Thư Viện Linh Quy
← Danh sách

Tóm Tắt Ngũ Uẩn Giảng Giải 1

2026-03-03 00:53:05
Tinh Hoa Nikāya

Tóm Tắt Ngũ Uẩn Giảng Giải 1

Thích Minh Thành

MỤC LỤC

TOC \o "1-3" \h \z \u I. Định nghĩa ngũ uẩn PAGEREF _Toc183018016 \h 1

II. Cảm thọ PAGEREF _Toc183018017 \h 4

I. Định nghĩa ngũ uẩn

Môn này hơi khác biệt một chút so với cách học trước nay của chúng ta vì đây là pháp hành, là những phương pháp để mình thực hành. Mình muốn biết pháp hành thì pháp học phải đi đôi với nhau, tất cả pháp học và pháp hành này đều nằm trong kinh tạng Nikāya, là những lời dạy gốc, lời dạy nguyên chất của Đức Phật được truyền thừa suốt 2600 năm qua, có lịch sử, có sự thật, có các bậc tam tạng pháp sư ở Myanmar thuộc lòng, truyền thừa từ thế hệ này sang thế hệ khác.

Những lời dạy chúng ta sắp sửa được học là được trích hoàn toàn trong kinh tạng Nikāya, trước khi chúng ta chính thức đi vào bài học thì Minh Thành xin hỏi các thầy các cô một câu hỏi rất gần gũi để chúng ta có cái nhìn chính xác về thân tâm mình thì chúng ta mới có thể học và thực hành hiệu quả, đó là "tâm là gì?". Theo như từ trước đến giờ được học thì chúng ta hiểu tâm là gì? Phải hiểu được cái này thì mới bước vào con đường tu tâm, nhiếp phục tâm, chế ngự tâm và thành tựu được tâm bất động giải thoát, còn nếu mình chưa biết được tâm là gì thì tất cả sự hành trì của mình sẽ không đi đến hiệu quả viên mãn.

Tuy rằng chúng ta tụng tâm kinh Bát Nhã thuộc làu làu nhưng chúng ta không nhận diện được ngũ uẩn trong khi ngũ uẩn là thân tâm của mình. Những nhà bác học, triết học, khoa học phát biểu khi suy nghĩ thì lúc đó có tôi hoặc là tôi nhận thức thì lúc đó có tôi hoặc là tôi cảm giác thì lúc đó là tôi. Những cái phát biểu đó là phiến diện, khía cạnh, một phần nhỏ của tâm chứ không được đầy đủ cho nên phần nhận biết chỉ mới thuộc về thức uẩn thôi, còn thọ; tưởng; hành vẫn chưa có vì thế không nắm rõ tâm thì làm sao tu tâm, sửa tâm.

Nếu mình không biết những phương diện, góc độ, khía cạnh của tâm mà mình chỉ biết một góc nhỏ thôi, còn những thứ khác mình không biết cho nên khi mình nói tâm là nhận thức thì chỉ mới là phần thức uẩn thôi, ngoài ra còn cảm giác, hình bóng trong tâm tức là tưởng, còn suy nghĩ là hành. Khi mình nghĩ về sư phụ mình thì lập tức trong tâm có hình bóng của sư phụ và hình bóng đó là tưởng, là hình tướng. Thọ là cảm giác, hành là suy nghĩ, là lời nói thầm trong tâm. Thức là sự rõ biết. Khi có đầy đủ bốn nhóm, bốn phương diện mới được gọi là tâm, đó là sự giác ngộ của bậc Chánh Đẳng Chánh Giác, là điều Đức Phật chứng ngộ.

Trước nay chúng ta hiểu tâm một cách chung chung, chỉ hiểu một khía cạnh, góc độ nào đó, một phần nào đó, một uẩn nào đó thôi chứ chúng ta không hiểu hết đầy đủ bốn uẩn thọ; tưởng; hành; thức hoặc là chúng ta hiểu lẫn lộn. Sắc là sắc, tâm là tâm, căn là căn, trần là trần, thức là thức chứ không được nói lẫn lộn vì thế chúng ta phải nắm vững được tâm gồm bốn uẩn thọ; tưởng; hành; thức.

Uẩn là sự tập hợp, sự nhóm hợp. Thọ là cảm giác, cảm thọ. Thọ uẩn là sự tập hợp của các cảm giác. Tưởng uẩn là sự tập hợp của các hình bóng trong tâm cho nên khi mình tưởng về cái gì là hình bóng cái đó có trong tâm, mình tưởng về chiếc xe hơi là có hình bóng chiếc xe hơi trong tâm, mình tưởng về căn nhà là có hình bóng căn nhà trong tâm, mình tưởng về một người nào là có hình bóng người đó trong tâm, đó là nhóm những hình bóng trong tâm gọi là tưởng uẩn. Hành uẩn là sự tập hợp những suy nghĩ, lời nói lầm thầm trong tâm, ví dụ mình nghĩ chút nữa ra chơi mình đi uống nước thì lời nói lầm thầm đó chính là hành. Thức uẩn là sự rõ biết thọ; tưởng; hành, rõ biết được những cảm giác, hình bóng, suy nghĩ.

Chúng ta phải nắm thật vững về định nghĩa căn bản của ngũ uẩn, từ việc nắm được định nghĩa ngũ uẩn rồi chúng ta mới áp dụng vào việc nhìn lại trong tâm mình thì mình sẽ phân loại được các uẩn trong tâm. Khi nhìn vào tâm sẽ rõ mồn một, không còn gì bí ẩn nữa, ví dụ đang ngồi mà nhớ đến hình bóng của mẹ thì hình bóng mẹ hiện ra trong tâm, đó là tưởng uẩn, có cảm giác thân thương, ấm áp, ngọt ngào là thọ uẩn, có suy nghĩ không biết bây giờ mẹ đang làm gì là hành uẩn, cái nhận thức được 3 cái ở trên là thức uẩn. Những cái này diễn ra hằng ngày mà mình không biết, mà không biết là vô minh, mình không biết về ngũ uẩn tức là mình vô minh, vì các pháp đang có mặt bên trong mình mà mình không thấy không biết gì cả, mình nhập cuộc chung với nó và cho nó là tôi, mình không biết các uẩn đang sanh khởi, đang lắp ráp, đang kết hợp, đang vận hành nên gọi là vô minh.

Đầu tiên chúng ta sẽ học định nghĩa căn bản nhất rồi từ từ đi vào pháp hành, mình sẽ mở được mật mã, những gì bị che kín vô lượng vô biên kiếp vừa qua trong thân tâm mình sẽ được thấy biết. Chúng ta đang nói về tâm nên phần sắc để qua một bên, chúng ta sẽ đưa ra nhiều ví dụ để nắm thật vững. Bỗng nhiên mình đang trong phòng thì nhớ lại một người nào đó làm cho mình tức giận, hình bóng của người đó hiện lên là tưởng uẩn, có cảm giác bực bội, khó chịu hiện ra thì đó là thọ uẩn, mình có suy nghĩ người đó thật đáng ghét thì đó là hành uẩn, mình rõ biết đang có hình bóng của người thấy ghét đó trong tâm, đang có một cảm giác khó chịu và đang có suy nghĩ về người đó thì đó là thức, còn cái thân đang ngồi đây chính là sắc uẩn.

Thân người là sắc

Cảm giác là thọ

Suy nghĩ là hành

Hình bóng là tưởng

Rõ biết là thức.

Ví dụ chiều nay ở chùa nấu bún riêu, hình bóng tô bún riêu là tưởng, có cảm giác khoan khoái, thích thú là thọ, mình có suy nghĩ là hành, mình rõ biết hình bóng, cảm giác và suy nghĩ thì đó là thức. Phương pháp nhận diện ngũ uẩn này đã thất truyền hàng ngàn năm qua, chúng ta cứ học phất phơ và không cẩn trọng trong sự học pháp cho nên chúng ta học sẽ không tới được căn nguyên, nguồn cội của chánh pháp vì thế một trong những pháp đóng cánh cửa Dự Lưu Thánh quả chính là tâm không cẩn trọng.

Nếu mình học pháp mà không cẩn thận, cẩn trọng, không nghiêm túc thì học một thời gian sẽ biến chánh pháp thành tượng pháp và đi đến mạt pháp, mình đem cái những cái suy diễn phàm phu của mình xuyên tạc vào trong lời dạy của Đức Phật, đó là nguyên nhân đi đến mạt pháp, mình không bám sát vào lời dạy gốc của Đức Phật, nói một hồi thì cái pháp không còn bản chất của nó nữa vì thế học Nikāya đặc biệt ở chỗ bám sát vào lời Phật dạy 100%, không được tách ra khỏi lời Phật dạy một chút nào cả vì tách ra khỏi là mình đi sai đường lập tức.

Khi nhận diện ngũ uẩn phải bám sát vào định nghĩa, ví dụ khi mình nhớ về quê hương, nhớ hàng cau, nhớ cây đa, giếng nước, nhớ bờ sông, cánh đồng, những hình ảnh đó là tưởng, có cảm giác thân thương là thọ, mình suy nghĩ về những hình ảnh đó là hành, mình nhận thức, rõ biết được những cảm giác, hình bóng, suy nghĩ đó là thức. Đây chính là định lý chứng ngộ của Đức Phật trong kinh tạng Nikāya.

Chúng ta cứ đọc "chiếu kiến ngũ uẩn giai không, độ nhất thiết khổ ách" làu làu, tụng cho tới chết mà không thấy được ngũ uẩn vì phương pháp này bị thất truyền, vì thế chúng ta rất hạnh phúc, rất phước lành nên giờ này chúng ta được học phương pháp này, từ từ chúng ta sẽ thấy tất cả những gì bên trong thân tâm sẽ được khám phá, những bí mật trong tâm sẽ được thấy biết qua phương pháp nhận diện ngũ uẩn này. Kiến thức của mình phải có nền tảng căn bản, nếu không mình học một lúc là rối bời, lộn xộn hết, kiến thức sẽ bị hỏng chân cho nên chúng ta phải cẩn thận trong việc học, nhất là ngày nay có rất nhiều tư tưởng như mình đang đứng ở ngã 10, không biết đi đâu, học quá nhiều rồi cuối cùng không biết thực hành thế nào.

II. Cảm thọ

Tiếp theo chúng ta sẽ nhận diện 3 loại cảm thọ, đó là cảm thọ dễ chịu (lạc thọ), cảm thọ khó chịu (khổ thọ) và cảm thọ không dễ chịu cũng không khó chịu (bất khổ bất lạc thọ). Tất cả cảm giác được Đức Phật phân loại làm 3 cảm giác, khi mình được đi du lịch là có cảm giác dễ chịu, sau đây chúng ta sẽ biết được hang ổ, nơi trú ẩn của tham, sân, si, chính là trong cảm thọ, hang ổ của tham, sân, si nằm trong thọ uẩn. Từ trước đến này mình nói mình tu để diệt tận tham, sân, si, đối trị tham, sân, si, chấm dứt tham, sân, si nhưng mình lại không biết tham, sân, si ở đâu thì làm sao mình diệt?

Trong tạng kinh Nikāya nguyên thủy của Đức Phật chỉ cho mình nguồn gốc, hang ổ, nơi xuất phát tham, sân, si chính là trong cảm thọ. Ví dụ mình được đi Đà Lạt, được bước xuống vườn hoa nở rộ thì lúc đó là lạc thọ, Đức Phật nói trong cảm giác lạc thọ này luôn luôn có tham tùy miên. Tùy là đi theo, miên là miên man, bất cứ lúc nào có cảm giác dễ chịu, vui sướng, thích thú là luôn có tham trong đó. Khi mình ăn món ngon mà mình thích thì có tham trong đó mà mình không thấy được điều này, mình cứ nghĩ tham là lấy đồ của người ta, cái này là cái tham của vô văn phàm phu, không cần tu cũng biết đó là tham nhưng bậc Đa văn Thánh đệ tử nghe nhiều giáo pháp Nikāya biết được căn nguyên, chỉ vừa máy động trong cảm giác là mình đã biết chứ không phải đợi đến khi xảy ra rồi mới biết, biết được mầm móng, căn nguyên, xuất phát điểm, nguồn cội của nó thì mới gọi là tri kiến của bậc Thánh, thành tựu cái thấy biết của bậc thượng nhân thì mới gọi là Thánh trí, trí huệ của bậc Thánh.

Còn giờ thấy người đó ăn cắp đồ thì đó làm tham, cái này không cần tu cũng biết, còn cái này ở trong cảm giác của mình vừa mới sanh khởi là mình đã biết, trong ý tưởng của mình mới sanh khởi những suy nghĩ, hình bóng là mình đã nhìn thấy được từ lúc đó, mình bóp chết nó từ trong trứng nước. Chỉ vừa mới có thầm ý trong tâm thôi là mình đã phát giác, phát hiện ra liền, đó là suy nghĩ bất thiện, suy nghĩ này suy nghĩ ác, suy nghĩ này đưa đến khổ, sầu, bi, ưu não, suy nghĩ này đưa đến địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh.

Khi nhận diện ngũ uẩn là mình nhận diện suy nghĩ này là thiện hay bất thiện, phước hay tội, khổ hay vui, suy nghĩ này là lợi ích hay tổn hại. Đó là sự nhận diện, là mình đọc được suy nghĩ của mình, suy nghĩ đó chỉ là hành uẩn, nó không phải là mình, không phải của mình, không phải tự ngã của mình, nếu không nhận diện ngũ uẩn thì suy nghĩ nào khởi lên mình cũng cho là tôi đang suy nghĩ, suy nghĩ này là của tôi, thế là mình nhập cuộc chung với nó thì gọi là vô minh, chấp ngã. Bậc Đa văn Thánh đệ tử nhìn thấy suy nghĩ là hành uẩn, nó không phải là mình, không phải của mình, không phải tự ngã của mình, nó là pháp duyên sanh, thì đó mới gọi là nhìn nó bằng trí tuệ của bậc Thánh.

Trở lại vấn đề cảm giác dễ chịu luôn có tham, ái, dục trong đó. Chữ dục trong Nikāya rất rộng, không chỉ có nam nữ không mà nó còn là một sự thúc giục, khi ăn món đó ngon mà trong miệng nhai chưa xong, vậy là gắp sẵn đũa thứ hai để đưa vô tiếp tục, thì đó là sự thúc giục ăn nhanh, ăn mau, ăn sướng, ăn khoái thì đó là dục, đi nhanh cũng là dục, đi trong cái dục mà không có chánh niệm, không có oai nghi, không có sự bình tĩnh, đi trong sự thúc giục, sự hối hả, đi trong sự hấp tấp, nhanh lẹ thì đó là đi trong dục mà người đó không nhìn ra được, vì người đó không biết dục là gì thì làm sao nhiếp phục, chế ngự, chỉ có người nhận diện ngũ uẩn mới biết được trong cảm giác của mình đang có một sự thúc giục và sự thúc giục này cần phải an tịnh, lắng dịu, lúc này người đó nhiếp phục, chế ngự sự thúc giục đó nên họ đi chậm lại, đó là tu, đó là sự nhiếp phục, chế ngự các sự thúc giục bên trong.

Hai người cãi nhau đều là cãi trong dục, cãi trong sân, cãi trong bản ngã mà thôi. Trong tâm có sự thúc giục muốn nói mà người này không kiếm chế cái muốn nói lại được, người kia càng nghe thì lại càng giận nên cứ nói qua nói lại, từ cái thúc giục đưa đến sân, từ cái sân qua bản ngã. Khi mình ăn món ngon thì trong tâm có một sự thúc giục, có một sự khoan khoái, thích thú thì đó là ái. Dục là sự thúc giục. Tham là muốn thêm nữa, càng nhiều càng tốt. Chúng ta phân biệt 3 loại cảm giác này trong thọ uẩn, sự thúc giục, khoan khoái, thích thú và muốn thêm nữa, những thứ này đều ở trong lạc thọ, trong cảm giác dễ chịu, cảm giác thích thú và cảm giác muốn thêm, chúng ta phải tập nhận diện những loại cảm giác đó trong con người chúng ta khi ăn, khi nói, khi làm việc, khi sinh hoạt, khi được Phật tử cung kính cúng dường, lễ bái. Phải nhận diện những cảm xúc, cảm thọ của mình rồi nhiếp phục, chế ngự những tham muốn bên trong.

Cảm giác khó chịu, bực bội, nóng bức là luôn có sân tùy miên, cái sân này lúc nào cũng đi theo mình miên man trong cảm giác khó chịu đó. Mình bị chỉ trích, mình bị chê bai, mình bị nói nặng nói nhẹ, mình bị la rầy thì lúc đó mình có cảm giác khó chịu, trong cảm giác khó chịu có sân trong đó, tức giận trong đó. Đó chính là hang ổ của tham, sân trong cảm giác của mình, phải nhận diện được cảm giác bực bội, khó chịu khi bị chê, khi bị rầy, khi bị quở trách, khi bị mất mát đồ đạc, khi bị tổn hại, lúc đó sẽ có cảm giác khó chịu và có sân trong đó.

./.