nâng cấp lên chứ không vội ép bản thân ngồi tiếp. Quan trọng là xem lại thân như thế nào, tâm như thế nào và đang có vọng tưởng gì chen vào, xem lại lúc đó có cần chỉ không vì quán nhiều sẽ mệt nên trải tâm từ.

Cần nhớ rằng thời gian này cần tập trung vào tâm hiền và tâm từ để thọ; tưởng; hành được nhẹ nhàng, an tịnh, lắng dịu, dễ chịu và tình thương được nuôi lớn, tăng trưởng, phát triển để hóa giải được những nghiệp xấu ác bất thiện pháp vì trong hoàn cảnh này rất dễ bực bội, bức xúc làm sanh ra bất thiện pháp. Vừa không đi làm được, tiền bạc thiếu thốn, trong nhà cự cãi cho nên hoàn cảnh trong ngoài lúc này dễ bức xúc làm cho tâm không thoải mái nên cần chú trọng thật nhiều vào tâm hiền và tâm từ. Có như vậy con người mới nhẹ nhàng, thoải mái, mát mẻ và chính cảm thọ này giúp cho mình được an tịnh, lắng dịu. Điều này mình không nói ra nhưng cảm thọ này lan tỏa ra cho những người xung quanh mình, giống như ở gần quạt máy hoặc máy điều hòa sẽ cảm nhận được luồn gió mát. Còn mình tu mà thấy bực, người ta không tu thì đương nhiên sẽ nực, vậy là người bực gặp người nực cuối cùng là (xực) cãi nhau cho nên cần chú trọng vào tâm hiền và tâm từ cho nhuần nhuyễn.

Câu hỏi: Niệm thọ như thế nào để cắt đứt các duyên sanh khởi trong lúc ngồi thiền?

Cho dù làm cái gì đi nữa cũng không đi ra ngoài cảm giác toàn thân. Vì khi an trú cảm giác toàn thân, nội tâm tỉnh giác để nhìn các thọ; tưởng; hành thì mình mới thấy cái để nhiếp phục, mới biết đang có cái gì để cắt chứ không phải muốn cắt là cắt. Hoặc muốn vào tu là làm cho mình không có suy nghĩ gì hết thì cái đó không phải đối diện thân tâm trực tiếp, trực diện. Không có cái gì đi ra ngoài cảm giác toàn thân và nhận diện năm uẩn, vì vậy khi thực hành ba pháp và nhận diện năm uẩn rõ ràng sẽ làm cho các cảm thọ an tịnh, lắng dịu, trong sự định tĩnh, sáng tỏ. Khi đó thấy có các ác bất thiện pháp thì nhiếp phục hoặc tẩy trừ, cái nào là thiện pháp thì tăng trưởng phát triển, đây là con đường của chư Phật, ngoài con đường này ra không còn con đường thứ hai.

Cho nên, an trú vào cảm thọ làm cho cảm thọ an tịnh, lắng dịu, dễ chịu, hiền lành, hiền thiện, làm cho cảm thọ từ ái, bi mẫn chính là cốt lỗi của sự tu, là trái tim của sự hành trì. Phải làm cho thuần thục, làm cho cảm thọ ngọt ngào, mát mẻ, thanh lương, làm cho dạt dào sự từ ái, thậm chí bị chọc tức nhưng mình vẫn có sự nhẹ nhàng, được như vậy là tối thượng. Mình nuôi dưỡng những cảm thọ này trong lúc ngồi thiền để khi xả thiền ra vẫn còn để mình sử dụng. Hãy tập cho đến một lúc nào đó thuần thục, điêu luyện, nhuần nhuyễn và chứng nhập luôn thì lúc nào mình cũng có từ ái. Đức Phật dạy tu tập tâm từ cho đến mức có người đến chửi mắng, hủy nhục nhưng mình vẫn giữ được tâm từ.

"Chư Tỳ-kheo, ở tại đây, các Ngươi cần phải học tập như sau: 'Chúng ta sẽ giữ tâm của chúng ta không biến nhiễm, chúng ta sẽ không thốt ra những lời ác ngữ, chúng ta sẽ sống với lòng lân mẫn, với tâm từ bi, với nội tâm không sân hận. Chúng ta sẽ sống bao phủ người này với tâm câu hữu với từ. Và với người này là đối tượng, ta sống biến mãn cùng khắp thế giới với tâm câu hữu với từ, quảng địa vô biên, không hận, không sân'. Chư Tỳ-kheo, như vậy các Ngươi cần phải học tập". (Trung Bộ Kinh, 21. Kinh Ví dụ cái cưa)

Làm được như vậy là thành tựu chứ không phải cắt đứt các duyên là vào ngồi không biết gì nữa hoặc vào ngồi làm sao để không khởi gì nữa. Cái gì khởi lên mình phải đều biết rõ và vẫn giản trạch biện biệt được nó là đen hay trắng, là thiện hay bất thiện. Nếu là thiện thì cho tăng trưởng phát triển, còn bất thiện thì diệt tận, đuổi nó ra, cái đó gọi là dứt các duyên chứ không phải dứt các duyên là không thấy không biết gì hết. Cho nên, sự tu không phải là cắt đứt các duyên sanh khởi khi ngồi thiền mà là thấy rõ cái gì đang sanh khởi và sanh khởi như thế nào, theo chiều hướng nào, phải xử lý nó như thế nào và chủ lực trong giai đoạn này vẫn là thực hành tâm hiền, tâm từ.

Tại sao chư Thiên khó tu hơn người thường

Chư thiên đại đa số hưởng phước báo, cực kì ít ỏi bị khổ, vì tất cả với họ đều là sướng, thấy cái khả ái, nghe điều dễ chịu, tiếp xúc chỉ toàn những cái vừa lòng, thích ý vì do thiện nghiệp, phước báo của các vị cho nên làm sao họ thấy khổ? Họ ở lâu đài cung điện thậm chí ở theo ý các vị, thích lâu đài như thế nào thì biến ra như thế, thân thì tự tại phi hành, tuổi thọ khó tính được, vì vậy có những vị chư thiên nghĩ rằng mình bất tử, vĩnh cửu, là Niết-bàn, sau khi nghe Thế Tôn thuyết pháp mới làm mọi người chấn động, vì vô thường mà nghĩ là thường còn. Qua đây cho chúng ta thấy trí huệ và thần lực của bậc Chánh Đẳng Chánh Giác.

"Này các Tỳ-kheo, có những chư Thiên nào, tuổi thọ dài, có mỹ sắc, hưởng lạc nhiều, đã sống lâu trong các lâu đài to lớn. Các chư Thiên này, sau khi nghe Như Lai thuyết pháp, phần lớn họ trở thành sợ hãi, run sợ, khiếp đảm. Họ nghĩ: 'Chúng ta là vô thường, này chư Tôn giả, nhưng chúng ta nghĩ là chúng ta thường còn. Chúng ta là không thường hằng, này chư Tôn giả, nhưng chúng ta nghĩ là chúng ta thường hằng. Chúng ta không thường trú, này chư Tôn giả, nhưng chúng ta nghĩ là chúng ta thường trú. Này chư Tôn giả, chúng ta là vô thường, không thường hằng, không thường trú, bị thâu nhiếp trong một thân này'.

Như vậy, này các Tỳ-kheo, là đại thần thông lực của Như Lai đối với chư Thiên và thế giới chư Thiên, như vậy là đại thế lực, như vậy là đại uy lực". (Tương Ưng Bộ, Tập III - Thiên Uẩn, Chương I. Tương Ưng Uẩn (d), III. Phẩm Những Gì Ðược Ăn, VI. Sư Tử)

Ví dụ mình sanh ra đã có sẵn tỷ đô la, đi bằng máy bay riêng, ăn uống tắm mặc đều có người hầu, người như vậy rất khó tu vì họ đang hưởng thụ phước báo. Người xưa nói tu phước mà không tu huệ là tai họa ở đời thứ ba, vì sao lại vậy? Vì đời thứ nhất tu phước, đời thứ hai sanh ra hưởng, đời thứ ba hưởng hết phước thì bị đọa. Vì thế Đức Phật nói có rất ít chư thiên được sanh trở lại làm người, phần lớn bị rơi vào địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh chỉ trừ những bậc Thánh đệ tử thiên, tức là những vị thành tựu bốn đôi tám chúng mới không bị đọa ba đường ác. Còn những vị phàm phu thiên khi đã hưởng hết phước là họ sa đọa vì thế họ sẽ gặp tai họa ở đời thứ ba nếu tu phước mà không tu huệ.

Thực tế dịch bệnh bây giờ là dễ tu hơn những khi bình thường, ngay trong tình cảnh đại dịch như vầy mọi người mới thấy được cuộc đời này đau khổ, cuộc đời này vô thường, mạng sống này mong manh. Chư thiên khó tu vì đa số, phần lớn họ thấy toàn cái đẹp, nghe những điều êm tai, cảm xúc những điều sung sướng vừa lòng thì làm sao họ tu được. Có những loài súc sanh có xương sống nằm ngang không thể tu hành được, đầu óc u mê chỉ biết cỏ với nước, ăn rồi ngủ thì làm sao có sự nhận thức, hiểu biết pháp, những loài ngạ quỷ đói khát đầu nhỏ bụng to, lúc nào cũng trong trạng thái đói khát, vì vậy những chúng sanh đó rất khó tu. Chư thiên khó tu vì hưởng lạc quá nhiều, những loài kia khó tu vì quá khổ, những loài động vật nhỏ bé, yếu thế thì sống trong lo lắng, sợ hãi sẽ bị những con vật to lớn khác ăn thịt rồi kêu lên đau đớn, bất an thì làm sao tu. Còn loài người khổ nhiều vui ít nên dễ tu, người nghèo lại còn dễ tu hơn người giàu, những người đầy đủ, giàu có, đẹp đẽ rất hiếm khi xuất gia vì vậy trong kiếp sống của loài người dễ tu vì khổ nhiều vui ít nên dễ giác ngộ. Cô Yến Phật tử lên đây tu học trong khóa tu vừa rồi nhưng do dịch bệnh thế là ở lại núi tu luôn đến giờ chứ nếu không có dịch bệnh thì cô đã không ở đây tu lâu đến vậy.

Cho nên trong cái khổ đó tôi luyện cho mình một sự thể nghiệm, thẩm thấu, nhận thức sâu sắc, thực chứng sự thật cho nên làm người dễ tu hơn các loài chúng sanh khác và trong hoàn cảnh dịch bệnh lại càng dễ tu hơn trong điều kiện bình thường, dễ giác ngộ, dễ nhàm chán, xa lìa, giải thoát hơn, đó mới là chỗ quan trọng. Mình khéo biết nắm bắt cơ hội này vì đây là giai đoạn có động lực lớn mạnh để mình tu mau thành tựu hơn lúc bình thường, nếu lúc này tu không được thì không biết lúc nào mới tu đuọc, vì thế cần biết nắm bắt cơ hội này.

Mọi người cần cố gắng tận dụng cơ hội này để tu học. Quý Phật tử cố gắng Như lý giác sát, Như lý tác ý, tỉnh giác quán sát đúng với sự thật cuộc đời này của trí tuệ mà mình đã học học, tác động tâm ý đúng với Thánh trí của Đức Phật đã truyền trao. Hoàn cảnh dịch bệnh này lại là cơ hội lớn để tiến tu, để bước nhanh, bước mạnh, bước mau hơn bình thường. Mọi người đừng chạy theo thế tình rồi sợ hãi làm mất đi đạo tâm, rất uổng phí, hãy tập trung vào nghe pháp, thực hành pháp, quán chiếu pháp, đây là duyên thuận tiện để chúng ta thể nhập sâu vào pháp. Kính chúc quý vị tinh tấn tu học, có được giấc ngủ an lành trong tâm từ.

./.