Con Đường Đoạn Tận Tham Ái 13-Bị Chìm Giữa Dòng
Con Đường Đoạn Tận Tham Ái 13
Bị Chìm Giữa Dòng
Thích Minh Thành
MỤC LỤC
TOC \o "1-3" \h \z \u I. Bị mắc vào bờ này – bờ kia PAGEREF _Toc141971763 \h 1
II. Bị chìm giữa dòng PAGEREF _Toc141971764 \h 7
III. Bị mắc cạn PAGEREF _Toc141971765 \h 9
IV. Bị người nhặt lấy PAGEREF _Toc141971766 \h 11
V. Bị phi nhân nhặt lấy PAGEREF _Toc141971767 \h 13
VI. Bị mắc vào xoáy nước PAGEREF _Toc141971768 \h 15
VII. Bị mục nát ở bên trong PAGEREF _Toc141971769 \h 16
I. Bị mắc vào bờ này – bờ kia
Kính thưa đại chúng hôm nay chúng ta tới phần VIII là bị chìm giữa dòng, đồng nghĩa với hỉ, tham. Hôm nay chúng ta qua một hình ảnh rất là ấn tượng, sống động, hiện sinh.
“Một thời Thế Tôn trú ở Kosambi, trên bờ sông Gangà.
Thế Tôn thấy một khúc gỗ lớn trôi theo dòng nước sông Hằng, thấy vậy liền gọi các Tỳ kheo
Này các Tỳ kheo, các Ông có thấy khúc gỗ to lớn này đang trôi theo dòng nước sông Hằng không?
Thưa có, bạch Thế Tôn.
Này các Tỳ kheo, nếu khúc gỗ không đâm vào bờ bên này, không đâm vào bờ bên kia, không chìm giữa dòng, không mắc cạn trên miếng đất nổi, không bị loài Người nhặt lấy, không bị phi nhân nhặt lấy, không bị mắc vào xoáy nước, không bị mục bên trong; như vậy, này các Tỳ kheo, khúc gỗ ấy sẽ hướng về biển, sẽ xuôi theo biển, sẽ nghiêng nhập vào biển. Vì sao? Vì rằng, này các Tỳ kheo, dòng sông Hằng hướng về biển, xuôi theo biển, nghiêng trôi về biển. Cũng vậy, này các Tỳ kheo, nếu các Ông không đâm vào bờ bên này, không đâm vào bờ bên kia, không chìm giữa dòng, không mắc cạn trên miếng đất nổi, không bị loài Người nhặt lấy, không bị phi nhân nhặt lấy, không bị mắc vào xoáy nước, không bị mục bên trong; như vậy, này các Tỳ kheo, các Ông sẽ hướng về Niết-bàn, sẽ xuôi theo Niết-bàn, sẽ nghiêng nhập vào Niết-bàn. Vì sao? Vì rằng, này các Tỳ kheo, chánh kiến hướng về Niết-bàn, xuôi theo Niết-bàn, nghiêng nhập vào Niết-bàn.
Khi được nghe nói vậy, một Tỳ kheo bạch Thế Tôn:
Bạch Thế Tôn, bờ bên này là gì? Bờ bên kia là gì? Thế nào là chìm giữa dòng? Thế nào là mắc cạn trên miếng đất nổi? Thế nào là bị loài Người nhặt lấy? Thế nào là bị phi nhân nhặt lấy? Thế nào là bị mắc vào xoáy nước? Thế nào là bị mục nát bên trong?
Bờ bên này, này Tỳ kheo, là đồng nghĩa với sáu nội xứ.
Bờ bên kia, này Tỳ kheo, là đồng nghĩa với sáu ngoại xứ.
Bị chìm giữa dòng, này Tỳ kheo, là đồng nghĩa với hỉ tham.
Bị mắc cạn trên miếng đất nổi, này Tỳ kheo, là đồng nghĩa với ngã mạn.
Và này Tỳ kheo, thế nào là bị người nhặt lấy? Ở đây, Tỳ kheo sống quá liên hệ với cư sĩ, chung vui, chung buồn, an lạc khi họ an lạc, đau khổ khi họ bị đau khổ, tự trói buộc mình trong các công việc phải làm được khởi lên của họ. Ðây gọi là Tỳ kheo bị loài Người nhặt lấy”
(Tập IV.Thiên Sáu Xứ, Chương I.Tương Ưng Sáu Xứ, IV.Phẩm Rắn Độc, IV.Khúc Gỗ)
Những cái này chúng ta tìm hiểu rất hay, chúng ta sẽ đi tìm hiểu từng phần, hình ảnh này rất là tuyệt vời trong sự tu tập nếu chúng ta thực sự muốn hướng về biển, xuôi theo biển và vào trong biển cả của Niết-bàn.
Như vậy bờ bên này là sáu nội sứ. Sáu nội sứ là mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý đó là sáu chỗ ở bên trong. Nnhư vậy gọi là mình bị mắc ở bên này, mình bị đâm vào bờ ở bên này. Tức là mình quá dính mắc vô trong thể xác, mình quá yêu cái tự ngã, quá thương cái tôi, cái mình, mình bị dính mắc, bị tham ái ở trong cái tự thể. Suốt ngày, sáng dậy là dậy soi gương nhìn xem cái mặt có vuông không, có bị hóp không, có tươi thắm không. Cái sắc diện hôm nay của mình như thế nào? Thì cái đó là bị đâm vào bờ này rồi.
Bờ này là sáu nội sứ, là mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý. Lâu lâu rờ cái lỗ tai, coi cái dái tai hôm nay dài không, coi cái lỗ tai tốt hơn lúc trước không. Rồi nhìn cái lỗ mũi, so sánh, nhìn thấy người khác hoặc là đọc trong tờ báo hoặc bất cứ hình ảnh nào là mình so sánh, nhìn cái lỗ mũi người ta rồi soi lại cái lỗ mũi của mình. Rồi cái thân thể, hình thể, tuu rằng là xuất gia nhưng lâu lâu chụp hình tự sướng đăng lên Facebook, Zalo, gởi cho bạn bè này kia. Tất cả cái đó là đều bị đâm vào bờ thì mình không thể nghiêng về, xuôi về và vào được biển cả của Niết-bàn.
Tối ngày cứ săm soi cái thân thể, cái hình thể, coi cái áo, coi cái y. Đừng nói khoác cái y lên là giải thoát, ngay cái y đó là biết bao nhiêu dính mắc, tham ái, dục ở trong đó. Đó là loại vải gì, may chỗ nào, phải may chỗ đó, may chỗ khác là không được, mua là không mặc thì như vậy đã dính trong bờ này rồi.
Phải kiểm tra ra mới thấy, mình tu mà dính mắc đầy hết, coi như nhúc nhích chỗ nào cũng bị dính mắc hết. Cho nên tu hoài không thấy giải thoát vì không hạ thủ công phu. Như vậy gọi là sáu nội xứ, tức là mình bị dính mắc. Nói đơn giản là mình bị dính mắc, nói danh từ ở đây là đâm vô bờ này, cái khúc gỗ đó bị mắc vô bờ bên đây. Quá quan trọng về thân thể của mình, về thể chất của mình, về cơ thể của mình.
Cho nên tại sao Minh Thành nhắc quý huynh đệ là giờ học không ăn, không uống gì hết, đó là đang dính ở bên bờ này. Giờ học là tuyệt đối không ăn uống, ăn trước khi học hoặc ăn khi ra chơi. Mà đúng ra người chân tu là buổi chiều không ăn, mà kẹt quá, sức khoẻ yếu, bệnh, thì đúng giờ tiểu thực chỉ dùng trong giờ đó thôi, mà phải dùng trong sự hổ thẹn, xấu hổ, tàm quý thì đó mới là người tu thực sự. Hở chút ăn, chút uống thì như vậy đâu có tàm quý gì, không có hổ thẹn gì hết thì chừng nào mới đi tới Niết-bàn, chừng nào mới tới biển Niết-bàn. Bây giờ nói rộng ra sáu ngoại xứ là sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp. Đó là sáu ngoại xứ, tức là mình bị dính vô bờ bên kia.
Cho nên sự tu này nó vi tế lắm. Ví dụ như mình nghĩ rằng cái chùa phải cho nó đẹp, cái tượng Phật phải đẹp, cái bàn thờ của mình phải đẹp, cái gì của mình cũng phải đẹp, thì cái đó là mình đang bị mắc ở bờ bên kia. Bờ bên kia không phải Niết-bàn mà là sáu ngoại xứ. Tối ngày cứ lo trau chuốt ngôi chùa, trau chuốt bàn thờ, để mai đây leo lên bàn thờ ngồi. Kiếm cái bàn thờ bằng gỗ cho đẹp để mai mốt dành chỗ cho mình ngồi chứ có làm có gì đâu. Dù cho đó là hình Phật, biểu tượng của Tam Bảo nhưng bị dính mắc vô đó, tức là mình bị dính vào bờ bên kia chứ không phải mình dựa vào cái đó mà nói "tôi vì Phật pháp, vì chúng sanh", mình phải coi lại, xem có thật vì Phật pháp vì chúng sanh không hay là trong đó là tôi, là của tôi.
Sâu sắc đó, không phải chuyện đơn giản đâu. Khi nghe ca nhạc Phật giáo thì tâm của mình có bị rung động không? Nếu bị rung động là mình bị dính vào bờ bên kia, dù cho nó là nhạc Phật giáo. Đây là nói sâu sắc, cho nên người chân tu là giờ giờ, phút phút quay lại nhìn trong cảm giác, trong nghĩ tưởng của mình xem nó có ô nhiễm không? Nếu có ô nhiễm, có rác, có sự cấu uế trong nội tâm là phải tẩy sạch, trừ sạch, đoạn diệt ngay lập tức. Không cho nó tồn chỉ, không cho nó cư trú, không cho nó ở trong nội tâm của mình, đó mới là người tu chân chánh, đó mới là đa văn thánh đệ tử.
Cho nên đối với sắc, thanh, hương, vị, xúc thì chết ở hương vị. Nhiều khi Minh Thành làm mà mấy chú huynh đệ trên núi thấy lạ, cũng như vừa rồi bốn năm trăm Phật tử lên khai pháp đầu xuân thì Minh Thành không mua một cái bông nào hết. Minh thành nói ngắt lá trúc, cắm toàn bộ bằng trúc hết không tốn một đồng mua bông mà Phật tử chạy ùn ùn đến chụp hình "lạ quá, đặc biệt quá, đẹp quá, không thấy chùa nào như vậy hết trơn". Như vậy mới là độc đáo, mới là sáng tạo, mới là thiểu dục tri túc, là cây nhà lá vườn, mới là cứu cánh cùng cực, quy phục tự nhiên.
Không nhất thiết phải đi theo người ta. Cho nên tại sao Linh Quy Pháp Ấn có nhiều người thích, tại vì nó không theo ai hết, tự nó như vậy. Không cần phải đi theo người ta, không cần thiết người ta làm sao mình phải làm vậy, không cần người ta làm là mình phải theo. Cho nên Minh Thành tâm đắc câu Đức Thế Tôn nói:
"Này các Tỳ Kheo, Ta không tranh chấp với đời, chỉ có đời tranh chấp với Ta. Này các Tỳ Kheo, người nói pháp không tranh chấp với bất cứ một ai ở đời" (Tương Ưng III, trang 165)
Câu này phải thuộc lòng và ứng dụng mọi lúc mọi nơi. Mình không có tranh với đời, tranh với đời là sao? Nghĩa là chùa kia vậy là chùa này phải vậy, đạo tràng kia như vậy thì mình phải như vậy hoặc phải hơn, đó là mình đang tranh với đời chứ không phải là đạo. Cái chỗ kia tổ chức 500 thì ở đây phải tổ chức 700, chỗ kia tổ chức nấu 7 món mình phải nấu 10 món cho nổi chơi, cái đó là đâm vào bờ kia. Cái đó mình không khéo là mình giống như ngoài đời, bên kia 2 tầng mình phải xây 3 tầng cho hơn, đó là đâm vào bờ kia rồi.
Cho nên mình phải chánh niệm tỉnh giác và sâu sắc nhìn bằng trí huệ. Mình nhìn vào nội tâm tâm của mình, còn không là mình chạy theo sáu ngoại xứ. Phải cẩn thận từng chút, từng chút nhỏ nhiệm, tinh vi. Một thân thể không bệnh hoạn là bao nhiêu ngàn, bao nhiêu tỉ tế bào trong này đều tốt. Chỉ cần có một vài tế bào có mầm bệnh nguy hại thôi là nó lây ra khắp cả cơ thể, rồi trở thành ung thư. Nội tâm mình cũng phải giống vậy, nếu mình không thường trực quán chiếu, phát giác, phát hiện ra thì nó trúng biết bao nhiêu chất độc và trúng bao nhiêu khối ung thư. Cái nội tâm mình bị ung thư, bị ung nhọt, bị cấu bẩn, bị ô nhiễm, bị lậu hoặc mà mình không biết gì hết rồi ăn chơi, vui sướng, cười giỡn. Đây là sự đáng thương xót.
Mình cứ tưởng đang sống trong bình thản, an vui, an lạc nhưng không phải. Đó là sự đau đớn, sự khốn khổ của người xuất gia. Sự vô minh, si mê, không thấy không biết các lậu hoặc. Không thấy lậu hoặc sanh khởi như thế nào, tập khởi như thế nào, an trú như thế nào, nó công phá thành trì tâm mình như thế nào, nó chấp dứt như thế nào, mình không thấy không biết. Về đọc bài kinh "Tất cả là hoặc", Đức Phật dạy mình 7 cách đoạn trừ phiền não.
Phải thấy, phải biết các lậu hoặc ở trong nội tâm của mình. Thấy biết nhiều chừng nào thì thánh trí của mình ngày càng tỏ sáng. Tại sao gọi là thánh trí? Tại vì mình nương vào trí huệ của bậc thánh thì mình thành tựu thánh trí chứ không phải trí huệ thông thường, nương vào kinh Nikāya mà tu học, mấy cái khác để qua một bên thì mình sẽ thấy kì tích xuất hiện trong thân tâm mình.
Cho nên trong sáu ngoại xứ thì cái xúc này làm mình từ chết đến bị thương, chết không có chỗ chôn. Mỗi một ngày mình bị cái xúc đánh tan, đánh vỡ, đánh sập. Con mắt vừa tiếp xúc cái sắc thôi là chết liền, thọ liền, ái liền, thủ liền, dính mắc vào cái xúc đó, đó gọi là mình đâm vào cái bờ kia. Nếu mình tu không thành tựu chánh tri kiến thì sự tu của mình là hướng ngoại, mê tín, tà kiến.
Cái này rất quan trọng, cho nên phá được các chi phần này thì mới vào thánh trí đầu tiên là Dự lưu, là chánh tri kiến. Người thành tựu chánh tri kiến là người đó không cầu xin bất cứ một ai trong cuộc đời này, không hướng ngoại cầu xin bất cứ một ai mà người đó quay lại nhìn sắc, thọ, tưởng, hành, thức của mình để thấy các lậu hoặc ở trong cảm giác, tham, sân, si để tẩy sạch và diệt tận, đó là bậc chánh tri kiến. Còn những hình thức tín ngưỡng tôn giáo đó chỉ là hình thức tín ngưỡng mà thôi.
Minh Thành hỏi thực sự quý huynh đệ lên lạy Phật 10 năm rồi có trị được dục tham không? Lạy 10 rồi tham ái có hết không? Mình lạy 15 năm rồi sân hận có hết không? Ở trong chùa từ nhỏ đến lớn, được mẹ gởi vào chùa từ năm 3 tuổi đến bây giờ là 37 năm rồi vậy cái si của mình có hết không? Cái này là cái thâm sâu mà muốn phá tham, sân, si là phải biết nó cư trú ở đâu, biết từ đâu mà nó tập khởi. Nó an trú, tập khởi vận hành như thế nào, rồi lấy cái gì để trị nó, thì trong kinh có dùng cái gì trị cái gì, giống như bệnh gì phải uống thuốc gì.
Chứ không phải mình nói một câu A-di-đà Phật là hết, đó là sai, không đúng. Mình tụng hoài, mình tụng 15 năm nay có hết sân không? Có hết tham không? Có hết si không? Tham phải dùng bất tịnh quán trị, sân phải dùng từ tâm giải thoát để trị, si là phải quán cái lí duyên khởi phá vỡ cái lười biếng, thụ động, ăn no buồn ngủ, biếng nhát. Phá mấy cái đó si mới tan, hôn trầm mới tan, thuỳ niêm nó mới tan. Buông lung phóng dật là mình phải hộ trì, thâu nhiếp các căn. Tất cả các pháp đều có thuốc, đều có công năng trị hết chứ không phải mình làm bậy làm bạ, muốn làm gì thì làm, muốn làm sao là làm cho nên làm hoài rồi nó cũng vậy, 30 năm ở trong chùa rồi cái bản ngã lên tới nóc chùa luôn.
Đó là một sự đáng thương, thương cho mình, thương cho những bạn đồng tu. Thậm chí người hướng dẫn mình tu cũng không biết đường luôn vậy lấy gì dạy mình. Đây là một sự đau lòng, cay đắng trong đời tu. Nếu mình không tìm ra được minh sư, bậc pháp nhãn, bậc minh nhãn, bậc thành tựu thấy biết chân chánh là tối ngày mình chỉ hướng ngoại, mê tín, tà kiến dù cho mình là người xuất gia. Mong là một đấng nào đó lại rước, độ cho mình, hoặc giúp cho mình cái gì đó mấy cái đó không phải là đạo Phật, đó là mấy tư tưởng của những người sau này đưa vô, mình học cái đó rồi cuối cùng mình không đi đến đâu hết.
Như thế là mình bị nhiều tác động bên ngoài, bị dựa, bị dụ, bị nhập, nghe mấy đại sư xưng tùm lum hết. Cho nên mình thành tựu được chánh tri kiến là tuyệt vời lắm, không có cái gì làm cho mình giao động trên cuộc đời này nữa. Tất cả những cái tà thuyết, tà kiến, mê tín, không xâm nhập mình được. Mình giống như là thạch trụ, vững chắc.
II. Bị chìm giữa dòng
Bị chìm giữa dòng, này Tỳ kheo, là đồng nghĩa với hỉ tham.
Hỉ là hoan hỉ, ham muốn và vui thích, đó là mình bị chìm rồi. Mình ăn ở trong buổi trai Tăng mà mình vui thích, ham muốn trong khi ăn, mình khoang khoái trong khi ăn mà mình không thấy được. Cái lưỡi tiếp xúc với cái vị rồi sanh ra sự rõ biết của thiệt thức. Ba pháp này hội tụ, tạo thành thiệt xúc là sự tiếp xúc của cái lưỡi. Sau đó xúc sanh ra vị rồi mình khoang khoái thích thú, ham muốn trong đó là mình ngồi ở bàn quá đường nhưng mình bị chìm giữa dòng của hỉ và tham. Ăn như vậy là người cúng dường không có phước bao nhiêu hết, người quỳ lạy không có phước bao nhiêu hết bởi vì mình ăn như thường tình của phàm phu, ăn với sự khoang khoái, thích thú, hưởng thụ, vui sướng đó là chìm giữa dòng.
Mà ăn có chánh niệm tỉnh giác quán chiếu các thức ăn, thức ăn qua cổ họng thì nó thành cái gì, rồi xuống bụng thì nó thành cái gì, lúc đó mình ăn thì quán chiếu như vậy để mình diệt cái tâm để giảm bớt, để phá cái tâm yêu thích, ham muốn, khoang khoái, dục tham và ái đối với thức ăn. Quý vị thấy tu cái này nó khó không? Khó nó mới thành thánh nhân, mới thành thầy của trời và người.
Có ai ngồi ăn mà quán chiếu cái này không? Trong đây mình phải tập, lúc đầu mình chưa hoàn toàn dứt được nhưng mình bớt cái sự gắp lia, gắp lịa, nhai sột sột. Bớt cái vụ thô tháo ở trong cái tham, cái dục, cái ái đối với thức ăn. Cho nên cái này mình tu nó nhỏ nhiệm từng chút. Không phải dục ái là nam nữ không đâu, cái đó là phàm phu pháp. Còn cái dục ái ở đây là bất cứ mình tiếp xúc với cái gì mà trong đó mình ham thích, khoang khoái, dính mắc thì đó là dục, là tham, là thích, là đắm nhiễm.
Người ta cúng cho mình cái y, hay cái món đồ nào đó mà mở ra mắt mình nhìn sáng trưng, chạm vào thấy vải này êm, tốt quá rồi vuốt vuốt miếng vải là mình chìm giữ dòng. Tại vì cái tâm mình dính mắc, ham thích vô đó, mình sẽ khổ đối với nó, khi cái sắc nó biến hoại sẽ khổ. Mình vừa đắp y lên mà có cô kia lỡ tay cầm nhang đâm lủng 8 lỗ thì có khổ không? Sân không? Tiếc không?
Cho nên Đức Phật dạy trí huệ bất động, tâm giải thoát, tức là khi đã nhiếp phục hết dục, tham, ái đối với mọi thứ trên cuộc đời này thì không có cái gì làm cho mình khổ được hết. Đó gọi là thượng nhân pháp, là cách sống của con người cao thượng, những bậc trên của chúng trung tôn. Vô thượng phước điền ở trên đời, là ruộng phước vô thượng của nhân thiên.
Cho nên khi tiếp xúc sáu căn, tiếp xúc sáu trần lúc nào cũng phòng chừng, không để cho những lậu hoặc phát tán, nó hoành hành, nó xâm chiếm, áp đảo mình. Luôn luôn nhìn ở trong cảm giác là hay lắm. Đương nhiên nó qua mặt mình vù vù nhưng từ từ mình phát hiện ra rồi từ từ mình đoạn diệt. Lúc đầu nó 2 mình 8 rồi 3-7, từ từ 5-5 rồi từ từ lên, mình nhiếp phục nó thì mình là hiền thánh. Khi bắt đầu chiến đấu thì mình đã không còn là người bình thường nữa, mình đã bước qua hiền vị, rồi sau đó mình nhiếp phục được gọi là hiền thánh Tăng, hiền thánh Ni.
Đọc "Trưởng Lão Ni Kệ" mới thấy những bậc A-la-hán hồi xưa của Đức Thế Tôn khiếp lắm, các bậc A-la-hán, thánh Ni hồi xưa, thượng nhân pháp. Mỗi khi mắt tiếp xúc với sắc, tai tiếp xúc với tiếng, mũi tiếp xúc với mùi, lưỡi tiếp xúc với vị, mũi tiếp xúc với sự đụng chạm của quần áo, bàn ghế, hay người vật là phải thấy, phải biết. Ý mình tiếp xúc với những pháp trần ở bên trong, những cái thọ tưởng hành.
Những cái cảm giác, suy nghĩ, nghĩ tưởng trong nội tâm phải có chánh niệm tỉnh giác, mình phải nhìn sâu vô trong đó, dùng kính phóng đại nhìn sâu vào trong đó coi có cái gì ở trong đó chứ không phải mình không thấy không biết cái gì hết. Cười hề hề, ăn chơi qua ngày, sống vất vơ vất vưởng, lúc nào ngồi cũng lờ đờ như vậy, có xác mà không có hồn, tu như vậy uổng. Cho nên là bị chìm giữa dòng, này các Tỳ kheo là đồng nghĩa với hỉ tham. Hai chữ này ghê lắm, nó là khoang khoái, ưa thích. Bất cứ cái gì mình tiếp xúc mà tâm mình khoang khoái, ưa thích là cẩn thận.
Cái hỉ, tham là dòng nước xoáy, nó sẽ nhận chìm mình, đừng để cái hỉ, tham nó mạnh đối với bất cứ cái gì mình tiếp xúc. Dù cho đó là chiếc xe của mình, cái áo của mình, bộ đồ của mình, bóp của mình, phòng ngủ của mình, tất cả cái đó đừng để cho hỉ tham sanh khởi mà có sanh khởi thì phải quán chiếu liền. Quán chiếu "cái này không gì là tôi, không gì là của tôi hết, nó là tứ đại, nó là pháp vô thường, nó vô ngã, nó sẽ tan rã bất cứ lúc nào, có cái gì hỉ tham thích thú trong đây". Mình phải quán chiếu như vậy lâu ngày là mình thể nhập thánh trí. Đừng để cho cái hỉ tham nhận chìm mình.
III. Bị mắc cạn
Bị mắc cạn ở trên miếng đất nổi là đồng nghĩa với ngã mạn. Cái này khó trị lắm, không phải dễ đâu. Có nhiều người nói "con bây giờ là vô ngã rồi, con đâu thấy con có cái tôi gì đâu". Tại vì người này không thành tựu trí huệ thì làm sao biết. Mình tưởng cái tôi là cái thô thiển biểu lộ bên ngoài ra nhưng không phải. Bài này năm trước chúng ta đã học có ba cái là mạn, quá mạn, tăng thượng mạn.
Bây giờ mình không để bị mắc cạn trên miếng đất nổi là mình luôn tu tập, quán chiếu, diệt cái bản ngã. Ví dụ đó là người cư sĩ công quả trong chùa nhưng họ có những hành động lời nói mà kinh thường mình, lúc đó cái tâm mình rất là khó chịu, rất là bực bội. Như vậy khi mình khó chịu, khi mình bực bội thì trong cảm giác của mình biến động liền, khi họ có hành động như vậy mình thấy cảm giác của mình thay đổi liền, mà thay đổi thì trở về phòng mình ngồi lại nhìn lại cảm giác khó chịu đó và mình hỏi "Tại sao có cảm giác này? Có phải mình nghĩ rằng mình là người trên, người kia là người dưới. Mình là xuất gia, còn người kia là cư sĩ, mình là Tỳ kheo còn người kia mới tập sự", có phải mình nghĩ vậy không?
Như vậy thì bộ xương này với bộ xương kia có khác không? Khi chết rồi thì đống tro này với đống tro kia có khác không? Khi mổ ra thì bao tử này với bao tử kia, với chùm ruột kia có khác không? Bộ lòng này với bộ lòng kia có khác không? Tại sao mình lại cho là mình cao hơn người ta, tại sao mình cho là Tăng còn người kia là tục, đó là dáng vẻ bên ngoài thôi mà tại sao mình chấp mê vậy, ngu si.
Phá tan bản ngã ra đi, phá tan sự phân biệt, hơn thua, trên dưới, Tăng tục ra đi. "Mình chỉ là một đống thịt bầy nhầy thôi, một bộ xương, một đống giòi không hơn không khép, dẹp tư tưởng đó ra. Không có gì là tôi, không có gì là của tôi hết". Mình nói chuyện với nội tâm một cách mạnh mẽ, dùng tuệ lực rồi sức mạnh của trí tuệ để đập tan cảm giác bực bội khó chịu mà nói trong đó hoài. Ý hành nói hoài "người kia nhỏ mình lớn, mình cao người kia thấp, mình xuất gia còn người kia là cư sĩ" thì phải diệt nó, đánh tan cái đó là trị cái gốc, sau đó quán chiếu, đắp y hậu vô lạy người đó 10 lạy.
Nhắm mắt tưởng tượng mình đắp y vào lạy người cư sĩ đó 10 lạy mà chưa tan cảm giác là mình lạy 49 lạy, lạy 49 lạy mà chưa hết thì mình lạy 100 lạy đến chừng nào cảm giác về bản ngã của mình nó tan hết, yên tịnh hoàn toàn thì thôi, gặp người kia mà mình không liếc, không tức, mình thường thì cái đó thành công. Đó là người đáng được chắp tay, đáng được cung kính, đáng được đảnh lễ, đáng được cúng dường, là ruộng phước vô thượng ở trên đời. Tu như vậy mới không bị mắc cạn ở trên miếng đất nổi của ngã mạn. Phải đập cho tan cái bản ngã, đập cho tan cái tôi, đập cho vỡ, cho bể cái ngã và ngã sở. Không có cao thấp trên dưới ở đây, không có Tăng tục gì ở đâyt. Chỉ do mình vô minh chấp ngã, chấp thủ cho rằng mình hơn người ta.
Coi lại giới hạnh, thiền định, trí huệ rồi thấy đầy rẫy tội lỗi, nhục nhã, xấu hổ rồi mình quỳ xuống lạy 100 lạy cho tới khi cảm giác bản ngã tan từ từ, nếu không được thì mình ra lạy thiệt. Trước tượng Phật mình quán người cư sĩ chửi mình ở trên rồi mình ở dưới lạy người ta, tu như vậy đó. Đó là thánh pháp, mới phá được bản ngã. Còn nếu như mình nghĩ mình hơn người kia là kém, mình là Tăng người kia là tục thì không bao giờ mình phá được cái tôi. Mình sẽ lạy người ăn xin bên đường, lạy một đứa nhỏ, mình quỳ lạy một cô gái kỹ nữ đứng đầu đường, mình lạy những người thấp hèn lau chùi cầu tiêu. Mỗi lần bản ngã nổi lên là mình lạy, lạy con chó, lạy con mèo, lạy ngọn cỏ, bông, cây trước chùa. Mình lạy hết, phải quán chiếu như vậy mới diệt tận bản ngã, từ đó mới đi đến được bờ bên kia của Niết-bàn, mới ra được đại dương của giải thoát. Minh Thành tập phương pháp đó đó, tập thử đi rồi sẽ thấy kì tích xuất hiện.
IV. Bị người nhặt lấy
“Thế nào là bị người nhặt lấy? Ở đây, Tỳ kheo sống quá liên hệ với cư sĩ, chung vui, chung buồn, an lạc khi họ an lạc, đau khổ khi họ bị đau khổ, tự trói buộc mình trong các công việc phải làm được khởi lên của họ. Ðây gọi là Tỳ kheo bị loài Người nhặt lấy”
(Tập IV.Thiên Sáu Xứ, Chương I.Tương Ưng Sáu Xứ, IV.Phẩm Rắn Độc, IV.Khúc Gỗ).
Chỗ này nhiều phương diện để khai thác lắm. Mình không khéo chỗ này là mình chị dính sáu bảy chục phần trăm có khi nhiều hơn nữa. Nếu dính mắc vô cái này là mình bị người vớt lấy rồi đó, bị người nhặt lấy rồi đó, thì thật sự uổng công mình đi tu. Tình nghĩa thiêng liêng nhất là cha mẹ của mình, là ông bà cô bác lục thân quyến thuộc mà mình bỏ đi. Cha mẹ mình bệnh mình không thèm hỏi thăm, không biết. Ông bà mình chết qua đời mình không nhìn mặt được lần cuối.
Những người thân thương nhất mà mình từ giã ra đi, mình từ bỏ. Giờ vô chùa là mình kết thân giao với những cư sĩ. Khi họ nói chuyện vui là mình vui theo họ, khi họ có chuyện buồn là mình cũng rươm rươm nước mắt theo, như vậy gọi chung vui, chung buồn. Họ an lạc thì mình an lạc, học đau khổ thì mình bị đau khổ. Vậy mình đâu phải là người xuất gia. Dù cho người đó cúng xây hết cái chùa cũng vậy, cũng là người cư sĩ, cũng là một tín thí thôi. Chứ không phải vì cái đó là bắt quàng làm họ, mà bắt nghĩa tào khang, mà mật thiết. Không phải, cái đó là vì lợi lợi dưỡng rồi, vì cúng dường rồi.
Lợi Dưỡng Cúng Dường, Tương Ưng Bộ Kinh quý huynh đệ học là thấy khiếp lắm.
Này các Tỳ kheo lợi dưỡng danh văn và lợi dưỡng, lợi đắc. Này các Tỳ kheo là mũi tên, là con dao, là sấm sét, là kẻ giết người.
Hãy cẩn thận với tất cả lợi đắc, cung kính, cúng dường, tất cả các cái đó giết mình chết. Đối với những bậc chưa thành tựu thánh trí, được lợi dưỡng, cúng dường, lợi đắc là cái đó giết mình chết. Cho nên sống không quá liên hệ với cư sĩ, dù cho người đó ân nghĩa với mình tới đâu đi nữa, không có sống quá liên hệ với họ. Tới là vì pháp, còn họ tới là vì trút chuyện nhà họ, chuyện chồng con nhà họ mà mình ngồi tâm sự là mình sai hết.
Mình có không có bàn chuyện đó mà mình bàn chuyện giới, định, tuệ, giải thoát, giải thoát tri kiến, những câu chuyện viễn ly, những câu chuyện liên hệ tới mục đích, tới Niết-bàn. Còn những câu chuyện đời là mình không nói, không bàn những cái đó. Cho nên nhiều khi người nước ngoài về thấy 4-5 giờ sáng mà quán café ngồi đầy hết, người ta không biết mình nói cái gì nữa, mà cái độc đáo của mình là ra quán café nói chuyện. Còn không khéo trong chùa mới hai mấy tuổi mà dọn ra mời uống trà, gặp là châm trà, tam tuần là lên bàn thờ đó.
Hồi xưa chùa Minh Thành có ông này lớn tuổi mới đi xuất gia mà có chiêu này rất là độc. Ai qua gặp ổng mời uống trà mà mỗi lần uống là ba bốn tiếng, sáu tiếng vậy đó. Bữa đó sáng sớm mới có 6h sáng, có mấy người qua xin rau lang thì thầy mời uống trà, mấy người đó nói "Dạ không, con còn về còn đi làm nữa". Thành ra mình phải thấy rõ để mình học từng chút, điều chỉnh từng chút để từ phàm lên tới hiền rồi từ hiền mới lên tới thánh, chứ đâu phải nhảy một cái mình lên bàn thờ mình ngồi đâu. Đức Phật nói Pháp của ta ở trong chánh pháp này không có chuyện bất tình lình, đột ngột chứng ngộ mà phải trải qua những bước trình tự đó.
Trở lại vấn đề mình phải cẩn thận khi tiếp xúc với cư sĩ, không dành quá nhiều thời giờ cho họ, cái này rất là quan trọng. Không khéo nhìn lại thì một ngày mình tiêu phí vô cái gì? Nấu nướng, dọn dẹp, lau chùi rồi tiếp khách xong rồi sao? Còn thời gian nữa không? Đến tối nhảy lên gường ngủ như chết, có thiền định gì đâu. Đâu phải hết tuần rồi hết tháng, rồi nhiều tháng nhiều năm rồi cả đời trong chùa như vậy, làm được chút xíu thiện pháp. Mà thiện pháp cũng chưa thuần thiện nữa mà tạp thiện, lẫn lộn trong đó là những nghiệp ác, nghiệp bất thiện.
Tự trói buộc mình vô công việc phải làm được khởi lên của họ.
Cái này là cái đau đớn. Tự trói buộc mình vào những công việc phải làm được khởi lên từ họ. Tự cho mình trọng trách là phải làm công việc của người ta đó. Ví dụ nhà người ta có người chết mà mình làm như nhà mình có người chết, mình ở lại luôn một tuần. Thức đêm rồi này nọ, thậm chí là khóc rồi nằm kế bên hòm đó ngủ. Đó là bại lớn. Cho nên cái giới hạnh, cái giới đức, cái đạo hạnh của một người tu quan trọng lắm. Thành ra nhiều khi điện thoại đến nói chuyện đời, nói chuyện gia đình này nọ là Minh Thành né rồi sau này là trốn. Hỏi pháp thì nói, còn không thì thôi. Tại vì nói một hồi là mình nhào vào trong câu chuyện đó. Rất nguy hiểm, phải cẩn thận.
V. Bị phi nhân nhặt lấy
“Và thế nào, này Tỳ kheo, là bị phi nhân nhặt lấy? Ở đây, Tỳ kheo sống Phạm hạnh với ước nguyện được sanh cộng trú với một hạng chư Thiên: "Mong rằng với giới luật này, với cấm giới này, với khổ hạnh này, với Phạm hạnh này, ta sẽ trở thành Thiên nhân hay một loài chư Thiên!" Ðây, này Tỷ-kheo, được gọi là bị phi nhân nhặt lấy”
(Tập IV.Thiên Sáu Xứ, Chương I.Tương Ưng Sáu Xứ, IV.Phẩm Rắn Độc, IV.Khúc Gỗ).
Mong rằng sau khi mình tu hành giới hạnh cực khổ, mình ráng tu mai mốt mình được về cõi nào đó sung sướng, mình ở đâu, trở thành một người nào đó, cái đó là bị phi nhân nhặt lấy, không phải là chánh pháp của Đức Phật. Đức Phật dạy nhìn thấy bản chất vô thường, khổ đau, bất tịnh, nhơ nhớp của cái thân năm uẩn này, để mà viễn ly, ly tham, chấm dứt, từ bỏ, không còn tái sanh trong dòng luân hồi này nữa, gọi là chấm dứt sanh tử. Đức Phật không dạy mình tu để sanh lên cõi nào để hưởng thụ cái gì đó. Cái đó không phải, đó là bị phi nhân nhặt lấy rồi.
Quý huynh đệ nhìn thấy bây giờ cái này nhiều không? Tràn ngập hết, đau lòng lắm. Người xuất gia tu hành mà tìm được cái chánh tri kiến đó, một công trình vĩ đại không phải chuyện đơn giản. Thấy xuất gia rần rần như vậy đó, mà để thành tựu chánh tri kiến, đúng theo con đường Bát Thánh Đạo thì đếm trên đầu ngón tay chứ không phải nói chuyện đơn giản. Mình tu với mục đích sau khi chết mình sanh lên một chỗ nào tốt đẹp, sung sướng để cho ai vậy? Ai hưởng thụ vậy? Đó là thâm sâu.
Cho nên cái chánh lí của Đức Phật dạy mình là ly tham đối với năm uẩn. Không còn ham muốn nữa, nhàm chán, ly tham, chấm dứt, từ bỏ đối với năm uẩn. Không tiếp nối đời sống vô thường, khổ vô ngã, bất tịnh, những cái thân mà tràn đầy chỗ nào cũng ung thư được hết. Chấm dứt những thứ đó mới gọi là giải quyết sanh tử, liễu thoát sanh tử, chấm dứt luân hồi, đó mới là mục đích duy nhất mà Thái tử Tất-dạt-đa bỏ cung vàng ngọc ra đi. Thái Tử nhìn thấy cảnh già, bệnh, chết rồi xin phụ vương nếu phụ vương muốn con ở nhà mà không đi tu thì phụ vương cho con đừng có già, đừng có bệnh, đừng có chết thì con sẽ ở nhà. Từ đó vấn đề trọng đại hình thành nên Phật giáo là giải quyết vấn đề khổ đau ở trong sanh tử.
Cho nên Đức Thế Tôn chứng ngộ là vượt ra khỏi sanh tử, là giải quyết việc sanh, lão, bệnh, tử, sầu, bi, khổ, ưu, não cho nên gọi Niết-bàn là vô sanh. Không còn cái thân bất tịnh, cái thân đau ốm, bệnh hoạn mà đầy rẫy những cái khổ nữa. Tâm giải thoát, thân giải thoát, lúc mà sắp chết các ngài xem như thân này là thùng rác bẩn, các ngài từ bỏ một cách nhẹ nhàng cho nên mới thành tựu Bất Lai quả, nghĩa là không trở lại nữa. Thành tựu Niết-bàn, sanh đã tận, phạm hạnh đã thành, việc cần làm đã làm và không còn trở lui trạng thái này nữa (Tập II.Thiên Nhân Duyên, Chương I.Tương Ưng Nhân Duyên, VII. Đại Phẩm Thứ Bảy).
Đó mới là chân chánh, con đường Giác Ngộ của Đức Phật chứ đâu phải tu là đời sau mình sướng hơn đời này nữa. Đó là phái triển dục, tham, không phải đoạn tận ái, không phải ly tham, không phải chấm dứt, không có từ bỏ. Cho nên mấy câu này là định lí của chánh pháp, phải nhớ kỹ để tu dù cho mình chưa tới đó, nhưng mình phải biết nó là như thế đấy. Rồi từ từ mình tiến, còn định hướng sai thì mình đi theo con đường sai, không đúng chánh pháp. Nó làm cho mình phát triển cái dục, cái tham, cái ái mà thôi.
Cái này hết sức là sâu xa mà phát hiện ra là Minh Thành rúng động, chấn động mạnh. Tuyệt vời! Đây mới là giải quyết được vấn đề, triệt để căn nguyên đau khổ của chúng sanh. Cho nên đây là toàn bộ cái khổ uẩn (Khổ uẩn là một đống khổ). Mình mang một đống khổ 70kg này là bất cứ khi nào mình cũng bệnh được hết. Mình mang cái đống ngũ uẩn này có hạnh phúc, vui sướng gì đâu. Mình bám chấp vô ngũ thủ uẩn hoài, đây là của tôi ai đụng tới là khổ. Mình không thấy được bản chất của nó. Mình thấy được là thành tựu được trí huệ tuyệt vời. Đức Phật chỉ cho mình thấy bản chất của năm uẩn cho nên mình thấy được là nhàm chán, không còn tham muốn nữa, từ đó giải thoát.
Đó là chánh pháp tối thượng, đạt được cái này thì quý huynh đệ mới thấy sự an lạc tuyệt vời. Mình không thấy sự dự tính, dự định rồi muốn gom góp làm cái gì cho nhiều nhiều là không có. Mình ly tham, lìa tham, không chạy theo tham dục nhiều nữa, giảm từ từ rồi đi đến chỗ an tịnh.
VI. Bị mắc vào xoáy nước
Bị mắc vào xoáy nước, này Tỳ kheo, là đồng nghĩa với năm dục công đức, có chỗ gọi là năm dục trưởng dưỡng. Năm dục trưởng dưỡng là khi mắt tiếp xúc với sắc, lỗ tai tiếp xúc với mùi, lưỡi tiếp xúc với vị, mũi tiếp xúc với mùi, thân tiếp xúc với những sự xúc chạm. Khi tiếp xúc thì những cái gì khoang khoái thích thú gọi là năm dục trưởng dưỡng. Từ sắc, thanh, hương, vị, xúc, 5 cái đó nuôi lớn cái ham muốn của mình, cho nên gọi là năm dục trưởng dưỡng.
Cho nên mình giải thích là tài, sắc, danh, thực, thì là nó nhỏ xíu, không có đủ theo kinh Nikāya. Kinh Nikāya nói rất là rộng. Bất cứ cái gì khi con mắt tiếp xúc đối với sắc thì cái tiếp xúc đó mà mình ham thích, thích thú thì cái đó là nuôi dưỡng lòng dục của mình. Cho nên giải thích sắc là sắc đẹp là không đủ, đó mới có chút xíu thôi. Bất cứ âm thanh nào mà mình nghe, tăng trưởng lòng dục, ham muốn này kia, cái đó là dục trưởng dưỡng, nó nuôi lớn lòng dục. Vì thế năm dục trưởng dưỡng là sắc, thanh, hương, vị, xúc. Như vậy mình bị mắc vào dòng xoáy nước, là mình bị mắc vào trong năm cái dục đó, đi ra không được.
VII. Bị mục nát ở bên trong
“Và này Tỳ kheo, thế nào là bị mục nát bên trong? Ở đây, này Tỳ kheo, có người thọ tà giới, theo ác pháp, bất tịnh, có những hành vi đáng nghi ngờ, có những hành động che đậy, không phải Sa-môn nhưng hiện tướng Sa-môn, không phải Phạm hạnh nhưng hiện tướng Phạm hạnh, nội tâm bị hủ bại, đầy dục vọng, là một đống rác bẩn. Ðây, này Tỳ kheo, được gọi là bị mục nát bên trong”
(Tập IV.Thiên Sáu Xứ, Chương I.Tương Ưng Sáu Xứ, IV.Phẩm Rắn Độc, IV.Khúc Gỗ).
Theo tà giới là giữ những giới không đúng. Theo ác pháp bất tịnh là có những hành vi đáng nghi ngờ, có những hành động che mờ, giấu giếm. Không phải Sa-môn nhưng hiện tướng là Sa-môn nghĩa là hình thức là xuất gia nhưng cái tâm không phải xuất gia, không đúng pháp của Tỳ kheo, không đúng pháp trong giới luật, giới hạnh, không tăng trưởng giới học, tâm học, hệ học. Không phải phạm hạnh mà hiện tướng phạm hạnh nghĩa là đời sống không thanh tịnh nhưng làm dáng thanh tịnh chứ không có thanh tịnh thực sự.
Mình đọc cái này là mình hổ thẹn, nhục nhã, tàm quý. Nội tâm bị hủ bại đầy dục vọng là một đống rác bẩn, mấy cái từ này khiếp lắm. Nội tâm bị hủ bại tức là nó mục nát hết ở trong, tuy hình thức là tu nhưng không có giới hạnh, không có thiền định, không có trí huệ, không có giới đức, không có đạo hạnh, không có tu hành, chạy theo những tài sắc, danh lợi của thế gian, nhiều khi ham muốn còn nhiều hơn người ngoài đời, đầy dục vọng. Rùng rợn. Một đống rác bẩn trong tâm, một đống dơ bẩn, cấu uế, ô nhiễm, đó được gọi là bị mục nát ở bên trong. Mọi người có khiếp sợ không? Rụng rời không? Cay đắng không? Lo lắng không?
Đức Phật nói cái nào cũng trúng hết. Như vật mình mới phải làm mới, làm sạch, làm cho nó đẹp lại. Còn bằng không là mình bị mục nát ở bên trong. Không phải lạy xám hối 108 lạy là xong mà phải hứa nguyện với lòng mình làm sạch, làm đẹp, làm mới lại.
Lúc bấy giờ Nanda, người chăn bò, đứng không xa Thế Tôn bao nhiêu.
Rồi người chăn bò Nanda bạch Thế Tôn:
Bạch Thế Tôn, con không đâm vào bờ bên này, con không đâm vào bờ bên kia, con không bị chìm giữa dòng, con không bị mắc cạn trên miếng đất nổi, con không bị loài Người nhặt lấy, con không bị phi nhân nhặt lấy, con không bị mắc vào xoáy nước, con không bị mục nát bên trong. Bạch Thế Tôn, mong Thế Tôn cho con được xuất gia với Thế Tôn, được thọ đại giới.
Này Nanda, hãy đem trả các con bò cho người chủ.
Bạch Thế Tôn, chúng sẽ đi trở về. Các bò mẹ đang trông mong gặp lại các con bê của chúng.
Tuy vậy, này Nanda, Ông hãy trả lui các con bò cho những người chủ.
Rồi Nanda, người chăn bò, sau khi trả lui các con bò cho những người chủ, đi đến Thế Tôn; sau khi đến, bạch Thế Tôn:
Bạch Thế Tôn, các con bò đã được trả lui cho những người chủ. Bạch Thế Tôn, xin hãy cho con được xuất gia với Thế Tôn. Hãy cho con thọ đại giới.
Nanda, người chăn bò được xuất gia với Thế Tôn, được thọ đại giới. Sau khi thọ đại giới không bao lâu, Tôn giả Nanda sống một mình, an tịnh...
Tôn giả Nanda trở thành một vị A-la-hán nữa (Tập IV.Thiên Sáu Xứ, Chương I.Tương Ưng Sáu Xứ, IV.Phẩm Rắn Độc, IV.Khúc Gỗ).
Tu đúng pháp là nó nhanh như vậy đó. Chúc cho các huynh đệ trong năm nay có những bậc sơ quả Tu-đà-hoàn cho đến tứ quả A-la-hán ở trong lớp này, chắc chắn là có được.
Nguyện đem công đức này hướng về khắp tất cả đệ tử và chúng sanh nguyện trọn thành Phật Đạo.
./.
Bị Chìm Giữa Dòng
Thích Minh Thành
MỤC LỤC
TOC \o "1-3" \h \z \u I. Bị mắc vào bờ này – bờ kia PAGEREF _Toc141971763 \h 1
II. Bị chìm giữa dòng PAGEREF _Toc141971764 \h 7
III. Bị mắc cạn PAGEREF _Toc141971765 \h 9
IV. Bị người nhặt lấy PAGEREF _Toc141971766 \h 11
V. Bị phi nhân nhặt lấy PAGEREF _Toc141971767 \h 13
VI. Bị mắc vào xoáy nước PAGEREF _Toc141971768 \h 15
VII. Bị mục nát ở bên trong PAGEREF _Toc141971769 \h 16
I. Bị mắc vào bờ này – bờ kia
Kính thưa đại chúng hôm nay chúng ta tới phần VIII là bị chìm giữa dòng, đồng nghĩa với hỉ, tham. Hôm nay chúng ta qua một hình ảnh rất là ấn tượng, sống động, hiện sinh.
“Một thời Thế Tôn trú ở Kosambi, trên bờ sông Gangà.
Thế Tôn thấy một khúc gỗ lớn trôi theo dòng nước sông Hằng, thấy vậy liền gọi các Tỳ kheo
Này các Tỳ kheo, các Ông có thấy khúc gỗ to lớn này đang trôi theo dòng nước sông Hằng không?
Thưa có, bạch Thế Tôn.
Này các Tỳ kheo, nếu khúc gỗ không đâm vào bờ bên này, không đâm vào bờ bên kia, không chìm giữa dòng, không mắc cạn trên miếng đất nổi, không bị loài Người nhặt lấy, không bị phi nhân nhặt lấy, không bị mắc vào xoáy nước, không bị mục bên trong; như vậy, này các Tỳ kheo, khúc gỗ ấy sẽ hướng về biển, sẽ xuôi theo biển, sẽ nghiêng nhập vào biển. Vì sao? Vì rằng, này các Tỳ kheo, dòng sông Hằng hướng về biển, xuôi theo biển, nghiêng trôi về biển. Cũng vậy, này các Tỳ kheo, nếu các Ông không đâm vào bờ bên này, không đâm vào bờ bên kia, không chìm giữa dòng, không mắc cạn trên miếng đất nổi, không bị loài Người nhặt lấy, không bị phi nhân nhặt lấy, không bị mắc vào xoáy nước, không bị mục bên trong; như vậy, này các Tỳ kheo, các Ông sẽ hướng về Niết-bàn, sẽ xuôi theo Niết-bàn, sẽ nghiêng nhập vào Niết-bàn. Vì sao? Vì rằng, này các Tỳ kheo, chánh kiến hướng về Niết-bàn, xuôi theo Niết-bàn, nghiêng nhập vào Niết-bàn.
Khi được nghe nói vậy, một Tỳ kheo bạch Thế Tôn:
Bạch Thế Tôn, bờ bên này là gì? Bờ bên kia là gì? Thế nào là chìm giữa dòng? Thế nào là mắc cạn trên miếng đất nổi? Thế nào là bị loài Người nhặt lấy? Thế nào là bị phi nhân nhặt lấy? Thế nào là bị mắc vào xoáy nước? Thế nào là bị mục nát bên trong?
Bờ bên này, này Tỳ kheo, là đồng nghĩa với sáu nội xứ.
Bờ bên kia, này Tỳ kheo, là đồng nghĩa với sáu ngoại xứ.
Bị chìm giữa dòng, này Tỳ kheo, là đồng nghĩa với hỉ tham.
Bị mắc cạn trên miếng đất nổi, này Tỳ kheo, là đồng nghĩa với ngã mạn.
Và này Tỳ kheo, thế nào là bị người nhặt lấy? Ở đây, Tỳ kheo sống quá liên hệ với cư sĩ, chung vui, chung buồn, an lạc khi họ an lạc, đau khổ khi họ bị đau khổ, tự trói buộc mình trong các công việc phải làm được khởi lên của họ. Ðây gọi là Tỳ kheo bị loài Người nhặt lấy”
(Tập IV.Thiên Sáu Xứ, Chương I.Tương Ưng Sáu Xứ, IV.Phẩm Rắn Độc, IV.Khúc Gỗ)
Những cái này chúng ta tìm hiểu rất hay, chúng ta sẽ đi tìm hiểu từng phần, hình ảnh này rất là tuyệt vời trong sự tu tập nếu chúng ta thực sự muốn hướng về biển, xuôi theo biển và vào trong biển cả của Niết-bàn.
Như vậy bờ bên này là sáu nội sứ. Sáu nội sứ là mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý đó là sáu chỗ ở bên trong. Nnhư vậy gọi là mình bị mắc ở bên này, mình bị đâm vào bờ ở bên này. Tức là mình quá dính mắc vô trong thể xác, mình quá yêu cái tự ngã, quá thương cái tôi, cái mình, mình bị dính mắc, bị tham ái ở trong cái tự thể. Suốt ngày, sáng dậy là dậy soi gương nhìn xem cái mặt có vuông không, có bị hóp không, có tươi thắm không. Cái sắc diện hôm nay của mình như thế nào? Thì cái đó là bị đâm vào bờ này rồi.
Bờ này là sáu nội sứ, là mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý. Lâu lâu rờ cái lỗ tai, coi cái dái tai hôm nay dài không, coi cái lỗ tai tốt hơn lúc trước không. Rồi nhìn cái lỗ mũi, so sánh, nhìn thấy người khác hoặc là đọc trong tờ báo hoặc bất cứ hình ảnh nào là mình so sánh, nhìn cái lỗ mũi người ta rồi soi lại cái lỗ mũi của mình. Rồi cái thân thể, hình thể, tuu rằng là xuất gia nhưng lâu lâu chụp hình tự sướng đăng lên Facebook, Zalo, gởi cho bạn bè này kia. Tất cả cái đó là đều bị đâm vào bờ thì mình không thể nghiêng về, xuôi về và vào được biển cả của Niết-bàn.
Tối ngày cứ săm soi cái thân thể, cái hình thể, coi cái áo, coi cái y. Đừng nói khoác cái y lên là giải thoát, ngay cái y đó là biết bao nhiêu dính mắc, tham ái, dục ở trong đó. Đó là loại vải gì, may chỗ nào, phải may chỗ đó, may chỗ khác là không được, mua là không mặc thì như vậy đã dính trong bờ này rồi.
Phải kiểm tra ra mới thấy, mình tu mà dính mắc đầy hết, coi như nhúc nhích chỗ nào cũng bị dính mắc hết. Cho nên tu hoài không thấy giải thoát vì không hạ thủ công phu. Như vậy gọi là sáu nội xứ, tức là mình bị dính mắc. Nói đơn giản là mình bị dính mắc, nói danh từ ở đây là đâm vô bờ này, cái khúc gỗ đó bị mắc vô bờ bên đây. Quá quan trọng về thân thể của mình, về thể chất của mình, về cơ thể của mình.
Cho nên tại sao Minh Thành nhắc quý huynh đệ là giờ học không ăn, không uống gì hết, đó là đang dính ở bên bờ này. Giờ học là tuyệt đối không ăn uống, ăn trước khi học hoặc ăn khi ra chơi. Mà đúng ra người chân tu là buổi chiều không ăn, mà kẹt quá, sức khoẻ yếu, bệnh, thì đúng giờ tiểu thực chỉ dùng trong giờ đó thôi, mà phải dùng trong sự hổ thẹn, xấu hổ, tàm quý thì đó mới là người tu thực sự. Hở chút ăn, chút uống thì như vậy đâu có tàm quý gì, không có hổ thẹn gì hết thì chừng nào mới đi tới Niết-bàn, chừng nào mới tới biển Niết-bàn. Bây giờ nói rộng ra sáu ngoại xứ là sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp. Đó là sáu ngoại xứ, tức là mình bị dính vô bờ bên kia.
Cho nên sự tu này nó vi tế lắm. Ví dụ như mình nghĩ rằng cái chùa phải cho nó đẹp, cái tượng Phật phải đẹp, cái bàn thờ của mình phải đẹp, cái gì của mình cũng phải đẹp, thì cái đó là mình đang bị mắc ở bờ bên kia. Bờ bên kia không phải Niết-bàn mà là sáu ngoại xứ. Tối ngày cứ lo trau chuốt ngôi chùa, trau chuốt bàn thờ, để mai đây leo lên bàn thờ ngồi. Kiếm cái bàn thờ bằng gỗ cho đẹp để mai mốt dành chỗ cho mình ngồi chứ có làm có gì đâu. Dù cho đó là hình Phật, biểu tượng của Tam Bảo nhưng bị dính mắc vô đó, tức là mình bị dính vào bờ bên kia chứ không phải mình dựa vào cái đó mà nói "tôi vì Phật pháp, vì chúng sanh", mình phải coi lại, xem có thật vì Phật pháp vì chúng sanh không hay là trong đó là tôi, là của tôi.
Sâu sắc đó, không phải chuyện đơn giản đâu. Khi nghe ca nhạc Phật giáo thì tâm của mình có bị rung động không? Nếu bị rung động là mình bị dính vào bờ bên kia, dù cho nó là nhạc Phật giáo. Đây là nói sâu sắc, cho nên người chân tu là giờ giờ, phút phút quay lại nhìn trong cảm giác, trong nghĩ tưởng của mình xem nó có ô nhiễm không? Nếu có ô nhiễm, có rác, có sự cấu uế trong nội tâm là phải tẩy sạch, trừ sạch, đoạn diệt ngay lập tức. Không cho nó tồn chỉ, không cho nó cư trú, không cho nó ở trong nội tâm của mình, đó mới là người tu chân chánh, đó mới là đa văn thánh đệ tử.
Cho nên đối với sắc, thanh, hương, vị, xúc thì chết ở hương vị. Nhiều khi Minh Thành làm mà mấy chú huynh đệ trên núi thấy lạ, cũng như vừa rồi bốn năm trăm Phật tử lên khai pháp đầu xuân thì Minh Thành không mua một cái bông nào hết. Minh thành nói ngắt lá trúc, cắm toàn bộ bằng trúc hết không tốn một đồng mua bông mà Phật tử chạy ùn ùn đến chụp hình "lạ quá, đặc biệt quá, đẹp quá, không thấy chùa nào như vậy hết trơn". Như vậy mới là độc đáo, mới là sáng tạo, mới là thiểu dục tri túc, là cây nhà lá vườn, mới là cứu cánh cùng cực, quy phục tự nhiên.
Không nhất thiết phải đi theo người ta. Cho nên tại sao Linh Quy Pháp Ấn có nhiều người thích, tại vì nó không theo ai hết, tự nó như vậy. Không cần phải đi theo người ta, không cần thiết người ta làm sao mình phải làm vậy, không cần người ta làm là mình phải theo. Cho nên Minh Thành tâm đắc câu Đức Thế Tôn nói:
"Này các Tỳ Kheo, Ta không tranh chấp với đời, chỉ có đời tranh chấp với Ta. Này các Tỳ Kheo, người nói pháp không tranh chấp với bất cứ một ai ở đời" (Tương Ưng III, trang 165)
Câu này phải thuộc lòng và ứng dụng mọi lúc mọi nơi. Mình không có tranh với đời, tranh với đời là sao? Nghĩa là chùa kia vậy là chùa này phải vậy, đạo tràng kia như vậy thì mình phải như vậy hoặc phải hơn, đó là mình đang tranh với đời chứ không phải là đạo. Cái chỗ kia tổ chức 500 thì ở đây phải tổ chức 700, chỗ kia tổ chức nấu 7 món mình phải nấu 10 món cho nổi chơi, cái đó là đâm vào bờ kia. Cái đó mình không khéo là mình giống như ngoài đời, bên kia 2 tầng mình phải xây 3 tầng cho hơn, đó là đâm vào bờ kia rồi.
Cho nên mình phải chánh niệm tỉnh giác và sâu sắc nhìn bằng trí huệ. Mình nhìn vào nội tâm tâm của mình, còn không là mình chạy theo sáu ngoại xứ. Phải cẩn thận từng chút, từng chút nhỏ nhiệm, tinh vi. Một thân thể không bệnh hoạn là bao nhiêu ngàn, bao nhiêu tỉ tế bào trong này đều tốt. Chỉ cần có một vài tế bào có mầm bệnh nguy hại thôi là nó lây ra khắp cả cơ thể, rồi trở thành ung thư. Nội tâm mình cũng phải giống vậy, nếu mình không thường trực quán chiếu, phát giác, phát hiện ra thì nó trúng biết bao nhiêu chất độc và trúng bao nhiêu khối ung thư. Cái nội tâm mình bị ung thư, bị ung nhọt, bị cấu bẩn, bị ô nhiễm, bị lậu hoặc mà mình không biết gì hết rồi ăn chơi, vui sướng, cười giỡn. Đây là sự đáng thương xót.
Mình cứ tưởng đang sống trong bình thản, an vui, an lạc nhưng không phải. Đó là sự đau đớn, sự khốn khổ của người xuất gia. Sự vô minh, si mê, không thấy không biết các lậu hoặc. Không thấy lậu hoặc sanh khởi như thế nào, tập khởi như thế nào, an trú như thế nào, nó công phá thành trì tâm mình như thế nào, nó chấp dứt như thế nào, mình không thấy không biết. Về đọc bài kinh "Tất cả là hoặc", Đức Phật dạy mình 7 cách đoạn trừ phiền não.
Phải thấy, phải biết các lậu hoặc ở trong nội tâm của mình. Thấy biết nhiều chừng nào thì thánh trí của mình ngày càng tỏ sáng. Tại sao gọi là thánh trí? Tại vì mình nương vào trí huệ của bậc thánh thì mình thành tựu thánh trí chứ không phải trí huệ thông thường, nương vào kinh Nikāya mà tu học, mấy cái khác để qua một bên thì mình sẽ thấy kì tích xuất hiện trong thân tâm mình.
Cho nên trong sáu ngoại xứ thì cái xúc này làm mình từ chết đến bị thương, chết không có chỗ chôn. Mỗi một ngày mình bị cái xúc đánh tan, đánh vỡ, đánh sập. Con mắt vừa tiếp xúc cái sắc thôi là chết liền, thọ liền, ái liền, thủ liền, dính mắc vào cái xúc đó, đó gọi là mình đâm vào cái bờ kia. Nếu mình tu không thành tựu chánh tri kiến thì sự tu của mình là hướng ngoại, mê tín, tà kiến.
Cái này rất quan trọng, cho nên phá được các chi phần này thì mới vào thánh trí đầu tiên là Dự lưu, là chánh tri kiến. Người thành tựu chánh tri kiến là người đó không cầu xin bất cứ một ai trong cuộc đời này, không hướng ngoại cầu xin bất cứ một ai mà người đó quay lại nhìn sắc, thọ, tưởng, hành, thức của mình để thấy các lậu hoặc ở trong cảm giác, tham, sân, si để tẩy sạch và diệt tận, đó là bậc chánh tri kiến. Còn những hình thức tín ngưỡng tôn giáo đó chỉ là hình thức tín ngưỡng mà thôi.
Minh Thành hỏi thực sự quý huynh đệ lên lạy Phật 10 năm rồi có trị được dục tham không? Lạy 10 rồi tham ái có hết không? Mình lạy 15 năm rồi sân hận có hết không? Ở trong chùa từ nhỏ đến lớn, được mẹ gởi vào chùa từ năm 3 tuổi đến bây giờ là 37 năm rồi vậy cái si của mình có hết không? Cái này là cái thâm sâu mà muốn phá tham, sân, si là phải biết nó cư trú ở đâu, biết từ đâu mà nó tập khởi. Nó an trú, tập khởi vận hành như thế nào, rồi lấy cái gì để trị nó, thì trong kinh có dùng cái gì trị cái gì, giống như bệnh gì phải uống thuốc gì.
Chứ không phải mình nói một câu A-di-đà Phật là hết, đó là sai, không đúng. Mình tụng hoài, mình tụng 15 năm nay có hết sân không? Có hết tham không? Có hết si không? Tham phải dùng bất tịnh quán trị, sân phải dùng từ tâm giải thoát để trị, si là phải quán cái lí duyên khởi phá vỡ cái lười biếng, thụ động, ăn no buồn ngủ, biếng nhát. Phá mấy cái đó si mới tan, hôn trầm mới tan, thuỳ niêm nó mới tan. Buông lung phóng dật là mình phải hộ trì, thâu nhiếp các căn. Tất cả các pháp đều có thuốc, đều có công năng trị hết chứ không phải mình làm bậy làm bạ, muốn làm gì thì làm, muốn làm sao là làm cho nên làm hoài rồi nó cũng vậy, 30 năm ở trong chùa rồi cái bản ngã lên tới nóc chùa luôn.
Đó là một sự đáng thương, thương cho mình, thương cho những bạn đồng tu. Thậm chí người hướng dẫn mình tu cũng không biết đường luôn vậy lấy gì dạy mình. Đây là một sự đau lòng, cay đắng trong đời tu. Nếu mình không tìm ra được minh sư, bậc pháp nhãn, bậc minh nhãn, bậc thành tựu thấy biết chân chánh là tối ngày mình chỉ hướng ngoại, mê tín, tà kiến dù cho mình là người xuất gia. Mong là một đấng nào đó lại rước, độ cho mình, hoặc giúp cho mình cái gì đó mấy cái đó không phải là đạo Phật, đó là mấy tư tưởng của những người sau này đưa vô, mình học cái đó rồi cuối cùng mình không đi đến đâu hết.
Như thế là mình bị nhiều tác động bên ngoài, bị dựa, bị dụ, bị nhập, nghe mấy đại sư xưng tùm lum hết. Cho nên mình thành tựu được chánh tri kiến là tuyệt vời lắm, không có cái gì làm cho mình giao động trên cuộc đời này nữa. Tất cả những cái tà thuyết, tà kiến, mê tín, không xâm nhập mình được. Mình giống như là thạch trụ, vững chắc.
II. Bị chìm giữa dòng
Bị chìm giữa dòng, này Tỳ kheo, là đồng nghĩa với hỉ tham.
Hỉ là hoan hỉ, ham muốn và vui thích, đó là mình bị chìm rồi. Mình ăn ở trong buổi trai Tăng mà mình vui thích, ham muốn trong khi ăn, mình khoang khoái trong khi ăn mà mình không thấy được. Cái lưỡi tiếp xúc với cái vị rồi sanh ra sự rõ biết của thiệt thức. Ba pháp này hội tụ, tạo thành thiệt xúc là sự tiếp xúc của cái lưỡi. Sau đó xúc sanh ra vị rồi mình khoang khoái thích thú, ham muốn trong đó là mình ngồi ở bàn quá đường nhưng mình bị chìm giữa dòng của hỉ và tham. Ăn như vậy là người cúng dường không có phước bao nhiêu hết, người quỳ lạy không có phước bao nhiêu hết bởi vì mình ăn như thường tình của phàm phu, ăn với sự khoang khoái, thích thú, hưởng thụ, vui sướng đó là chìm giữa dòng.
Mà ăn có chánh niệm tỉnh giác quán chiếu các thức ăn, thức ăn qua cổ họng thì nó thành cái gì, rồi xuống bụng thì nó thành cái gì, lúc đó mình ăn thì quán chiếu như vậy để mình diệt cái tâm để giảm bớt, để phá cái tâm yêu thích, ham muốn, khoang khoái, dục tham và ái đối với thức ăn. Quý vị thấy tu cái này nó khó không? Khó nó mới thành thánh nhân, mới thành thầy của trời và người.
Có ai ngồi ăn mà quán chiếu cái này không? Trong đây mình phải tập, lúc đầu mình chưa hoàn toàn dứt được nhưng mình bớt cái sự gắp lia, gắp lịa, nhai sột sột. Bớt cái vụ thô tháo ở trong cái tham, cái dục, cái ái đối với thức ăn. Cho nên cái này mình tu nó nhỏ nhiệm từng chút. Không phải dục ái là nam nữ không đâu, cái đó là phàm phu pháp. Còn cái dục ái ở đây là bất cứ mình tiếp xúc với cái gì mà trong đó mình ham thích, khoang khoái, dính mắc thì đó là dục, là tham, là thích, là đắm nhiễm.
Người ta cúng cho mình cái y, hay cái món đồ nào đó mà mở ra mắt mình nhìn sáng trưng, chạm vào thấy vải này êm, tốt quá rồi vuốt vuốt miếng vải là mình chìm giữ dòng. Tại vì cái tâm mình dính mắc, ham thích vô đó, mình sẽ khổ đối với nó, khi cái sắc nó biến hoại sẽ khổ. Mình vừa đắp y lên mà có cô kia lỡ tay cầm nhang đâm lủng 8 lỗ thì có khổ không? Sân không? Tiếc không?
Cho nên Đức Phật dạy trí huệ bất động, tâm giải thoát, tức là khi đã nhiếp phục hết dục, tham, ái đối với mọi thứ trên cuộc đời này thì không có cái gì làm cho mình khổ được hết. Đó gọi là thượng nhân pháp, là cách sống của con người cao thượng, những bậc trên của chúng trung tôn. Vô thượng phước điền ở trên đời, là ruộng phước vô thượng của nhân thiên.
Cho nên khi tiếp xúc sáu căn, tiếp xúc sáu trần lúc nào cũng phòng chừng, không để cho những lậu hoặc phát tán, nó hoành hành, nó xâm chiếm, áp đảo mình. Luôn luôn nhìn ở trong cảm giác là hay lắm. Đương nhiên nó qua mặt mình vù vù nhưng từ từ mình phát hiện ra rồi từ từ mình đoạn diệt. Lúc đầu nó 2 mình 8 rồi 3-7, từ từ 5-5 rồi từ từ lên, mình nhiếp phục nó thì mình là hiền thánh. Khi bắt đầu chiến đấu thì mình đã không còn là người bình thường nữa, mình đã bước qua hiền vị, rồi sau đó mình nhiếp phục được gọi là hiền thánh Tăng, hiền thánh Ni.
Đọc "Trưởng Lão Ni Kệ" mới thấy những bậc A-la-hán hồi xưa của Đức Thế Tôn khiếp lắm, các bậc A-la-hán, thánh Ni hồi xưa, thượng nhân pháp. Mỗi khi mắt tiếp xúc với sắc, tai tiếp xúc với tiếng, mũi tiếp xúc với mùi, lưỡi tiếp xúc với vị, mũi tiếp xúc với sự đụng chạm của quần áo, bàn ghế, hay người vật là phải thấy, phải biết. Ý mình tiếp xúc với những pháp trần ở bên trong, những cái thọ tưởng hành.
Những cái cảm giác, suy nghĩ, nghĩ tưởng trong nội tâm phải có chánh niệm tỉnh giác, mình phải nhìn sâu vô trong đó, dùng kính phóng đại nhìn sâu vào trong đó coi có cái gì ở trong đó chứ không phải mình không thấy không biết cái gì hết. Cười hề hề, ăn chơi qua ngày, sống vất vơ vất vưởng, lúc nào ngồi cũng lờ đờ như vậy, có xác mà không có hồn, tu như vậy uổng. Cho nên là bị chìm giữa dòng, này các Tỳ kheo là đồng nghĩa với hỉ tham. Hai chữ này ghê lắm, nó là khoang khoái, ưa thích. Bất cứ cái gì mình tiếp xúc mà tâm mình khoang khoái, ưa thích là cẩn thận.
Cái hỉ, tham là dòng nước xoáy, nó sẽ nhận chìm mình, đừng để cái hỉ, tham nó mạnh đối với bất cứ cái gì mình tiếp xúc. Dù cho đó là chiếc xe của mình, cái áo của mình, bộ đồ của mình, bóp của mình, phòng ngủ của mình, tất cả cái đó đừng để cho hỉ tham sanh khởi mà có sanh khởi thì phải quán chiếu liền. Quán chiếu "cái này không gì là tôi, không gì là của tôi hết, nó là tứ đại, nó là pháp vô thường, nó vô ngã, nó sẽ tan rã bất cứ lúc nào, có cái gì hỉ tham thích thú trong đây". Mình phải quán chiếu như vậy lâu ngày là mình thể nhập thánh trí. Đừng để cho cái hỉ tham nhận chìm mình.
III. Bị mắc cạn
Bị mắc cạn ở trên miếng đất nổi là đồng nghĩa với ngã mạn. Cái này khó trị lắm, không phải dễ đâu. Có nhiều người nói "con bây giờ là vô ngã rồi, con đâu thấy con có cái tôi gì đâu". Tại vì người này không thành tựu trí huệ thì làm sao biết. Mình tưởng cái tôi là cái thô thiển biểu lộ bên ngoài ra nhưng không phải. Bài này năm trước chúng ta đã học có ba cái là mạn, quá mạn, tăng thượng mạn.
Bây giờ mình không để bị mắc cạn trên miếng đất nổi là mình luôn tu tập, quán chiếu, diệt cái bản ngã. Ví dụ đó là người cư sĩ công quả trong chùa nhưng họ có những hành động lời nói mà kinh thường mình, lúc đó cái tâm mình rất là khó chịu, rất là bực bội. Như vậy khi mình khó chịu, khi mình bực bội thì trong cảm giác của mình biến động liền, khi họ có hành động như vậy mình thấy cảm giác của mình thay đổi liền, mà thay đổi thì trở về phòng mình ngồi lại nhìn lại cảm giác khó chịu đó và mình hỏi "Tại sao có cảm giác này? Có phải mình nghĩ rằng mình là người trên, người kia là người dưới. Mình là xuất gia, còn người kia là cư sĩ, mình là Tỳ kheo còn người kia mới tập sự", có phải mình nghĩ vậy không?
Như vậy thì bộ xương này với bộ xương kia có khác không? Khi chết rồi thì đống tro này với đống tro kia có khác không? Khi mổ ra thì bao tử này với bao tử kia, với chùm ruột kia có khác không? Bộ lòng này với bộ lòng kia có khác không? Tại sao mình lại cho là mình cao hơn người ta, tại sao mình cho là Tăng còn người kia là tục, đó là dáng vẻ bên ngoài thôi mà tại sao mình chấp mê vậy, ngu si.
Phá tan bản ngã ra đi, phá tan sự phân biệt, hơn thua, trên dưới, Tăng tục ra đi. "Mình chỉ là một đống thịt bầy nhầy thôi, một bộ xương, một đống giòi không hơn không khép, dẹp tư tưởng đó ra. Không có gì là tôi, không có gì là của tôi hết". Mình nói chuyện với nội tâm một cách mạnh mẽ, dùng tuệ lực rồi sức mạnh của trí tuệ để đập tan cảm giác bực bội khó chịu mà nói trong đó hoài. Ý hành nói hoài "người kia nhỏ mình lớn, mình cao người kia thấp, mình xuất gia còn người kia là cư sĩ" thì phải diệt nó, đánh tan cái đó là trị cái gốc, sau đó quán chiếu, đắp y hậu vô lạy người đó 10 lạy.
Nhắm mắt tưởng tượng mình đắp y vào lạy người cư sĩ đó 10 lạy mà chưa tan cảm giác là mình lạy 49 lạy, lạy 49 lạy mà chưa hết thì mình lạy 100 lạy đến chừng nào cảm giác về bản ngã của mình nó tan hết, yên tịnh hoàn toàn thì thôi, gặp người kia mà mình không liếc, không tức, mình thường thì cái đó thành công. Đó là người đáng được chắp tay, đáng được cung kính, đáng được đảnh lễ, đáng được cúng dường, là ruộng phước vô thượng ở trên đời. Tu như vậy mới không bị mắc cạn ở trên miếng đất nổi của ngã mạn. Phải đập cho tan cái bản ngã, đập cho tan cái tôi, đập cho vỡ, cho bể cái ngã và ngã sở. Không có cao thấp trên dưới ở đây, không có Tăng tục gì ở đâyt. Chỉ do mình vô minh chấp ngã, chấp thủ cho rằng mình hơn người ta.
Coi lại giới hạnh, thiền định, trí huệ rồi thấy đầy rẫy tội lỗi, nhục nhã, xấu hổ rồi mình quỳ xuống lạy 100 lạy cho tới khi cảm giác bản ngã tan từ từ, nếu không được thì mình ra lạy thiệt. Trước tượng Phật mình quán người cư sĩ chửi mình ở trên rồi mình ở dưới lạy người ta, tu như vậy đó. Đó là thánh pháp, mới phá được bản ngã. Còn nếu như mình nghĩ mình hơn người kia là kém, mình là Tăng người kia là tục thì không bao giờ mình phá được cái tôi. Mình sẽ lạy người ăn xin bên đường, lạy một đứa nhỏ, mình quỳ lạy một cô gái kỹ nữ đứng đầu đường, mình lạy những người thấp hèn lau chùi cầu tiêu. Mỗi lần bản ngã nổi lên là mình lạy, lạy con chó, lạy con mèo, lạy ngọn cỏ, bông, cây trước chùa. Mình lạy hết, phải quán chiếu như vậy mới diệt tận bản ngã, từ đó mới đi đến được bờ bên kia của Niết-bàn, mới ra được đại dương của giải thoát. Minh Thành tập phương pháp đó đó, tập thử đi rồi sẽ thấy kì tích xuất hiện.
IV. Bị người nhặt lấy
“Thế nào là bị người nhặt lấy? Ở đây, Tỳ kheo sống quá liên hệ với cư sĩ, chung vui, chung buồn, an lạc khi họ an lạc, đau khổ khi họ bị đau khổ, tự trói buộc mình trong các công việc phải làm được khởi lên của họ. Ðây gọi là Tỳ kheo bị loài Người nhặt lấy”
(Tập IV.Thiên Sáu Xứ, Chương I.Tương Ưng Sáu Xứ, IV.Phẩm Rắn Độc, IV.Khúc Gỗ).
Chỗ này nhiều phương diện để khai thác lắm. Mình không khéo chỗ này là mình chị dính sáu bảy chục phần trăm có khi nhiều hơn nữa. Nếu dính mắc vô cái này là mình bị người vớt lấy rồi đó, bị người nhặt lấy rồi đó, thì thật sự uổng công mình đi tu. Tình nghĩa thiêng liêng nhất là cha mẹ của mình, là ông bà cô bác lục thân quyến thuộc mà mình bỏ đi. Cha mẹ mình bệnh mình không thèm hỏi thăm, không biết. Ông bà mình chết qua đời mình không nhìn mặt được lần cuối.
Những người thân thương nhất mà mình từ giã ra đi, mình từ bỏ. Giờ vô chùa là mình kết thân giao với những cư sĩ. Khi họ nói chuyện vui là mình vui theo họ, khi họ có chuyện buồn là mình cũng rươm rươm nước mắt theo, như vậy gọi chung vui, chung buồn. Họ an lạc thì mình an lạc, học đau khổ thì mình bị đau khổ. Vậy mình đâu phải là người xuất gia. Dù cho người đó cúng xây hết cái chùa cũng vậy, cũng là người cư sĩ, cũng là một tín thí thôi. Chứ không phải vì cái đó là bắt quàng làm họ, mà bắt nghĩa tào khang, mà mật thiết. Không phải, cái đó là vì lợi lợi dưỡng rồi, vì cúng dường rồi.
Lợi Dưỡng Cúng Dường, Tương Ưng Bộ Kinh quý huynh đệ học là thấy khiếp lắm.
Này các Tỳ kheo lợi dưỡng danh văn và lợi dưỡng, lợi đắc. Này các Tỳ kheo là mũi tên, là con dao, là sấm sét, là kẻ giết người.
Hãy cẩn thận với tất cả lợi đắc, cung kính, cúng dường, tất cả các cái đó giết mình chết. Đối với những bậc chưa thành tựu thánh trí, được lợi dưỡng, cúng dường, lợi đắc là cái đó giết mình chết. Cho nên sống không quá liên hệ với cư sĩ, dù cho người đó ân nghĩa với mình tới đâu đi nữa, không có sống quá liên hệ với họ. Tới là vì pháp, còn họ tới là vì trút chuyện nhà họ, chuyện chồng con nhà họ mà mình ngồi tâm sự là mình sai hết.
Mình có không có bàn chuyện đó mà mình bàn chuyện giới, định, tuệ, giải thoát, giải thoát tri kiến, những câu chuyện viễn ly, những câu chuyện liên hệ tới mục đích, tới Niết-bàn. Còn những câu chuyện đời là mình không nói, không bàn những cái đó. Cho nên nhiều khi người nước ngoài về thấy 4-5 giờ sáng mà quán café ngồi đầy hết, người ta không biết mình nói cái gì nữa, mà cái độc đáo của mình là ra quán café nói chuyện. Còn không khéo trong chùa mới hai mấy tuổi mà dọn ra mời uống trà, gặp là châm trà, tam tuần là lên bàn thờ đó.
Hồi xưa chùa Minh Thành có ông này lớn tuổi mới đi xuất gia mà có chiêu này rất là độc. Ai qua gặp ổng mời uống trà mà mỗi lần uống là ba bốn tiếng, sáu tiếng vậy đó. Bữa đó sáng sớm mới có 6h sáng, có mấy người qua xin rau lang thì thầy mời uống trà, mấy người đó nói "Dạ không, con còn về còn đi làm nữa". Thành ra mình phải thấy rõ để mình học từng chút, điều chỉnh từng chút để từ phàm lên tới hiền rồi từ hiền mới lên tới thánh, chứ đâu phải nhảy một cái mình lên bàn thờ mình ngồi đâu. Đức Phật nói Pháp của ta ở trong chánh pháp này không có chuyện bất tình lình, đột ngột chứng ngộ mà phải trải qua những bước trình tự đó.
Trở lại vấn đề mình phải cẩn thận khi tiếp xúc với cư sĩ, không dành quá nhiều thời giờ cho họ, cái này rất là quan trọng. Không khéo nhìn lại thì một ngày mình tiêu phí vô cái gì? Nấu nướng, dọn dẹp, lau chùi rồi tiếp khách xong rồi sao? Còn thời gian nữa không? Đến tối nhảy lên gường ngủ như chết, có thiền định gì đâu. Đâu phải hết tuần rồi hết tháng, rồi nhiều tháng nhiều năm rồi cả đời trong chùa như vậy, làm được chút xíu thiện pháp. Mà thiện pháp cũng chưa thuần thiện nữa mà tạp thiện, lẫn lộn trong đó là những nghiệp ác, nghiệp bất thiện.
Tự trói buộc mình vô công việc phải làm được khởi lên của họ.
Cái này là cái đau đớn. Tự trói buộc mình vào những công việc phải làm được khởi lên từ họ. Tự cho mình trọng trách là phải làm công việc của người ta đó. Ví dụ nhà người ta có người chết mà mình làm như nhà mình có người chết, mình ở lại luôn một tuần. Thức đêm rồi này nọ, thậm chí là khóc rồi nằm kế bên hòm đó ngủ. Đó là bại lớn. Cho nên cái giới hạnh, cái giới đức, cái đạo hạnh của một người tu quan trọng lắm. Thành ra nhiều khi điện thoại đến nói chuyện đời, nói chuyện gia đình này nọ là Minh Thành né rồi sau này là trốn. Hỏi pháp thì nói, còn không thì thôi. Tại vì nói một hồi là mình nhào vào trong câu chuyện đó. Rất nguy hiểm, phải cẩn thận.
V. Bị phi nhân nhặt lấy
“Và thế nào, này Tỳ kheo, là bị phi nhân nhặt lấy? Ở đây, Tỳ kheo sống Phạm hạnh với ước nguyện được sanh cộng trú với một hạng chư Thiên: "Mong rằng với giới luật này, với cấm giới này, với khổ hạnh này, với Phạm hạnh này, ta sẽ trở thành Thiên nhân hay một loài chư Thiên!" Ðây, này Tỷ-kheo, được gọi là bị phi nhân nhặt lấy”
(Tập IV.Thiên Sáu Xứ, Chương I.Tương Ưng Sáu Xứ, IV.Phẩm Rắn Độc, IV.Khúc Gỗ).
Mong rằng sau khi mình tu hành giới hạnh cực khổ, mình ráng tu mai mốt mình được về cõi nào đó sung sướng, mình ở đâu, trở thành một người nào đó, cái đó là bị phi nhân nhặt lấy, không phải là chánh pháp của Đức Phật. Đức Phật dạy nhìn thấy bản chất vô thường, khổ đau, bất tịnh, nhơ nhớp của cái thân năm uẩn này, để mà viễn ly, ly tham, chấm dứt, từ bỏ, không còn tái sanh trong dòng luân hồi này nữa, gọi là chấm dứt sanh tử. Đức Phật không dạy mình tu để sanh lên cõi nào để hưởng thụ cái gì đó. Cái đó không phải, đó là bị phi nhân nhặt lấy rồi.
Quý huynh đệ nhìn thấy bây giờ cái này nhiều không? Tràn ngập hết, đau lòng lắm. Người xuất gia tu hành mà tìm được cái chánh tri kiến đó, một công trình vĩ đại không phải chuyện đơn giản. Thấy xuất gia rần rần như vậy đó, mà để thành tựu chánh tri kiến, đúng theo con đường Bát Thánh Đạo thì đếm trên đầu ngón tay chứ không phải nói chuyện đơn giản. Mình tu với mục đích sau khi chết mình sanh lên một chỗ nào tốt đẹp, sung sướng để cho ai vậy? Ai hưởng thụ vậy? Đó là thâm sâu.
Cho nên cái chánh lí của Đức Phật dạy mình là ly tham đối với năm uẩn. Không còn ham muốn nữa, nhàm chán, ly tham, chấm dứt, từ bỏ đối với năm uẩn. Không tiếp nối đời sống vô thường, khổ vô ngã, bất tịnh, những cái thân mà tràn đầy chỗ nào cũng ung thư được hết. Chấm dứt những thứ đó mới gọi là giải quyết sanh tử, liễu thoát sanh tử, chấm dứt luân hồi, đó mới là mục đích duy nhất mà Thái tử Tất-dạt-đa bỏ cung vàng ngọc ra đi. Thái Tử nhìn thấy cảnh già, bệnh, chết rồi xin phụ vương nếu phụ vương muốn con ở nhà mà không đi tu thì phụ vương cho con đừng có già, đừng có bệnh, đừng có chết thì con sẽ ở nhà. Từ đó vấn đề trọng đại hình thành nên Phật giáo là giải quyết vấn đề khổ đau ở trong sanh tử.
Cho nên Đức Thế Tôn chứng ngộ là vượt ra khỏi sanh tử, là giải quyết việc sanh, lão, bệnh, tử, sầu, bi, khổ, ưu, não cho nên gọi Niết-bàn là vô sanh. Không còn cái thân bất tịnh, cái thân đau ốm, bệnh hoạn mà đầy rẫy những cái khổ nữa. Tâm giải thoát, thân giải thoát, lúc mà sắp chết các ngài xem như thân này là thùng rác bẩn, các ngài từ bỏ một cách nhẹ nhàng cho nên mới thành tựu Bất Lai quả, nghĩa là không trở lại nữa. Thành tựu Niết-bàn, sanh đã tận, phạm hạnh đã thành, việc cần làm đã làm và không còn trở lui trạng thái này nữa (Tập II.Thiên Nhân Duyên, Chương I.Tương Ưng Nhân Duyên, VII. Đại Phẩm Thứ Bảy).
Đó mới là chân chánh, con đường Giác Ngộ của Đức Phật chứ đâu phải tu là đời sau mình sướng hơn đời này nữa. Đó là phái triển dục, tham, không phải đoạn tận ái, không phải ly tham, không phải chấm dứt, không có từ bỏ. Cho nên mấy câu này là định lí của chánh pháp, phải nhớ kỹ để tu dù cho mình chưa tới đó, nhưng mình phải biết nó là như thế đấy. Rồi từ từ mình tiến, còn định hướng sai thì mình đi theo con đường sai, không đúng chánh pháp. Nó làm cho mình phát triển cái dục, cái tham, cái ái mà thôi.
Cái này hết sức là sâu xa mà phát hiện ra là Minh Thành rúng động, chấn động mạnh. Tuyệt vời! Đây mới là giải quyết được vấn đề, triệt để căn nguyên đau khổ của chúng sanh. Cho nên đây là toàn bộ cái khổ uẩn (Khổ uẩn là một đống khổ). Mình mang một đống khổ 70kg này là bất cứ khi nào mình cũng bệnh được hết. Mình mang cái đống ngũ uẩn này có hạnh phúc, vui sướng gì đâu. Mình bám chấp vô ngũ thủ uẩn hoài, đây là của tôi ai đụng tới là khổ. Mình không thấy được bản chất của nó. Mình thấy được là thành tựu được trí huệ tuyệt vời. Đức Phật chỉ cho mình thấy bản chất của năm uẩn cho nên mình thấy được là nhàm chán, không còn tham muốn nữa, từ đó giải thoát.
Đó là chánh pháp tối thượng, đạt được cái này thì quý huynh đệ mới thấy sự an lạc tuyệt vời. Mình không thấy sự dự tính, dự định rồi muốn gom góp làm cái gì cho nhiều nhiều là không có. Mình ly tham, lìa tham, không chạy theo tham dục nhiều nữa, giảm từ từ rồi đi đến chỗ an tịnh.
VI. Bị mắc vào xoáy nước
Bị mắc vào xoáy nước, này Tỳ kheo, là đồng nghĩa với năm dục công đức, có chỗ gọi là năm dục trưởng dưỡng. Năm dục trưởng dưỡng là khi mắt tiếp xúc với sắc, lỗ tai tiếp xúc với mùi, lưỡi tiếp xúc với vị, mũi tiếp xúc với mùi, thân tiếp xúc với những sự xúc chạm. Khi tiếp xúc thì những cái gì khoang khoái thích thú gọi là năm dục trưởng dưỡng. Từ sắc, thanh, hương, vị, xúc, 5 cái đó nuôi lớn cái ham muốn của mình, cho nên gọi là năm dục trưởng dưỡng.
Cho nên mình giải thích là tài, sắc, danh, thực, thì là nó nhỏ xíu, không có đủ theo kinh Nikāya. Kinh Nikāya nói rất là rộng. Bất cứ cái gì khi con mắt tiếp xúc đối với sắc thì cái tiếp xúc đó mà mình ham thích, thích thú thì cái đó là nuôi dưỡng lòng dục của mình. Cho nên giải thích sắc là sắc đẹp là không đủ, đó mới có chút xíu thôi. Bất cứ âm thanh nào mà mình nghe, tăng trưởng lòng dục, ham muốn này kia, cái đó là dục trưởng dưỡng, nó nuôi lớn lòng dục. Vì thế năm dục trưởng dưỡng là sắc, thanh, hương, vị, xúc. Như vậy mình bị mắc vào dòng xoáy nước, là mình bị mắc vào trong năm cái dục đó, đi ra không được.
VII. Bị mục nát ở bên trong
“Và này Tỳ kheo, thế nào là bị mục nát bên trong? Ở đây, này Tỳ kheo, có người thọ tà giới, theo ác pháp, bất tịnh, có những hành vi đáng nghi ngờ, có những hành động che đậy, không phải Sa-môn nhưng hiện tướng Sa-môn, không phải Phạm hạnh nhưng hiện tướng Phạm hạnh, nội tâm bị hủ bại, đầy dục vọng, là một đống rác bẩn. Ðây, này Tỳ kheo, được gọi là bị mục nát bên trong”
(Tập IV.Thiên Sáu Xứ, Chương I.Tương Ưng Sáu Xứ, IV.Phẩm Rắn Độc, IV.Khúc Gỗ).
Theo tà giới là giữ những giới không đúng. Theo ác pháp bất tịnh là có những hành vi đáng nghi ngờ, có những hành động che mờ, giấu giếm. Không phải Sa-môn nhưng hiện tướng là Sa-môn nghĩa là hình thức là xuất gia nhưng cái tâm không phải xuất gia, không đúng pháp của Tỳ kheo, không đúng pháp trong giới luật, giới hạnh, không tăng trưởng giới học, tâm học, hệ học. Không phải phạm hạnh mà hiện tướng phạm hạnh nghĩa là đời sống không thanh tịnh nhưng làm dáng thanh tịnh chứ không có thanh tịnh thực sự.
Mình đọc cái này là mình hổ thẹn, nhục nhã, tàm quý. Nội tâm bị hủ bại đầy dục vọng là một đống rác bẩn, mấy cái từ này khiếp lắm. Nội tâm bị hủ bại tức là nó mục nát hết ở trong, tuy hình thức là tu nhưng không có giới hạnh, không có thiền định, không có trí huệ, không có giới đức, không có đạo hạnh, không có tu hành, chạy theo những tài sắc, danh lợi của thế gian, nhiều khi ham muốn còn nhiều hơn người ngoài đời, đầy dục vọng. Rùng rợn. Một đống rác bẩn trong tâm, một đống dơ bẩn, cấu uế, ô nhiễm, đó được gọi là bị mục nát ở bên trong. Mọi người có khiếp sợ không? Rụng rời không? Cay đắng không? Lo lắng không?
Đức Phật nói cái nào cũng trúng hết. Như vật mình mới phải làm mới, làm sạch, làm cho nó đẹp lại. Còn bằng không là mình bị mục nát ở bên trong. Không phải lạy xám hối 108 lạy là xong mà phải hứa nguyện với lòng mình làm sạch, làm đẹp, làm mới lại.
Lúc bấy giờ Nanda, người chăn bò, đứng không xa Thế Tôn bao nhiêu.
Rồi người chăn bò Nanda bạch Thế Tôn:
Bạch Thế Tôn, con không đâm vào bờ bên này, con không đâm vào bờ bên kia, con không bị chìm giữa dòng, con không bị mắc cạn trên miếng đất nổi, con không bị loài Người nhặt lấy, con không bị phi nhân nhặt lấy, con không bị mắc vào xoáy nước, con không bị mục nát bên trong. Bạch Thế Tôn, mong Thế Tôn cho con được xuất gia với Thế Tôn, được thọ đại giới.
Này Nanda, hãy đem trả các con bò cho người chủ.
Bạch Thế Tôn, chúng sẽ đi trở về. Các bò mẹ đang trông mong gặp lại các con bê của chúng.
Tuy vậy, này Nanda, Ông hãy trả lui các con bò cho những người chủ.
Rồi Nanda, người chăn bò, sau khi trả lui các con bò cho những người chủ, đi đến Thế Tôn; sau khi đến, bạch Thế Tôn:
Bạch Thế Tôn, các con bò đã được trả lui cho những người chủ. Bạch Thế Tôn, xin hãy cho con được xuất gia với Thế Tôn. Hãy cho con thọ đại giới.
Nanda, người chăn bò được xuất gia với Thế Tôn, được thọ đại giới. Sau khi thọ đại giới không bao lâu, Tôn giả Nanda sống một mình, an tịnh...
Tôn giả Nanda trở thành một vị A-la-hán nữa (Tập IV.Thiên Sáu Xứ, Chương I.Tương Ưng Sáu Xứ, IV.Phẩm Rắn Độc, IV.Khúc Gỗ).
Tu đúng pháp là nó nhanh như vậy đó. Chúc cho các huynh đệ trong năm nay có những bậc sơ quả Tu-đà-hoàn cho đến tứ quả A-la-hán ở trong lớp này, chắc chắn là có được.
Nguyện đem công đức này hướng về khắp tất cả đệ tử và chúng sanh nguyện trọn thành Phật Đạo.
./.