ĐẠO LỘ TU TẬP
ĐẠO LỘ TU TẬP
Thích Minh Thành
MỤC LỤC
TOC \o "1-3" \h \z \u I.Bài kinh “Bệnh” PAGEREF _Toc111105038 \h 1
1.Không tác ý đến tất cả tướng PAGEREF _Toc111105039 \h 1
2.Tu tập cảm thọ PAGEREF _Toc111105040 \h 3
3.Thế nào là “nương tựa chính mình” PAGEREF _Toc111105041 \h 5
II.Tứ Niệm Xứ tối thượng! PAGEREF _Toc111105042 \h 6
Bài kinh “Bệnh”
Chúng ta sẽ tìm hiểu và chiêm nghiệm thật kỹ bài kinh Bệnh, Tương Ưng Bộ Kinh – Tập V:
Này Ananda, chỉ trong khi Như Lai không tác ý đến tất cả tướng, với sự diệt trừ một số cảm thọ, chứng và an trú vô tướng tâm định, chính khi ấy, thân Như Lai được thoải mái.
Không tác ý đến tất cả tướng
Những câu này không phải cứ đọc qua và hiểu một cách hời hợt là được. Thế nào là “không tác ý đến tất cả tướng”? Đây là một trong những tầng thiền, nói đơn giản là: Sơ thiền, Nhị thiền, Tam thiền, Tứ thiền và Không vô biên, Thức vô biên, Vô sở hữu xứ, Phi tưởng phi phi tưởng xứ. “Vô sở hữu” là không có cái gì hết, lúc đó tâm mình tác ý, tất cả sắc tưởng không còn và hành cũng không còn. Khi đó tâm không có suy nghĩ và cũng không có những hình ảnh, tâm trú trong trạng thái không có tất cả tướng, gọi là Không vô biên xứ, Vô sở hữu xứ. Thực tập thiền mà trú được tâm vào trạng thái này là điều rất khó, không phải dễ. Vì khi ngồi lại là bao nhiêu hình bóng hiện lên, hoặc là rất nhiều những lời nói, suy nghĩ diễn ra bên trong tâm, điều này dẫn đến việc mình tu nhưng không vào được định này, tức là không đạt được trạng thái “không tác ý đến tất cả tướng”, không trú được vào Không vô biên xứ và Vô sở hữu xứ, không trú được vào trạng thái tâm trống rỗng, rỗng lặng.
Đây là chỗ mọi người thường hiểu nhầm. Ngay cả bài kệ xưng tán thường đọc tụng, chúng ta cứ tưởng đó là chuẩn tắc nhưng không phải vậy. Câu “Phật, chúng sanh tánh thường rỗng lặng”, trước giờ chúng ta tưởng chữ “rỗng lặng” đó là chân tâm, nhưng không phải. Chữ “rỗng lặng” đó nếu không đi qua Chánh tri kiến của Bát Chánh Đạo thì không phải, chỗ này quan trọng cần phải nhớ. Cái rỗng lặng, thanh tịnh đúng pháp là phải đi qua bảy chi phần của Bát Chánh Đạo thì Chánh định đó mới là Thánh Chánh định. Còn nếu ngồi chỉ đạt rỗng lặng như thông thường thì không phải Thánh Chánh định. Sự rỗng lặng thông thường là lâu lâu ngồi chúng ta thấy tâm rất yên, tưởng không khởi, tưởng được an tịnh, được tịnh chỉ và hành được tịnh chỉ. Tức là tất cả những hình bóng trong nội tâm không có và tất cả những suy nghĩ được yên lặng. Lúc đó mình có cảm giác khoái khoái, nhẹ nhàng, êm ái, đó gọi là thọ và có sự rõ biết điều đó, gọi là thức. Khi đó, nhiều người tưởng đâu đó là chân tâm nhưng không phải, vì thật ra lúc đó chỉ là tưởng và hành được tịnh chỉ, an tịnh.
Cách đây không lâu, khoảng chừng mười ngày, có một Phật tử từ ở bên nửa vòng trái đất trở về đây thăm viếng và cảm tạ Minh Thành sau khi hai vợ chồng của chú này học theo Thiền tông gần bốn chục năm. Hai vị này có những lúc ngồi thiền đến chỗ không có tất cả những hình bóng, không có tất cả những lời nói, đạt được trạng thái yên tịnh, hai vị này tưởng đâu đó là chân tâm. Đại đa số những ai học thiền, người ta cũng tưởng như vậy là chân tâm. Khi hai vị này nghe bài kinh Minh Thành giảng là Kinh giới phân biệt và Chiến thuật tâm linh của Đức Phật thì hai vị này từ nửa vòng trái đất bay về đây, rất là xúc động và cảm ơn rất chân thành.
Trước đây, chính bản thân Minh Thành cũng tưởng đâu trạng thái đó là chân tâm, nhưng không phải, mà đó là không tác ý đến tất cả tướng, là Không vô biên xứ và Vô sở hữu xứ. Cho nên lâu lâu ngồi thiền, có khi mình sẽ thấy tất cả vọng niệm lắng lặng hết, không có một ý tưởng nào hết, hoàn toàn yên tịnh thì đó chỉ là tưởng và hành tịnh chỉ – chỉ là dừng lại, tịnh là yên. Nhưng lúc đó thọ vẫn còn, cho nên mình có cảm giác khoái khoái, lạc thọ, thấy trạng thái này đã đã, thích thích, yên yên, tịnh tịnh, đó là lạc thọ và có ái trong đó. Sau đó, mình thích và muốn kéo dài trạng thái này ra, nhưng khi muốn kéo dài thì lúc đó nó mất.
Nhân lúc học ngay chỗ này, Minh Thành nói rõ ra để huynh đệ nắm vững chỗ quan trọng này. Huynh đệ đừng tưởng đâu thiền là ngồi lại tĩnh lặng không ngay chỗ đó là đúng nhưng thật sự không phải như vậy. Vì khi chưa thành tựu trí năm uẩn thì mình chưa thấy rõ được từng uẩn, từng uẩn như thế nào và không nhận diện được từng uẩn. Thế nên sắp tới đây, Minh Thành sẽ giới thiệu một đạo lộ tuần tự tu tập, khi huynh đệ nắm vững được thì khi ngồi thiền, hay trong những lúc phiền não khởi lên, hoặc những lúc sinh hoạt bình thường, chúng ta sẽ đều thấy được năm uẩn vận hành như thế nào.
Như vậy, chỗ “không tác ý đến tất cả tướng” là chỗ chúng ta có thể tu tập được và có thể trú trong định này nếu để tâm thực tập. Có những lúc mình mệt hay buồn thì lúc đó quý huynh đệ thực tập xả hết tất cả, trú vào chỗ không có tất cả hình tướng để tâm rỗng lặng. Thậm chí nếu tu sâu sắc, mình có thể tách tâm ra khỏi thọ. Ngay lúc mình có cảm thọ bực bội, khó chịu, bứt rứt thì ngồi nhiếp tâm lại, tách cảm thọ đó ra, không trú trong cảm thọ đó nữa. Mình không đi theo cảm giác, không trú trong cảm giác đó, tách tâm mình ra. Mình nói “Cảm giác này được cái gì. Cảm giác này làm khổ mình, khổ người, làm cho mình mệt mỏi, bực bội, làm cho mình nóng bức, nhiệt não chứ đâu có đưa đến cái gì đâu. Tại sao mình phải trú vô cảm giác này?” Từ bỏ nó, trở về hơi thở, làm cho phát sanh hỷ lạc, lúc đó mình khởi hỷ vô lượng tâm, thì mình bỏ được cảm giác của sân, cảm giác của bực, mình tách ra, đưa qua cảm giác của hỷ, của lạc.
Khi tâm được tu tập tương đối thuần thục thì mình muốn mở là mở, muốn tắt là tắt, muốn đưa qua trạng thái nào là sẽ qua trạng thái đó. Chẳng hạn như bốn tâm vô lượng, muốn trú vào tâm nào là sẽ trú vào tâm đó. Hay là bốn tầng thiền, muốn trú vào tâm nào là vào tâm đó. Đó là tâm được tu tập thuần thục. Nhưng nếu bị ngũ triền cái nặng nề thì mình muốn vào nhưng không vào được, ví dụ như Sơ thiền là không vô được nếu năm triền cái còn, nếu nó còn mãnh liệt là không vô được. Còn có những người biết, khéo vận dụng tâm thì ngay trong lớp học này, ngay lúc ngồi nghe pháp thì người đó có thể trú được Sơ thiền. Tức là ngay lúc nghe mà tách tâm ra khỏi năm triền cái: không có tham, không có sân, không có hôn trầm, không có bị trạo cử, không có bị hoài nghi; tâm chuyên chú ở trong pháp, sanh ra hỷ lạc, ra khỏi năm triền cái. Ngài Ananda thường thường nghe pháp trong trạng thái này, cho nên Ngài ghi nhớ hết. Còn mình nghe nhưng trong đó có nghi, có tham, có sân, có hôn trầm, có trạo cử, cho nên lúc đó tâm không được trong sáng, chính vì vậy, nghe xong đứng lên một lúc là quên hết, hoặc nhớ được rất là ít. Tại tâm mình lúc đó bị vẩn đục, bị cấu bẩn, bị cấu uế, bị cấu nhiễm. Còn một cái tâm trong sáng, không bị chi phối bởi năm triền cái nên chứa đựng được hết tất cả pháp. Đây là chỗ có thể thực tập được, ai thực tập nhiệt tâm là sẽ thành tựu.
Tu tập cảm thọ
Diệt trừ một số cảm thọ là vấn đề rất sâu sắc. Nếu không biết thọ là cái gì, không biết mấy loại thọ, không có phương pháp nhiếp phục, chuyển hóa thì không thể tách khỏi và diệt trừ được.
Ví dụ, khi ngồi thiền, lúc đó trời đang nóng, nếu chỉ chú ý vào cảm giác nóng nực, mồ hôi đổ là lát sau tâm sẽ dao động. Thay vào đó, khi có cảm giác khó chịu thì đừng để tâm đến cảm giác đó, mà hãy quay trở về đề mục của mình. Khi chú tâm vào đề mục thì tự nhiên cảm giác nóng nực, khó chịu sẽ được lắng dịu. Còn cứ đi theo cảm giác đó thì lát sau sẽ bung chân ra, không ngồi được nữa.
Cho nên, tu tập để tách ra khỏi cảm giác là pháp tu rất quan trọng. Phải có tu tập mới biết tách ra khỏi cảm giác, nếu không, đại đa số chúng ta sẽ bị vòng xoáy của cảm giác nhận chìm, lúc đó giống như lạc vào đào hoa đảo, dính vào mê hồn trận, gặp phải bát quái trận, vào đó là lòng vòng, không biết đường ra khỏi cảm giác. Chẳng hạn như người không biết tu tập, sân lên một cái là đi ra không được, hoặc dục tham là đi ra không được. Đừng nói chi tới cái si, nó là một trạng thái triền miên, nếu không biết là không nhận ra được.
Cảm thọ si là chỗ hết sức vi tế mà chúng ta dễ nhiều lắm. Bình thường khi ở ngoài mình đi làm này, làm nọ, nói chuyện, vận động đủ thứ, tới chừng vào ngồi thiền là phải ngồi yên, sau đó lại nhắm mắt, thở vào, thở ra một hồi là tự ru ngủ mình, nói là ngồi thiền nhưng thật sự là đi ngủ. Tại vì ở ngoài mệt, dao động, tới chừng ngồi thiền thở vào, thở ra, nhắm mắt lại, được yên tịnh, bắt đầu tâm thấy đã đã, thích thích, nên tự đưa mình vào cảm giác đó, giống như ru ngủ và từ từ đi vào hôn trầm. Người như vậy là hoàn toàn không có tu tập tâm. Vì khi lên ngồi trên bồ đoàn thì mình là chiến sĩ xung trận, xáp lá cà, đối mặt với các thứ phiền não để nhiếp phục, chuyển hóa, diệt tận nó. Còn lên ngồi thiền, mà thở đều đều, nhắm mắt ngủ thì mình sẽ bị hôn trầm – một trong năm triền cái, khi đó là mình nhập chung với giặc, không phân biệt được mình là mình, giặc là giặc. Khi đó, mình rơi vào cảm giác si, không nhận rõ các pháp đang diễn ra trong thân và tâm ngay trong giây phút đó, như vậy chính là vô minh, si mê.
Trước giờ chúng ta ngồi thiền thường rơi vào trạng thái này, nói là thiền chứ không phải, mà thực chất là ru ngủ và tìm cảm giác êm ái. Ngày nào ngồi ít hôn trầm, hoặc ít vọng tưởng một chút là “Trời, mừng, bữa nay ưng quá, đã quá, khoái quá”. Đánh kẻng xả thiền nhưng không muốn xả, muốn ngồi yên luôn, vì thấy đã. Nhưng thật ra là không biết, mình đang bị cảm thọ, cảm giác chi phối. Tuy nhiên, ngồi được như vậy cũng là có tiến bộ nhưng sự tiến bộ sâu sắc của Phật giáo không phải ở trong cảm giác, mà thấy được cảm giác là vô thường mới là trí huệ, là thấy được mình đang bị dính mắc trong cảm giác.
Thế nào là “nương tựa chính mình”
Vậy này Ananda, hãy tự mình là ngọn đèn cho chính mình, hãy tự mình nương tựa chính mình, chớ nương tựa một điều gì khác. Dùng Chánh pháp làm ngọn đèn, dùng Chánh pháp làm chỗ nương tựa, chớ nương tựa một gì khác. (Tương Ưng Bộ Kinh - Tập V. Thiên Đại Phẩm, Chương III. Tương Ưng Niệm Xứ, I. Phẩm Ambapàli, bài kinh Bệnh)
Câu này có nhiều người thuộc, có nhiều người đã từng nghe và có những người nhớ. Nhưng có thể rằng rất ít người hiểu được chính xác nghĩa lí của câu này, đại đa số là hiểu không chính xác. Chính lúc trước Minh Thành cũng hiểu không chính xác. Đại đa số người ta chỉ lấy câu “Hãy tự mình là ngọn đèn cho chính mình, hãy tự mình nương tựa chính mình, chớ nương tựa một điều gì khác.” Câu “tự mình nương tựa chính mình” phải hiểu như thế nào? Chúng ta có cái gì mà nương tựa chính mình? Mọi người sẽ hiểu sai ở chỗ này vì đọc không hết câu, không hết bài kinh, bỏ qua câu quan trọng: Dùng Chánh pháp làm ngọn đèn, dùng Chánh pháp làm chỗ nương tựa, chớ nương tựa một gì khác. Vậy, Chánh pháp trong câu kinh là gì? Nếu không hiểu đúng được chữ Chánh pháp thì chúng ta hoàn toàn sẽ hiểu lệch lạc. Chỗ này trước nay mình học rất là qua loa, học phớt phớt, học mà không sát sao, chính xác, cẩn trọng, cho nên tu không chính xác, nên không thành tựu được chánh quả chánh giác.
Đức Phật hỏi:
Và này Ananda, thế nào là Tỷ-kheo tự mình là ngọn đèn cho chính mình, tự mình nương tựa chính mình, không nương tựa một điều gì khác, dùng Chánh pháp làm ngọn đèn, dùng Chánh pháp làm chỗ nương tựa, không nương tựa một gì khác?
Đức Phật tự trả lời:
Này Ananda, ở đây, Tỷ-kheo trú, quán thân trên thân, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm, nhiếp phục tham ưu ở đời; quán thọ trên các thọ... quán tâm trên tâm... quán pháp trên các pháp, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm, nhiếp phục tham ưu ở đời.
Này Ananda, những ai hiện nay hoặc sau khi Ta diệt độ, tự mình là ngọn đèn cho chính mình, tự mình nương tựa chính mình, không nương tựa một điều gì khác, dùng Chánh pháp làm ngọn đèn, dùng Chánh pháp làm chỗ nương tựa, không nương tựa vào một gì khác; những vị ấy, này Ananda, là những vị tối thượng trong hàng Tỷ-kheo của Ta, nếu những vị ấy tha thiết học hỏi.
Khi Đức Phật còn tại thế, hoặc sau khi Đức Phật diệt độ mà những vị Tỷ-kheo thực hành Tứ Niệm Xứ, thì những vị đó “là những vị tối thượng trong hàng Tỷ-kheo của Ta, nếu những vị ấy tha thiết học hỏi”. Như vậy Chánh pháp chính là Tứ Niệm Xứ. Từ chỗ này liên hệ đến lịch sử ba ngàn năm của Phật giáo, mới thấy tại sao khi đi qua các nước Phật giáo nguyên thủy là tất cả các trường thiền đều thực tập Tứ Niệm Xứ. Vì đó là Chánh pháp, đó là lõi, là điều Đức Phật nói ở trong bài kinh này, đây là bài kinh di chúc, di giáo, di huấn của Ngài.
Tứ Niệm Xứ tối thượng!
Như vậy, tất cả sự tu tập không đi ra ngoài Tứ Niệm Xứ, nếu đi ra ngoài Tứ Niệm Xứ là không còn Chánh pháp. Người tu cần nắm vững điều này, dù cho là pháp học nhưng mình phải nắm vững, nếu không, mình nói lung tung, lan man hết. Mười người lên giảng là mười người nói khác nhau hết, như vậy cuối cùng sẽ đi theo đâu và những người Phật tử nghe theo mình sẽ đi theo đâu nếu không biết Chánh pháp là gì! Chính mình ta là người xuất gia, chính mình ở trong các trường đào tạo giáo dục của Phật giáo, chính mình sau này sẽ làm giảng sư mà cũng không biết chính xác thế nào Chánh pháp thì Phật tử làm sao biết được!
Thế nên, phải ghi nhớ lời Đức Phật đã tuyên bố “những ai hiện nay hoặc sau khi Phật diệt độ mà thực hành Tứ Niệm Xứ thì những vị đó là những bậc tối thượng trong hàng Tỷ-kheo của Ngài”. Tại sao thực hành Tứ Niệm Xứ thì nói là tối thượng? Trong chương nói về Niệm Xứ, Đức Phật nói “Người nào đang thực hành Tứ Niệm Xứ mà chưa có cứu cánh thì đó gọi là bậc hữu học. Còn vị đã thực hành viên mãn Tứ Niệm Xứ đó là bậc Thánh vô học”. Nội dung trong Tứ Niệm Xứ là như thế nào? Tại làm sao pháp Tứ Niệm Xứ quan trọng như vậy? Tứ Niệm Xứ nói về cái gì? Cần phải hiểu được nguyên nhân tại sao và mục đích của nó. Gần ba chục năm nay Minh Thành học Tứ Niệm Xứ nhưng tới bây giờ vẫn chưa hiểu hết được, vì nếu hiểu được Tứ Niệm Xứ một cách trọn vẹn đã là A-la-hán; nếu nhìn chính xác thì tức là Tu-đà-hoàn. Vậy mà người tu bây giờ để Tứ Niệm Xứ qua một bên.
Này các Tỷ-kheo, đây là con đường độc nhất, đưa đến thanh tịnh cho chúng sanh, vượt khỏi sầu bi, diệt trừ khổ ưu, thành tựu chánh lý, chứng ngộ Niết bàn. Ðó là Bốn niệm xứ. (Trường Bộ Kinh, 22. Kinh Đại Niệm Xứ)
Nói đơn giản nhất, Tứ Niệm Xứ là nhìn lại, quán chiếu lại thân tâm của mình, không phải tu gì khác. Tu không phải để làm những thứ ở ngoài, không phải tổ chức này kia, không phải chỉ niệm bao nhiêu xâu, ngồi bao nhiêu tiếng, tụng bao nhiêu bộ là được. Tu không phải để tính sổ với người ta, để khoe cho người ta biết. Mà tu là để tìm hiểu chính mình, vì chúng ta hoàn toàn không hiểu gì về bản thân. Cho nên niệm xứ là để cho mình nhìn lại.
Trong bốn phần quán niệm này, Đức Phật luôn nói “Vị Tỷ-kheo sống quán thân trên thân; quán thọ trên các thọ; quán tâm trên tâm; quán pháp trên các pháp, nhiệt tâm, tinh cần, chánh niệm, tỉnh giác chế ngự tham ưu ở đời”. Câu này là điệp khúc, luôn luôn lúc nào Đức Thế Tôn cũng lặp lại. Ngày trước, khi Minh Thành chưa hiểu, đọc tạng kinh Nikāya thấy ngán lắm, vì cứ lặp tới, lặp lui, có khi nghĩ một mình là: “Bỏ qua bớt đi, tại sao cứ lặp lại hoài vậy.” Bây giờ Minh Thành mới thấy là mình phải dập đầu xuống để lạy việc lặp lại đó. Nếu không lặp lại như vậy thì bây giờ không còn Chánh pháp nữa. Bậc Chánh Đẳng Giác, Chánh Biến Tri, trí huệ cùng cực, thấy trước vấn đề như vậy, nếu không lặp tới lặp lui, nói đi nói lại cẩn kĩ như vậy thì bây giờ Chánh pháp đã không còn nữa. Hơn nữa, dù đã lặp lại như vậy mà bây giờ hỏi về Chánh pháp là dần dần người ta không biết rõ nữa. Trong kinh tạng tuy có nói rõ ràng về đạo lộ tu của Đức Phật nhưng chúng ta học một cách hời hợt, học qua loa, học cho có, cuối cùng, tu đúng theo Chánh pháp thật sự là điều rất khó.
“Chế ngự tham ưu ở đời” là như thế nào, tại sao phải chế ngự tham ưu? Những chữ quý giá nhất cần chú ý là “nhiệt tâm, tinh cần, chánh niệm, tỉnh giác”.
Vậy,“nhiệt tâm” là như thế nào? Tu không phải chuyện lơ tơ mơ hay tu xơ xơ cho có. Mà nhiệt tâm là một trái tim nóng bỏng trong sự tu tập, tâm tâm niệm niệm, giờ giờ ngày ngày, không quên để tâm, nhiệt tình, nóng bỏng, tha thiết, tâm huyết trong sự nghiệp tu hành, đó mới gọi là nhiệt tâm. Hiện trạng tu học bây giò rất đáng buồn. Ngay chính bản thân mình, khi nhìn lại tự thấy xấu hổ, nhục nhã. Hơn nữa, mỗi một ngày chúng ta nhìn lại được mình bao nhiêu lần, mình có sự nhiệt tâm, tinh cần trong sự tu tập được bao nhiêu? “Tinh cần” là chuyên cần ròng rặc, không có gì vào mới gọi là tinh cần. Sau đó, phải thấy được Tứ Niệm Xứ mới gọi là chánh niệm, tỉnh giác.
Bây giờ chữ “chánh niệm” mọi người thường giải thích không đúng theo lời Đức Phật trong kinh điển, vì nói đầy đủ và chính xác thì chánh niệm là Tứ Niệm Xứ, chánh định là Tứ thiền. Phần Bát Chánh Đạo trong kinh tạng Nikāya có nói, chánh niệm đầy đủ là phải đầy đủ Tứ Niệm Xứ chứ không phải chỉ có đi biết đi, ngồi biết ngồi. Vì đi biết đi, ngồi biết ngồi chỉ là một phần chánh niệm của oai nghi, hành động. Nếu chỉ đi biết đi, ngồi biết ngồi thì làm sao đốt được tham dục, sân hận, si mê và bản ngã; sao nhiếp phục được tham ưu? Tại sao phải chế ngự, nhiếp phục, đoạn tận tham ưu này? Tại sao mình không chấp trước bất cứ vật gì ở trên đời? Vì chính cái tham này là thủ phạm, là thống soái của tất cả khổ đau trên cuộc đời này. Chính cái tham đó cần phải chế ngự, nhiếp phục, nếu không chế ngự, nhiếp phục được thì cái khổ sẽ tiếp diễn. Hễ có tham là có ưu, có ham muốn thì phải có lo, lo để cho được, mà không được thì sẽ sầu, bi, khổ, ưu, não. Cho nên “nhiệt tâm, tinh cần, chánh niệm, tỉnh giác” là để chế ngự.
Trong Bát Chánh Đạo, Đức Phật giải thích chữ “tự chế” hay tuyệt vời! Bậc Thánh nhân là tự chế tất cả khẩu nghiệp, không nói lời ác; tự chế tất cả thân nghiệp, không làm việc ác; tự chế tất cả ý nghiệp, không nghĩ điều ác”. Tự chế là tự mình chế phục, chứ không phải người khác chế phục. Cho nên nói “Tự mình hãy nương tựa chính mình” là vậy. Sau khi hiểu Tứ Niệm Xứ thì chính mình phải nỗ lực để thực tập theo, như vậy mới gọi là tự mình nương tựa chính mình. Ngoài ra, nếu không biết Chánh pháp, không biết pháp hành thì nương cái gì của mình? Vì vậy phải nắm vững ý nghĩa của câu này: “Hãy tự mình là ngọn đèn cho chính mình, hãy tự mình nương tựa chính mình, chớ nương tựa một điều gì khác.” Tự mình là ngọn đèn cho chính mình là sau khi thấy được ngọn đèn Tứ Niệm Xứ thì mới lấy đó làm ngọn đèn, “dùng Chánh pháp làm ngọn đèn, dùng Chánh pháp làm chỗ nương tựa.” Ngược lại, sau khi đọc câu kinh này xong, không hiểu được ý nghĩa thật sự, mà nghĩ rằng“Tự tôi nương tựa tôi, tôi khỏi cần nương tựa ai hết”, xong bỏ thầy bổn sư đi lang thang, không cần học đạo, không y chỉ ai hết, muốn tự lập, như vậy là chết! Như vậy là nương tựa với vô minh, tham ái, ngã mạn, chấp thủ, không thấy được sự thành tựu trí năm uẩn, không thấy được sự thành tựu của Tứ Niệm Xứ, đồng nghĩa chưa có chỗ nương tựa.
Khi nào thành tựu Chánh tri kiến của bậc Tu-đà-hoàn thì lúc đó mới là chỗ nương tựa, lúc đó mới có ngọn đèn, lúc đó mới có thể tự nương tựa chính mình. Còn khi chưa thành tựu Chánh tri kiến thì phải tìm bậc Đạo sư, bậc Minh sư, bậc Thiện tri thức chỉ dẫn cho mình Chánh pháp. Đừng nghĩ rằng mở kinh Tứ Niệm Xứ ra đọc là thấy được Tứ Niệm Xứ. Nếu không có bậc thầy chỉ dẫn thì có khi đọc hoài mấy chục năm cũng không biết ý nghĩa thật sự. Hiểu được Tứ Niệm Xứ không phải việc dễ dàng. Nếu không có nền tảng tương đối về giới hạnh, thiền định và tuệ quán thì sẽ không hiểu được lời của Đức Phật, hoặc có hiểu cũng không hiểu chính xác. Cũng như một ông tiến sĩ thuyết trình trước công chúng, nếu người nghe chỉ học tiểu học, lớp ba, lớp bốn thì sao hiểu nổi. Huống hồ chi là một bậc Vô thượng Chánh Biến Tri, Chánh Đẳng Giác thì lời nói của Ngài thâm sâu, vi diệu đến dường nào. Còn bây giờ mình đọc phớt phớt qua, kiếm cái gì dễ mình làm, mấy cái khó để một bên thì sự nghiệp tu hành làm sao thành tựu. Nhìn lại cách mình tu học hiện tại này so với Tứ Niệm Xứ mình sẽ thấy khác biệt rất nhiều. Cho nên sắp tới, Minh Thành sẽ chia sẻ phần Đạo lộ, tuần tự tu tập của tạng kinh vì đường lối tu học theo đúng Chánh Pháp là cực kì quan trọng.
Tự nhìn lại pháp hành tu học của chúng ta có rất nhiều kiểu khác nhau, đều từ suy nghĩ của bản thân mỗi người, chia sẻ một hồi là “tôi nghĩ như vậy”, “tôi thấy như vậy”, mà đó là “tôi” thấy, mà “tôi” là chỉ là phàm phu! Cho nên, mọi người đưa ra những đường lối tu rất khác nhau, ngoài tu học, còn tổ chức nhiều chương trình, lễ hội khác nhau, dẫn đến bây giờ không có thấy tu nữa, mà giống như “náo nhiệt tùng lâm”, vì phải làm những chương trình vui mới thu hút quần chúng. Thậm chí không khéo, ngôi chùa giống như công ty vậy, show này chưa hết là tới show khác, show khác chưa kịp hết là tới chương trình khác, cuối cùng đi tu nhưng trở thành đi phục vụ cho Phật tử mà không biết. Như vậy, thời giờ đâu để độc cư thiền định? Thời giờ đâu để nhìn lại nội tâm của mình? Thời giờ đâu tự kiểm tra giới hạnh? Thời gian đâu an trú vào thiền định? Thời gian đâu để ngồi Chánh tư duy, quán chiếu thâm sâu về tứ đại, ngũ uẩn? Thay vì tu học thì suốt ngày lo chạy làm việc bên ngoài, đáng buồn hơn lại lấy sắc uẩn đó làm sự nghiệp tu học.
Trong khi đó, lẽ ra, đối với tất cả đạo tràng tu học, đây phải là chỗ người xuất gia trưởng thành trong tuệ giác, trưởng thành trong giới định tuệ. Tất cả các người xuất gia ít nhất phải có phẩm chất, đạo đức; ít nhất phải dễ thương, hiền lành, phẩm hạnh. Trong mỗi đạo trang phải có giờ thiền định, tuệ quán, có giờ chia sẻ Phật pháp giữa huynh đệ với nhau. Ba tháng một lần, hunh đệ ở chùa nên ngồi lại một lần để thầy trò, huynh đệ trà đạo, chia sẻ tu học, cùng nhìn lại xem giới hạnh có bị vấn đề gì không, khi thiền tâm được an không, trong phần mình thực tập trí huệ Tứ Niệm Xứ có trở ngại gì không? Thế nhưng hiếm khi chúng ta ngồi lại để đàm đạo những điều này, đây là điều thiếu sót, rất đáng buồn. Quý huynh đệ phải nắm thật vững những điều này để tự nhìn lại quá trình tu học của bản thân mình.
Ở đây là Minh Thành nói khái quát trước rồi chúng ta sẽ đi vào những chi tiết sâu sắc. Ví dụ về phần thực tập Mười sáu hơi thở, nếu chúng ta không thuộc được mười sáu hơi thì rất xấu hổ, thậm chí đừng nói chi mười sáu hơi, giờ hỏi sáu hơi thở, bảo đảm cũng có người không thuộc. Quốc tế đại sư – Thích Nhất Hạnh trưởng lão dùng mười sáu hơi thở này mà tóm thâu hoàn vũ, trở thành bậc đạo sư tâm linh của thế giới là nhờ khai thác mười sáu hơi thở này. “Thở đi, cười đi. Thở và cười” – bấy nhiêu đây là chỉ mới hưởng được một phần rất nhỏ trí tuệ của Đức Thế Tôn nhưng đã trở thành Đạo sư của Phật giáo thế giới. Còn chúng ta do không chịu khai thác, không thấy được nguồn của pháp, không thấy được kho tàng. Mà cứ đi tìm những thứ lặt vặt, nhỏ nhỏ, rồi hỏi Hòa thượng học ở đâu ra vậy? Trong khi những điều này học từ Tứ Niệm Xứ chứ không đâu khác nhưng chúng ta không biết trở về cái gốc để tự khai thác ra. Trong một bài chia sẻ, Hòa thượng tâm sự, khi gặp bản kinh này là thấy giống như tìm được kho báu. Quý huynh đệ thấy không, mới sử dụng chút xíu thôi nhưng đã có hiệu quả không ngờ. Cho nên, sự thực tập Mười sáu hơi thở này sẽ đem lại cho chúng ta những điều kì diệu vô cùng.
Hồi trước Minh Thành đi sâu vô tạng kinh Nikāya này, Có nhiều Phật tử từng hỏi tại sao đang ở thành phố, mà lại bỏ lên núi rừng gian khổ, khó khăn, am tranh, rắn rít, sâu bắn, lạnh buốt, mưa gió, bão bùng để ở. Những năm đầu Minh Thành lên, mười hai năm trước, dân ở dưới chân núi chạy lên phụ. Lúc bão ở trên đó, họ phải lấy những thanh sắt, buột dô bốn góc am tranh, lấy đá đè lên vì sợ gió làm “bay ông thầy” đi luôn. Mùa mưa bão, Minh Thành ngủ bị mưa dột, nước mưa nhiễu xuống tỏn tỏn trên nóc mùng. Phải lấy thau nhựa để hứng, mưa dột suốt sáng đêm. Ở trên núi thời gian đầu có rất nhiều thứ khó khổ nhưng Minh Thành vẫn cố gắng mà vượt qua để tu học. Tất cả là nhờ mình tìm được niềm vui, tìm được trí tuệ trong cả từng hơi thở khi thực hành pháp. Chỉ một hơi thở thôi nhưng hay cực kì.
Nhiều hôm, mỗi ngày Minh Thành có đến bốn buổi nói chuyện, Minh Thành nạp lại năng lượng bằng cách vào phòng đóng cửa lại thở chừng 5-10 phút là lại tiếp tục lên pháp tòa. Thậm chí khi đi qua Mĩ hoằng pháp, từ chỗ này đi tới chỗ tiếp theo là gần trăm cây số. Một ngày chủ nhật là phải giảng bốn hoặc năm thời pháp, mỗi chỗ vận chuyển là hàng trăm cây số. Minh Thành có bí kiếp võ công là nhắm mắt lại thở, sau khi nạp năng lượng xong là lên pháp tòa.
Thực tập hơi thở quá hay mà tại sao mình không sử dụng? Sử dụng để nạp năng lượng, sử dụng để làm cho thân tâm lắng dịu, làm cho hỷ lạc phát sanh, đưa vào trạng thái Sơ thiền. Chỉ cần để tâm, kiên trì, cố gắng thực tập là đưa được. Những lúc pháp hỷ, pháp lạc, thiền duyệt, tâm mình sẽ được yên tịnh. Phải tin tưởng bản thân thực hành là sẽ được, chứ đừng nói không tin. Mới tu mà nói “Không được thầy ơi”, là xong rồi, như vậy thì tu sao thành tựu. Cũng vậy, nếu suy nghĩ như thế thì đâu có người làm giàu, chuẩn bị đi làm ăn mà nói “Thôi, làm cái này sập tiệm à” thì ai dám làm.
Trong sự tu học này, nếu tín, tấn, niệm, định, tuệ mà không có đủ thì tu không tiến. Cái tín đầu tiên mà không có thì khó để có sự siêng năng, tinh tấn, tức là ngay từ đầu đã không có niềm tin thì không tiến lên được. Còn khi có niềm tin để cố gắng tu học tiến lên thì sẽ suy nghĩ về vấn đề đang tu học một cách chuyên chú thành định, trong yên định đó mình thấy rõ vấn đề, đó chính là tuệ. Năm căn cứ này phát huy thành năm sức mạnh, gọi là Ngũ Căn, từ Ngũ Căn phát sanh ra Ngũ Lực, từ cái căn mới có cái lực, căn không có lấy gì có lực. Một người nếu không có tín, khi được hướng dẫn ngồi thiền mà nói “Cái này khó lắm, ngồi không được đâu, tu không nổi đâu. Cái này hồi xưa, thời Đức Phật, giờ sao tu”, như vậy thì không thể tu được. Nhưng thật ra những suy nghĩ đó chỉ là ý hành, là tiếng nói của tham ái, của sự lười biếng, buông lung, phóng dật, không muốn mình tu, muốn ở với nó cho vui, muốn mình chơi với nó, không muốn mình đi ra khỏi và chinh phục nó.
Quý huynh đệ nhớ xem kỹ và thực tập phần Mười sáu hơi thở, đừng quên. Công năng của sự thực tập hơi thở tuyệt vời lắm thì tại sao mình không thực tập. Tất cả chúng ta rất tự hào khi có một vị thầy, bậc Đạo sư lãnh đạo tinh thần của Phật giáo thế giới bằng cách hướng dẫn phần Mười sáu hơi thở này. Mọi người đừng nghĩ tu là làm gì bên ngoài, trong khi cái tu thật sự là tại ngay nơi thân, ngay hơi thở, ngay bước chân, ngay những sinh hoạt thường nhật. Trước hết là thực tập Niệm Oai Nghi rồi mới Niệm Hành Động. Oai nghi là đi, đứng, ngồi, nằm; hành động là những oai nghi phụ: cúi, ngước, co, duỗi… Tất cả những động tác khác là oai nghi phụ, còn oai nghi chính là đi, đứng, ngồi, nằm, trong đó phải chánh niệm tỉnh giác. Thực tập điều này là dễ hay khó mà mọi người không chịu thực tập, bỏ qua luôn, rồi đòi những cái gọi là vô thượng bồ đề, tánh không, đại viên mãn…. Cứ tìm kiếm những gì ghê gớm, những từ nghe khủng khiếp, trong khi những cái đó chỉ là trừu tượng, lý thuyết, triết lí. Trong khi đó, hãy tự xem lại mình đi có vững chưa? Ngồi có ngay ngắn chưa? Nằm có ra dáng nằm của người tu không? Đi có ra dáng đi thanh thoát, thoát tục của người xuất gia không? Tự nhìn những điều đó trước đã, rồi sau đó giảng pháp sau. Cứ lên nói toàn là Tây phương cực lạc, Niết-bàn, nói toàn những điều siêu việt mà nhìn hình tướng của mình là người ta muốn chạy rồi.
Thử nhìn người ta đi học với Thiền sư Nhất Hạnh như thế nào? Cả một thành phố Paris, nguyên một khối Châu Âu cùng học cách đi thiền hành, đi một cách chánh niệm, đó là Niệm Oai Nghi trong Tứ Niệm Xứ, chỉ là phần đầu của Niệm Thân. Tại sao bây giờ mình không làm? Chúng ta có thể thực hành từ chỗ đậu xe, đi thiền hành qua lớp. Không cần đợi lên Chánh điện mới đi thiền hành, không phải đợi vào khóa tu mình mới thiền. Tại sao mình không thực tập từng chút trong lúc sinh hoạt mỗi ngày. Ngài Xá-lợi-phất phát tâm đi theo Đức Thế Tôn để sau này Ngài trở thành tướng quân của Chánh pháp chính là nhờ gặp được dáng đi của Ngài Mã Thắng. Và cách đi, đứng, nằm, ngồi này chỉ là một phần nhỏ Tứ Niệm Xứ. Khi nắm được từng phần nhỏ này, khi nghiên cứu sâu sắc hơn chúng ta sẽ thấy Tứ Niệm Xứ bao trùm toàn bộ hết tất cả pháp tu trong đạo Phật. Chính vì vậy, hãy cố gắng chiêm nghiệm, quán chiếu, nghiền ngẫm và thực hành theo kinh Tứ Niệm Xứ, chúng ta sẽ thấy được những điều tuyệt vời từ Chánh pháp của Đức Phật.
Những ai đang thực tập theo Tứ Niệm Xứ là bậc Thánh hữu học, thực tập viên mãn là bậc Thánh vô học, còn phàm phu không chịu thực hành cái này. Vì nếu không quen, chúng ta sẽ thấy rất bó buộc, đi cũng phải chỉnh lại, ngồi cũng phải để ý, nằm hay từng hơi thở cũng vậy. Nhưng chính những điều nãy sẽ đưa chúng ta vào sự thâu nhiếp, chế ngự, khuôn phép và chiến đấu được với những buông lung, phóng dật. Những thói quen khi bị bắt vào nề nếp thì nó không chịu, ngũ uẩn này muốn đi, đứng, nói chuyện được thoải mái, nên khi bị bắt vào ngồi thiền là lúc đó thấy khó chịu. Những hữu lậu không chịu yên tịnh, nó muốn phải hoạt động, phải nói, phải làm này nọ kia, bắt nó ngồi yên thì nó chịu không được. Chúng ta tu là để bắt những hữu lậu, lăng xăng không chịu ngồi yên cũng phải chịu, phải tìm cách nhiếp phục, chế ngự và cuối cùng từ từ chiến thắng nó. Chiến thắng được những cấu nhiễm này thì sáu căn sẽ được vắng lặng, tịch tịnh, thanh cao, được đào tạo trong trí huệ của Tứ Niệm Xứ. Phần Niệm thân này tuyệt vời lắm, không có một người thứ hai nào nói được những điều này.
./.
Thích Minh Thành
MỤC LỤC
TOC \o "1-3" \h \z \u I.Bài kinh “Bệnh” PAGEREF _Toc111105038 \h 1
1.Không tác ý đến tất cả tướng PAGEREF _Toc111105039 \h 1
2.Tu tập cảm thọ PAGEREF _Toc111105040 \h 3
3.Thế nào là “nương tựa chính mình” PAGEREF _Toc111105041 \h 5
II.Tứ Niệm Xứ tối thượng! PAGEREF _Toc111105042 \h 6
Bài kinh “Bệnh”
Chúng ta sẽ tìm hiểu và chiêm nghiệm thật kỹ bài kinh Bệnh, Tương Ưng Bộ Kinh – Tập V:
Này Ananda, chỉ trong khi Như Lai không tác ý đến tất cả tướng, với sự diệt trừ một số cảm thọ, chứng và an trú vô tướng tâm định, chính khi ấy, thân Như Lai được thoải mái.
Không tác ý đến tất cả tướng
Những câu này không phải cứ đọc qua và hiểu một cách hời hợt là được. Thế nào là “không tác ý đến tất cả tướng”? Đây là một trong những tầng thiền, nói đơn giản là: Sơ thiền, Nhị thiền, Tam thiền, Tứ thiền và Không vô biên, Thức vô biên, Vô sở hữu xứ, Phi tưởng phi phi tưởng xứ. “Vô sở hữu” là không có cái gì hết, lúc đó tâm mình tác ý, tất cả sắc tưởng không còn và hành cũng không còn. Khi đó tâm không có suy nghĩ và cũng không có những hình ảnh, tâm trú trong trạng thái không có tất cả tướng, gọi là Không vô biên xứ, Vô sở hữu xứ. Thực tập thiền mà trú được tâm vào trạng thái này là điều rất khó, không phải dễ. Vì khi ngồi lại là bao nhiêu hình bóng hiện lên, hoặc là rất nhiều những lời nói, suy nghĩ diễn ra bên trong tâm, điều này dẫn đến việc mình tu nhưng không vào được định này, tức là không đạt được trạng thái “không tác ý đến tất cả tướng”, không trú được vào Không vô biên xứ và Vô sở hữu xứ, không trú được vào trạng thái tâm trống rỗng, rỗng lặng.
Đây là chỗ mọi người thường hiểu nhầm. Ngay cả bài kệ xưng tán thường đọc tụng, chúng ta cứ tưởng đó là chuẩn tắc nhưng không phải vậy. Câu “Phật, chúng sanh tánh thường rỗng lặng”, trước giờ chúng ta tưởng chữ “rỗng lặng” đó là chân tâm, nhưng không phải. Chữ “rỗng lặng” đó nếu không đi qua Chánh tri kiến của Bát Chánh Đạo thì không phải, chỗ này quan trọng cần phải nhớ. Cái rỗng lặng, thanh tịnh đúng pháp là phải đi qua bảy chi phần của Bát Chánh Đạo thì Chánh định đó mới là Thánh Chánh định. Còn nếu ngồi chỉ đạt rỗng lặng như thông thường thì không phải Thánh Chánh định. Sự rỗng lặng thông thường là lâu lâu ngồi chúng ta thấy tâm rất yên, tưởng không khởi, tưởng được an tịnh, được tịnh chỉ và hành được tịnh chỉ. Tức là tất cả những hình bóng trong nội tâm không có và tất cả những suy nghĩ được yên lặng. Lúc đó mình có cảm giác khoái khoái, nhẹ nhàng, êm ái, đó gọi là thọ và có sự rõ biết điều đó, gọi là thức. Khi đó, nhiều người tưởng đâu đó là chân tâm nhưng không phải, vì thật ra lúc đó chỉ là tưởng và hành được tịnh chỉ, an tịnh.
Cách đây không lâu, khoảng chừng mười ngày, có một Phật tử từ ở bên nửa vòng trái đất trở về đây thăm viếng và cảm tạ Minh Thành sau khi hai vợ chồng của chú này học theo Thiền tông gần bốn chục năm. Hai vị này có những lúc ngồi thiền đến chỗ không có tất cả những hình bóng, không có tất cả những lời nói, đạt được trạng thái yên tịnh, hai vị này tưởng đâu đó là chân tâm. Đại đa số những ai học thiền, người ta cũng tưởng như vậy là chân tâm. Khi hai vị này nghe bài kinh Minh Thành giảng là Kinh giới phân biệt và Chiến thuật tâm linh của Đức Phật thì hai vị này từ nửa vòng trái đất bay về đây, rất là xúc động và cảm ơn rất chân thành.
Trước đây, chính bản thân Minh Thành cũng tưởng đâu trạng thái đó là chân tâm, nhưng không phải, mà đó là không tác ý đến tất cả tướng, là Không vô biên xứ và Vô sở hữu xứ. Cho nên lâu lâu ngồi thiền, có khi mình sẽ thấy tất cả vọng niệm lắng lặng hết, không có một ý tưởng nào hết, hoàn toàn yên tịnh thì đó chỉ là tưởng và hành tịnh chỉ – chỉ là dừng lại, tịnh là yên. Nhưng lúc đó thọ vẫn còn, cho nên mình có cảm giác khoái khoái, lạc thọ, thấy trạng thái này đã đã, thích thích, yên yên, tịnh tịnh, đó là lạc thọ và có ái trong đó. Sau đó, mình thích và muốn kéo dài trạng thái này ra, nhưng khi muốn kéo dài thì lúc đó nó mất.
Nhân lúc học ngay chỗ này, Minh Thành nói rõ ra để huynh đệ nắm vững chỗ quan trọng này. Huynh đệ đừng tưởng đâu thiền là ngồi lại tĩnh lặng không ngay chỗ đó là đúng nhưng thật sự không phải như vậy. Vì khi chưa thành tựu trí năm uẩn thì mình chưa thấy rõ được từng uẩn, từng uẩn như thế nào và không nhận diện được từng uẩn. Thế nên sắp tới đây, Minh Thành sẽ giới thiệu một đạo lộ tuần tự tu tập, khi huynh đệ nắm vững được thì khi ngồi thiền, hay trong những lúc phiền não khởi lên, hoặc những lúc sinh hoạt bình thường, chúng ta sẽ đều thấy được năm uẩn vận hành như thế nào.
Như vậy, chỗ “không tác ý đến tất cả tướng” là chỗ chúng ta có thể tu tập được và có thể trú trong định này nếu để tâm thực tập. Có những lúc mình mệt hay buồn thì lúc đó quý huynh đệ thực tập xả hết tất cả, trú vào chỗ không có tất cả hình tướng để tâm rỗng lặng. Thậm chí nếu tu sâu sắc, mình có thể tách tâm ra khỏi thọ. Ngay lúc mình có cảm thọ bực bội, khó chịu, bứt rứt thì ngồi nhiếp tâm lại, tách cảm thọ đó ra, không trú trong cảm thọ đó nữa. Mình không đi theo cảm giác, không trú trong cảm giác đó, tách tâm mình ra. Mình nói “Cảm giác này được cái gì. Cảm giác này làm khổ mình, khổ người, làm cho mình mệt mỏi, bực bội, làm cho mình nóng bức, nhiệt não chứ đâu có đưa đến cái gì đâu. Tại sao mình phải trú vô cảm giác này?” Từ bỏ nó, trở về hơi thở, làm cho phát sanh hỷ lạc, lúc đó mình khởi hỷ vô lượng tâm, thì mình bỏ được cảm giác của sân, cảm giác của bực, mình tách ra, đưa qua cảm giác của hỷ, của lạc.
Khi tâm được tu tập tương đối thuần thục thì mình muốn mở là mở, muốn tắt là tắt, muốn đưa qua trạng thái nào là sẽ qua trạng thái đó. Chẳng hạn như bốn tâm vô lượng, muốn trú vào tâm nào là sẽ trú vào tâm đó. Hay là bốn tầng thiền, muốn trú vào tâm nào là vào tâm đó. Đó là tâm được tu tập thuần thục. Nhưng nếu bị ngũ triền cái nặng nề thì mình muốn vào nhưng không vào được, ví dụ như Sơ thiền là không vô được nếu năm triền cái còn, nếu nó còn mãnh liệt là không vô được. Còn có những người biết, khéo vận dụng tâm thì ngay trong lớp học này, ngay lúc ngồi nghe pháp thì người đó có thể trú được Sơ thiền. Tức là ngay lúc nghe mà tách tâm ra khỏi năm triền cái: không có tham, không có sân, không có hôn trầm, không có bị trạo cử, không có bị hoài nghi; tâm chuyên chú ở trong pháp, sanh ra hỷ lạc, ra khỏi năm triền cái. Ngài Ananda thường thường nghe pháp trong trạng thái này, cho nên Ngài ghi nhớ hết. Còn mình nghe nhưng trong đó có nghi, có tham, có sân, có hôn trầm, có trạo cử, cho nên lúc đó tâm không được trong sáng, chính vì vậy, nghe xong đứng lên một lúc là quên hết, hoặc nhớ được rất là ít. Tại tâm mình lúc đó bị vẩn đục, bị cấu bẩn, bị cấu uế, bị cấu nhiễm. Còn một cái tâm trong sáng, không bị chi phối bởi năm triền cái nên chứa đựng được hết tất cả pháp. Đây là chỗ có thể thực tập được, ai thực tập nhiệt tâm là sẽ thành tựu.
Tu tập cảm thọ
Diệt trừ một số cảm thọ là vấn đề rất sâu sắc. Nếu không biết thọ là cái gì, không biết mấy loại thọ, không có phương pháp nhiếp phục, chuyển hóa thì không thể tách khỏi và diệt trừ được.
Ví dụ, khi ngồi thiền, lúc đó trời đang nóng, nếu chỉ chú ý vào cảm giác nóng nực, mồ hôi đổ là lát sau tâm sẽ dao động. Thay vào đó, khi có cảm giác khó chịu thì đừng để tâm đến cảm giác đó, mà hãy quay trở về đề mục của mình. Khi chú tâm vào đề mục thì tự nhiên cảm giác nóng nực, khó chịu sẽ được lắng dịu. Còn cứ đi theo cảm giác đó thì lát sau sẽ bung chân ra, không ngồi được nữa.
Cho nên, tu tập để tách ra khỏi cảm giác là pháp tu rất quan trọng. Phải có tu tập mới biết tách ra khỏi cảm giác, nếu không, đại đa số chúng ta sẽ bị vòng xoáy của cảm giác nhận chìm, lúc đó giống như lạc vào đào hoa đảo, dính vào mê hồn trận, gặp phải bát quái trận, vào đó là lòng vòng, không biết đường ra khỏi cảm giác. Chẳng hạn như người không biết tu tập, sân lên một cái là đi ra không được, hoặc dục tham là đi ra không được. Đừng nói chi tới cái si, nó là một trạng thái triền miên, nếu không biết là không nhận ra được.
Cảm thọ si là chỗ hết sức vi tế mà chúng ta dễ nhiều lắm. Bình thường khi ở ngoài mình đi làm này, làm nọ, nói chuyện, vận động đủ thứ, tới chừng vào ngồi thiền là phải ngồi yên, sau đó lại nhắm mắt, thở vào, thở ra một hồi là tự ru ngủ mình, nói là ngồi thiền nhưng thật sự là đi ngủ. Tại vì ở ngoài mệt, dao động, tới chừng ngồi thiền thở vào, thở ra, nhắm mắt lại, được yên tịnh, bắt đầu tâm thấy đã đã, thích thích, nên tự đưa mình vào cảm giác đó, giống như ru ngủ và từ từ đi vào hôn trầm. Người như vậy là hoàn toàn không có tu tập tâm. Vì khi lên ngồi trên bồ đoàn thì mình là chiến sĩ xung trận, xáp lá cà, đối mặt với các thứ phiền não để nhiếp phục, chuyển hóa, diệt tận nó. Còn lên ngồi thiền, mà thở đều đều, nhắm mắt ngủ thì mình sẽ bị hôn trầm – một trong năm triền cái, khi đó là mình nhập chung với giặc, không phân biệt được mình là mình, giặc là giặc. Khi đó, mình rơi vào cảm giác si, không nhận rõ các pháp đang diễn ra trong thân và tâm ngay trong giây phút đó, như vậy chính là vô minh, si mê.
Trước giờ chúng ta ngồi thiền thường rơi vào trạng thái này, nói là thiền chứ không phải, mà thực chất là ru ngủ và tìm cảm giác êm ái. Ngày nào ngồi ít hôn trầm, hoặc ít vọng tưởng một chút là “Trời, mừng, bữa nay ưng quá, đã quá, khoái quá”. Đánh kẻng xả thiền nhưng không muốn xả, muốn ngồi yên luôn, vì thấy đã. Nhưng thật ra là không biết, mình đang bị cảm thọ, cảm giác chi phối. Tuy nhiên, ngồi được như vậy cũng là có tiến bộ nhưng sự tiến bộ sâu sắc của Phật giáo không phải ở trong cảm giác, mà thấy được cảm giác là vô thường mới là trí huệ, là thấy được mình đang bị dính mắc trong cảm giác.
Thế nào là “nương tựa chính mình”
Vậy này Ananda, hãy tự mình là ngọn đèn cho chính mình, hãy tự mình nương tựa chính mình, chớ nương tựa một điều gì khác. Dùng Chánh pháp làm ngọn đèn, dùng Chánh pháp làm chỗ nương tựa, chớ nương tựa một gì khác. (Tương Ưng Bộ Kinh - Tập V. Thiên Đại Phẩm, Chương III. Tương Ưng Niệm Xứ, I. Phẩm Ambapàli, bài kinh Bệnh)
Câu này có nhiều người thuộc, có nhiều người đã từng nghe và có những người nhớ. Nhưng có thể rằng rất ít người hiểu được chính xác nghĩa lí của câu này, đại đa số là hiểu không chính xác. Chính lúc trước Minh Thành cũng hiểu không chính xác. Đại đa số người ta chỉ lấy câu “Hãy tự mình là ngọn đèn cho chính mình, hãy tự mình nương tựa chính mình, chớ nương tựa một điều gì khác.” Câu “tự mình nương tựa chính mình” phải hiểu như thế nào? Chúng ta có cái gì mà nương tựa chính mình? Mọi người sẽ hiểu sai ở chỗ này vì đọc không hết câu, không hết bài kinh, bỏ qua câu quan trọng: Dùng Chánh pháp làm ngọn đèn, dùng Chánh pháp làm chỗ nương tựa, chớ nương tựa một gì khác. Vậy, Chánh pháp trong câu kinh là gì? Nếu không hiểu đúng được chữ Chánh pháp thì chúng ta hoàn toàn sẽ hiểu lệch lạc. Chỗ này trước nay mình học rất là qua loa, học phớt phớt, học mà không sát sao, chính xác, cẩn trọng, cho nên tu không chính xác, nên không thành tựu được chánh quả chánh giác.
Đức Phật hỏi:
Và này Ananda, thế nào là Tỷ-kheo tự mình là ngọn đèn cho chính mình, tự mình nương tựa chính mình, không nương tựa một điều gì khác, dùng Chánh pháp làm ngọn đèn, dùng Chánh pháp làm chỗ nương tựa, không nương tựa một gì khác?
Đức Phật tự trả lời:
Này Ananda, ở đây, Tỷ-kheo trú, quán thân trên thân, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm, nhiếp phục tham ưu ở đời; quán thọ trên các thọ... quán tâm trên tâm... quán pháp trên các pháp, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm, nhiếp phục tham ưu ở đời.
Này Ananda, những ai hiện nay hoặc sau khi Ta diệt độ, tự mình là ngọn đèn cho chính mình, tự mình nương tựa chính mình, không nương tựa một điều gì khác, dùng Chánh pháp làm ngọn đèn, dùng Chánh pháp làm chỗ nương tựa, không nương tựa vào một gì khác; những vị ấy, này Ananda, là những vị tối thượng trong hàng Tỷ-kheo của Ta, nếu những vị ấy tha thiết học hỏi.
Khi Đức Phật còn tại thế, hoặc sau khi Đức Phật diệt độ mà những vị Tỷ-kheo thực hành Tứ Niệm Xứ, thì những vị đó “là những vị tối thượng trong hàng Tỷ-kheo của Ta, nếu những vị ấy tha thiết học hỏi”. Như vậy Chánh pháp chính là Tứ Niệm Xứ. Từ chỗ này liên hệ đến lịch sử ba ngàn năm của Phật giáo, mới thấy tại sao khi đi qua các nước Phật giáo nguyên thủy là tất cả các trường thiền đều thực tập Tứ Niệm Xứ. Vì đó là Chánh pháp, đó là lõi, là điều Đức Phật nói ở trong bài kinh này, đây là bài kinh di chúc, di giáo, di huấn của Ngài.
Tứ Niệm Xứ tối thượng!
Như vậy, tất cả sự tu tập không đi ra ngoài Tứ Niệm Xứ, nếu đi ra ngoài Tứ Niệm Xứ là không còn Chánh pháp. Người tu cần nắm vững điều này, dù cho là pháp học nhưng mình phải nắm vững, nếu không, mình nói lung tung, lan man hết. Mười người lên giảng là mười người nói khác nhau hết, như vậy cuối cùng sẽ đi theo đâu và những người Phật tử nghe theo mình sẽ đi theo đâu nếu không biết Chánh pháp là gì! Chính mình ta là người xuất gia, chính mình ở trong các trường đào tạo giáo dục của Phật giáo, chính mình sau này sẽ làm giảng sư mà cũng không biết chính xác thế nào Chánh pháp thì Phật tử làm sao biết được!
Thế nên, phải ghi nhớ lời Đức Phật đã tuyên bố “những ai hiện nay hoặc sau khi Phật diệt độ mà thực hành Tứ Niệm Xứ thì những vị đó là những bậc tối thượng trong hàng Tỷ-kheo của Ngài”. Tại sao thực hành Tứ Niệm Xứ thì nói là tối thượng? Trong chương nói về Niệm Xứ, Đức Phật nói “Người nào đang thực hành Tứ Niệm Xứ mà chưa có cứu cánh thì đó gọi là bậc hữu học. Còn vị đã thực hành viên mãn Tứ Niệm Xứ đó là bậc Thánh vô học”. Nội dung trong Tứ Niệm Xứ là như thế nào? Tại làm sao pháp Tứ Niệm Xứ quan trọng như vậy? Tứ Niệm Xứ nói về cái gì? Cần phải hiểu được nguyên nhân tại sao và mục đích của nó. Gần ba chục năm nay Minh Thành học Tứ Niệm Xứ nhưng tới bây giờ vẫn chưa hiểu hết được, vì nếu hiểu được Tứ Niệm Xứ một cách trọn vẹn đã là A-la-hán; nếu nhìn chính xác thì tức là Tu-đà-hoàn. Vậy mà người tu bây giờ để Tứ Niệm Xứ qua một bên.
Này các Tỷ-kheo, đây là con đường độc nhất, đưa đến thanh tịnh cho chúng sanh, vượt khỏi sầu bi, diệt trừ khổ ưu, thành tựu chánh lý, chứng ngộ Niết bàn. Ðó là Bốn niệm xứ. (Trường Bộ Kinh, 22. Kinh Đại Niệm Xứ)
Nói đơn giản nhất, Tứ Niệm Xứ là nhìn lại, quán chiếu lại thân tâm của mình, không phải tu gì khác. Tu không phải để làm những thứ ở ngoài, không phải tổ chức này kia, không phải chỉ niệm bao nhiêu xâu, ngồi bao nhiêu tiếng, tụng bao nhiêu bộ là được. Tu không phải để tính sổ với người ta, để khoe cho người ta biết. Mà tu là để tìm hiểu chính mình, vì chúng ta hoàn toàn không hiểu gì về bản thân. Cho nên niệm xứ là để cho mình nhìn lại.
Trong bốn phần quán niệm này, Đức Phật luôn nói “Vị Tỷ-kheo sống quán thân trên thân; quán thọ trên các thọ; quán tâm trên tâm; quán pháp trên các pháp, nhiệt tâm, tinh cần, chánh niệm, tỉnh giác chế ngự tham ưu ở đời”. Câu này là điệp khúc, luôn luôn lúc nào Đức Thế Tôn cũng lặp lại. Ngày trước, khi Minh Thành chưa hiểu, đọc tạng kinh Nikāya thấy ngán lắm, vì cứ lặp tới, lặp lui, có khi nghĩ một mình là: “Bỏ qua bớt đi, tại sao cứ lặp lại hoài vậy.” Bây giờ Minh Thành mới thấy là mình phải dập đầu xuống để lạy việc lặp lại đó. Nếu không lặp lại như vậy thì bây giờ không còn Chánh pháp nữa. Bậc Chánh Đẳng Giác, Chánh Biến Tri, trí huệ cùng cực, thấy trước vấn đề như vậy, nếu không lặp tới lặp lui, nói đi nói lại cẩn kĩ như vậy thì bây giờ Chánh pháp đã không còn nữa. Hơn nữa, dù đã lặp lại như vậy mà bây giờ hỏi về Chánh pháp là dần dần người ta không biết rõ nữa. Trong kinh tạng tuy có nói rõ ràng về đạo lộ tu của Đức Phật nhưng chúng ta học một cách hời hợt, học qua loa, học cho có, cuối cùng, tu đúng theo Chánh pháp thật sự là điều rất khó.
“Chế ngự tham ưu ở đời” là như thế nào, tại sao phải chế ngự tham ưu? Những chữ quý giá nhất cần chú ý là “nhiệt tâm, tinh cần, chánh niệm, tỉnh giác”.
Vậy,“nhiệt tâm” là như thế nào? Tu không phải chuyện lơ tơ mơ hay tu xơ xơ cho có. Mà nhiệt tâm là một trái tim nóng bỏng trong sự tu tập, tâm tâm niệm niệm, giờ giờ ngày ngày, không quên để tâm, nhiệt tình, nóng bỏng, tha thiết, tâm huyết trong sự nghiệp tu hành, đó mới gọi là nhiệt tâm. Hiện trạng tu học bây giò rất đáng buồn. Ngay chính bản thân mình, khi nhìn lại tự thấy xấu hổ, nhục nhã. Hơn nữa, mỗi một ngày chúng ta nhìn lại được mình bao nhiêu lần, mình có sự nhiệt tâm, tinh cần trong sự tu tập được bao nhiêu? “Tinh cần” là chuyên cần ròng rặc, không có gì vào mới gọi là tinh cần. Sau đó, phải thấy được Tứ Niệm Xứ mới gọi là chánh niệm, tỉnh giác.
Bây giờ chữ “chánh niệm” mọi người thường giải thích không đúng theo lời Đức Phật trong kinh điển, vì nói đầy đủ và chính xác thì chánh niệm là Tứ Niệm Xứ, chánh định là Tứ thiền. Phần Bát Chánh Đạo trong kinh tạng Nikāya có nói, chánh niệm đầy đủ là phải đầy đủ Tứ Niệm Xứ chứ không phải chỉ có đi biết đi, ngồi biết ngồi. Vì đi biết đi, ngồi biết ngồi chỉ là một phần chánh niệm của oai nghi, hành động. Nếu chỉ đi biết đi, ngồi biết ngồi thì làm sao đốt được tham dục, sân hận, si mê và bản ngã; sao nhiếp phục được tham ưu? Tại sao phải chế ngự, nhiếp phục, đoạn tận tham ưu này? Tại sao mình không chấp trước bất cứ vật gì ở trên đời? Vì chính cái tham này là thủ phạm, là thống soái của tất cả khổ đau trên cuộc đời này. Chính cái tham đó cần phải chế ngự, nhiếp phục, nếu không chế ngự, nhiếp phục được thì cái khổ sẽ tiếp diễn. Hễ có tham là có ưu, có ham muốn thì phải có lo, lo để cho được, mà không được thì sẽ sầu, bi, khổ, ưu, não. Cho nên “nhiệt tâm, tinh cần, chánh niệm, tỉnh giác” là để chế ngự.
Trong Bát Chánh Đạo, Đức Phật giải thích chữ “tự chế” hay tuyệt vời! Bậc Thánh nhân là tự chế tất cả khẩu nghiệp, không nói lời ác; tự chế tất cả thân nghiệp, không làm việc ác; tự chế tất cả ý nghiệp, không nghĩ điều ác”. Tự chế là tự mình chế phục, chứ không phải người khác chế phục. Cho nên nói “Tự mình hãy nương tựa chính mình” là vậy. Sau khi hiểu Tứ Niệm Xứ thì chính mình phải nỗ lực để thực tập theo, như vậy mới gọi là tự mình nương tựa chính mình. Ngoài ra, nếu không biết Chánh pháp, không biết pháp hành thì nương cái gì của mình? Vì vậy phải nắm vững ý nghĩa của câu này: “Hãy tự mình là ngọn đèn cho chính mình, hãy tự mình nương tựa chính mình, chớ nương tựa một điều gì khác.” Tự mình là ngọn đèn cho chính mình là sau khi thấy được ngọn đèn Tứ Niệm Xứ thì mới lấy đó làm ngọn đèn, “dùng Chánh pháp làm ngọn đèn, dùng Chánh pháp làm chỗ nương tựa.” Ngược lại, sau khi đọc câu kinh này xong, không hiểu được ý nghĩa thật sự, mà nghĩ rằng“Tự tôi nương tựa tôi, tôi khỏi cần nương tựa ai hết”, xong bỏ thầy bổn sư đi lang thang, không cần học đạo, không y chỉ ai hết, muốn tự lập, như vậy là chết! Như vậy là nương tựa với vô minh, tham ái, ngã mạn, chấp thủ, không thấy được sự thành tựu trí năm uẩn, không thấy được sự thành tựu của Tứ Niệm Xứ, đồng nghĩa chưa có chỗ nương tựa.
Khi nào thành tựu Chánh tri kiến của bậc Tu-đà-hoàn thì lúc đó mới là chỗ nương tựa, lúc đó mới có ngọn đèn, lúc đó mới có thể tự nương tựa chính mình. Còn khi chưa thành tựu Chánh tri kiến thì phải tìm bậc Đạo sư, bậc Minh sư, bậc Thiện tri thức chỉ dẫn cho mình Chánh pháp. Đừng nghĩ rằng mở kinh Tứ Niệm Xứ ra đọc là thấy được Tứ Niệm Xứ. Nếu không có bậc thầy chỉ dẫn thì có khi đọc hoài mấy chục năm cũng không biết ý nghĩa thật sự. Hiểu được Tứ Niệm Xứ không phải việc dễ dàng. Nếu không có nền tảng tương đối về giới hạnh, thiền định và tuệ quán thì sẽ không hiểu được lời của Đức Phật, hoặc có hiểu cũng không hiểu chính xác. Cũng như một ông tiến sĩ thuyết trình trước công chúng, nếu người nghe chỉ học tiểu học, lớp ba, lớp bốn thì sao hiểu nổi. Huống hồ chi là một bậc Vô thượng Chánh Biến Tri, Chánh Đẳng Giác thì lời nói của Ngài thâm sâu, vi diệu đến dường nào. Còn bây giờ mình đọc phớt phớt qua, kiếm cái gì dễ mình làm, mấy cái khó để một bên thì sự nghiệp tu hành làm sao thành tựu. Nhìn lại cách mình tu học hiện tại này so với Tứ Niệm Xứ mình sẽ thấy khác biệt rất nhiều. Cho nên sắp tới, Minh Thành sẽ chia sẻ phần Đạo lộ, tuần tự tu tập của tạng kinh vì đường lối tu học theo đúng Chánh Pháp là cực kì quan trọng.
Tự nhìn lại pháp hành tu học của chúng ta có rất nhiều kiểu khác nhau, đều từ suy nghĩ của bản thân mỗi người, chia sẻ một hồi là “tôi nghĩ như vậy”, “tôi thấy như vậy”, mà đó là “tôi” thấy, mà “tôi” là chỉ là phàm phu! Cho nên, mọi người đưa ra những đường lối tu rất khác nhau, ngoài tu học, còn tổ chức nhiều chương trình, lễ hội khác nhau, dẫn đến bây giờ không có thấy tu nữa, mà giống như “náo nhiệt tùng lâm”, vì phải làm những chương trình vui mới thu hút quần chúng. Thậm chí không khéo, ngôi chùa giống như công ty vậy, show này chưa hết là tới show khác, show khác chưa kịp hết là tới chương trình khác, cuối cùng đi tu nhưng trở thành đi phục vụ cho Phật tử mà không biết. Như vậy, thời giờ đâu để độc cư thiền định? Thời giờ đâu để nhìn lại nội tâm của mình? Thời giờ đâu tự kiểm tra giới hạnh? Thời gian đâu an trú vào thiền định? Thời gian đâu để ngồi Chánh tư duy, quán chiếu thâm sâu về tứ đại, ngũ uẩn? Thay vì tu học thì suốt ngày lo chạy làm việc bên ngoài, đáng buồn hơn lại lấy sắc uẩn đó làm sự nghiệp tu học.
Trong khi đó, lẽ ra, đối với tất cả đạo tràng tu học, đây phải là chỗ người xuất gia trưởng thành trong tuệ giác, trưởng thành trong giới định tuệ. Tất cả các người xuất gia ít nhất phải có phẩm chất, đạo đức; ít nhất phải dễ thương, hiền lành, phẩm hạnh. Trong mỗi đạo trang phải có giờ thiền định, tuệ quán, có giờ chia sẻ Phật pháp giữa huynh đệ với nhau. Ba tháng một lần, hunh đệ ở chùa nên ngồi lại một lần để thầy trò, huynh đệ trà đạo, chia sẻ tu học, cùng nhìn lại xem giới hạnh có bị vấn đề gì không, khi thiền tâm được an không, trong phần mình thực tập trí huệ Tứ Niệm Xứ có trở ngại gì không? Thế nhưng hiếm khi chúng ta ngồi lại để đàm đạo những điều này, đây là điều thiếu sót, rất đáng buồn. Quý huynh đệ phải nắm thật vững những điều này để tự nhìn lại quá trình tu học của bản thân mình.
Ở đây là Minh Thành nói khái quát trước rồi chúng ta sẽ đi vào những chi tiết sâu sắc. Ví dụ về phần thực tập Mười sáu hơi thở, nếu chúng ta không thuộc được mười sáu hơi thì rất xấu hổ, thậm chí đừng nói chi mười sáu hơi, giờ hỏi sáu hơi thở, bảo đảm cũng có người không thuộc. Quốc tế đại sư – Thích Nhất Hạnh trưởng lão dùng mười sáu hơi thở này mà tóm thâu hoàn vũ, trở thành bậc đạo sư tâm linh của thế giới là nhờ khai thác mười sáu hơi thở này. “Thở đi, cười đi. Thở và cười” – bấy nhiêu đây là chỉ mới hưởng được một phần rất nhỏ trí tuệ của Đức Thế Tôn nhưng đã trở thành Đạo sư của Phật giáo thế giới. Còn chúng ta do không chịu khai thác, không thấy được nguồn của pháp, không thấy được kho tàng. Mà cứ đi tìm những thứ lặt vặt, nhỏ nhỏ, rồi hỏi Hòa thượng học ở đâu ra vậy? Trong khi những điều này học từ Tứ Niệm Xứ chứ không đâu khác nhưng chúng ta không biết trở về cái gốc để tự khai thác ra. Trong một bài chia sẻ, Hòa thượng tâm sự, khi gặp bản kinh này là thấy giống như tìm được kho báu. Quý huynh đệ thấy không, mới sử dụng chút xíu thôi nhưng đã có hiệu quả không ngờ. Cho nên, sự thực tập Mười sáu hơi thở này sẽ đem lại cho chúng ta những điều kì diệu vô cùng.
Hồi trước Minh Thành đi sâu vô tạng kinh Nikāya này, Có nhiều Phật tử từng hỏi tại sao đang ở thành phố, mà lại bỏ lên núi rừng gian khổ, khó khăn, am tranh, rắn rít, sâu bắn, lạnh buốt, mưa gió, bão bùng để ở. Những năm đầu Minh Thành lên, mười hai năm trước, dân ở dưới chân núi chạy lên phụ. Lúc bão ở trên đó, họ phải lấy những thanh sắt, buột dô bốn góc am tranh, lấy đá đè lên vì sợ gió làm “bay ông thầy” đi luôn. Mùa mưa bão, Minh Thành ngủ bị mưa dột, nước mưa nhiễu xuống tỏn tỏn trên nóc mùng. Phải lấy thau nhựa để hứng, mưa dột suốt sáng đêm. Ở trên núi thời gian đầu có rất nhiều thứ khó khổ nhưng Minh Thành vẫn cố gắng mà vượt qua để tu học. Tất cả là nhờ mình tìm được niềm vui, tìm được trí tuệ trong cả từng hơi thở khi thực hành pháp. Chỉ một hơi thở thôi nhưng hay cực kì.
Nhiều hôm, mỗi ngày Minh Thành có đến bốn buổi nói chuyện, Minh Thành nạp lại năng lượng bằng cách vào phòng đóng cửa lại thở chừng 5-10 phút là lại tiếp tục lên pháp tòa. Thậm chí khi đi qua Mĩ hoằng pháp, từ chỗ này đi tới chỗ tiếp theo là gần trăm cây số. Một ngày chủ nhật là phải giảng bốn hoặc năm thời pháp, mỗi chỗ vận chuyển là hàng trăm cây số. Minh Thành có bí kiếp võ công là nhắm mắt lại thở, sau khi nạp năng lượng xong là lên pháp tòa.
Thực tập hơi thở quá hay mà tại sao mình không sử dụng? Sử dụng để nạp năng lượng, sử dụng để làm cho thân tâm lắng dịu, làm cho hỷ lạc phát sanh, đưa vào trạng thái Sơ thiền. Chỉ cần để tâm, kiên trì, cố gắng thực tập là đưa được. Những lúc pháp hỷ, pháp lạc, thiền duyệt, tâm mình sẽ được yên tịnh. Phải tin tưởng bản thân thực hành là sẽ được, chứ đừng nói không tin. Mới tu mà nói “Không được thầy ơi”, là xong rồi, như vậy thì tu sao thành tựu. Cũng vậy, nếu suy nghĩ như thế thì đâu có người làm giàu, chuẩn bị đi làm ăn mà nói “Thôi, làm cái này sập tiệm à” thì ai dám làm.
Trong sự tu học này, nếu tín, tấn, niệm, định, tuệ mà không có đủ thì tu không tiến. Cái tín đầu tiên mà không có thì khó để có sự siêng năng, tinh tấn, tức là ngay từ đầu đã không có niềm tin thì không tiến lên được. Còn khi có niềm tin để cố gắng tu học tiến lên thì sẽ suy nghĩ về vấn đề đang tu học một cách chuyên chú thành định, trong yên định đó mình thấy rõ vấn đề, đó chính là tuệ. Năm căn cứ này phát huy thành năm sức mạnh, gọi là Ngũ Căn, từ Ngũ Căn phát sanh ra Ngũ Lực, từ cái căn mới có cái lực, căn không có lấy gì có lực. Một người nếu không có tín, khi được hướng dẫn ngồi thiền mà nói “Cái này khó lắm, ngồi không được đâu, tu không nổi đâu. Cái này hồi xưa, thời Đức Phật, giờ sao tu”, như vậy thì không thể tu được. Nhưng thật ra những suy nghĩ đó chỉ là ý hành, là tiếng nói của tham ái, của sự lười biếng, buông lung, phóng dật, không muốn mình tu, muốn ở với nó cho vui, muốn mình chơi với nó, không muốn mình đi ra khỏi và chinh phục nó.
Quý huynh đệ nhớ xem kỹ và thực tập phần Mười sáu hơi thở, đừng quên. Công năng của sự thực tập hơi thở tuyệt vời lắm thì tại sao mình không thực tập. Tất cả chúng ta rất tự hào khi có một vị thầy, bậc Đạo sư lãnh đạo tinh thần của Phật giáo thế giới bằng cách hướng dẫn phần Mười sáu hơi thở này. Mọi người đừng nghĩ tu là làm gì bên ngoài, trong khi cái tu thật sự là tại ngay nơi thân, ngay hơi thở, ngay bước chân, ngay những sinh hoạt thường nhật. Trước hết là thực tập Niệm Oai Nghi rồi mới Niệm Hành Động. Oai nghi là đi, đứng, ngồi, nằm; hành động là những oai nghi phụ: cúi, ngước, co, duỗi… Tất cả những động tác khác là oai nghi phụ, còn oai nghi chính là đi, đứng, ngồi, nằm, trong đó phải chánh niệm tỉnh giác. Thực tập điều này là dễ hay khó mà mọi người không chịu thực tập, bỏ qua luôn, rồi đòi những cái gọi là vô thượng bồ đề, tánh không, đại viên mãn…. Cứ tìm kiếm những gì ghê gớm, những từ nghe khủng khiếp, trong khi những cái đó chỉ là trừu tượng, lý thuyết, triết lí. Trong khi đó, hãy tự xem lại mình đi có vững chưa? Ngồi có ngay ngắn chưa? Nằm có ra dáng nằm của người tu không? Đi có ra dáng đi thanh thoát, thoát tục của người xuất gia không? Tự nhìn những điều đó trước đã, rồi sau đó giảng pháp sau. Cứ lên nói toàn là Tây phương cực lạc, Niết-bàn, nói toàn những điều siêu việt mà nhìn hình tướng của mình là người ta muốn chạy rồi.
Thử nhìn người ta đi học với Thiền sư Nhất Hạnh như thế nào? Cả một thành phố Paris, nguyên một khối Châu Âu cùng học cách đi thiền hành, đi một cách chánh niệm, đó là Niệm Oai Nghi trong Tứ Niệm Xứ, chỉ là phần đầu của Niệm Thân. Tại sao bây giờ mình không làm? Chúng ta có thể thực hành từ chỗ đậu xe, đi thiền hành qua lớp. Không cần đợi lên Chánh điện mới đi thiền hành, không phải đợi vào khóa tu mình mới thiền. Tại sao mình không thực tập từng chút trong lúc sinh hoạt mỗi ngày. Ngài Xá-lợi-phất phát tâm đi theo Đức Thế Tôn để sau này Ngài trở thành tướng quân của Chánh pháp chính là nhờ gặp được dáng đi của Ngài Mã Thắng. Và cách đi, đứng, nằm, ngồi này chỉ là một phần nhỏ Tứ Niệm Xứ. Khi nắm được từng phần nhỏ này, khi nghiên cứu sâu sắc hơn chúng ta sẽ thấy Tứ Niệm Xứ bao trùm toàn bộ hết tất cả pháp tu trong đạo Phật. Chính vì vậy, hãy cố gắng chiêm nghiệm, quán chiếu, nghiền ngẫm và thực hành theo kinh Tứ Niệm Xứ, chúng ta sẽ thấy được những điều tuyệt vời từ Chánh pháp của Đức Phật.
Những ai đang thực tập theo Tứ Niệm Xứ là bậc Thánh hữu học, thực tập viên mãn là bậc Thánh vô học, còn phàm phu không chịu thực hành cái này. Vì nếu không quen, chúng ta sẽ thấy rất bó buộc, đi cũng phải chỉnh lại, ngồi cũng phải để ý, nằm hay từng hơi thở cũng vậy. Nhưng chính những điều nãy sẽ đưa chúng ta vào sự thâu nhiếp, chế ngự, khuôn phép và chiến đấu được với những buông lung, phóng dật. Những thói quen khi bị bắt vào nề nếp thì nó không chịu, ngũ uẩn này muốn đi, đứng, nói chuyện được thoải mái, nên khi bị bắt vào ngồi thiền là lúc đó thấy khó chịu. Những hữu lậu không chịu yên tịnh, nó muốn phải hoạt động, phải nói, phải làm này nọ kia, bắt nó ngồi yên thì nó chịu không được. Chúng ta tu là để bắt những hữu lậu, lăng xăng không chịu ngồi yên cũng phải chịu, phải tìm cách nhiếp phục, chế ngự và cuối cùng từ từ chiến thắng nó. Chiến thắng được những cấu nhiễm này thì sáu căn sẽ được vắng lặng, tịch tịnh, thanh cao, được đào tạo trong trí huệ của Tứ Niệm Xứ. Phần Niệm thân này tuyệt vời lắm, không có một người thứ hai nào nói được những điều này.
./.