Thiền Quán - Căn Trần Thức là Khổ 1 - Tương Ưng Sáu Xứ - Kinh Với Ưa Thích 1&2
Kinh Nikāya Thiền Quán
Căn Trần Thức Là Khổ 1
Tương Ưng Sáu Xứ
Kinh Với Ưa Thích 1&2
Thích Minh Thành
MỤC LỤC
TOC \o "1-3" \h \z \u I. Ưa thích khổ PAGEREF _Toc161993975 \h 1
II. Không ưa thích khổ PAGEREF _Toc161993976 \h 3
III. Ái PAGEREF _Toc161993977 \h 4
I. Ưa thích khổ
Chúng ta nghe pháp cho đến ngày hôm nay thì đừng mong chờ có gì mới lạ thêm nữa, đừng mong bữa nay thầy sẽ nói cái gì khác, cái gì lạ hơn. Đây là tâm lý chung mà trước nay người học Phật suy nghĩ không đúng, nghe pháp là mong cầu nghe sự thật của các pháp, về bản chất của đời sống, tánh chất của thân tâm, sự thật của nhân sinh, của thế gian, thế giới cho nên mỗi lần nghe là mỗi lần mình có sự sanh khởi lên chánh tư duy, sự suy xét đúng lý, sự tác ý phù hợp với sự thật thì mỗi một thời nghe như vậy là mỗi thời tu quán, tùy văn nhập quán. Mình quan niệm như vậy thì khi nghe pháp, học kinh sẽ không thấy nhàm chán mà càng ngày càng được thấy rõ sự thật trong thân tâm mình, uẩn xứ và giới. Hôm nay chúng ta chiêm nghiệm bài kinh Với ưa thích, nằm trong Tương Ưng Bộ, tập I.
" -- Ai ưa thích mắt, này các Tỳ-kheo, người ấy ưa thích khổ. Ai ưa thích khổ, Ta nói người ấy không thoát khỏi khổ.
Ai ưa thích tai... mũi... lưỡi... thân... Ai ưa thích ý, người ấy ưa thích khổ. Ai ưa thích khổ, Ta nói người ấy không thoát khỏi khổ". (Tương Ưng Bộ, Tập IV – Thiên Sáu Xứ, Chương I. Tương Ưng Sáu Xứ (a), Phần Một - Năm Mươi Kinh Thứ Nhất, VII. Với Ưa Thích (1))
Ai ưa thích hình hài này, hình tướng này, vóc dáng này là người đó ưa thích khổ, đã ưa thích khổ thì không thể thoát khỏi khổ đau. Ai ưa thích tâm ý là người đó ưa thích khổ, ai ưa thích những cảm giác, nghĩ tưởng này là người đó ưa thích khổ, ai ưa thích khổ thì không thể thoát khỏi khổ đau. Ai ưa thích đôi mắt bệnh hoạn, cận thị, viễn thị, loạn thị, đục thủy tinh thể này, ai ưa thích đôi mắt bằng đất, nước, gió, lửa này là người đó ưa thích khổ, ai ưa thích đôi mắt thịt máu, gân, mỡ này là người đó ưa thích khổ, ưa thích bệnh tật, ưa thích lo lắng, bất an, ưa thích chột, ưa thích mù lòa, ưa thích suy lão, ưa thích chết chóc, ưa thích đôi mắt này là đồng nghĩa với ưa thích khổ.
"-- Ai ưa thích các sắc, này các Tỳ-kheo, người ấy ưa thích khổ. Ai ưa thích khổ, Ta nói người ấy không thoát khỏi khổ.
Ai ưa thích các tiếng... các hương... các vị... các xúc... Ai ưa thích các pháp, người ấy ưa thích khổ. Ai ưa thích khổ, Ta nói người ấy không thoát khỏi khổ". (Tương Ưng Bộ, Tập IV – Thiên Sáu Xứ, Chương I. Tương Ưng Sáu Xứ (a), Phần Một - Năm Mươi Kinh Thứ Nhất, VIII. Với Ưa Thích (2))
Ai ưa thích những hình sắc mà con mắt này nhìn thấy là đồng nghĩa ưa thích khổ, ai ham muốn những hình tướng này là người đó ưa thích khổ, những hình sắc vô thường này, những hình sắc từ những đống đất, vũng nước, làn gió, những đống lửa, những hình sắc duyên hợp, lắp ráp, kết nối này tan vỡ, bại hoại, diệt tận, băng hoại này, nếu yêu thích những hình sắc là yêu thích khổ, ai yêu thích khổ thì không thể thoát khỏi khổ đau.
Ai yêu thích xe cộ, nhà cửa, tiền bạc, đất đai là người đó yêu thích khổ, ai yêu thích khổ thì không thể thoát khỏi khổ đau. Ai ưa thích những lời ngon tiếng ngọt này, những lời đường mật, ngọt ngào, những lời ru ngủ, những lời êm ái, dịu dàng thì người đó yêu thích khổ. Ai ưa thích và gìn giữ những lời mắng chửi, khinh khi là người đó ưa thích khổ, ai ưa thích khổ thì người đó không thoát khỏi khổ đau.
Ai ưa thích những mùi thơm, vị ngon thì người đó ưa thích khổ, người ưa thích khổ thì làm sao có thể thoát khỏi khổ đau, những mùi vị vô thường, duyên sanh, mới vừa thơm tho thì lát sau đã trở thành hôi thối, những hương vị vừa đưa lên mũi, lên miệng thì hấp dẫn, ưa thích nhưng khi nuốt khỏi miệng thì trở thành hôi dơ, bẩn thỉu, ai ưa thích những hương vị đó là ưa thích khổ, ưa thích giành giật, ưa thích sân hận, tranh đấu.
Ai ưa thích sự xúc chạm, đụng chạm, nhục dục xác thịt thì người đó ưa thích khổ, ai ưa thích khổ thì không thể thoát khỏi khổ đau, sự đụng chạm, xúc chạm làm say mê điên đảo, hệ lụy, làm cho nhớ nhung, khao khát, làm cho ham muốn, đam mê, ngu muội, làm cho dại khờ, ràng buộc, ai ưa thích tiếp xúc thì ưa thích khổ, ai ưa thích khổ thì làm sao thoát khỏi khổ đau.
II. Không ưa thích khổ
"Và ai không ưa thích mắt, này các Tỳ-kheo, người ấy không ưa thích khổ. Ai không ưa thích khổ, Ta nói người ấy thoát khỏi khổ.
Ai không ưa thích tai... mũi... lưỡi... thân... Ai không ưa thích ý, người ấy không ưa thích khổ. Ai không ưa thích khổ, Ta nói người ấy thoát khỏi khổ". (Tương Ưng Bộ, Tập IV – Thiên Sáu Xứ, Chương I. Tương Ưng Sáu Xứ (a), Phần Một - Năm Mươi Kinh Thứ Nhất, VII. Với Ưa Thích (1))
"Ai không ưa thích các sắc, này các Tỳ-kheo, người ấy không ưa thích khổ. Ai không ưa thích khổ, Ta nói người ấy thoát khỏi khổ.
Ai không ưa thích các tiếng... các hương... các vị... các xúc... Ai không ưa thích các pháp, người ấy không ưa thích khổ. Ai không ưa thích khổ, Ta nói người ấy thoát khỏi khổ". (Tương Ưng Bộ, Tập IV – Thiên Sáu Xứ, Chương I. Tương Ưng Sáu Xứ (a), Phần Một - Năm Mươi Kinh Thứ Nhất, VIII. Với Ưa Thích (2))
Ai không ưa thích sáu trần thì người đó không ưa thích khổ, không ưa thích khổ thì người đó thoát khỏi khổ đau. Những bài kinh này cực kì khúc chiết, cô đọng, đây là những bài kinh sắc cốt, là lõi cây của tạng kinh Nikāya và chúng ta cần đọc nó trăm lần, ngàn lần, nhiều ngàn lần đồng thời kết hợp tư duy, tu tập và quán chiếu.
Chúng ta dùng từ ái, dục, tham nhưng có khi chúng ta không hiểu hết ý nghĩa của nó, tuy nhiên khi nói tiếng việt là yêu thích, thúc giục và ham muốn thì chúng ta sẽ hiểu. Yêu thích mắt có nghĩa là ái con mắt nhưng nói ái sẽ không hiểu vì nó rất trừu tượng, mình phải quán chiếu ba cảm thọ yêu thích, thúc giục và ham muốn thật sâu sắc, kiểm tra lại xem mình còn yêu thích không vì còn yêu thích là còn khổ.
"Và này các Tỳ-kheo, thế nào là Khổ tập khởi? Chính là khát ái này, đưa đến tái sanh... phi hữu ái. Này các Tỳ-kheo, đây gọi là Khổ tập khởi". (Tương Ưng Bộ, Tập III – Thiên Uẩn, Chương I, Tương Ưng Uẩn (g), C. Năm Mươi Kinh Sau, I. Phẩm Biên, II. Khổ)
Hễ có yêu thích là có sự nắm giữ và có sự khổ đau, nói đầy đủ thì chính pháp ái này lấy yêu thích làm gốc rễ sanh ra chín thứ đau khổ.
III. Ái
"- Này các Tỳ-kheo, Ta sẽ thuyết về chín pháp lấy ái làm cội gốc. Hãy nghe và khéo tác ý, Ta sẽ giảng.
Và này các Tỳ-kheo, thế nào là chín pháp lấy ái làm cội gốc ?
Do duyên ái nên cầu tìm.
Do duyên cầu tìm nên có được.
Do duyên có được nên có quyết định.
Do duyên quyết định nên có dục tham.
Do duyên dục tham nên đắm trước.
Do duyên đắm trước nên có chấp trước.
Do duyên chấp trước nên có xan tham.
Do duyên xan tham nên có thủ hộ, chấp trượng, chấp kiếm, đấu tranh, tránh tranh, kháng tranh, ly gián ngữ, vọng ngữ, rất nhiều các ác, bất thiện pháp khởi lên.
Này các Tỳ-kheo, đây là chín pháp lấy ái làm cội gốc". (Tăng Chi Bộ, Chương IX – Chín Pháp, III. Phẩm Chỗ Cư Trú Của Hữu Tình, (III). Ái)
Thủ hộ là giữ gìn, chấp trượng là cầm gậy. Hôm nay chúng ta chiêm nghiệm thật sâu sắc và thật nhiều về chữ "ái" và "hữu", ái là yêu thích và hữu là sự hiện hữu. Yêu thích cái gì thì khổ đau với cái đó, yêu thích cái gì thì cái đó sẽ hiện hữu, có mặt trong thân tâm của mình cho nên hữu ái rất thâm sâu. Ái là cốt lõi của tạng kinh Nikāya, có tất cả 36 vòng ái đang tuôn chảy trong mạch máu, huyết quản, trong từng lỗ chân lông, trong từng cái thấy, cái nghe, ngửi hay xúc chạm của mình, nếu không nhận diện năm uẩn sâu sắc thì không thể thấy được ái, thậm chí nói nhiều, nói dai cũng là ái vì thích nói, không bỏ được, gặp ai cũng muốn nói, cũng muốn bàn, mình phải thấy được sự thúc giục này, phải biết lúc nào cần nói, khi nào nên nói chứ không phải lúc nào cũng hoạt động cái miệng, mình không thấy được cái yêu thích nói, ham nói trong tự thân mình.
Thân tâm dao động suốt ngày mà không nhận diện ra được, mình yêu thích cảnh đẹp, yêu thích món đồ đẹp, yêu thích căn nhà đẹp, chiếc xe đẹp, yêu thích những thứ tan hoại, băng hoại, những thứ hủy hoại, hoại diệt để rồi mình đau khổ, yêu thích tiền bạc, yêu thích tiếng khen, yêu thích sự nổi tiếng để rồi chuốc lấy khổ đau vì yêu thích thì phải tìm cầu, nghĩ ngợi tìm cách để có được, khi được rồi trong lòng xác quyết "tôi được cái đó", "tôi có cái đó", khi đã xác quyết thì trong lòng có bản ngã "tôi" và "của tôi" được thành lập, tự ngã có chân đứng, ngã sỡ chiếm hữu nên có ra ham muốn, đắm say, nắm giữ, sau đó là chiếm hữu cho riêng bản thân nên có ra ích kỷ, xan tham, keo kiệt, bủn xỉn, cuối cùng là giữ gìn, bảo hộ rồi cầm gậy, cầm dao, đấu khẩu, đấu võ, biết bao ác pháp sanh khởi đều bắt đầu từ cái đầu tiên là yêu thích, tức là ái. Tất cả đau khổ trên thế giới này đều vận hành theo chiều hướng đó.
Phải mở rộng tâm ra để Thánh trí huệ đi vào tâm, ngấm vào từng lỗ chân lông, từng mạch máu, đi vào từng dây thần kinh, từng sự hô hấp để mình thấy thấm thía trong từng câu nói của bậc tối tôn tốn thượng "ai ưa thích mắt, này các Tỳ-kheo, người ấy ưa thích khổ". Ưa thích con mắt của người ta rồi đau khổ với con mắt đó, ưa thích nụ cười của người ta và bị ám ảnh bởi đôi môi, ánh mắt, gương mặt đó. Thật là đau khổ!
Yêu thích để rồi phải tìm cầu nhưng ở đây là yêu thích và tìm được, có được cái mình mong muốn, ngoài ra yêu thích mà không được là khổ, cầu bất đắc là khổ, sống trong nhớ nhung, tương tư, tiếc nuối, thù hận, tức tối, oán hận vì không được, còn khi được thì nắm giữ, đắm say, chiếm hữu. Chữ tình nghĩa là ái, là sự yêu thích là nó làm biết bao nước mắt, biết bao sinh mạng đổ xuống trên thế giới cho nên ái là cốt lõi của tạng kinh Nikāya, vì vậy khi mình biết được ái là gì, tại sao ái sanh, tại sao ái diệt , vị ngọt của tham ái, sự nguy hiểm và tác hại của tham ái, yêu thích và sự thoát ra khỏi nó là cả một đại Thánh trí tuệ.
Hằng ngày phải kiểm trong trong tâm thức, lời nói, hành vi có sự yêu thích, thúc giục không, nó vận hành ra sao, có muốn gặp, muốn nói chuyện, muốn giao tiếp không, muốn ở một mình hay muốn ra tiếp xúc, nếu có thì đó là nguyên nhân của khổ. Hãy chiêm nghiệm cho sâu sắc ba chữ yêu thích, thúc giục và tham muốn trong cảm giác của mình, trên đây là chín pháp lấy sự yêu thích làm gốc rễ.
Thầy Pháp An bây giờ không thấy đường nữa, đi là phải mò mẫm hoặc cầm gậy rà mới đi được, nhìn vào đó để thấy nếu còn yêu thích con mắt thì sẽ còn khổ dài dài vì nó là thứ hư hoại, bại hoại, một ngày kia mình cũng sẽ bị như vậy, đây là điềm báo trước của cái chết, tức là bệnh tật, điềm báo trước của sự tan rã là sự biến hoại, bị biến đổi và hư thì sẽ đi đến chỗ hoại diệt. Nếu mình yêu thích con mắt này rồi muốn nó sáng lại như lúc trước thì mình sẽ đau khổ cho nên hãy chấp nhận vì pháp là như vậy, đồ đã dùng 78 năm thì phải hư thôi. Thân thể này là một bộ máy, nó đã vận hành 78 năm thì cũng sẽ đi đến rệu rã, hư mục, thầy Pháp An phải thường tác ý "nó là đồ vật, nó hư rồi thì thôi, mình sẽ bỏ nó để mình dùng đồ mới tốt hơn".
Không tiếc nuối quá khứ, cũng không mong mỏi tương lai sẽ được như vậy vì nếu không được thì mình sẽ khổ, hãy chấp nhận ngay trong hiện tại đó là đồ hư nát, đồ hoại diệt, đồ tan rã, tác ý thường xuyên "con mắt này không phải tôi, con mắt này không phải của tôi, con mắt này không phải tự ngã của tôi", nó có hư là chuyện của con mắt, chuyện của tứ đại, chuyện của hình hài, sắc chất, tâm mình không có hư, trí không mờ, tuệ luôn sáng tỏ, không bị mất đi.
Khi ngài Xá-lợi-phất nhập diệt thì vị thị giả đã đem y bát trình với Thế Tôn và báo rằng ngài đã nhập diệt, ngài Ananda bàng hoàng, xót xa, ràng rụa nước mắt nên mắt mờ không nhìn rõ các phương hướng, bậc tướng quân chánh pháp đã cùng nhập diệt. Sau khi ngài Ananda vào nói lại với Thế Tôn thì Thế Tôn hỏi khi ra đi ngài Xá-lợi-phất có đem theo Thánh giới uẩn đi cùng không thì ngài Ananda nói không, Đức Phật hỏi tiếp ngài Xá-lợi-phất có đem theo Thánh định uẩn, là thiền định của bậc Thánh đi theo không thì Ananda nói không, Đức Phật hỏi tiếp có đem theo Thánh tuệ uẩn, Thánh giải thoát, giải thoát tri kiến uẩn và đạo lộ tu hành không thì ngài Ananda đều trả lời không.
Đến đây Đức Phật hỏi nếu không đem theo cái gì thì Ananda đau khổ vì điều gì? Thánh giới còn đây, Thánh định còn đây, Thánh tuệ, Thánh giải thoát còn đây, hãy an trú vào những thứ đó, không lâu sau đó Thế Tôn cũng nhập diệt nhưng điều quan trọng là Thánh pháp vẫn còn, hãy an trú vào pháp, đặt tâm vào pháp để không bị những cảnh giới bên ngoài làm cho mình nghiêng ngã, hụt hẫng, sụp đổ dù cho có gì xảy ra.
"Một thời Thế Tôn trú ở Sàvatthi, tại Thắng Lâm, khu vườn của ông Cấp Cô Ðộc.
Lúc bấy giờ, Tôn giả Sàriputta trú ở Magadha, tại làng Nàla, bị bệnh, đau đớn, bị trọng bệnh. Và Sa-di Cunda là thị giả của Tôn giả Sàriputta.
Tôn giả nhập Niết-bàn vì bệnh ấy.
Rồi Sa-di Cunda cầm lấy y bát của Tôn giả Sàriputta đi đến Sàvatthi, Thắng Lâm, tại khu vườn của ông Cấp Cô Ðộc, đi đến Tôn giả Ananda; sau khi đến, đảnh lễ Tôn giả Ananda, rồi ngồi xuống một bên. .. Ngồi một bên, Sa-di Cunda nói với Tôn giả Ananda:
-- Bạch Thượng tọa, Tôn giả Sàriputta đã mệnh chung. Ðây là y bát của vị ấy.
-- Này Hiền giả Cunda, đây là lý do để đến yết kiến Thế Tôn. Này Hiền giả Cunda, chúng ta hãy đi đến Thế Tôn; sau khi đến, chúng ta hãy báo tin này cho Thế Tôn.
-- Thưa vâng, Thượng tọa.
Sa-di Cunda vâng đáp Tôn giả Ananda.
Rồi Tôn giả Ananda và Sa-di Cunda đi đến Thế Tôn; sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Ngồi một bên, Tôn giả Ananda bạch Thế Tôn:
-- Bạch Thế Tôn, Sa-di Cunda này thưa như sau: 'Bạch Thượng tọa, Tôn giả Sàriputta đã mệnh chung. Ðây là y và bát của vị ấy'. Bạch Thế Tôn, thân con cảm thấy yếu ớt như lau sậy (bàng hoàng) (madhurakajato). Các phương hướng không hiện ra rõ ràng đối với con. Pháp sẽ không được giảng cho con, khi con nghe tin Tôn giả Sàriputta đã mệnh chung.
-- Này Ananda, Sàriputta có đem theo giới uẩn khi mệnh chung? Có đem theo định uẩn khi mệnh chung? Có đem theo tuệ uẩn khi mệnh chung? Có đem theo giải thoát uẩn khi mệnh chung? Có đem theo giải thoát tri kiến khi mệnh chung không?
-- Bạch Thế Tôn, Tôn giả Sàriputta không đem theo giới uẩn khi mệnh chung, không đem theo định uẩn khi mệnh chung, không đem theo tuệ uẩn khi mệnh chung, không đem theo giải thoát uẩn khi mệnh chung, không đem theo giải thoát tri kiến khi mệnh chung. Nhưng bạch Thế Tôn, Tôn giả Sàriputta là vị giáo giới cho con, là vị đã vượt qua (bộc lưu), là bậc giáo thọ, là vị khai thị, khích lệ, làm cho phấn khởi, làm cho hoan hỷ, là vị thuyết pháp không biết mệt mỏi, là vị hộ trì cho các đồng Phạm hạnh. Chúng con đều ức niệm rằng Tôn giả Sàriputta là tinh ba của pháp (dhammojam), là tài sản của pháp (dhammabhogam), là hộ trì của pháp.
-- Này Ananda, có phải trước đây Ta đã từng tuyên bố với Ông rằng mọi pháp khả ái, khả ý đều có tánh chất khác biệt, có tánh chất ly tán, có tánh chất đổi khác? Làm sao, này Ananda, ở đây, lời ước nguyền này có thể thành tựu được: 'Mong rằng cái gì được sanh, được thành, là pháp hữu vi, là pháp bị diệt hoại, lại có thể không bị diệt hoại!'? Sự kiện như vậy không xảy ra.
Ví như, này Ananda, từ một cây lớn mọc thẳng, có lõi cây, một cành cây lớn bị gãy đổ. Cũng vậy, này Ananda, từ nơi chúng Tỳ-kheo đứng thẳng, có lõi cây, Sàriputta bị mệnh chung. Làm sao, này Ananda, ở đây, lời ước nguyền này có thể thành tựu được: 'Mong sao cái gì được sanh, được thành, là pháp hữu vi, là pháp bị diệt hoại, lại có thể không bị diệt hoại!'? Sự kiện như vậy không xảy ra.
Do vậy, này Ananda, hãy tự mình là ngọn đèn cho chính mình, hãy tự mình nương tựa chính mình, chớ nương tựa một gì khác. Dùng Chánh pháp làm ngọn đèn, dùng Chánh pháp làm chỗ nương tựa, chớ nương tựa một điều gì khác. Này Ananda, thế nào là Tỳ-kheo tự mình là ngọn đèn cho chính mình, tự mình nương tựa chính mình, không nương tựa một điều gì khác, dùng Chánh pháp làm ngọn đèn, dùng Chánh pháp làm chỗ nương tựa, không nương tựa một điều gì khác?
Ở đây, này Ananda, Tỳ-kheo trú, quán thân trên thân, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm, nhiếp phục tham ưu ở đời... trú, quán thọ trên các thọ... trú, quán tâm trên tâm... trú, quán pháp trên các pháp, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm, nhiếp phục tham ưu ở đời. Như vậy, này Ananda, Tỳ-kheo tự mình là ngọn đèn cho chính mình, tự mình nương tựa chính mình, không nương tựa một gì khác, dùng Chánh pháp làm ngọn đèn, dùng Chánh pháp làm chỗ nương tựa, không nương tựa một điều gì khác.
Này Ananda, những ai hiện nay, hay sau khi Ta diệt độ, tự mình là ngọn đèn cho chính mình, tự mình nương tựa chính mình, không nương tựa một điều gì khác, dùng Chánh pháp làm ngọn đèn, dùng Chánh pháp làm chỗ nương tựa, không nương tựa một điều gì khác; những vị ấy, này Ananda, là những vị tối thượng trong hàng Tỳ-kheo của Ta, nếu những vị ấy tha thiết học hỏi". (Tương Ưng Bộ, Tập V – Thiên Đại Phẩm, Chương III. Tương Ưng Niệm Xứ (a), II. Phẩm Nàlanda, III. Cunda)
Ngày hôm nay nếu con mắt mình hư, chân đi không được nữa thì chỉ là sắc pháp, tứ đại, Thánh pháp không bị hư, xe vua rồi cũng già, cũng hoại nhưng pháp bậc thiện không già, không hoại. Chiếc xe đẹp như vua đi cũng rã rời, cũng hư nát nhưng pháp của bậc thiện nhân, pháp của bậc Thánh nhân không hư, không hoại nên hãy an trú vào pháp bất hoại đó thì tâm sẽ không bị dao động.
Nếu tâm trú vào pháp vô thường, pháp biến hoại đến khi những pháp đó biến đổi là mình chao đảo, buồn đau, mình cứ suy nghĩ tại sao hồi xưa nhìn thấy mà giờ lại không thấy, tại sao ngày xưa đi được mà giờ lại phải ngồi một chỗ, mình bị dính mắc, tham ái vào đôi chân, con mắt, bàn tay đó, trái tim đó, lá phổi, lỗ mũi đó cho nên hãy nhìn thấy rõ đây cũng chỉ là tham ái, yêu thích cái vô thường, bệnh tật này, yêu thích cái biến đổi và bại hoại này là mình khổ, không yêu thích nó nữa thì mình sẽ thoát khỏi khổ đau. Phải thường xuyên tác ý như vậy, mình không than thở, không buồn phiền, không tiếc nuối dĩ vãng và không mong chờ tương lai cho mắt sáng lại vì nó là thứ bại hoại, dù có sáng lại chút ít thì cũng hoại diệt, pháp là như vậy, sự thể là vậy, bản tánh là vậy, không thể vượt khỏi bản tánh ấy.
"Thân này bản tánh là như thế, bản chất là như thế không thể vượt qua bản chất ấy". (Trung Bộ Kinh, 10. Kinh Niệm Xứ)
Cho nên cần tác ý thường xuyên không ưa thích nó, không ham muốn nó, đến đây là tới giai đoạn phải từ bỏ nó "con mắt này hư rồi nên ta từ bỏ mày, ta dùng trí tuệ, an trú vào chỗ bất hoại, bất diệt, bất diệt", như vậy sẽ an lành hơn là trú vào cái hoại diệt, vô thường, chết chóc để khổ đau, sầu não. Cái trí biết được đây là những thứ vô thường, bại hoại thì trí đó không bị hoại, cái trí nhìn thấy các pháp vô thường, khổ, vô ngã thì trí đó là bất tử, tối thượng nên cần an trú vào trí tuệ đó, sống với trí tuệ đó.
./.
Căn Trần Thức Là Khổ 1
Tương Ưng Sáu Xứ
Kinh Với Ưa Thích 1&2
Thích Minh Thành
MỤC LỤC
TOC \o "1-3" \h \z \u I. Ưa thích khổ PAGEREF _Toc161993975 \h 1
II. Không ưa thích khổ PAGEREF _Toc161993976 \h 3
III. Ái PAGEREF _Toc161993977 \h 4
I. Ưa thích khổ
Chúng ta nghe pháp cho đến ngày hôm nay thì đừng mong chờ có gì mới lạ thêm nữa, đừng mong bữa nay thầy sẽ nói cái gì khác, cái gì lạ hơn. Đây là tâm lý chung mà trước nay người học Phật suy nghĩ không đúng, nghe pháp là mong cầu nghe sự thật của các pháp, về bản chất của đời sống, tánh chất của thân tâm, sự thật của nhân sinh, của thế gian, thế giới cho nên mỗi lần nghe là mỗi lần mình có sự sanh khởi lên chánh tư duy, sự suy xét đúng lý, sự tác ý phù hợp với sự thật thì mỗi một thời nghe như vậy là mỗi thời tu quán, tùy văn nhập quán. Mình quan niệm như vậy thì khi nghe pháp, học kinh sẽ không thấy nhàm chán mà càng ngày càng được thấy rõ sự thật trong thân tâm mình, uẩn xứ và giới. Hôm nay chúng ta chiêm nghiệm bài kinh Với ưa thích, nằm trong Tương Ưng Bộ, tập I.
" -- Ai ưa thích mắt, này các Tỳ-kheo, người ấy ưa thích khổ. Ai ưa thích khổ, Ta nói người ấy không thoát khỏi khổ.
Ai ưa thích tai... mũi... lưỡi... thân... Ai ưa thích ý, người ấy ưa thích khổ. Ai ưa thích khổ, Ta nói người ấy không thoát khỏi khổ". (Tương Ưng Bộ, Tập IV – Thiên Sáu Xứ, Chương I. Tương Ưng Sáu Xứ (a), Phần Một - Năm Mươi Kinh Thứ Nhất, VII. Với Ưa Thích (1))
Ai ưa thích hình hài này, hình tướng này, vóc dáng này là người đó ưa thích khổ, đã ưa thích khổ thì không thể thoát khỏi khổ đau. Ai ưa thích tâm ý là người đó ưa thích khổ, ai ưa thích những cảm giác, nghĩ tưởng này là người đó ưa thích khổ, ai ưa thích khổ thì không thể thoát khỏi khổ đau. Ai ưa thích đôi mắt bệnh hoạn, cận thị, viễn thị, loạn thị, đục thủy tinh thể này, ai ưa thích đôi mắt bằng đất, nước, gió, lửa này là người đó ưa thích khổ, ai ưa thích đôi mắt thịt máu, gân, mỡ này là người đó ưa thích khổ, ưa thích bệnh tật, ưa thích lo lắng, bất an, ưa thích chột, ưa thích mù lòa, ưa thích suy lão, ưa thích chết chóc, ưa thích đôi mắt này là đồng nghĩa với ưa thích khổ.
"-- Ai ưa thích các sắc, này các Tỳ-kheo, người ấy ưa thích khổ. Ai ưa thích khổ, Ta nói người ấy không thoát khỏi khổ.
Ai ưa thích các tiếng... các hương... các vị... các xúc... Ai ưa thích các pháp, người ấy ưa thích khổ. Ai ưa thích khổ, Ta nói người ấy không thoát khỏi khổ". (Tương Ưng Bộ, Tập IV – Thiên Sáu Xứ, Chương I. Tương Ưng Sáu Xứ (a), Phần Một - Năm Mươi Kinh Thứ Nhất, VIII. Với Ưa Thích (2))
Ai ưa thích những hình sắc mà con mắt này nhìn thấy là đồng nghĩa ưa thích khổ, ai ham muốn những hình tướng này là người đó ưa thích khổ, những hình sắc vô thường này, những hình sắc từ những đống đất, vũng nước, làn gió, những đống lửa, những hình sắc duyên hợp, lắp ráp, kết nối này tan vỡ, bại hoại, diệt tận, băng hoại này, nếu yêu thích những hình sắc là yêu thích khổ, ai yêu thích khổ thì không thể thoát khỏi khổ đau.
Ai yêu thích xe cộ, nhà cửa, tiền bạc, đất đai là người đó yêu thích khổ, ai yêu thích khổ thì không thể thoát khỏi khổ đau. Ai ưa thích những lời ngon tiếng ngọt này, những lời đường mật, ngọt ngào, những lời ru ngủ, những lời êm ái, dịu dàng thì người đó yêu thích khổ. Ai ưa thích và gìn giữ những lời mắng chửi, khinh khi là người đó ưa thích khổ, ai ưa thích khổ thì người đó không thoát khỏi khổ đau.
Ai ưa thích những mùi thơm, vị ngon thì người đó ưa thích khổ, người ưa thích khổ thì làm sao có thể thoát khỏi khổ đau, những mùi vị vô thường, duyên sanh, mới vừa thơm tho thì lát sau đã trở thành hôi thối, những hương vị vừa đưa lên mũi, lên miệng thì hấp dẫn, ưa thích nhưng khi nuốt khỏi miệng thì trở thành hôi dơ, bẩn thỉu, ai ưa thích những hương vị đó là ưa thích khổ, ưa thích giành giật, ưa thích sân hận, tranh đấu.
Ai ưa thích sự xúc chạm, đụng chạm, nhục dục xác thịt thì người đó ưa thích khổ, ai ưa thích khổ thì không thể thoát khỏi khổ đau, sự đụng chạm, xúc chạm làm say mê điên đảo, hệ lụy, làm cho nhớ nhung, khao khát, làm cho ham muốn, đam mê, ngu muội, làm cho dại khờ, ràng buộc, ai ưa thích tiếp xúc thì ưa thích khổ, ai ưa thích khổ thì làm sao thoát khỏi khổ đau.
II. Không ưa thích khổ
"Và ai không ưa thích mắt, này các Tỳ-kheo, người ấy không ưa thích khổ. Ai không ưa thích khổ, Ta nói người ấy thoát khỏi khổ.
Ai không ưa thích tai... mũi... lưỡi... thân... Ai không ưa thích ý, người ấy không ưa thích khổ. Ai không ưa thích khổ, Ta nói người ấy thoát khỏi khổ". (Tương Ưng Bộ, Tập IV – Thiên Sáu Xứ, Chương I. Tương Ưng Sáu Xứ (a), Phần Một - Năm Mươi Kinh Thứ Nhất, VII. Với Ưa Thích (1))
"Ai không ưa thích các sắc, này các Tỳ-kheo, người ấy không ưa thích khổ. Ai không ưa thích khổ, Ta nói người ấy thoát khỏi khổ.
Ai không ưa thích các tiếng... các hương... các vị... các xúc... Ai không ưa thích các pháp, người ấy không ưa thích khổ. Ai không ưa thích khổ, Ta nói người ấy thoát khỏi khổ". (Tương Ưng Bộ, Tập IV – Thiên Sáu Xứ, Chương I. Tương Ưng Sáu Xứ (a), Phần Một - Năm Mươi Kinh Thứ Nhất, VIII. Với Ưa Thích (2))
Ai không ưa thích sáu trần thì người đó không ưa thích khổ, không ưa thích khổ thì người đó thoát khỏi khổ đau. Những bài kinh này cực kì khúc chiết, cô đọng, đây là những bài kinh sắc cốt, là lõi cây của tạng kinh Nikāya và chúng ta cần đọc nó trăm lần, ngàn lần, nhiều ngàn lần đồng thời kết hợp tư duy, tu tập và quán chiếu.
Chúng ta dùng từ ái, dục, tham nhưng có khi chúng ta không hiểu hết ý nghĩa của nó, tuy nhiên khi nói tiếng việt là yêu thích, thúc giục và ham muốn thì chúng ta sẽ hiểu. Yêu thích mắt có nghĩa là ái con mắt nhưng nói ái sẽ không hiểu vì nó rất trừu tượng, mình phải quán chiếu ba cảm thọ yêu thích, thúc giục và ham muốn thật sâu sắc, kiểm tra lại xem mình còn yêu thích không vì còn yêu thích là còn khổ.
"Và này các Tỳ-kheo, thế nào là Khổ tập khởi? Chính là khát ái này, đưa đến tái sanh... phi hữu ái. Này các Tỳ-kheo, đây gọi là Khổ tập khởi". (Tương Ưng Bộ, Tập III – Thiên Uẩn, Chương I, Tương Ưng Uẩn (g), C. Năm Mươi Kinh Sau, I. Phẩm Biên, II. Khổ)
Hễ có yêu thích là có sự nắm giữ và có sự khổ đau, nói đầy đủ thì chính pháp ái này lấy yêu thích làm gốc rễ sanh ra chín thứ đau khổ.
III. Ái
"- Này các Tỳ-kheo, Ta sẽ thuyết về chín pháp lấy ái làm cội gốc. Hãy nghe và khéo tác ý, Ta sẽ giảng.
Và này các Tỳ-kheo, thế nào là chín pháp lấy ái làm cội gốc ?
Do duyên ái nên cầu tìm.
Do duyên cầu tìm nên có được.
Do duyên có được nên có quyết định.
Do duyên quyết định nên có dục tham.
Do duyên dục tham nên đắm trước.
Do duyên đắm trước nên có chấp trước.
Do duyên chấp trước nên có xan tham.
Do duyên xan tham nên có thủ hộ, chấp trượng, chấp kiếm, đấu tranh, tránh tranh, kháng tranh, ly gián ngữ, vọng ngữ, rất nhiều các ác, bất thiện pháp khởi lên.
Này các Tỳ-kheo, đây là chín pháp lấy ái làm cội gốc". (Tăng Chi Bộ, Chương IX – Chín Pháp, III. Phẩm Chỗ Cư Trú Của Hữu Tình, (III). Ái)
Thủ hộ là giữ gìn, chấp trượng là cầm gậy. Hôm nay chúng ta chiêm nghiệm thật sâu sắc và thật nhiều về chữ "ái" và "hữu", ái là yêu thích và hữu là sự hiện hữu. Yêu thích cái gì thì khổ đau với cái đó, yêu thích cái gì thì cái đó sẽ hiện hữu, có mặt trong thân tâm của mình cho nên hữu ái rất thâm sâu. Ái là cốt lõi của tạng kinh Nikāya, có tất cả 36 vòng ái đang tuôn chảy trong mạch máu, huyết quản, trong từng lỗ chân lông, trong từng cái thấy, cái nghe, ngửi hay xúc chạm của mình, nếu không nhận diện năm uẩn sâu sắc thì không thể thấy được ái, thậm chí nói nhiều, nói dai cũng là ái vì thích nói, không bỏ được, gặp ai cũng muốn nói, cũng muốn bàn, mình phải thấy được sự thúc giục này, phải biết lúc nào cần nói, khi nào nên nói chứ không phải lúc nào cũng hoạt động cái miệng, mình không thấy được cái yêu thích nói, ham nói trong tự thân mình.
Thân tâm dao động suốt ngày mà không nhận diện ra được, mình yêu thích cảnh đẹp, yêu thích món đồ đẹp, yêu thích căn nhà đẹp, chiếc xe đẹp, yêu thích những thứ tan hoại, băng hoại, những thứ hủy hoại, hoại diệt để rồi mình đau khổ, yêu thích tiền bạc, yêu thích tiếng khen, yêu thích sự nổi tiếng để rồi chuốc lấy khổ đau vì yêu thích thì phải tìm cầu, nghĩ ngợi tìm cách để có được, khi được rồi trong lòng xác quyết "tôi được cái đó", "tôi có cái đó", khi đã xác quyết thì trong lòng có bản ngã "tôi" và "của tôi" được thành lập, tự ngã có chân đứng, ngã sỡ chiếm hữu nên có ra ham muốn, đắm say, nắm giữ, sau đó là chiếm hữu cho riêng bản thân nên có ra ích kỷ, xan tham, keo kiệt, bủn xỉn, cuối cùng là giữ gìn, bảo hộ rồi cầm gậy, cầm dao, đấu khẩu, đấu võ, biết bao ác pháp sanh khởi đều bắt đầu từ cái đầu tiên là yêu thích, tức là ái. Tất cả đau khổ trên thế giới này đều vận hành theo chiều hướng đó.
Phải mở rộng tâm ra để Thánh trí huệ đi vào tâm, ngấm vào từng lỗ chân lông, từng mạch máu, đi vào từng dây thần kinh, từng sự hô hấp để mình thấy thấm thía trong từng câu nói của bậc tối tôn tốn thượng "ai ưa thích mắt, này các Tỳ-kheo, người ấy ưa thích khổ". Ưa thích con mắt của người ta rồi đau khổ với con mắt đó, ưa thích nụ cười của người ta và bị ám ảnh bởi đôi môi, ánh mắt, gương mặt đó. Thật là đau khổ!
Yêu thích để rồi phải tìm cầu nhưng ở đây là yêu thích và tìm được, có được cái mình mong muốn, ngoài ra yêu thích mà không được là khổ, cầu bất đắc là khổ, sống trong nhớ nhung, tương tư, tiếc nuối, thù hận, tức tối, oán hận vì không được, còn khi được thì nắm giữ, đắm say, chiếm hữu. Chữ tình nghĩa là ái, là sự yêu thích là nó làm biết bao nước mắt, biết bao sinh mạng đổ xuống trên thế giới cho nên ái là cốt lõi của tạng kinh Nikāya, vì vậy khi mình biết được ái là gì, tại sao ái sanh, tại sao ái diệt , vị ngọt của tham ái, sự nguy hiểm và tác hại của tham ái, yêu thích và sự thoát ra khỏi nó là cả một đại Thánh trí tuệ.
Hằng ngày phải kiểm trong trong tâm thức, lời nói, hành vi có sự yêu thích, thúc giục không, nó vận hành ra sao, có muốn gặp, muốn nói chuyện, muốn giao tiếp không, muốn ở một mình hay muốn ra tiếp xúc, nếu có thì đó là nguyên nhân của khổ. Hãy chiêm nghiệm cho sâu sắc ba chữ yêu thích, thúc giục và tham muốn trong cảm giác của mình, trên đây là chín pháp lấy sự yêu thích làm gốc rễ.
Thầy Pháp An bây giờ không thấy đường nữa, đi là phải mò mẫm hoặc cầm gậy rà mới đi được, nhìn vào đó để thấy nếu còn yêu thích con mắt thì sẽ còn khổ dài dài vì nó là thứ hư hoại, bại hoại, một ngày kia mình cũng sẽ bị như vậy, đây là điềm báo trước của cái chết, tức là bệnh tật, điềm báo trước của sự tan rã là sự biến hoại, bị biến đổi và hư thì sẽ đi đến chỗ hoại diệt. Nếu mình yêu thích con mắt này rồi muốn nó sáng lại như lúc trước thì mình sẽ đau khổ cho nên hãy chấp nhận vì pháp là như vậy, đồ đã dùng 78 năm thì phải hư thôi. Thân thể này là một bộ máy, nó đã vận hành 78 năm thì cũng sẽ đi đến rệu rã, hư mục, thầy Pháp An phải thường tác ý "nó là đồ vật, nó hư rồi thì thôi, mình sẽ bỏ nó để mình dùng đồ mới tốt hơn".
Không tiếc nuối quá khứ, cũng không mong mỏi tương lai sẽ được như vậy vì nếu không được thì mình sẽ khổ, hãy chấp nhận ngay trong hiện tại đó là đồ hư nát, đồ hoại diệt, đồ tan rã, tác ý thường xuyên "con mắt này không phải tôi, con mắt này không phải của tôi, con mắt này không phải tự ngã của tôi", nó có hư là chuyện của con mắt, chuyện của tứ đại, chuyện của hình hài, sắc chất, tâm mình không có hư, trí không mờ, tuệ luôn sáng tỏ, không bị mất đi.
Khi ngài Xá-lợi-phất nhập diệt thì vị thị giả đã đem y bát trình với Thế Tôn và báo rằng ngài đã nhập diệt, ngài Ananda bàng hoàng, xót xa, ràng rụa nước mắt nên mắt mờ không nhìn rõ các phương hướng, bậc tướng quân chánh pháp đã cùng nhập diệt. Sau khi ngài Ananda vào nói lại với Thế Tôn thì Thế Tôn hỏi khi ra đi ngài Xá-lợi-phất có đem theo Thánh giới uẩn đi cùng không thì ngài Ananda nói không, Đức Phật hỏi tiếp ngài Xá-lợi-phất có đem theo Thánh định uẩn, là thiền định của bậc Thánh đi theo không thì Ananda nói không, Đức Phật hỏi tiếp có đem theo Thánh tuệ uẩn, Thánh giải thoát, giải thoát tri kiến uẩn và đạo lộ tu hành không thì ngài Ananda đều trả lời không.
Đến đây Đức Phật hỏi nếu không đem theo cái gì thì Ananda đau khổ vì điều gì? Thánh giới còn đây, Thánh định còn đây, Thánh tuệ, Thánh giải thoát còn đây, hãy an trú vào những thứ đó, không lâu sau đó Thế Tôn cũng nhập diệt nhưng điều quan trọng là Thánh pháp vẫn còn, hãy an trú vào pháp, đặt tâm vào pháp để không bị những cảnh giới bên ngoài làm cho mình nghiêng ngã, hụt hẫng, sụp đổ dù cho có gì xảy ra.
"Một thời Thế Tôn trú ở Sàvatthi, tại Thắng Lâm, khu vườn của ông Cấp Cô Ðộc.
Lúc bấy giờ, Tôn giả Sàriputta trú ở Magadha, tại làng Nàla, bị bệnh, đau đớn, bị trọng bệnh. Và Sa-di Cunda là thị giả của Tôn giả Sàriputta.
Tôn giả nhập Niết-bàn vì bệnh ấy.
Rồi Sa-di Cunda cầm lấy y bát của Tôn giả Sàriputta đi đến Sàvatthi, Thắng Lâm, tại khu vườn của ông Cấp Cô Ðộc, đi đến Tôn giả Ananda; sau khi đến, đảnh lễ Tôn giả Ananda, rồi ngồi xuống một bên. .. Ngồi một bên, Sa-di Cunda nói với Tôn giả Ananda:
-- Bạch Thượng tọa, Tôn giả Sàriputta đã mệnh chung. Ðây là y bát của vị ấy.
-- Này Hiền giả Cunda, đây là lý do để đến yết kiến Thế Tôn. Này Hiền giả Cunda, chúng ta hãy đi đến Thế Tôn; sau khi đến, chúng ta hãy báo tin này cho Thế Tôn.
-- Thưa vâng, Thượng tọa.
Sa-di Cunda vâng đáp Tôn giả Ananda.
Rồi Tôn giả Ananda và Sa-di Cunda đi đến Thế Tôn; sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Ngồi một bên, Tôn giả Ananda bạch Thế Tôn:
-- Bạch Thế Tôn, Sa-di Cunda này thưa như sau: 'Bạch Thượng tọa, Tôn giả Sàriputta đã mệnh chung. Ðây là y và bát của vị ấy'. Bạch Thế Tôn, thân con cảm thấy yếu ớt như lau sậy (bàng hoàng) (madhurakajato). Các phương hướng không hiện ra rõ ràng đối với con. Pháp sẽ không được giảng cho con, khi con nghe tin Tôn giả Sàriputta đã mệnh chung.
-- Này Ananda, Sàriputta có đem theo giới uẩn khi mệnh chung? Có đem theo định uẩn khi mệnh chung? Có đem theo tuệ uẩn khi mệnh chung? Có đem theo giải thoát uẩn khi mệnh chung? Có đem theo giải thoát tri kiến khi mệnh chung không?
-- Bạch Thế Tôn, Tôn giả Sàriputta không đem theo giới uẩn khi mệnh chung, không đem theo định uẩn khi mệnh chung, không đem theo tuệ uẩn khi mệnh chung, không đem theo giải thoát uẩn khi mệnh chung, không đem theo giải thoát tri kiến khi mệnh chung. Nhưng bạch Thế Tôn, Tôn giả Sàriputta là vị giáo giới cho con, là vị đã vượt qua (bộc lưu), là bậc giáo thọ, là vị khai thị, khích lệ, làm cho phấn khởi, làm cho hoan hỷ, là vị thuyết pháp không biết mệt mỏi, là vị hộ trì cho các đồng Phạm hạnh. Chúng con đều ức niệm rằng Tôn giả Sàriputta là tinh ba của pháp (dhammojam), là tài sản của pháp (dhammabhogam), là hộ trì của pháp.
-- Này Ananda, có phải trước đây Ta đã từng tuyên bố với Ông rằng mọi pháp khả ái, khả ý đều có tánh chất khác biệt, có tánh chất ly tán, có tánh chất đổi khác? Làm sao, này Ananda, ở đây, lời ước nguyền này có thể thành tựu được: 'Mong rằng cái gì được sanh, được thành, là pháp hữu vi, là pháp bị diệt hoại, lại có thể không bị diệt hoại!'? Sự kiện như vậy không xảy ra.
Ví như, này Ananda, từ một cây lớn mọc thẳng, có lõi cây, một cành cây lớn bị gãy đổ. Cũng vậy, này Ananda, từ nơi chúng Tỳ-kheo đứng thẳng, có lõi cây, Sàriputta bị mệnh chung. Làm sao, này Ananda, ở đây, lời ước nguyền này có thể thành tựu được: 'Mong sao cái gì được sanh, được thành, là pháp hữu vi, là pháp bị diệt hoại, lại có thể không bị diệt hoại!'? Sự kiện như vậy không xảy ra.
Do vậy, này Ananda, hãy tự mình là ngọn đèn cho chính mình, hãy tự mình nương tựa chính mình, chớ nương tựa một gì khác. Dùng Chánh pháp làm ngọn đèn, dùng Chánh pháp làm chỗ nương tựa, chớ nương tựa một điều gì khác. Này Ananda, thế nào là Tỳ-kheo tự mình là ngọn đèn cho chính mình, tự mình nương tựa chính mình, không nương tựa một điều gì khác, dùng Chánh pháp làm ngọn đèn, dùng Chánh pháp làm chỗ nương tựa, không nương tựa một điều gì khác?
Ở đây, này Ananda, Tỳ-kheo trú, quán thân trên thân, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm, nhiếp phục tham ưu ở đời... trú, quán thọ trên các thọ... trú, quán tâm trên tâm... trú, quán pháp trên các pháp, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm, nhiếp phục tham ưu ở đời. Như vậy, này Ananda, Tỳ-kheo tự mình là ngọn đèn cho chính mình, tự mình nương tựa chính mình, không nương tựa một gì khác, dùng Chánh pháp làm ngọn đèn, dùng Chánh pháp làm chỗ nương tựa, không nương tựa một điều gì khác.
Này Ananda, những ai hiện nay, hay sau khi Ta diệt độ, tự mình là ngọn đèn cho chính mình, tự mình nương tựa chính mình, không nương tựa một điều gì khác, dùng Chánh pháp làm ngọn đèn, dùng Chánh pháp làm chỗ nương tựa, không nương tựa một điều gì khác; những vị ấy, này Ananda, là những vị tối thượng trong hàng Tỳ-kheo của Ta, nếu những vị ấy tha thiết học hỏi". (Tương Ưng Bộ, Tập V – Thiên Đại Phẩm, Chương III. Tương Ưng Niệm Xứ (a), II. Phẩm Nàlanda, III. Cunda)
Ngày hôm nay nếu con mắt mình hư, chân đi không được nữa thì chỉ là sắc pháp, tứ đại, Thánh pháp không bị hư, xe vua rồi cũng già, cũng hoại nhưng pháp bậc thiện không già, không hoại. Chiếc xe đẹp như vua đi cũng rã rời, cũng hư nát nhưng pháp của bậc thiện nhân, pháp của bậc Thánh nhân không hư, không hoại nên hãy an trú vào pháp bất hoại đó thì tâm sẽ không bị dao động.
Nếu tâm trú vào pháp vô thường, pháp biến hoại đến khi những pháp đó biến đổi là mình chao đảo, buồn đau, mình cứ suy nghĩ tại sao hồi xưa nhìn thấy mà giờ lại không thấy, tại sao ngày xưa đi được mà giờ lại phải ngồi một chỗ, mình bị dính mắc, tham ái vào đôi chân, con mắt, bàn tay đó, trái tim đó, lá phổi, lỗ mũi đó cho nên hãy nhìn thấy rõ đây cũng chỉ là tham ái, yêu thích cái vô thường, bệnh tật này, yêu thích cái biến đổi và bại hoại này là mình khổ, không yêu thích nó nữa thì mình sẽ thoát khỏi khổ đau. Phải thường xuyên tác ý như vậy, mình không than thở, không buồn phiền, không tiếc nuối dĩ vãng và không mong chờ tương lai cho mắt sáng lại vì nó là thứ bại hoại, dù có sáng lại chút ít thì cũng hoại diệt, pháp là như vậy, sự thể là vậy, bản tánh là vậy, không thể vượt khỏi bản tánh ấy.
"Thân này bản tánh là như thế, bản chất là như thế không thể vượt qua bản chất ấy". (Trung Bộ Kinh, 10. Kinh Niệm Xứ)
Cho nên cần tác ý thường xuyên không ưa thích nó, không ham muốn nó, đến đây là tới giai đoạn phải từ bỏ nó "con mắt này hư rồi nên ta từ bỏ mày, ta dùng trí tuệ, an trú vào chỗ bất hoại, bất diệt, bất diệt", như vậy sẽ an lành hơn là trú vào cái hoại diệt, vô thường, chết chóc để khổ đau, sầu não. Cái trí biết được đây là những thứ vô thường, bại hoại thì trí đó không bị hoại, cái trí nhìn thấy các pháp vô thường, khổ, vô ngã thì trí đó là bất tử, tối thượng nên cần an trú vào trí tuệ đó, sống với trí tuệ đó.
./.