Thư Viện Linh Quy
← Danh sách

Người Đi Ngược Dòng 2

2026-03-03 00:53:05
Kinh Nikāya Giảng Giải

VỚI KHỔ VỚI ƯU, NƯỚC MẮT ĐẦY MẶT, KHÓC THAN

NGƯỜI ĐI NGƯỢC DÒNG 2

Thích Minh Thành

MỤC LỤC

TOC \o "1-3" \h \z \u I. Cấu uế của tâm PAGEREF _Toc112837184 \h 1

II. Hân hoan tu học PAGEREF _Toc112837185 \h 7

III. Sống thanh tịnh PAGEREF _Toc112837186 \h 13

I. Cấu uế của tâm

Chúng ta tiếp tục nghe Đức Phật giảng thuyết về người đi ngược dòng. Vừa rồi chúng ta đảnh lễ bốn Thánh trí nhằm nhắc nhở điều gì? Nếu mình không thành tựu trí về ngũ uẩn thì chúng ta không thể thấy được tham sân si, vô minh, bản ngã, lậu hoặc cho nên tại sao tất cả mọi người đến đạo tràng chúng ta đều phải học nhận diện năm uẩn. Trong tiến trình tu chứng của bồ tát Tất-đạt-đa dưới cội bồ đề thì đầu tiên ngài thành tựu được bốn Thánh trí về ngũ uẩn, kế đế ngài thành tựu bốn Thánh trí về lậu hoặc.

Vì thế nhìn thấy được thân tâm, cảm giác, hình bóng, những suy nghĩ thì mới phát hiện ra nội tâm đầy rẫy những ác bất thiện pháp, đây là bước tuyệt đối quan trọng trong sự tu tập của người tu từ tại gia cho đến xuất gia, thành ta chúng ta phải luôn nhắc sự nhận diện ngũ uẩn, sự nhìn lại những cảm thọ, những hình bóng, suy nghĩ trong tâm. Nếu không nhìn lại, không nội soi, không soi chiếu vào bên trong thì không thể thấy được tâm cấu nhiễm, nếu không thấy tâm cấu nhiễm thì làm sao đi đến chỗ tẩy sạch hoàn toàn được cho nên bốn Thánh trí về ngũ uẩn và bốn Thánh trí về lậu hoặc là Pháp bảo, là cốt tủy của Thánh Pháp.

Vì vậy ngồi thiền là để nhìn lại những cảm giác, nghĩ tưởng bên trong nhằm phát giác ra tâm cấu nhiễm, tâm cấu uế và đây là bước tuyệt đối quan trọng quyết định sự tu hành thành tựu hay không thành tựu. Sau khi thấy được tâm dơ bẩn, cấu nhiễm thì ra công tẩy rửa, làm cho sạch sẽ, đó là công trình của tự thân mỗi người. Hôm nay chúng ta liên hệ điều này với bài kinh Tấm vải, chúng ta sẽ dùng kinh để giải thích kinh chứ không dùng luận để giải thích kinh, dùng lời của bậc Chánh Đẳng Giác để giải thích lời của bậc Chánh Đẳng Giác chứ không dùng những lời luận giải của những người sau để giải thích lời của bậc Chánh Đẳng Giác và đây cũng là cách học của đạo tràng Nikāya Linh Quy Pháp Ấn.

Khi nhìn thấy tâm cấu nhiễm, lậu hoặc, cấu uế thì chúng ta rất xót xa, đau lòng, với khổ, ưu, với sự buồn lo, đau đớn, ray rứt thậm chí nước mắt đầy mặt để chúng ta mong cầu cứu cánh thanh tịnh phạm hạnh, đi đến chỗ trong sạch hoàn toàn, tròn vẹn, viên mãn và bài kinh Tấm vải là bài kinh rất đầy đủ để minh họa cho điều này và cũng để thấy rằng minh đang đi đúng với con đường Đức Phật đã đi. Bài kinh này không ai hỏi mà tự Đức Phật giảng dạy, thuộc thể loại vô vấn tự thuyết.

“Một thời Thế Tôn ở Savatthi (Xá-vệ), tại Jetavana (Kỳ-đà Lâm), vườn ông Anathapindika (Cấp Cô Ðộc). Lúc bấy giờ Thế Tôn gọi các Tỳ-kheo: "Này các Tỳ-kheo". --"Bạch Thế Tôn", các vị Tỳ-kheo ấy vâng đáp Thế Tôn. Thế Tôn nói như sau:

-- Này các Tỳ-kheo, như một tấm vải cấu uế, nhiễm bụi, một người thợ nhuộm nhúng tấm vải ấy vào thuốc nhuộm này hay thuốc nhuộm khác - hoặc xanh, hoặc vàng, hoặc đỏ, hoặc tía - vải ấy sẽ được màu nhuộm không tốt đẹp, sẽ được màu nhuộm không sạch sẽ. Vì sao vậy? Này các Tỳ-kheo, vì tấm vải không được trong sạch. Cũng vậy, này các Tỳ-kheo, cõi ác chờ đợi một tâm cấu uế. Này các Tỳ-kheo, như một tấm vải thanh tịnh, trong sạch, một người thợ nhuộm nhúng tấm vải ấy vào thuốc nhuộm này hay thuốc nhuộm khác - hoặc xanh, hoặc vàng, hoặc đỏ, hoặc tía, vải ấy sẽ được màu nhuộm tốt đẹp, sẽ được màu nhuộm sạch sẽ. Vì sao vậy? Này các Tỳ-kheo, vì tấm vải được trong sạch. Cũng vậy, này các Tỳ-kheo, cõi thiện chờ đợi một tâm không cấu uế.”

(Trung Bộ Kinh, 7. Kinh Ví dụ tấm vải)

Đức Phật lấy hình ảnh rất rõ ràng, thực tế và gần gũi trong đời sống là tấm vải đã bị dơ bẩn thì dù có nhuộm màu cũng thành xám xịt, đỏ không ra đỏ, vàng không ra vàng, xanh không ra xanh. Ngài ví dụ ngược lại tấm vải sạch sẽ được nhúng vào thuốc nhuộm thì màu nào ra màu đó rất đẹp. Như vậy tâm cấu uế, dơ bẩn thì như thế nào?

“Và này các Tỳ-kheo, thế nào là những cấu uế của tâm? Tham dục, tà tham là cấu uế của tâm, sân là cấu uế của tâm, phẫn là cấu uế của tâm, hận là cấu uế của tâm, hư ngụy, não hại, tật đố, xan tham, man trá, khi cuống, ngoan cố, cấp tháo, quá mạn, kiêu, phóng dật là cấu uế của tâm.”

(Trung Bộ Kinh, 7. Kinh Ví dụ tấm vải)

Phẫn là phẫn nộ, giận dữ là sự dơ bẩn của tâm. Hận là thù hận cũng là sự dơ bẩn của tâm. Hư ngụy, não hại, tật đố, xan tham, man trá, khi cuống, ngoan cố, cấp tháo, quá mạn, kiêu, phóng dật những thứ này khi nhận diện ngũ uẩn và thiền quán sẽ thấy hết. Trước khi nhận diện ngũ uẩn mình thấy bản thân tốt lắm, cao thượng, từ bi, vì người khác nhưng đến khi thường xuyên nhận diện ngũ uẩn sẽ thấy tâm cấu nhiễm, dơ bẩn mà trước nay mình không thấy, đó là tâm dối trá, hư ngụy, dối trá bên ngoài và bên trong, khi có người thì làm dáng của người tu còn khi không có ai thì buông thả, buông xuôi.

Tâm này rất ghê sợ, có khi làm những hình thức đẹp đẽ nhưng vì danh lợi, vì tiếng khen để được tôn trọng, đó là tâm hư ngụy mà người đời gọi là "ngụy quân tử" còn trong đạo dùng từ "giả trang thiền tướng", tức là làm ra vẻ người tốt để được khen ngợi, tung hô, cung kính, tôn trọng, đây là chỗ ghê gớm của tâm. Để đạt đến tâm chánh hạnh, trực hạnh không phải chuyện đơn giản, đức hạnh chân chánh và ngay thẳng là khi tu thì có người cũng như không có người, thành tựu đức hạnh chân thật, chân chánh, chánh trực, ngay thẳng là cả một vấn đề, muốn thành tựu điều này phải diệt tâm hư ngụy.

Hư là giả dối, ngụy là xảo ngụy, trá ngụy, sự khéo léo của giả dối. Nhiều khi mình thấy rõ ràng đang lạy sám hối, lạy diệt ngã nhưng bên trong lại sanh bản ngã vì thế khi nhận ra sanh bản ngã cần diệt bản ngã, đang xin lỗi mà sanh ra sân hận thì diệt ngay cái sân đó, đi vào trí ngũ uẩn mới thấy được sự tinh quái, xảo trá của tâm. Tất cả những yêu tinh, yêu quái trong phim Tây Du Kí đều là sự biểu hiện của tâm, Đường Tăng với đệ tử vượt qua hết kiếp nạn mới gặp được Đức Phật thì điều này diễn tả cái tâm cấu uế, nạn thứ 33 của thầy trò Đường Tăng là Tiểu Lôi Âm đóng giả Phật tổ để lừa Đường Tăng, cũng vậy, tâm mình tu được một chút cảnh giới thanh tịnh là mình hài lòng cho rằng tu đạt rồi.

Vì thế trí về ngũ uẩn và trí lậu hoặc rất tinh vi, thâm sâu, phải có con mắt lửa tròng vàng để nhìn xuyên thấu qua những thứ biến hóa của tâm, nếu không chúng ta sẽ chết ngay với nó. Có rất nhiều người tu nhưng rất ít người thành tựu Thánh quả là vì qua không nổi cái tâm xảo trá, quỷ quyệt này, nhìn không ra, thấy không hết được nó, không thành tựu được tuệ tri, chỉ toàn là biết trên suy tưởng, nhận thức, kinh nghiệm chứ không y cứ vào Thánh trí tuệ của Đức Phật, không nghe lời Đức Thế Tôn mà lại nghe theo tâm não hại, xan tham, man trá, dối lừa. Nếu chúng ta kể những tật xấu của tâm thì kể mãi không hết nhưng phải nhận diện ngũ uẩn mới thấy được, còn người không nhận diện một cách chân chính, chân thành thì chỉ thấy được rác thô, cũng như quét nhà, người quét ẩu chỉ cầm chổi quét vài cái còn người kĩ thì quét từ trong ra ngoài, còn kĩ hơn thì moi rác từ hóc kẹt, có khi là chuột chết, gián chết, ruồi bu kiến đậu trong đó…

Đó là lý do mình cứ nghĩ tu tốt lắm rồi nhưng người khác thấy mình lại tránh xa, cũng như nhìn cái nhà thấy sạch nhưng lại có mùi hôi của chuột chết. Vì thế đối với sự man trá, dối lừa của tâm thì người chân thành, tha thiết tu phải cực kì để tâm, chúng ta bị những cú lừa ngoạn mục, bị lừa đau đớn, thê thảm vì thế trong sự nhận diện ngũ uẩn phải ngay thẳng, chân thành, nhìn nhận chính xác, nếu không mình bị lừa mà không biết bị lừa, chỉ cho lỗi vẫn không nhận lỗi thì nói gì đến việc không chỉ lỗi thì làm sao thấy được? Hễ sân lên là muốn hại người ta, người mình ghét gặp cảnh khổ là mình vui mừng, hài lòng.

Tật đố là luôn ganh ghét, so đo, xan tham, ngoan cố, ương ngạnh, khó dạy, tâm rất cố chấp, dạy dỗ thì dạ vâng nhưng thời gian sau đâu cũng vào đó, lạy sám hối khóc lóc nhưng vài ngày sau cũng ngoan cố trở lại. Phải khai thác những điều này để thiền quán, phải mổ xẻ nhìn sâu vào tập khí, soi chiếu vào nội tâm. Cấp tháo là gấp gáp và thô tháo, không có sự trầm tĩnh. Quá mạn là không bằng ai nhưng lúc nào cũng cho rằng mình giỏi, mình hơn người ta. Kiêu là kiêu căng, kiêu ngạo, kiêu mạn, đừng nghĩ rằng cạo tóc tu hành là hết kiêu mạn, phải đạt được các tầng Thánh quả mới hết được kiêu mạn. Phóng dật là buông lung phóng dật, tất cả những thứ trên là sự cấu uế của tâm, đó là những sự dơ bẩn, ô nhiễm của tâm.

“Này các Tỳ-kheo, Tỳ-kheo nào nghĩ rằng: "Tham dục, tà tham là cấu uế của tâm" và sau khi biết vậy, vị ấy đoạn trừ tham dục, tà tham cấu uế của tâm”

(Trung Bộ Kinh, 7. Kinh Ví dụ tấm vải)

Đoạn này Đức Phật dạy Như lý tác ý, sau khi nhận diện ngũ uẩn, thấy được sự cấu nhiễm, dơ bẩn của tâm thì người đó đoạn trừ tham dục, cấu uế của tâm, tẩy sạch, lau chùi, quét dọn. Đức Phật đang dạy pháp hành, mình tác ý tham dục là cấu uế, là sự nhơ nhớp, ô uế, sau khi tác ý thì biết đúng như vậy, biết nó là thứ dơ như tấm vải bị dơ nhuộm màu không đẹp, cũng vậy, tâm không sạch thì làm sao phát ra ý nghĩ, lời nói, hành động đẹp được, làm khổ mình khổ người, hại mình hại người, cho nên sau khi suy nghĩ tham dục là dơ bẩn, là nhục nhã, hèn hạ, đê tiện và biết như vậy thì đoạn trừ dục tham. Tức là tác ý vẫn chưa đủ mà cần thấy biết bằng trí tuệ, thật sự thấy nó là thứ làm nhơ nhớp, bẩn thỉu tâm thì cần nỗ lực cố gắng, tinh cần, tinh tấn dứt trừ nó.

“Nghĩ rằng: "Sân là cấu uế của tâm", và sau khi biết vậy, vị ấy đoạn trừ sân, cấu uế của tâm”

(Trung Bộ Kinh, 7. Kinh Ví dụ tấm vải)

Suy nghĩ, tác động tâm ý, tư duy quán chiếu sân hận, nóng giận, phẫn nộ là xú uế, là cấu nhiễm, không đáng để chất chứa, nuôi dưỡng, phát triển. Sau khi biết vậy thì đoạn trừ sân.

“Phẫn... hận... hư ngụy... não hại, tật đố, xan tham, man trá, khi cuống... ngoan cố... cấp tháo... mạn... quá mạn... kiêu; nghĩ rằng: "Phóng dật là cấu uế của tâm" thì sau khi biết vậy, vị ấy đoạn trừ phóng dật, cấu uế của tâm.”

(Trung Bộ Kinh, 7. Kinh Ví dụ tấm vải)

Trong kinh Đức Phật thường nói vắn tắt, nói khẩu quyết, định lý nhưng chúng ta phải hiểu rộng rãi, khi tác ý mình phải tác ý nhiều cách. Hạch tội tham dục, tâm dối trá, xảo ngụy, xử tâm man trá, kiêu mạn, xan tham, khai tội nó ra. Khi làm việc hoặc ngồi thiền phải xem cái nào hành hạ, giày vò mình thì mình moi móc, kể tội nó ra, từ đó giờ nó làm mình và những người thân khổ như thế nào, thậm chí viết tội lỗi ra cuốn tập để nhớ tính cách, khuynh hướng của kẻ thù, nhớ cái thứ làm mình đau khổ từ đời này đến kiếp khác.

Cứ như vậy hoài thì làm sao không giảm bớt được? Mình tác ý, quán xét và biết được nó như vậy thì mình sẽ nhiếp phục và đoạn tận nó từ từ, vì thế quán sự nguy hại của tâm cấu uế rất quan trọng. Cần phải sợ hãi, tránh xa nó, Đức Phật dạy phải thấy những cái tâm này là đáng sợ hãi, thậm chí cần quán xét cho đến khi rung cả cơ thể, rợn người vì cảm thấy sợ những thứ này. Khi thấy người ta khởi tâm sân thì thấy sợ và bản thân khởi tâm sân cũng thấy kinh sợ, tác ý sự hãi hùng, lo sợ, chính những thứ này làm cho mình thấp hèn, hèn hạ, nhục nhã, xấu hổ để mình diệt tận, đoạn tận, tẩy sạch và thoát ra khỏi nó. Mình tác ý, tư duy bằng chỉ, bằng quán, bằng sự thiền định tĩnh tâm thấy thật sự nó như vậy, bằng sự tác động tâm ý nhiếp phục và đoạn tận nó.

“Khi nào Tỳ-kheo biết được: "Phóng dật là cấu uế của tâm", phóng dật, cấu uế của tâm được diệt trừ, Tỳ-kheo ấy thành tựu lòng tin tuyệt đối đối với Phật: Ngài là bậc Thế Tôn, A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Ðiều Ngự Trượng Phu, Vô Thượng Sĩ, Thiên Nhân Sư, Phật, Thế Tôn.

Vị ấy thành tựu lòng tin tuyệt đối đối với Pháp: Pháp được Thế Tôn khéo thuyết giảng, thiết thực hiện tại, không có thời gian, đến để mà thấy, có khả năng hướng thượng, được người có trí chứng hiểu.

Vị ấy thành tựu lòng tin tuyệt đối đối với chúng Tăng: Diệu hạnh là chúng Tăng, đệ tử Thế Tôn; Trực hạnh là chúng Tăng, đệ tử Thế Tôn; Như lý hạnh là chúng Tăng, đệ tử Thế Tôn; Chánh hạnh là chúng Tăng, đệ tử Thế Tôn. Tức là bốn đôi tám vị. Chúng Tăng, đệ tử Thế Tôn, đáng được cung kính, đáng được tôn trọng, đáng được cúng dường, đáng được chắp tay, là phước điền vô thượng ở đời.”

(Trung Bộ Kinh, 7. Kinh Ví dụ tấm vải)

II. Hân hoan tu học

Một người nhìn thấy và tu tập như vậy thì người này chắc chắn sẽ thành tựu tuyệt đối lòng tin bất động đối với Tam bảo, đối với pháp vì pháp ở trong người, ở trong tâm, ở trong mỗi suy nghĩ của người đó. Pháp là nhìn thấy tâm cấu uế, lậu hoặc và diệt tận nó, đó là sự vận hành của pháp, đó là quán pháp trên pháp, quán tâm trên tâm. Phải trăn trở, suy tư, thao thức chứ đừng sống lơ lửng, mơ hồ cho qua ngày đoạn tháng, như thây ma biết đi, phải tha thiết, xót thương chính mình, xót thương những nỗi khổ mà mình phải gánh chịu trong vô lượng vô biên kiếp, xót thương những niềm đau mà mình phải gánh chịu từ nhỏ đến giờ, những tâm cấu nhiễm này phải được làm sạch, làm cho đẹp đẽ.

Mình không thể chấp nhận trạng thái ô uế, đau khổ, si mê như vậy, phải vươn lên thoát ra, nhiếp phục và diệt tận. Một người thường tư duy, quán chiếu, tu tập như vậy thì người này sẽ thành tựu lòng tin tuyệt đối đối với Đức Phật, thành tựu lòng tin tuyệt đối đối với pháp được Thế Tôn khéo thuyết giảng, thiết thực hiện tại, không có thời gian, đến để mà thấy, có khả năng hướng thượng, được người có trí chứng hiểu. Pháp ngay trong thân tâm được mình chứng biết, thật sự đến nội tâm để thấy cấu nhiễm này và sự nhiếp phục, đoạn tận, diệt tận cấu nhiễm này là khả năng hướng thượng, người trí là người tự mình chứng nghiệm, chứng nhập, chứng ngộ sự thật này.

Những vị thật sự đi trên con đường này là Diệu hạnh là chúng Tăng, đệ tử Thế Tôn; Trực hạnh là chúng Tăng, đệ tử Thế Tôn; Như lý hạnh là chúng Tăng, đệ tử Thế Tôn; Chánh hạnh là chúng Tăng, đệ tử Thế Tôn. Tức là bốn đôi tám vị, bốn đôi tám chúng là bốn Thánh quả và bốn bậc hướng đến bốn Thánh quả đó. Chúng ta hướng tâm của mình đi đến sự thoát ra ngũ uẩn, nhàm chán ngũ uẩn, tâm mình hướng đến chánh kiến một cách vững chắc là hướng Dự Lưu và khi chánh kiến được đầy đủ, viên mãn là Nhập Lưu, hướng đến nhị quả, tam quả, tứ quả thì gọi là bốn Thánh quả và bốn Thánh đạo, quả là đã có kết quả còn đạo là đang đi, đang hướng đến.

“Ðến giai đoạn này, đối với vị ấy có sự từ bỏ, có sự diệt trừ, có sự giải thoát, có sự đoạn trừ, có sự xả ly.”

(Trung Bộ Kinh, 7. Kinh Ví dụ tấm vải)

Đến giai đoạn này thì vị tu tập như Đức Phật nói làm sạch tấm vải thì tâm có sự từ bỏ, diệt trừ, giải thoát, đoạn trừ, xả ly.

“Vị ấy tự nghĩ: "Ta thành tựu lòng tin tuyệt đối đối với Thế Tôn", và chứng được nghĩa tín thọ, chứng được pháp tín thọ, chứng được hân hoan liên hệ đến pháp; từ hân hoan, hỷ sanh; từ hỷ, thân được khinh an; thân khinh an, cảm giác được lạc thọ; với lạc thọ, tâm được Thiền định.”

(Trung Bộ Kinh, 7. Kinh Ví dụ tấm vải)

Tín là tin, thọ là nhận, tức là vị này đã tin và nhận nghĩa lý của Đức Phật một cách xác quyết, đã tin và nhận giáo pháp của Đức Phật một cách xác quyết. Niềm tin đó, sự thấy biết đó không bị thay đổi, không bị mất đi. Cho nên lúc nào người này cũng hân hoan, hoan hỉ do người này liên hệ đến pháp trong pháp, những gì nghe, thấy, cảm nhận đều ở trong pháp, không đi ra khỏi pháp nên gọi là hân hoan liên hệ đến pháp.

Tuy là thấy vô thường, đau khổ, thấy tâm cấu uế và nỗ lực đoạn trừ nhưng người này hân hoan vì trước nay không thấy, vì đang nhiếp phục mà trước nay chưa nhiếp phục, vì đang đoạn trừ mà trước nay chưa bao giờ đoạn trừ. Vậy là vui mừng sanh ra, vì tâm mừng vui nên thân được nhẹ nhàng, cảm giác được lạc thọ, chính cảm giác lạc thọ này giúp tâm đi vào thiền định an định. Như vậy tâm hỷ, thân lạc nhẹ nhàng khinh an thì tâm đi vào thiền định vì người này suy nghĩ rằng đã thành tựu lòng tin bất động đối với Phật – Pháp – Tăng.

Bắt đầu qua giai đoạn hỷ lạc, chúng ta khóc lóc vì khổ nhưng khi qua được giai đoạn này thì chứng được nghĩa tín thọ, chứng được pháp tín thọ, chứng được hân hoan liên hệ đến pháp. Mình cứ duy trì, nỗ lực tinh tấn theo chiều hướng này thì mình sẽ thành tựu tịnh tín bất động đối với Tam bảo, đối với nghĩa lý, đối với Tam bảo là tin chắc, xác quyết và mình tiếp nhận trọn vẹn, tâm sẽ luôn được hân hoan liên hệ đến pháp, vì hân hoan nên hỷ sanh, thân vui tâm nhẹ nên có cảm giác an lạc, từ đó đi vào thiền định.

Chính vì vậy mà dân gian có câu "Qua cơn bĩ cực đến hồi thái lai", qua giai đoạn đau khổ, ưu tư, nước mắt đầy mặt thì sẽ chứng được nghĩa tín thọ, pháp tín thọ, tâm được hân hoan liên hệ đến pháp, hỷ lạc sanh và tâm đi vào thiền định. Thành ra tuy rằng khổ đau, nước mắt đầy mặt nhưng có niềm vui hướng đến phía trước nên thấy hân hoan, vui mừng, cho đến khi nào nghe pháp 6-8 tiếng, thậm chí nghe suốt ngày mà vẫn hoan hỉ, an lạc thì bắt đầu thành tựu nghĩa tín thọ, pháp tín thọ. Có rất nhiều bài kinh ghi lại việc Đức Phật thuyết pháp cho chúng Tỳ-kheo đến nửa đêm, sau đó Đức Phật nói chúng Tỳ-kheo đã vượt qua cơn buồn ngủ nên các ông Mục-kiền-liên và Xá-lợi-phất hãy tiếp tục thuyết pháp, Như Lai đã mỏi lưng nên hãy trải y để Như Lai nằm xuống.

“Ngồi xuống một bên, các người Sakka ở Kapilavatthu bạch Thế Tôn:

-- Ở đây, bạch Thế Tôn, có hội đường mới của những người Sakka ở Kapilavatthu được làm không bao lâu, chưa được một Sa-môn, hay Bà-la-môn, hay một người nào đến ở. Bạch Thế Tôn, mong Thế Tôn hãy sử dụng ngôi nhà ấy đầu tiên, rồi sau các người Sakka ở Kapilavatthu sẽ sử dụng. Như vậy, sẽ đưa đến hạnh phúc và an lạc lâu dài cho những người Sakka ở Kapilivatthu.

Rồi Thế Tôn, phần lớn của đêm, với pháp thoại thuyết giảng, khích lệ, làm cho phấn khởi, làm cho hoan hỉ các người Sakka ở Kapilavatthu. Rồi Thế Tôn giải tán họ với câu:

-- Này các Sakka, đêm đã quá khuya, nay các Ông hãy làm những gì các Ông nghĩ là hợp thời.

-- Thưa vâng, bạch Thế Tôn.

Các người Sakka ở Kapilavatthu vâng đáp Thế Tôn, từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ Thế Tôn, thân hữu hướng về Ngài rồi ra đi.

Rồi Thế Tôn, sau khi các người Sakka ở Kapilavatthu ra đi không bao lâu, liền gọi Tôn giả Mahà Moggalàna:

-- Này Moggalàna, chúng Tỳ-kheo đã đoạn trừ được buồn ngủ. Này Moggalàna, hãy thuyết pháp thoại cho chúng Tỳ-kheo. Ta nay bị đau lưng, Ta muốn nằm xuống.

-- Thưa vâng, bạch Thế Tôn.

Tôn giả Mahà Moggalàna vâng đáp Thế Tôn.

Rồi Thế Tôn cho xếp y Sanghàti (Tăng-già-lê) gấp bốn lại, và nằm xuống phía hông bên phải, trong dáng nằm con sư tử, hai chân gác trên nhau, chánh niệm tỉnh giác, tác ý đến lúc thức dậy.”

(Tương Ưng Bộ, Tập IV - Thiên Sáu Xứ, Chương I. Tương Ưng Sáu Xứ (g), IV. Phẩm Rắn Độc, VI. Dục Lậu)

Như vậy là các Tỳ-kheo nghe pháp suốt đêm và thường xuyên như vậy. Còn chúng ta nghe pháp lại thấy mệt mỏi, buồn ngủ là do chúng ta chưa thành tựu được nghĩa tín thọ, pháp tín thọ, còn khi chứng được rồi thì nghe pháp đến bỏ ăn mất ngủ cũng không hề gì. Khổng Tử có viết "Triêu văn đạo, tịch khả tử" nghĩa là sáng được nghe pháp, tối chết cũng cam lòng, vì thế người thành tựu nghĩa tín thọ, pháp tín thọ sẽ hoan hỉ liên hệ đến pháp.

Có lần con ngồi đàm luận về pháp đến 17 tiếng, khi kết thúc vẫn an lạc, con không còn nhớ đến thời gian nữa, con xin chia sẻ với đại chúng là con có tâm nguyện sẽ giảng hết 500 chủ đề của tạng kinh Nikāya để làm bộ "Hậu đại tạng kinh" cho Phật Giáo Việt Nam, sau đó có chết cũng mãn nguyện và con mong đại chúng cùng hợp tác để cố gắng, ít nhất học pháp một ngày một buổi để để lại một chút đóng góp nào đó cho kho tàng giáo pháp Chánh Pháp của Đức Phật trong thời đại mạt pháp này.

Con có chết 100 cái mạng này cũng chẳng là gì, con chỉ mong muốn Chánh Pháp được tuyên bố, được lưu bố cho mọi người hiểu một cách rộng rãi, dễ dàng, để mọi người có ngọn đèn soi sáng trong bóng đêm trường dạ của thế giới này. Đây là tâm nguyện của con vì hiện tại đại tạng kinh Nikāya không có mấy người đọc hiểu, nếu không có người giảng giải những phần cốt lõi, chính yếu của pháp hành thì nó sẽ bị mai một, không ai muốn đọc nữa. Con đã cố gắng bằng tất cả tấm lòng diễn ra nghĩa dễ hiểu, gần gũi để khi con có chết thì những lời của Đức Phật sẽ được mọi người dễ học, dễ hiểu, dễ tu, nhất là những Tăng Ni là những thế hệ rường cột sẽ gánh vác Phật Pháp trong tương lai.

Chúng ta nhớ cốt lõi của sự tu hành là nhìn nhận lại nội tâm, tự thân của mình để thấy rác bẩn, cấu nhiễm, những thứ dơ bẩn của nội tâm và cố gắng nhiếp phục, tẩy sạch, đoạn trừ. Ở bên ngoài cần có sự chân thành bày tỏ, sám hối, xin lỗi, khiêm cung, đây là nét đẹp tuyệt diệu của người tu nên cần giữ gìn, duy trì, phát triển. Bày tỏ lỗi lầm, nhìn nhận lỗi lầm, mở lời xin lỗi sám hối để đại chúng chứng minh để từ từ đi đến chỗ trong sạch, thanh tịnh, đây là nét đẹp tuyệt vời của người tu, cần phải được tán dương, khuyến khích, tăng trưởng, phát triển đức hạnh này để làm cho chúng ta càng hoàn thiện hơn, tươi đẹp hơn trong Chánh Pháp, càng trưởng thành hơn trí tuệ, càng tròn đầy hơn trong đời sống phạm hạnh thanh tịnh của người tu.

Đây là những cảm giác nhiệm màu, hiếm có trong suốt cả cuộc đời của kiếp người, Đức Phật nói với sự tu tập như vậy thì vị đó sẽ thành tựu lòng tin tuyệt đối đối với Phật – Pháp – Tăng và sau đó vị đó sẽ có sự từ bỏ, diệt trừ, giải thoát, buông xả, xả ly, vị đó chứng được nghĩa tín thọ, pháp tín thọ, nghĩa lý của Đức Phật vị này sẽ hiểu thấu, sẽ tin nhận một cách trọn vẹn, giáo pháp của Đức Phật vị này sẽ tin hiểu và tiếp nhận trọn vẹn trong thân tâm, chứng được sự hân hoan liên hệ đến pháp. Từ sự hoan hỉ, hân hoan đó thì hỷ sanh, vui mừng sanh, từ vui mừng thì thân được nhẹ nhàng nên có cảm giác an lạc, từ cảm giác nhẹ nhàng này thì tâm được thiền định, đó là bước tiếp theo của chúng ta chứ không phải dừng lại ở tâm cấu uế.

“Này các Tỳ-kheo, vị Tỳ-kheo, giới như vậy, pháp như vậy, tuệ như vậy, - nếu có ăn đồ khất thực với gạo thơm, hạt đen được vất đi, với các món canh, với các món ăn khác cũng không vì vậy trở thành một chướng ngại cho vị ấy. Này các Tỳ-kheo, như một tấm vải cấu uế, nhiễm bụi, nếu bỏ trong nước sạch, trở thành thanh tịnh sạch sẽ, như bỏ vào lò lửa trở thành thanh tịnh sạch sẽ.”

(Trung Bộ Kinh, 7. Kinh Ví dụ tấm vải)

III. Sống thanh tịnh

Với sự tu học như vậy, với sự tẩy sạch như vậy giống như tấm vải được giặt sạch sẽ thì vị này xứng đáng nhận sự cung kính, cúng dường.

“Vị ấy an trú, biến mãn một phương với tâm câu hữu với từ, cũng vậy phương thứ hai, cũng vậy phương thứ ba, cũng vậy phương thứ tư. Như vậy, cùng khắp thế giới, trên dưới bề ngang, hết thảy phương xứ, cùng khắp vô biên giới, vị ấy an trú biến mãn với tâm câu hữu với từ, quảng đại, vô biên, không hận, không sân.

Vị ấy an trú, biến mãn một phương với tâm câu hữu với bi... (như trên)... với tâm câu hữu với hỷ... (như trên)... biến mãn một phương với tâm câu hữu với xả, cũng vậy phương thứ hai, cũng vậy phương thứ ba, cũng vậy phương thứ tư.”

(Trung Bộ Kinh, 7. Kinh Ví dụ tấm vải)

Vị này ngồi ở đâu thì tâm an trú với từ bi, tình thương cùng khắp phương trời, trải tình thương, tâm từ để thương chính mình, thương những người xung quanh mình, thương cả hữu tình chúng sanh vạn loại. Thương vì chính mình và chúng sanh đều bị tâm cấu nhiễm làm đau khổ, trói cột, hành hạ. Thương vì mình và chúng sanh hữu tình bị tham sân si chi phối, áp đảo, xâm chiếm. Thương vì mình và chúng sanh làm nô lệ cho dục tham ái trong vô lượng kiếp.

Thương vì mình và chúng sanh bị đốt cháy, thiêu rụi trong những cảm giác của nhiệt não, sân hận. Thương vì mình và tất cả chúng sanh sống trong bóng đêm trường dạ của vô minh, hắc ám, si mê, không thấy ngũ uẩn, không thấy tâm cấu nhiễm, lậu hoặc, không thấy nguyên nhân làm mình khổ đau. Tình thương này dào dạt, bao la, mênh mông, rộng lớn khắp phương trên phương dưới, khắp bề dọc bề ngang, an trú trong tình thương bao la biến mãn cùng khắp với tâm từ trải khắp bốn phương tám hướng, không bờ mé, không cùng tận.

An trú với tâm bi xót xa, xót thương, bi mẫn cho chính mình và cho hữu tình, tràn ngập khắp nơi là lòng bi mẫn, xót thương đến vạn loại muôn loài chúng sanh trên Trái Đất này và những nạn nhân của tham sân si, vô minh, bản ngã, lậu hoặc, nạn nhân của tâm cấu nhiễm, những người đang gặp tai nạn, một lòng bi mẫn xót thương dào dạt rộng lớn. Hoan hỉ khi thấy pháp, hoan hỉ khi có sự viễn ly, hoan hỉ khi thấy được tâm lậu hoặc để nhiếp phục và tẩy sạch và tâm vui mừng này lan tỏa khắp châu thân, từ đảnh tóc cho đến gót chân, mỗi tế bào là một sự hỷ lạc, vui sướng khi gặp Chánh Pháp, vui sướng vì đang đi trên Thánh đạo, vui sướng vì mình chuẩn bị vượt ra, thoát ra khỏi tâm cấu nhiễm, lan tỏa sự hoan hỉ khắp bốn phương tám hướng, bề dọc bề ngang, khắp trời đất thênh thang mênh mông vô tận. Sự mừng vui khi học pháp, hành pháp và đi trong pháp và chúng ta lan tỏa tâm buông xả, buông bỏ tứ đại ngũ uẩn, căn – trần – thức để tâm được nhẹ nhàng, khinh an, rộng lớn cùng khắp hư không giới.

“Như vậy, cùng khắp thế giới, trên dưới bề ngang, hết thảy phương xứ, cùng khắp vô biên giới, vị ấy an trú biến mãn với tâm câu hữu với xả, quảng đại vô biên, không hận, không sân.”

(Trung Bộ Kinh, 7. Kinh Ví dụ tấm vải)

Thường xuyên trú trong bốn tâm vô lượng, đừng bám chấp vào tấm thân mấy chục kí lô nhỏ hẹp, bất tịnh, nhơ nhớp này mà thường xuyên trú trong bốn tâm vô lượng, từ vô lượng, bi vô lượng, hỷ vô lượng, xả vô lượng, trải rộng tâm mình ra.

Vị ấy biết: "Có cái này, có cái hạ liệt, có cái cao thượng, có sự giải thoát vượt qua các tưởng". (Trung Bộ Kinh, 7. Kinh Ví dụ tấm vải)

Vị tu tập biết có sự hạ liệt thấp kém và có cái cao thượng. Những tâm cấu nhiễm là hạ liệt thấp kém, tâm tẩy sạch các cấu uế, an trú vào bốn tâm vô lượng, thành tựu tịnh tín bất động đối với Tam bảo, hân hoan trong pháp, đi vào thiền định là tâm cao thượng và có sự giải thoát vượt qua các tưởng.

Do vị ấy biết như vậy, thấy như vậy, tâm được giải thoát khỏi dục lậu, tâm được giải thoát khỏi hữu lậu, tâm được giải thoát khỏi vô minh lậu. Đối với tự thân đã giải thoát, trí khởi lên: "Ta đã giải thoát, sanh đã tận, phạm hạnh đã thành, những việc nên làm đã làm, không còn trở lui trạng thái này nữa". Này các Tỳ-kheo, Tỳ-kheo ấy được gọi là Tỳ-kheo đã được tắm rửa với sự tắm rửa nội tâm. (Trung Bộ Kinh, 7. Kinh Ví dụ tấm vải)

Giải thoát khỏi dục lậu, hữu lậu và vô minh lậu, trí tuệ khởi lên biết rằng ta đã giải thoát, sự sống đã chấm dứt, không còn sanh đi chết lại trong cái tham sân si, vô minh này nữa, hạnh thanh tịnh đến đây đã viên thành, những việc cần làm đã làm xong, không còn trở lui trạng thái của tâm cấu nhiễm, dơ bẩn này nữa. Người tu như vậy gọi là đã được tắm rửa với sự tắm rửa nội tâm sạch sẽ hoàn toàn. Hãy thường xuyên tắm rửa với sự tắm rửa nội tâm, hãy làm cho tâm trong sạch, thanh tịnh, viên mãn phạm hạnh. Hãy tắm rửa mỗi ngày, mỗi giờ, hãy tắm rửa trong từng suy nghĩ, ý niệm, tẩy sạch thọ; tưởng; hành, đừng để tấm thân nhơ nhớp, gội rửa thật sạch những tâm cấu nhiễm này.

“Lúc bấy giờ, Bà-la-môn Sundarika Bharadvaja đang ngồi không xa Thế Tôn. Rồi Bà-la-môn Sundarika Bharadvaja bạch Thế Tôn:

-- Tôn giả Gotama có đi đến sông Bahuka để tắm rửa không?

-- Này Bà-la-môn, sông Bahuka là gì? Sông Bahuka có làm được lợi ích gì?

-- Tôn giả Gotama, sông Bahuka được nhiều người xem là có khả năng giải thoát. Tôn giả Gotama, sông Bahuka được nhiều người xem là có khả năng đem lại công đức. Và nhiều người đã gội sạch các ác nghiệp trong sông Bahuka.”

(Trung Bộ Kinh, 7. Kinh Ví dụ tấm vải)

Sau đó Thế Tôn nói lên bài kệ với đại ý dù cho người ngu thường tắm trong tất cả dòng sông thì ác nghiệp vẫn không được rửa sạch, không thể rửa được nghiệp đen của kẻ ác gây tội. Ông Bà-la-môn nghĩ rằng Đức Phật nói tắm theo nghĩa thông thường nhưng Đức Phật lại nói đến cái tắm vô thượng của sự tắm rửa nội tâm. Ông Bà-la-môn hướng ngoại ra dòng sông linh thiêng thì Đức Phật đã nói rằng:

Đối kẻ sống thanh tịnh,

Ngày nào cũng ngày tốt,

Với kẻ sống thanh tịnh,

Ngày nào cũng ngày lành,

Các tịnh nghiệp thanh tịnh,

Luôn thành tựu thiện hạnh.

Này vị Bà-la-môn,

Chỉ nên tắm ở đây,

(Trung Bộ Kinh, 7. Kinh Ví dụ tấm vải)

Tắm trong các tịnh nghiệp trong sạch, thành tựu các hạnh lành.

Khiến mọi loài chúng sanh,

Được sống trong an ổn.

Nếu không nói dối trá,

Nếu không hại chúng sanh,

Không lấy của không cho,

Có lòng tín, không tham,

Đi Gayà làm gì,

Gayà một giếng nước?

(Trung Bộ Kinh, 7. Kinh Ví dụ tấm vải)

Khi Bà-la-môn nghe Đức Phật nói về sự tắm vi diệu tối thượng như vậy thì vị này đã thưa:

“Khi được nghe nói vậy, Bà-la-môn Sundarika Bharadvaja bạch Thế Tôn:

-- Thật vi diệu thay, Tôn giả Gotama! Thật vi diệu thay, Tôn giả Gotama! Tôn giả Gotama, như người dựng đứng lại những gì bị quăng ngã xuống, phơi bày ra những gì bị che kín, chỉ đường cho kẻ bị lạc hướng, đem đèn sáng vào trong bóng tối, để những ai có mắt có thể thấy sắc. Cũng vậy Chánh pháp đã được Tôn giả Gotama dùng nhiều phương tiện trình bày. Nay con quy y Tôn giả Gotama, quy y Pháp và quy y Tăng. Mong con được xuất gia với Tôn giả Gotama! Mong con được thọ đại giới!

Bà-la-môn Sundarika Bharadvaja được xuất gia với Thế Tôn, được thọ đại giới. Trong thời gian ngắn sau khi thọ đại giới, Tôn giả Bharadvaja sống độc cư, không phóng dật, nhiệt tâm tinh cần và không bao lâu sau khi tự thân chứng ngộ với thượng trí, chứng đắc và an trú ngay trong hiện tại, vô thượng cứu cánh Phạm hạnh mà vì mục đích này các Thiện nam tử xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình. Vị ấy đã thắng tri: "Sanh đã tận, Phạm hạnh đã thành, những việc nên làm đã làm, không còn trở lui trạng thái này nữa". Như vậy, Tôn giả Bharadvaja trở thành một vị A-la-hán nữa.”

(Trung Bộ Kinh, 7. Kinh Ví dụ tấm vải)

Điều này cho thấy thời Đức Phật tại thế có biết bao vị sau khi nghe giảng pháp rồi nỗ lực tinh cần tinh tấn, không buông lung phóng dật mà nhiệt tâm là sau đó chứng đắc. Vì thế chúng ta không được tự mãn mà phải nỗ lực, không tu lơ là, hình thức, tu cho có mà phải có tâm nhiệt thành, chân chánh, tha thiết và nỗ lực. Đó là chúng ta liên hệ đến bài kinh Tấm vải trong Trung Bộ Kinh để nói rõ về người đi ngược dòng. Chúng ta trở lại bài kinh Thuận dòng, hôm trước có các vị lên trình pháp nói rằng mình đã đứng lại nhưng chữ "đứng lại" dùng không đúng. Hôm nay chúng ta sẽ nghe thế nào là hạng người đứng lại.

“Và này các Tỳ-kheo, thế nào là hạng người tự đứng lại?

Ở đây, này các Tỳ-kheo, có hạng người do diệt tận năm hạ phần kiết sử, được hóa sanh, tại đấy nhập Niết-bàn, không còn trở lại đời ấy nữa. Này các Tỳ-kheo, đây gọi là hạng người tự đứng lại.”

(Tăng Chi Bộ, Chương IV – Bốn Pháp, I. Phẩm Bhandagana, (V) Thuận Dòng)

Người nào nói mình đã đứng lại thì có đứng lại cỡ này chưa? Đây mới là nghĩa đứng lại của Đức Phật, diệt tận năm hạ phần kiết sử, được hóa sanh tịnh cư Thiên, nhập Niết-bàn tại đó, không trở lại đời này nữa thì mới gọi là người tự đứng lại. Chúng ta còn công việc rất nhiều nhưng lại không lo làm, nếu cắt được sợi dây kiến chấp về thân (thân kiến) là Nhập Lưu vào dòng giải thoát, dòng trí tuệ, hoài nghi, giới cấm thủ, dục tham và sân, đoạn tận năm phần ràng buộc, trói cột này thì mới gọi là người đã đứng lại.

“Và này các Tỳ-kheo, thế nào là vị Bà-la-môn đã vượt qua đến bên bờ kia, đứng trên đất liền?

Ở đây, này các Tỳ-kheo, có hạng người do hoại diệt các lậu hoặc, ngay trong hiện tại, tự mình với thắng trí, chứng ngộ, chứng đạt và an trú vô lậu tâm giải thoát, tuệ giải thoát. Này các Tỳ-kheo, đây gọi là vị Bà-la-môn đã vượt qua đến bờ bên kia, đứng trên đất liền.”

(Tăng Chi Bộ, Chương IV – Bốn Pháp, I. Phẩm Bhandagana, (V) Thuận Dòng)

Hoại diệt các lậu hoặc là dục lậu, hữu lậu và vô minh lậu, chứng đạt và an trú vô lậu tâm giải thoát, tuệ giải thoát là diệt tận khát ái thì tâm được giải thoát, diệt tận vô minh thì trí tuệ được giải thoát cho nên phá hết lậu hoặc, vô minh, khát ái thì vị này là A-la-hán, qua đến bờ bên kia, đứng trên đất liền. Như vậy mình ở hạng nào trong bốn hạng người này? Hãy tự xác định vị trí của mình, hạng người đi ngược dòng mà mình còn chưa chính thức bước chân vào được cho nên trước tiên cần xác quyết vấn đề đi ngược dòng.

Bốn hạng người này, này các Tỳ-kheo, có mặt, hiện hữu ở đời. Tức là hạng ngược dòng, hạng thuận dòng, hạng đứng lại và hạng đã qua đến bờ bên kia.

Những ai sống ở đời

Không chế ngự các dục

Không từ bỏ ly tham

Thọ hưởng các dục vọng

Họ đi đến sanh già

Đến rồi lại đến nữa

Bị khát ái trói buộc

Họ đi thuận dòng đời

Đây là hạng thứ nhất, sau đây là hạng thứ hai

Do vậy bậc có trí

Ở đời, trú chánh niệm

Không thọ hưởng các dục

Không hành trì điều ác

Dầu chịu sự khổ đau

Từ bỏ các dục vọng

Họ được gọi hạng người

Ði ngược lại dòng đời.

Những ai quyết đoạn tận

Năm phiền não kiết sử

Bậc hữu học viên mãn

Không còn bị thối thất

Đạt được tâm điều phục

Các căn được định tĩnh

Vị ấy được gọi là

Người đã tự đứng lại

Đối các pháp thắng liệt

Vị ấy được giác tri

Đã được quét, quạt sạch

Các pháp được chấm dứt

Vị ấy bậc trí giả

Phạm hạnh được thành tựu

Được tên gọi danh xưng

Bậc đã đi đến nơi

Chỗ tận cùng thế giới

Bậc đã đến bờ kia. (Tăng Chi Bộ, Chương IV – Bốn Pháp, I. Phẩm Bhandagana, (V) Thuận Dòng)

Mong rằng tất cả chúng ta đang ở trong chiếc thuyền ngược sóng, ngược gió phải vững tay chèo, kiên trì giữ vững chí nguyện, chí hướng để lội ngược dòng thế gian đi vào dòng trí tuệ giải thoát.

./.