Thư Viện Linh Quy
← Danh sách

Làm An Tâm Người Bệnh 10 - Vượt Qua Tử Môn Quan

2026-03-03 00:53:06
Vượt Qua Tử Môn Quan

Thích Minh Thành

Ngày 09 Tháng 09 Năm 2021

MỤC LỤC

TOC \o "1-3" \h \z \u I. Quán vô thường PAGEREF _Toc83627759 \h 1

II. Quán ly tham PAGEREF _Toc83627760 \h 2

III. Quán không hoan hỷ PAGEREF _Toc83627761 \h 5

IV. Bài kinh thăm người bệnh PAGEREF _Toc83627762 \h 12



I. Quán vô thường

Kính lễ ân đức Thế Tôn

Kính lễ ân đức Chánh Pháp

Kính lễ ân đức chúng tăng

Kính lễ ân đức đạo sư,

Kính lễ ân đức Thánh giới.

Kính bạch chư tăng, ni và toàn thể quý Phật tử. Hôm nay chúng ta tiếp tục nghe về chủ đề Làm an tâm người bệnh, tiếp theo về phần quán chiếu cảm giác không khổ không vui.

Bài kinh Tật bệnh, Tương Ưng Bộ Kinh tập bốn:

“Này các Tỷ-kheo, nếu Tỷ-kheo sống chánh niệm, tỉnh giác, không phóng dật, nhiệt tâm, tinh cần như vậy, lạc thọ khởi lên. Vị ấy tuệ tri như sau: "Lạc thọ này khởi lên nơi ta. Lạc thọ ấy có duyên, không phải không duyên. Do duyên gì? Do duyên chính thân này, nhưng thân này là vô thường, hữu vi, do duyên sanh. Do duyên thân khởi lên, và duyên này là vô thường, hữu vi, thời lạc thọ được khởi lên, làm sao thường trú được””

Do có thân này nên khởi lên cảm giác không khổ không vui, thường thường, đều đều đó. Nhưng thân này không thường còn mà thân này biến đổi, thân này do có làm ra, tạo ra, các duyên sanh khởi, do tứ đại tác thành, do cha mẹ sanh, do cơm cháo nuôi dưỡng, do tuần hoàn, do bao nhiêu nhân duyên trùng trùng vạn vạn bên trong nên mới có tồn tại thân này.

Như vậy, thân này không phải là thứ còn hoài, mà là thứ được làm ra, lắp ráp, nương tựa, dựa vào và rất nhiều điều kiện thì mới có mặt và tồn tại. Nên do một thân vô thường, hữu vi, duyên sanh như vậy, nên mới có ra được cảm thọ không khổ không vui này thì cảm thọ không khổ không vui này làm sao thường trú được.

Cảm thọ đều đều, bình bình, thường thường này được sanh khởi từ một thân xác vô thường, nương dựa, kết hợp và rất nhiều điều kiện thì làm sao cảm thọ đó thường trú được, còn hoài được.

II. Quán ly tham

“Vị ấy trú, quán vô thường đối với thân và lạc thọ. Vị ấy trú, quán tiêu vong (vaya). Vị ấy trú, quán ly tham. Vị ấy trú, quán đoạn diệt. Vị ấy trú, quán từ bỏ. Do vị ấy trú, quán vô thường; do vị ấy trú, quán tiêu vong; do vị ấy trú, quán ly tham; do vị ấy trú, quán đoạn diệt; do vị ấy trú, quán từ bỏ đối với thân và lạc thọ của vị ấy, nên tham tùy miên đối với thân và lạc thọ được đoạn diệt.”

Ý nói vị ấy quán chiếu vô thường đối với thân này và đối với những cảm giác thường đều đó, không khổ không vui đó để an trú vào sự quán chiếu về sự thật của tấm thân này. Vị ấy an trú vào sự quán chiếu về cảm giác và bản chất của cảm giác thường thường, đều đều này, bình bình ổn ổn, không khổ không vui này. Quán tính chất vô thường của nó. Tính chất vô thường của các cảm thọ, những cảm giác, cảm xúc. Vị ấy an trú, quán về tính chất tiêu vong, tan nát của thân xác này, tính chất tiêu tan của cảm giác đơ đơ, thường thường, bình bình không khổ không vui này.

Quán sát tính chất không đáng ham thích, nắm giữ, vui sướng, an ổn trong đó, đoạn diệt. Quán tính chất chấm dứt, rã nát, bại hoại, tiêu dong, đoạn diệt của thân xác, hình hài, vóc dáng, sắc uẩn này.

An trú trong sự quán sát, tiêu tan, hủy hoại, hoại diệt, tiêu vong, tan nát, không đáng tham, không đáng thích, không đáng muốn, không đáng ưa, không đáng tự hào, nắm giữ. Chúng ta cần quán tính chất đó trong mỗi suy nghĩ, mỗi cái nhìn, nhìn vào tính chất đó, hướng dẫn tâm mình vào suy nghĩ đó, như vậy gọi là chánh tư duy, chánh kiến, quán chiếu các cảm thọ.

Nếu có suy nghĩ nào ngược với suy nghĩ đó thì mình lập tức dẫn nó về, quán chiếu tính chất từ bỏ. Thân là là thứ không từ bỏ sớm thì cũng từ bỏ muộn, làm sao có thể nắm giữ được, dù mình không muốn bỏ nó thì nó cũng sẽ bỏ mình thôi.

Vậy nên quán tính chất từ bỏ, những phép quán này là chân lý, là bản tánh, bản chất của thân xác này, của cảm giác này được bậc Chánh Đẳng Chánh Giác giác ngộ. Đây là những định luật, định lý của thân xác và của cảm giác, tức thân thể và tâm hồn, nói gọn và đầy đủ là năm uẩn, thọ, tưởng, hành, thức, tính chất đều như vậy, bản tính đều như vậy, không thể vượt khỏi tính chất đó.

Tính chất này được bậc Chánh Đẳng Chánh Giác, bậc Chánh Biến Tri, bậc Thế Gian Giải chứng ngộ, chứng nhập, chứng đắc, được bậc tối thượng truyền trao ngọn lửa trí tuệ này cho chúng ta. Để thường xuyên ở trong, an trú trong sự thấy biết và nhìn sâu sắc về tính chất không còn mãi. Trú quán vô thường là vị đó ở luôn trong cái nhìn bằng trí tuệ về sự thật, bản chất của thân xác này không còn hoài, không còn vậy, không thường mãi như vậy.

Vị này an trú trong cái nhìn bằng trí tuệ sâu sắc, về sự thật của thân xác này là biến đổi, thay đổi bất chợt, bất thình lình, đột ngột, đột biến, đột quỵ, đột tử. Hai từ vô thường cần diễn ra như vậy, dù chỉ là hai từ thôi nhưng bao hàm rất nhiều nghĩa bên trong, không phải chỉ nói là không thường, như vậy thì mình không có cảm thọ. Thường là thường, tiếp diễn, vô là không có sự tiếp diễn như vậy, là biến đổi, thay đổi, tan nát, hoại diệt. Như vậy là chúng ta quán tính chất tiêu vong, không đáng tham muốn, đoạn diệt và quán tính chất từ bỏ. Thân này là thứ phải tan nát, tiêu vong. Dù cho có luyện tiên đan, thuật trường sinh hay tu đến thượng tiên, thượng thần, phạm thiên, thiên chủ thì cuối cùng tấm thân cũng tan, tiêu vong.

Nên những vị Phạm Thiên, cõi trời cao, phước đức rất lớn, tu tứ vô lượng tâm, viên mãn, nhờ phước báu bao la. Khi đó các Ngài thấy là cứ sống mãi, sung sướng mãi như vậy không biết bao nhiêu kiếp, thì các vị này suy nghĩ “Mình là tối tôn, vĩnh hằng, bất biến, vĩnh cửu, bất diệt, Niết-bàn. Là đến cứu cánh cùng cực, đến đây là không còn ai hơn nữa.”

Như Ngài Mục-kiền-liên đọc được tâm niệm biến mất ở Kỳ Duyên tinh xá và hiện ra trước mặt các vị Phạm Thiên và Ngài quở trách họ có những suy nghĩ đó là sai lầm, vô minh. Rồi Ngài dùng ngón chân đẩy làm lung lay cả lâu đài làm cho những người đó hốt hoảng, hoảng sợ, run sợ, sợ hãi, khiếp sợ và tưởng rằng “Mình là thường trú, bất biến, vĩnh cửu, tối thượng, Niết-bàn?” Thì các vị đó mới hỏi “Đó là Thế Tôn, là sư phụ của Ngài sao?” thì mới biết chỉ là bạn đồng tu. Tức là Ngài Mục-kiền-liên cũng là Thánh đệ tử và Phạm thiên cũng là Thánh đệ tử, đều là đệ tử của Đức Phật, nên gọi là bạn đạo. Vậy nên các vị Chư Thiên nghĩ là Ngài Mục-kiền-liên là Thế Tôn vì Ngài ấy đã dùng thần thông để hiển thị Chánh trí, Chánh lý của Đức Phật.

Chúng ta thấy được rằng ngay cả các bậc phước đức vô lượng như vậy thì huống chi thân xác của mình, sáng sống, chiều chết, chỉ thấy nay nói chuyện nhưng mấy ngày sau thì trở thành cát bụi.

Đó là quán tính vô thường của thân, quán tính tiêu vong của thân xác này. Tiêu vong là tan mất, tiêu mất, tan biến, không đáng tham, ly tham. Phải nhìn từ nhiều góc độ và không thể hiểu đơn giản ly tham là rời tham, rời sự ham, sự thích, sự muốn, sự yêu, sự thương, rời sự nhớ nhung, bám víu, nắm chặt, dính mắc bên trong vì bản chất của nó là không thể nắm được, không thể giữ được, cất được. Bản chất của thân này là cái không đáng để cho mình tham.

Ví dụ, hai người vừa nói là vợ chồng, sau đó người chồng bị tai nạn mất hai chân hay nằm một chỗ thì người vợ bỏ đi. Hay chuyện bỏ cha mẹ bị bệnh trong bệnh viện rồi trốn đi. Thậm chí có chuyện về người mẹ đã hơn chín mươi tuổi bị con lừa kí giao nhà lại rồi bị bỏ rơi ở ngoài đường.

Đó là nói bên ngoài với những người thân thương, nói sâu vào tự thân của mình. Như có một anh chàng hai mươi mấy tuổi có sự nghiệp giỏi giang, tốt nghiệp đại học, bằng cấp đều có nhưng bất chợt xảy ra tai nạn bị mất chân. Đó là tính chất vô thường của thân này. Là tính chất không đáng tham của thân này, tính chất khổ, đoạn diệt, tiêu vong, không đáng để tham mà đáng để từ bỏ. Việc này thì người phàm phu không thấy được mà chỉ có bậc Chánh Đẳng Chánh Giác mới có thể thấy được.

Tại sao người ta không nhìn theo chiều hướng này mà họ lại nhìn theo chiều hướng đẹp như vậy hoài, là tôi, của tôi, là sạch sẽ, đẹp đẽ, vui sướng trong thân này. Vì họ nhìn theo vô minh và tham ái. Vì họ nhìn theo vô minh là cái không hiểu biết về tính chất của nó, từ không hiểu biết nên ưa thích và không quán ly tham được. Vậy nên trong sự tu của mình hằng ngày cần có sự tác ý, tác động vào tâm ý của mình trong tư duy, suy nghĩ của mình về năm pháp quán này. Những thứ này là vô thường, đột biến, đột quỵ, đột tử, bệnh hoạn, đổi dời, tiêu tan, hoại diệt, là thứ không đáng để tham, ưa, thích mến, không đáng để cho mình nắm giữ, mình nên thường tác ý như vậy, đó là về quán thân.

III. Quán không hoan hỷ

Khi mình quán nhiều thì được thuần thục, nhuần nhuyễn, thâm nhập, thể nhập, chứng nhập trong này thì đến lúc gần chết thì từ bỏ. Như Đức Phật dạy:

“Nếu vị ấy cảm thọ cảm giác lạc thọ, vị ấy cảm giác thọ ấy như người không bị trói buộc. Nếu vị ấy cảm thọ cảm giác khổ thọ, vị ấy cảm thọ cảm giác thọ ấy như người không bị trói buộc. Nếu vị ấy cảm thọ cảm giác bất khổ bất lạc thọ, vị ấy cảm thọ cảm giác thọ ấy như người không bị trói buộc.”

Vị ấy cảm giác cảm thọ ba cảm giác khổ, vui hay không khổ không vui, cảm thọ ba cảm giác đó giống như người không bị trói buộc vì vị này thường quán năm phép quán này. Nên các vị này gặp cảm giác vui hay gặp cảm giác khổ hay cảm giác không vui không khổ nên vị này do sự quán chiếu như vậy, thuần thục được năm phép quán nên vị này giống như người không bị trói buộc. Ngược lại, đối với người không biết tu, không biết nhìn vào cảm thọ là gì, không biết loại cảm thọ gì thì sẽ không biết được tính chất của cảm thọ đó.

Nên khi không biết được tính chất của cảm thọ là vô thường, vô ngã, khổ, tan biến, hoại diệt, không đáng tham muốn, đáng từ bỏ thì làm sao có thể không tham muốn, không dính mắc, không chấp thủ, nắm giữ đối với nó.

Chúng sanh đang nắm giữ sắc, thọ, tưởng, hành, thức, luôn luôn nắm giữ chúng từng giây từng phút, trong mỗi cảm giác đều nắm giữ dù cho không nói ra tiếng. Trong mỗi suy nghĩ nắm giữ dù cho nó không phát ra ý hành, mình tưởng là nó chỉ im im như vậy nhưng không, là nó đang ngấm ngầm bên trong.

Chính vì vậy mình cần tác ý liên tục như cây nhìn thì chỉ thấy có thân, cành, lá ngọn mà không thấy rễ, như cây cổ thụ vô lượng kiếp thì mình càng không thấy rễ, muốn thấy rễ thì mình không thể chỉ đào lướt ở trên, đào sơ sài mà phải đào thật sâu xuống. Việc ngồi thiền và nhìn sâu vào tâm trí giống như công việc đào xới, đào bới gốc rễ đó. Sự ngồi thiền để nhìn thấy, yên tịnh để nhìn thấy, quán chiếu vào năm uẩn là để đào sâu xuống. Sự tác ý các phép quán thì mình thường xuyên thiền quán là để cắt, chặt, bới, xới nó lên.

Những kẻ vô văn phàm phu không biết tu, không thực tập theo lời dạy, trí huệ năm uẩn của Đức Phật thì chỉ như thấy được thân, cành, lá bên trên nhưng còn thấy không rõ, đứng góc này thì không thấy góc kia, đứng góc kia thì lại không thấy được góc nọ.

Vậy nên sự tu của chúng ta rất quan trọng, khi ngồi yên và nhìn sâu vào những cái ngấm ngầm để nỗ lực đào, bới, xới, cắt, chặt rồi đốt, đổ xuống sông, xuống biển hay gió mười phương làm bay thành hư không. Tất cả việc đó là nhờ cả một công trình, công quả, công lao, công tu, công tác, công nghiệp vĩ đại của người tu. Nếu không có sự để tâm sâu sắc, tế nhị, tinh vi, tinh cần, tinh tấn, nhiệt tâm thì sẽ không thấy được mà chỉ là thấy những thứ thô bên ngoài.

Do chúng ta dùng năm phép quán: vô thường, tiêu vong, từ bỏ, ly tham, đoạn diệt và chúng ta phải thuộc, thực tập lâu dài để quen với cảm thọ.

“Khi vị ấy cảm thọ một cảm thọ cùng tận sức chịu đựng của thân, vị ấy tuệ tri: "Ta đang cảm thọ một cảm thọ cùng tận đến sức chịu đựng của thân"”.

Đây như là bảo bối cho những người đang có bệnh, là lá bùa hộ mạng, là báo vật, là lá bùa hộ mạng, là vũ khí, pháp bảo, pháp khí, cho các vị đang bệnh. Do các vị này biết được thọ là thọ, không phải mình, biết được phân loại của cảm giác, biết được tính chất của cảm giác. Biết được tính chất của nó là vô thường, không đáng để tiêu vong, tan hoại và các vị này biết được những cảm thọ tham, sân, si, bản ngã trong đó, thường xuyên tu tập để nhiếp phục, tẩy sạch các cảm thọ đó bằng Thánh trí huệ nên vị đó đã tu tập nhiều năm, nhiều tháng, nhiều ngày, đã thành tựu trí tuệ thấy biết, đã có sự nhiếp phục tương đối. Đến khi vị này gặp lúc tai nạn, hoạn nạn, bệnh khổ, “một cảm thọ cùng tận sức chịu đựng của thân” thì rất quằn quại, đau đớn thì khi đó, vị này biết bằng trí tuệ.

Việc biết bằng trí tuệ là việc không đơn giản, phải do nghe, do học, do thực tập, quán chiếu, dày công tôi luyện, lão luyện thì vị ấy biết bằng trí tuệ “Ta đang có một cảm thọ cùng tận đến sức chịu đựng của thân”. Nếu bình thường không tu, không quán chiếu cảm thọ thì chỉ biết rên vì nhập với cảm thọ là một.

Chúng ta thấy bước số một đã không thành thì làm sao có bước số hai, ba, bốn, năm? Vì các bậc Đa văn Thánh đệ tử, người tu học Thánh trí ngũ uẩn thì mới tách mình ra và biết “Đây là thọ, không phải tôi!” đó là bước đầu tiên, sau đó xem xét đó là thọ gì, là thọ sân hay thọ tham, thọ si. Sau đó, từng thể loại đó sẽ lấy những pháp tương ứng để đối trị.

Nhưng nếu bây giờ chúng ta không biết, cứ nắm giữ trong thọ, “Là tôi, tôi đang cảm giác. Tôi khổ, tôi đau đớn, tôi chịu không nổi nữa rồi. Vậy nên bước đầu không có, không thành tựu được trí huệ của cảm thọ thì làm sao có được bước hai, bước ba? Nên nhờ chúng ta tu năm phép quán này, hay nhận diện ngũ uẩn, cảm giác toàn thân, nhiếp phục cảm thọ với sự tinh cần, nhiệt tâm lâu ngày, nhiều năm thì đến lúc này mới có sự chánh niệm, tỉnh giác, biết bằng trí tuệ là “Mình đang có một cảm thọ đến cùng tận sức chịu đựng của thân”, rất đau đớn, quằn quại, thống khổ và vị này biết bằng trí tuệ, không nhập cuộc hoàn toàn đối với cảm thọ đau đớn đó, thống khổ đó. Nhưng vị đó có một trí tuệ để nhìn, an trú trong trí tuệ đó nên không bị nhấn chìm trong cảm giác thống khổ, quằn quại, của những cảm thọ tận cùng sức chịu đựng của thân.

“Khi vị ấy cảm thọ một cảm thọ cùng tận chịu đựng của sinh mạng, vị ấy tuệ tri: "Ta đang cảm thọ một cảm thọ cùng tận đến sức chịu đựng của sinh mạng"”.

Khi nãy là “cùng tận sức chịu đựng của thân” giờ là “cùng tận sức chịu đựng của sinh mạng” tức là sẽ kết thúc mạng sống, diễn tả lúc sắp phải ra đi. Vậy nên chúng ta mới tu từ bây giờ, để ý cảm thọ, cảm giác để đến lúc đó mình mới có thể làm chủ, nhiếp phục được. Giờ cứ nói “Sao suốt ngày chỉ nói về ngũ uẩn, cảm giác toàn thân…” để đến lúc thọ xâm chiếm toàn ngũ uẩn như vậy.

Như sự việc của người Phật tử chia sẻ trong nhà có mười người nhưng bảy người đã bị nhiễm. Mẹ mất, chị thì đang năm viện không biết sống chết ra sao. Chỉ nghe thôi nhưng thọ của mình cũng làm mình chùng xuống, tay chân bủn rủn, xót xa không? Nhưng đó chỉ là mới nghe qua chuyện của người khác mà thọ đã như vậy thì khi mình ở trong gia đình đó, chính mình là người bệnh thì lúc đó sẽ ra sao nếu mình không tu tập? Vậy nên nếu có sự nhận diện năm uẩn, tu tập quán chiếu các cảm thọ, thấy được các tính chất vô thường, khổ vô ngã của các hành nên mới có được sự trình pháp như vậy, mới được phần nào có thể đứng vững được. Nếu như người bình thường không biết tu thì sẽ ra sao?

Nên đến mức “Khi vị ấy cảm thọ một cảm thọ cùng tận chịu đựng của sinh mạng, vị ấy tuệ tri: "Ta đang cảm thọ một cảm thọ cùng tận đến sức chịu đựng của sinh mạng"”.

Đó là thấy biết được bằng trí tuệ, biết đó là thọ, không phải của mình, biết đó là thọ khổ, là tận cùng sức chịu đựng của thân. Và cảm thọ, cảm xúc, cảm giác này là tận cùng sức chịu đựng của sinh mạng, là tử môn quan, cánh cửa của sự sống chết, chạm mặt với tử thần.

“Vị ấy tuệ tri rằng: "Sau khi thân hoại mạng chung, ở đây, mọi cảm thọ cảm giác không có gì đáng hoan hỷ, sẽ đi đến lắng dịu"”.

Chúng ta thấy hai việc ở phía trước là cả một sự chánh niệm tỉnh giác, niệm lực, định lực, tuệ lực. Đức Phật dạy về sự tác ý lúc mình sắp sửa chết: vị ấy biết rằng sau khi thân này tan rã, mạng sống chấm dứt thì mọi cảm thọ, cảm giác đều không có gì đáng hoan hỷ. Tất cả các cảm thọ đều nằm trong đau khổ, không có gì đáng để thích thú, vị đó sẽ không tìm đến cảm thọ không khổ, không ưa thích. Đó là cảm thọ khổ nhưng lại không chán ghét, chống cự cảm thọ khổ. Tức là vị này không có ý niệm triệt phá cảm thọ khổ này để mong cầu cảm thọ vui, mong cho hết đau, hướng đến sự hết đau mà vị này biết bằng trí tuệ rằng, “Sau khi mạng sống này chấm dứt, thân này rã ra mạng chung thì tất cả những cảm thọ, cảm giác đều không có gì đáng hoan hỷ”.

Đó là ly tham, không có gì đáng để yêu thích, tham muốn đối với cảm thọ. Sau đó “sẽ đi đến lắng dịu”, đây là quán từ bỏ.

Nếu là một người bình thường, không tu một cách sâu sắc, không nhận diện, quán chiếu cảm thọ kĩ thì mình gặp phải cảm giác bực bội, đau đớn thì mình có chấp nhận được không? Chúng ta sẽ khó chịu, muốn triệt tiêu cảm giác đó, tâm mình sẽ hướng tới cảm giác dễ chịu, của trước khi cảm thọ khổ đó xảy ra.

Ví dụ khi chúng ta bị một con muỗi chích thật đau thì lúc đó, tự động, điều này đã quá quen thuộc và bản ngã, sân, bực bội, khó chịu sanh khởi nên mình muốn giết hay ít nhất là đuổi con muỗi đó đi. Mình không muốn cảm giác đau đớn này và mình hướng tới cảm giác không đau lúc trước đó, triệt tiêu cảm giác đau này và hướng tới cảm giác dễ chịu.

Hay khi mình bị chó cắn, người mắng chửi… thì tự động bên trong bùng lửa lên, dâng lên, bốc lên, phừng lên rất nhanh, siêu nhanh vì xúc sanh thọ, thọ đó là dục, ái, tham, sân si, bản ngã.

Như vậy, mình thường là chống đối, triệt tiêu cảm giác sân hận đó, hay đối tượng làm cho mình sân, mình khổ thì mình muốn triệt tiêu họ, triệt tiêu luôn cả cảm thọ đó. Nên trong ý muốn, suy nghĩ, cảm thọ bên trong đều là tham, sân si, bản ngã lúc nào cũng có mặt. Nếu mình không chánh niệm tỉnh giác thì nó sẽ dẫn mình theo, còn nếu mình có chánh niệm tỉnh giác thì mình sẽ quán “Thôi, an tịnh lắng dịu đi” và tác ý, đánh đuổi, quở trách thì nó sẽ lắng dần dần.

Giờ nói sâu vào, khi chúng ta bệnh, cảm giác đau đớn, nhức nhối, quằn quại thì mình có bằng lòng với cảm thọ đó, có chấp nhận không hay là chỉ mong muốn qua cho nhanh mau? Hay là mình tìm lại cảm giác dễ chịu trước khi bệnh? Đó chính là tham và sân si.

Việc hướng tới, mong muốn, tìm cảm giác dễ chịu đó là sanh y, tham ái, không hiểu biết về năm uẩn là vô minh, yêu thích và muốn tìm cảm giác đó là tham ái, vô minh và tham ái cùng với nghiệp lực thì sẽ đưa đi tìm tiếp.

"Sau khi thân hoại mạng chung, ở đây, mọi cảm thọ cảm giác không có gì đáng hoan hỷ, sẽ đi đến lắng dịu"”.

Tức là vị này quán không hoan hỷ, cùng với năm phép quán ở trên là vô thường, tiêu vong, ly tham, đoạn diệt, từ bỏ thì mọi cảm thọ đều không đáng hoan hỷ, nhàm chán thì sau đó, các cảm thọ sẽ đi đến chỗ lắng dịu, không tham, sân si đối với cảm thọ đau đớn khi bệnh. Vì biết nó là thọ, chấp nhận nó bằng trí tuệ, nó diễn ra như thế nào thì mình nhìn thấy nó như vậy, không chống cự cũng không yêu thích, tham đắm, chấp giữ trong đó. Biết bằng trí tuệ cảm thọ này là vô thường, cảm giác này là tiêu tan, không đáng ham thích, là đoạn diệt, là thứ đáng để từ bỏ.

Minh Thành đã có hướng dẫn đại chúng về Quán từ bỏ là để những lúc bệnh như vậy thì cần sử dụng tối đa những điều đó, thì sẽ làm cho mình an tịnh, lắng dịu. Quán từ bỏ đối với sắc, từ bỏ đối với thọ, tưởng, hành, thức, lúc “cảm giác tận cùng của sinh mạng” là quán từ bỏ, quán vô thường, quán khổ, vô ngã, quán những tính chất đã nói và quán luôn sự từ bỏ thì sẽ đi đến chỗ lắng dịu.

Đau đớn ở sắc, thọ nhưng trí tuệ của mình thì không đau đớn, mình nhập cuộc với nó thì mình bị cái đau đó áp đảo, xâm chiếm mình. Nếu mình có tu tập bằng trí tuệ thì mình thoát ra khỏi, không bị cái đau của thân, thọ trong tâm áp đảo, xâm chiếm mình hoàn toàn mà mình an trú được trong trí tuệ về năm uẩn.

Vậy nên giờ chúng ta đã hiểu lý do tại sao chúng ta nên cố gắng tu tập? Cố gắng nhận diện các cảm thọ, an trú cảm giác toàn thân? Vì còn một cửa ải tối quan trọng là tử môn quan, nếu mình không có sức niệm, định tuệ thì đến lúc đó làm sao chống cự, chiến đấu, chánh niệm tỉnh giác? Định lực, tuệ lực làm sao tỏa sáng lúc đó được?

“Ví như, này các Tỷ-kheo, do duyên dầu và do duyên tim bấc, một ngọn đèn dầu được cháy đỏ. Khi dầu và tim bấc khô cạn, cháy hết, không được tiếp nhiên liệu thêm, ngọn đèn ấy bị tắt.”

Vô minh và tham ái là dầu và tim bấc, là còn sự vô tri, vô minh, si ám đối với năm thủ uẩn này, còn sự yêu thích, ham mê, khoan khoái, thích thú, mong đợi, trông chờ, ước vọng, say đắm là còn tham ái. Còn hai điều đó là còn dầu châm vào và còn tim bấc của ngọn đèn thì lửa sẽ cháy đỏ. “Khi dầu và tim bấc khô cạn, đã cháy hết, không được tiếp nhiên liệu thêm, ngọn đèn ấy bị tắt” tức là chấp dứt toàn bộ khổ uẩn này, toàn bộ tổ hợp của đau khổ này, toàn bộ thảm họa kép của năm thủ uẩn này. Sau khi thân hoại mạng chung thì mọi cảm giác không có gì đáng hoan hỷ, tham muốn mà chỉ đáng nhàm chán, từ bỏ, đáng buông, quăng, liệng, vứt.

Không có gì đáng hoan hỷ đối với tất cả các cảm thọ, dù cho đó là cảm thọ vui sướng nhưng cũng không đáng hoan hỷ, thích thú, không khoan khoái, ưa thích. Đừng nói đến cảm thọ không khổ, không vui không khổ, vì tất cả các cảm thọ là vô thường, tiêu vong. Những thứ không đáng để tham, hoan hỷ, đoạn diệt là những thứ đáng để từ bỏ, vứt bỏ, quăng bỏ, xả bỏ, buông bỏ. Như vậy thì tâm hoàn toàn buông xả đối với thân, đối với cảm thọ, với tưởng, hành, thức. Lúc đó sẽ đi đến chỗ lắng dịu, an tịnh hoàn toàn, là Niết-bàn, không còn tiếp tế nhiên liệu thêm nữa, không còn đổ dầu thêm, không thay tim bấc, cháy hết sẽ đi đến chỗ khô kiệt, không tái tạo, tái diễn những khổ, vô thường, sầu bi, u não này bị chấm dứt, khổ diệt.

Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, khi Tỷ-kheo cảm thọ một cảm thọ cùng tận đến sức chịu đựng của thân, vị ấy tuệ tri: "Ta đang cảm thọ một cảm thọ cùng tận đến sức chịu đựng của thân". Khi vị ấy đang cảm thọ một cảm thọ cùng tận đến sức chịu đựng của sinh mạng, vị ấy tuệ tri: "Ta đang cảm thọ một cảm thọ cùng tận đến sức chịu đựng của sinh mạng". Vị ấy tuệ tri rằng: "Sau khi thân hoại mạng chung, ở đây, mọi cảm thọ không có gì đáng hoan hỷ, sẽ đi đến lắng dịu".

(Bài kinh Tật bệnh – Chương II. Tương Ưng Thọ – Tập IV. Thiên Sáu Xứ - Tương Ưng Bộ Kinh)

Tức là vị ấy biết bằng trí tuệ, thân, thọ, cảm xúc đang diễn ra như vậy thì sau khi thân xác tan rã, cảm thọ chấm dứt thì mọi cảm thọ không có gì đáng hoan hỷ, vị ấy nhàm chán, ngao ngán, chán chê, ê chề, não nề, gớm ghê và ly tham, từ bỏ tất cả cảm thọ, cảm xúc, cảm giác và sẽ đi đến chỗ lắng dịu, bình an.

Bài kinh này là pháp khí vượt qua tử môn quan, để đi vào thế giới bất tử. Pháp khí là vũ khí của Chánh Pháp, là sự thành tựu trí tuệ về cảm thọ. Vì khi mình sắp chết, nằm bệnh trên giường thì lúc đó bị điều gì xâm chiếm nhiều nhất? Đó là thọ. Nhưng không chỉ lúc đó mà bình thường hay lúc nào cũng có, trong tất cả thi vi, nói cười đều là do thọ thúc giục nhưng vì nhiều lúc chúng ta không thấy được. Như khi mình đi đứng, nói lớn, chạy chảy gấp gáp đều là do thọ. Nên chặn dần dần là xem xét từ bên ngoài là đi đứng ra sao nhưng nếu chỉ thẳng vào bên trong ngay là chúng ta không thấy được vì nó rất sâu sắc, vi tế.

Thọ bên trong còn dao động, sôi động, sôi nổi và còn như vậy là còn trong sanh tử, tham sân si còn thô nên sự tu của mình “An tịnh! Lắng dịu! Dễ chịu!” thì rất quan trọng từ tu đến khi thành Thánh quả A-la-hán. Nếu chưa đạt đến thì cũng là tầng Thánh quả cao, tối thiểu cũng là Nhập lưu Thánh quả. Nếu người hướng Dự lưu tu điều này và lúc sắp chết thì trở thành Nhập lưu, đây là tối thiểu.

Khi chúng ta nhìn thì sẽ thấy ghê sợ, ngán ngẩm, mệt mỏi đối với cảm thọ vì nó cứ hành hạ, thúc giục, sai bảo mình, không chịu an tịnh lắng dịu mà cứ muốn kiếm cái này cái kia, kiếm chuyện. Đó là thọ, còn thô là tưởng, hành, hết nghĩ, tưởng cái này đến cái kia, hết hình bóng này lại đến hình bóng nọ, bên trong cứ bức xúc, nhất là trong giai đoạn này. Nếu mình không tu là khổ nên cần tu nhiều trong giai đoạn này, tu an tịnh, lắng dịu, dễ chịu, dễ thương, mát mẻ, từ ái, ngọt ngào để cho mình và cả những người ở chung đỡ khổ hơn, nếu không thì nó sẽ hành hạ, hành xác, hành tội với nhau rất nhiều trong giai đoạn này. Vậy nên chúng ta thấy rất tuyệt vời trong sự tu này, là tối thượng nghĩa bên trong.

IV. Bài kinh thăm người bệnh

Bài kinh tiếp theo là Thăm người bệnh, Tương Ưng Bộ Kinh:

“1-2) Lúc bấy giờ, gia chủ Citta bị bệnh, khổ đau, bị trọng bệnh.

3) Rồi số đông chư Thiên ở hoa viên, chư Thiên ở rừng, chư Thiên ở cây, chư Thiên ở rừng các dược thảo, các cây trong rừng tụ hội lại và nói với gia chủ Citta:

-- Này Gia chủ hãy nguyện: "Trong tương lai, ta sẽ thành vua Chuyển luân Thánh vương!"”

Chuyển luân Thánh vương là một vị thánh thống trị cả quả địa cầu, bằng phước báu, đức độ, không trị quốc bằng vũ khí, quân lính, quân đội mà trị quốc bằng đạo đức, bằng phước báo. Thống lĩnh toàn bộ thế giới gọi là Chuyển luân Thánh vương.

“Khi được nghe nói vậy, gia chủ Citta nói với chư Thiên ở hoa viên, chư Thiên ở rừng, chư Thiên ở cây, chư Thiên ở rừng các dược thảo, các cây trong rừng:

-- Cái ấy là vô thường, cái ấy là không thường hằng, cái ấy cần phải bỏ đi và vượt qua.”

Tức khi đó ngài Citta đang bệnh nặng, các Chư Thiên đến khuyến khích ông ấy làm Chuyển luân Thánh vương, là vua Thánh thống trị toàn quả đất này thì ông ấy nói đó là vô thường, là không thường hằng, phải bỏ đi và vượt qua những cái đó.

“4) Khi được nghe nói vậy, các bạn bè thân hữu, các bà con huyết thống nói với gia chủ Ciita:

-- Này Thiện gia nam tử, hãy an trú chánh niệm, chớ có nói lung tung.

-- Tôi nói với các vị những gì khiến các vị nói với tôi: "Này Thiện gia nam tử, hãy an trú chánh niệm, chớ có nói lung tung"?

-- Này Thiện nam tử, vì Ông nói như sau: "Cái ấy là vô thường, cái ấy là không thường hằng, cái ấy cần phải bỏ đi và vượt qua".

-- Vì rằng, chư Thiên các hoa viên, chư Thiên ở rừng, chư Thiên ở cây, chư Thiên trú ở rừng các dược thảo, các cây trong rừng đã nói với tôi như sau: "Này Gia chủ, hãy nguyện: 'Trong tương lai, ta sẽ thành vua Chuyển luân Thánh vương' ". Cho nên tôi mới trả lời với họ: 'Cái ấy là vô thường, cái ấy là không thường hằng, cái ấy cần phải bỏ đi và vượt qua'".

5) -- Này Thiện gia nam tử, các chư Thiên ở hoa viên... các cây trong rừng đã quán thấy ý nghĩa gì mà nói với Ông: Này Gia chủ hãy nguyện: ‘Trong tương lai, ta sẽ thành vua Chuyển luân Thánh vương’?

Tức những người thân hỏi ông ấy là các vị Chư Thiên, các vị thần đó đã quán xét thấy ý nghĩ gì mà nói với ông ấy như vậy. Tức là có nhân duyên chứ không tự nhiên mà phát nguyện ông ấy là Chuyển luân Thánh vương. Vì các vị đó thấy được những gì vì họ là Chư Thiên có thể thấy được tâm của chúng ta mình nghĩ gì, hướng tới những hình bóng, cảm giác, suy nghĩ làm cho người ta thấy được nên họ mới kêu ông đó phát nguyện để thành Chuyển luân Thánh vương.

-- Các chư Thiên ở hoa viên, chư Thiên ở rừng, chư Thiên ở cây, chư Thiên trú ở rừng các dược thảo, các cây trong rừng ấy đã suy nghĩ như sau: "Gia chủ Citta này giữ giới, tánh thiện, nếu phát nguyện: 'Trong tương lai, ta sẽ thành vị Chuyển luân Thánh vương!"

Tâm nguyện thanh tịnh, đúng pháp, sẽ làm cho thành công người trì giới, sẽ đem đến quả đúng pháp".

Vì vị gia chủ này có các điều: một là giữ giới, hai là bản tính hiền thiện, ba là tâm nguyện thanh tịnh đúng pháp thì qua ba điều đó sẽ thành công cho người trì giới đó và đem đến kết quả đúng pháp.

Qua đó chúng ta học được là người có giới và có đức hạnh hiền thiện, người đó phát nguyện thanh tịnh đúng pháp thì người đó sẽ thành tựu. Chúng ta thấy khi được Chư Thiên kêu là không phải bình thường, đây là nhiều vị Chư Thiên kêu. Vậy nên chúng ta đừng nghĩ là cây cối, rừng rồi tưởng là không có ai, muốn nghĩ là làm gì làm, sẽ không ai thấy biết mình nên hoa cũng có thần hoa, cây cũng có thần cây, cỏ cũng có thần dược thảo, thần rừng, Chư Thiên, chư thần… Ví dụ như sơn thần, lâm thần, địa thần, hoa thần…Có rất nhiều Chư Thiên, chư thần, rất nhiều cõi giới dù là ngũ uẩn hết nhưng nó rất nhiều.

Vì các vị Chư Thiên thấy nên mới kêu gọi ông ấy làm Chuyển luân Thánh vương, vì vị này cũng là một Thánh đệ tử. Nếu như người bình thường thì khi đó thấy được các Chư Thiên thì mừng vui, khoái quá, thích thú, hoan hỷ nên gọi ngay ngài, sư phụ ngay nhưng ông ấy thì chỉ nói “Cái ấy là vô thường, cái ấy là không thường hằng, cái ấy cần phải bỏ đi và vượt qua”.

Đây là cư sĩ thời Đức Phật đã thành tựu chánh kiến và biết đó là vô thường. Dù là Chuyển luân Thánh vương thống trị quả đất này thì cũng là vô thường, khổ, đó là đáng từ bỏ, cần phải vượt qua, đó không phải là mục đích phải hướng tới, “Tôi tu tập bao nhiêu, tôi giữ giới rồi tôi tu tập những đức hạnh hiền thiện này không phải để tôi mong được. Mà là tôi mong thấy được tính chất vô thường, khổ, vô ngã này để tôi buông xả, từ bỏ, vượt qua, để thể nhập vào Thánh trí tuệ!”

Khi chúng ta bệnh thì chúng ta có thể bình tâm, tỉnh trí, chánh niệm như vậy để thấy được không? Đó là Chư Thiên kêu để khuyến khích.

Ở đây, những người trong gia đình hỏi Ngài ấy là tại sao các vị Chư Thiên quán xét thấy những gì mà kêu Ngài ấy như vậy? Nên phải có lý do họ mới kêu, vì các vị ấy suy nghĩ Ngài ấy giữ giới, có tính hiền thiện và cộng thêm tâm nguyện thanh tịnh, đúng pháp thì người này sẽ thành tựu được tâm nguyện. Tức là vị cư sĩ này có đủ khả năng, đủ phước đức, đủ giới, đủ phước báu để thành Chuyển luân Thánh vương nên họ mới kêu như vậy. Nhưng vị này lại xem nó như là đồ bỏ, vô thường, muốn vượt qua nó. Đây là suy nghĩ của một người cư sĩ thời Đức Phật, là Thánh đệ tử, thấy về pháp, thành tựu chánh kiến, có tịnh tính bất động đối với Tam Bảo.

Tâm nguyện thanh tịnh đúng pháp sẽ làm thành công người trì giới, sẽ đem đến kết quả đúng pháp. Vậy nên người giữ giới thì nguyên những gì đúng pháp là sẽ thành tựu, tương ưng với những giới đức, đạo hạnh phước báo của người đó thì họ sẽ thành tựu. Vậy nên sau này chúng ta học về chủ đề về nghiệp thì tại sao sanh ra được thần, Chư Thiên, loài rồng… bao nhiêu tầng đó là do người đó ước nguyện. Họ có tu tập, giữ giới nên họ có phước, rồi họ nguyện là con muốn sanh ra chỗ đó thì họ sẽ thành tựu ước nguyện đó.

Những người cứ muốn hoài mà không được là vì họ không giữ giới, họ không tu tập đức hạnh hiền thiện, phước báo, nên họ muốn gì cũng không được. Vì họ không tu tập những đức hạnh hiền thiện, những phước báo nên tâm nguyện họ không thành tựu.

Những người muốn là được do giới, thứ hai là do tâm hiền thiện, phước báo. Đối với chúng ta tu tập Chánh Pháp thì giữ giới là căn bản, tu tập tâm hiền thiện, ước nguyện của mình là thành tựu Chánh Tri Kiến thì mình sẽ thành tựu. Tất cả sự tu của mình, sự làm phước, giữ giới là hướng về “Con phát nguyện thành tựu thể nhập Chánh Kiến!” thì như vậy sẽ thành tựu.

Khi Minh Thành đi xuất gia thì bao nhiêu thời gian luôn nguyện trong lòng là “Con phải tìm ra được pháp!” Tất cả ngày đêm đều hướng tâm về đó, “Để con tìm được Chánh Pháp!” thì như vậy cuối cùng tâm nguyện được thành tựu.

Đó là bước thứ nhất đã thành công, là tìm ra được Chánh Pháp của Đức Phật. Lúc trước cứ làm gì, đi đến đâu cũng cầu nguyện “Con muốn tìm ra được Chánh Pháp thật sự của Đức Phật. Để con thấy được pháp.”

Chúng ta nên nhớ giới và đức hạnh hiền thiện, tức là tâm hiền thiện cùng với sự phát nguyện thanh tịnh, đúng pháp thì sẽ đưa đến kết quả đúng pháp.

Nên chúng ta thấy dần dần mình thành tựu được nhiều khía cạnh của trí tuệ trong sự tu tập của mình. Có những người ước là được, cầu được ước thấy, tâm tưởng sự thành – tức là tâm nghĩ tưởng thì sẽ có được ngay. Phước là giới, tâm hiền, nghĩ là có, nhiều khi còn có hơn cả cái mình nghĩ.

Như lúc xưa Minh Thành lang thang chỗ này chỗ kia xin nhập thất, xin chùa này chùa kia ở núi này núi nọ vì muốn tìm núi nào đó để tu vì chỉ muốn tu trên núi. Vậy nên chúng ta cần cố gắng trong phần giới, tánh thiện và sự phát nguyện thanh tịnh trong pháp sẽ làm thành công cho người trì giới và sẽ đem đến quả đúng pháp.

“Chư Thiên ở hoa viên, chư Thiên ở rừng, chư Thiên ở cây, chư Thiên ở rừng các dược thảo, các cây trong rừng ấy, do quán thấy ý nghĩa như vậy nên đã nói như sau: "Này Gia chủ, hãy phát nguyện: ‘Trong tương lai ta làm vị Chuyển luân Thánh vương’". Do vậy, tôi nói với họ: "Cái ấy là vô thường, cái ấy là không thường hằng, cái ấy cần phải bỏ đi và vượt qua".

-- Này Thiện gia nam tử, hãy giáo giới cho chúng tôi.”

Khi nãy người thân nghĩ ông ấy bị đãng trí hay bị mơ sảng nhưng sau khi nghe ông ấy giải thích, phân tách cho nhân duyên được thành tựu như vậy thì họ xin ông ấy giáo giới cho cả họ, dạy dỗ cho họ. Đây giống như là những lời nói cuối cùng trước khi ông ấy ra đi, những lời di chúc, nhắn nhủ, dặn dò sau cùng.

“-- Vậy các Ông cần phải học như sau: "Chúng tôi sẽ đầy đủ lòng tin bất động đối với đức Phật: 'Vị ấy là Thế Tôn, bậc Ứng Cúng, Chánh Biến Tri, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Ðiều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhơn Sư, Phật, Thế Tôn".

Chúng tôi sẽ có đủ lòng tin bất động đối với Pháp: 'Ðây là Pháp do Thế Tôn khéo thuyết, thiết thực hiện tại, có kết quả tức thời, đến để mà thấy, có khả năng hướng thượng, được người trí tự mình giác hiểu'.

Chúng tôi sẽ có đầy đủ lòng tin bất động đối với chúng Tăng: 'Thiện hạnh là chúng đệ tử của Thế Tôn. Trực hạnh là chúng đệ tử của Thế Tôn. Như lý hạnh là chúng đệ tử của Thế Tôn. Thanh tịnh hạnh là chúng đệ tử của Thế Tôn. Tức là bốn đôi tám chúng.

Chúng đệ tử của Thế Tôn là đáng được tôn kính, đáng được cung kính, đáng được kính lễ, đáng được chấp tay, là phước điền vô thượng ở đời'. Tất cả những gì có thể đem cho trong gia tộc, tất cả phải đem cúng dường, phân phát cho những vị trì giới và có thiện tánh".

Như vậy, các Ông cần phải học tập.”

Ý Ngài Citta mong muốn những gì có thể đem cho trong gia tộc, tất cả phải đem cúng dường, phân phát cho những người trì giới, người tu hành, người thiện.

“7) Khi gia chủ Citta khiến cho các bạn bè thân hữu, các bà con huyết thống có tịnh tín đối với đức Phật, đối với Pháp, đối với chúng Tăng và khuyên họ bố thí, vị ấy liền mệnh chung.”

(Bài kinh Thăm người bệnh – Chương VII. Tương Ưng Tâm – Tập IV. Thiên Sáu Xứ - Tương Ưng Bộ Kinh)

Đây là bài kinh Thăm người bệnh, quý tăng ni và Phật tử thấy rằng thời Đức Phật, những vị như Ngài Citta có lòng tin bất động đối với Tam Bảo và thành tựu Chánh Tri Kiến đối với pháp. Ngay cả khi bệnh nặng sắp chết, Chư Thiên kêu gọi hãy trở thành Chuyển luân Thánh vương, thống lĩnh trái đất này, với đức hạnh của Ngày ấy là có thể thành tựu được nhưng Ngài ấy đã từ chối và xem đó là “vô thường, không thường hằng, cần bỏ đi và vượt qua!” Xem ngôi vị bá chủ toàn cầu là thứ cần vứt đi, vượt qua, chỉ có bậc Thánh đệ tử mới có thể nói được như vậy.

Qua đó, chúng ta mới thấy được sự tịnh tín bất động đối với Phật, Pháp, Tăng và thành tựu Chánh Tri Kiến. Tịnh tín là thành tựu Chánh Kiến, thấy được tính chất vô thường, khổ vô ngã của các hành. Là năm uẩn của tứ đại này, dù cho đời sống nào đi nữa trong ngũ uẩn này cũng là khổ đau nên đó là thứ vô thường, không thường hằng, cần bỏ đi, phải vượt qua. Chúng ta cần học tập, tác ý theo như vậy.

Sau đó trong gia đình cứ nghĩ Ngài đó nói sảng, đừng nói lung tung nhưng Ngài ấy hỏi lại là “Tôi nói gì mà mọi người nói tôi nói lung tung? Vì Chư Thiên đến khuyến khích tôi như vậy nên tôi mới nói vậy.” Sau đó họ hỏi tiếp là “Chư Thiên nhìn thấy tâm ông ra sao, quán thấy cái gì mà kêu ông như vậy?” Thì Ngài ấy đáp lại “Vì Chư Thiên suy nghĩ thấy tôi là người giữ giới, là người có đức tính hiền lành, phước thiện, hiền thiện và cùng với sự phát nguyện thanh tịnh, đúng pháp thì sẽ có kết quả đúng pháp. Sẽ đưa đến thành công cho người trì giới và đem đến kết quả đúng pháp.”

Những người thân mới biết là họ hiểu lầm, gia chủ này ngon lành, chánh niệm tỉnh giác nên trước khi đi thì hãy dạy dỗ cho họ, giáo giới cho chúng tôi, hướng dẫn cho chúng tôi vì họ thấy kết quả hùng tráng, hết sức thuyết phục. Vì đối với trọng bệnh, bệnh nặng, giây phút gần chết thì chánh niệm tỉnh giác, nhìn thấy chư thiên, vượt qua được sự ham thích trong thế giới vô thường này với chánh kiến rực sáng như vậy. Nên họ muốn nhờ Ngài ấy dạy dỗ, giáo giới, di chúc cho họ để họ có thể làm được như Ngài ấy, vì thấy Ngài ấy quá tuyệt vời, quá thành công.

Ngài ấy đã dạy dỗ “Các ông phải đầy đủ lòng tin đối với Đức Phật, với pháp, với chúng tăng và pháp sau cùng là cái gì có thể mang đi cho được thì mang đi bố thí, cúng dường.” Bố thí cho những người trì giới, cho những người có bản tính, đức tính hiền thiện. Ngài ấy nói xong thì làm cho bạn bè, thân hữu, bà con, huyết thống, cha mẹ, anh em có lòng tin không dao động đối với Đức Phật, đối với Pháp, đối với Tăng, khuyến khích được họ bố thí rồi thì gia chủ này mới nhắm mắt, mạng chung.

Đây là một bài pháp hùng hồn, sống động, đem tự thân của mình ở trước Tử Môn Quan mà bình thản, chánh niệm, tỉnh táo, sáng suốt, dạy dỗ, hướng dẫn thì đó là bậc Chân nhân. Sanh ra để làm lợi ích cho mình, cho cha mẹ, anh chị em, bà con, bạn bè, thân hữu, huyết thống, làm lợi lạc.

Ví như thầy Pháp An sắp phải ra đi nhưng người khác đến nhờ thầy nhắc nhở thì thầy nên nhắc nhở những người ở lại nên đặt niềm tin bất động đối với Phật Pháp Tăng, Thánh giới, với kinh Nikāya, hãy ráng cố gắng cúng dường, làm những việc thiện, giữ giới rồi hãy đi. Cần phải tỉnh táo, sáng suốt nhắc nhở như vậy.

Thầy Pháp An trình pháp: 100:00-106:00

Những Phật tử đã bệnh và đang bệnh thì hãy chia sẻ, vì bài kinh đúng với hoàn cảnh của quý vị nên rất tốt.

Phật tử trình pháp: 107:00-125:2

Đức Phật từng nói với chúng ta, dù là thống lĩnh quả đất, thống lĩnh cõi trời không bằng mười sáu vị chứng quả Dự lưu, là phù hợp với bài kinh này.

Nguyện đem công đức này

Hướng về khắp tất cả

Đệ tử và chúng sanh,

Đều trọn thành Phật đạo.

Kính chúng quý vị an lành trong chánh niệm.