Vì Sao Phật Có 32 Tướng Hảo 2 - Kinh Tướng - Trường Bộ
KINH NIKĀYA GIẢNG GIẢI
VÌ SAO PHẬT CÓ 32 TƯỚNG HẢO 2 ?
KINH TƯỚNG - TRƯỜNG BỘ
–Thích Minh Thành–
Kính thưa tất cả chư Tăng Ni và quý Phật tử, hôm nay chúng ta tiếp tục nghe bài kinh Tướng nằm trong Trường Bộ Kinh. Chúng ta đang nói đến tướng đại trượng phu là mắt cá tròn như con sò và lông mọc xoay tròn thẳng lên, nghĩa là từng sợi chân lông của ngài xoắn lại mọc thẳng lên, đó là một trong những tướng đặc biệt.
"Này các Tỳ-kheo, trong bất cứ đời trước nào, hiện hữu nào, trú xứ nào, Như Lai đời trước làm Người, Như Lai là một vị nói lời liên hệ lợi ích cho chúng sanh, liên hệ đến pháp, giải thích cho đại chúng, đem lại hạnh phúc an lạc cho chúng sanh, tán dương chánh hạnh. Với tác động, chất chứa, tích tụ và tăng thịnh của nghiệp... Ngài từ trần từ chỗ kia và tái sanh ở đây với hai tướng Ðại Trượng phu: mắt cá tròn như con sò và lông mọc xoay tròn thẳng lên". (Trường Bộ Kinh, 30. Kinh Tướng)
Như thế nào là nói lời liên hệ đến lợi ích cho chúng sanh? Nghĩa là khuyến khích, nhắc nhở mọi người giữ giới, khích lệ và hướng dẫn mọi người bỏ ác làm lành, khéo léo hướng dẫn cho mọi người phát tâm từ bi, phát khởi những cảm xúc thương yêu, tha thứ, bao dung, độ lượng, tương trợ, giúp đỡ, hòa hợp, cung kính và chỗ tối cao là liên hệ đến pháp, tức là chỉ cho mọi người phương pháp nhiếp phục và đoạn tận tham, sân, si, vô minh và bản ngã. Mỗi lời nói ra đều có lợi ích cho chúng sanh, đều liên hệ đến sự thật để mọi người thấy được bản chất khổ của thế gian này để mọi người không bị rơi vào tà kiến, tâm điên đảo, tưởng điên đảo, kiến điên đảo, ngài dùng mọi phương tiện, hành động, lời nói để khai mở trí tuệ sự thật để mọi người thấy vô thường, khổ, bất tịnh và vô ngã trong mọi trường hợp, mọi hoàn cảnh. Bất cứ lời nào nói ra đều liên hệ đến pháp, giải thích cho mọi người về pháp, đem lại lợi ích, hạnh phúc và an lạc cho chúng sanh, tu đức hạnh này là sự tích cực của khẩu nghiệp, còn nói dối, nói thiêu diệt, nói lưỡi đôi chiều, nói đâm thọc là tính tiêu cực của khẩu nghiệp, ngược lại là tính tích cực nhưng muốn đạt đến tính thiện của khẩu hành thì phải dừng tính bất thiện trước, chính vì vậy trong giới quy định không được nói dối, không nói lời đâm thọc, không nói lời phù phiếm nhảm nhí, phải dừng đuợc những cái này thì mới phát huy được tính thiện của khẩu nghiệp.
Cho nên việc tu tập ở cái miệng cũng phải có tuần tự, không thể một người nói cái gì cũng liên hệ đến lợi ích cho chúng sanh, liên hệ đến pháp, giải thích cho đại chúng, đem lại hạnh phúc an lạc cho chúng sanh, tán dương chánh hạnh, chưa thể làm được những cái này nếu không dừng được những lời nói xấu ác, dừng được những cái này càng nhiều thì mới phát huy được những cái tốt càng nhiều. Nếu thực tập được những điều này thì vợ chồng không cự cãi, anh em, huynh đệ hòa hợp vì mình nói lời đem lại lợi ích cho người ta, nói người ta nhiếp phục tham, sân, si, bản ngã thì mình cũng phải vậy, những lời nói liên hệ đến pháp luôn đem lại hạnh phúc và an lạc cho chúng sanh, tán dương chánh hạnh cho nên về sau Phật giáo phát triển sau này rất chú trọng vào những điều này nhưng những điều căn bản, nền tảng lại không để tâm nhiều nên cái pháp không viên mãn, nghĩa là cứ lo làm thiện mà bản thân trở thành bất thiện khi nào cũng không biết vì chất bất thiện trong tâm không lo trừ diệt mà cứ lo hướng ra ngoài làm thiện, đó là lý do pháp của Đức Phật rất tuyệt vời và viên mãn là vậy.
Trước nay chúng ta đã học bản chất của pháp, bây giờ chúng ta mở rộng ta tính diệu dụng của pháp, hành tướng của thiện pháp, còn nếu mới vào mà mình học thiện pháp trong khi vô minh, tham, sân, si trong tâm còn dày đặc thì những cái mình làm chỉ là vẻ bề ngoài thôi, đó là trình tự của pháp cho nên những người mới học cứ thích làm này làm kia mà không chịu quay lại nhận diện ngũ uẩn, nhiếp phục tham, sân, si, bản ngã thì làm một thời gian là thất bại, không đi đúng theo trình tự của pháp nhưng Phật giáo sau này lại phát triển những điều này, chú trọng làm thiện nhưng quên mất việc nhiếp phục và tận diệt cái bất thiện, đây là cái lõi cần phải thành tựu trước tiên. Sự thật thì nhiếp phục và đoạn tận tham, sân, si rất khó nhưng hướng ra ngoài làm này làm kia lại dễ dàng cho nên người ta chọn cái dễ để làm, pháp không phải khó hay dễ mà pháp phải đi đúng trình tự đạo lộ của nó chính vì vậy dần dần Phật giáo trở thành việc phước thiện bên ngoài, cái lõi không còn được nhìn thấy nữa, khi đọc hết 32 tướng trong bài kinh này chúng ta sẽ thấy về sau chỉ phát triển việc làm bên ngoài thôi.
Chúng ta học mấy năm cho đến giờ mới đưa ra những pháp trên những hình tướng bên ngoài, chúng ta phải học bản chất, đặc chất của pháp trước rồi sau đó mới học đến tướng dụng, biểu hiện bên ngoài của pháp, nếu không nắm vững vô thường, khổ, vô ngã, không nắm vững ngũ uẩn, cảm thọ và các lậu hoặc thì mình dễ bị dính mắc trong các hình tướng đẹp, thích thì chạy theo nó, không khéo sẽ đánh mất bản thân. Đức Phật dạy chúng ta từng chút một, ngài nói rõ tại sao ngài được tướng này tướng kia nhưng trong Tương Ưng Uẩn ghi lại có một vị Tỳ-kheo ao ước gặp Đức Phật vì vị này bệnh gần chết, Thế Tôn nói thấy pháp là thấy Như Lai, thấy Như Lai là thấy pháp chứ không phải thấy trên hình tướng này.
"-- Này Vakkali, Ông có gì phân vân, hối hận không?
-- Bạch Thế Tôn, thật sự con có nhiều phân vân, có nhiều hối hận!
-- Này Vakkali, Ông có gì tự trách mình về giới luật không?
-- Bạch Thế Tôn, con không có gì tự trách mình về giới luật.
-- Này Vakkali, nếu Ông không có gì tự trách mình về giới luật, vậy Ông có gì phân vân, có gì hối hận?
-- Ðã từ lâu, bạch Thế Tôn, con muốn đến để được thấy Thế Tôn. Nhưng thân con không đủ sức mạnh để được đến thấy Thế Tôn.
-- Thôi vừa rồi, này Vakkali, có gì đáng thấy đối với cái thân hôi hám này. Này Vakkali, ai thấy Pháp, người ấy thấy Ta. Ai thấy Ta, người ấy thấy Pháp. Này Vakkali, đang thấy Pháp, là thấy Ta. Ðang thấy Ta, là thấy Pháp". (Tương Ưng Bộ, Tập III - Thiên Uẩn, Chương I. Tương Ưng Uẩn (e), IV. Phẩm Trưởng Lão, V. Vakkàli)
Đó là sự giáo hóa vi diệu, đại viên mãn của Đức Phật cho nên tánh, tướng, thể, dụng đều đại viên mãn. Khi Đức Phật nói điều này là khuyến khích cho chúng sanh cố gắng vận dụng thân, khẩu, ý, hành đều thiện, đừng đi vào ác nghiệp để lãnh khổ đau, khi ngài nói cái kia là ngài đi thẳng vào cốt lõi của pháp, thật tướng của pháp, bản tánh của pháp để chúng ta không đam mê trong sắc tướng, những cái này chỉ là phương tiện để đạt đến cứu cánh cho nên cuối cùng Thế Tôn nói thân thối này có gì để mong chờ, phải thấy pháp mới thấy ngài, ai thấy ngài là đang thấy pháp. Mình nghe câu này có vẻ mâu thuẫn, ngài tu hành nhiều đời nhiều kiếp có hình dáng đẹp đẽ, tướng hảo không ai bằng vậy mà trong bài kinh này ngài lại nói tấm thân ngài hôi hám, nhưng không phải như vậy, một bên ngài nói về bản chất của pháp, một bên ngài nói về tướng trạng của pháp, diệu dụng của pháp, chính vì vậy nếu ngài đam mê trong 32 tướng này thì làm sao ngài đi xuất gia được, ngài nói cái này là sanh, già, bệnh, chết nên ngài từ bỏ, vì thế điều tuyệt diệu của Nikāya là làm việc thiện nhưng không chấp thủ trong việc thiện, đó là chỗ tối thượng của pháp và Nikāya sẽ đưa mình đến chỗ đó, còn thông thường là yêu việc thiện, thích việc thiện, mến việc thiện rồi chấp thủ việc thiện và bị quả báo phước lạc của việc thiện trói cột không đi ra được.
Nếu có những đức hạnh cao đẹp là Đức Phật khen ngợi, tuyên dương, ca ngợi đức hạnh đẹp đó cho nên nếu làm vua thế gian thì những dục lạc, tài vật ngài hưởng đều là tối thắng, cao tột đệ nhất, khi xuất gia thì ngài trở thành bậc tối thắng, tối tôn, đệ nhất trong chúng sanh.
"Thuở xưa lời Ngài nói,
Thuyết giảng cho Ðại chúng,
Liên hệ đến mục đích,
Liên hệ đến Chánh pháp.
Ngài là người đem lại,
Hạnh phúc cho chúng sanh,
Không xan lẫn hối tiếc,
Lễ đàn pháp và chơn.
Nhờ hành trì thiện nghiệp,
Sống hoan hỉ cõi Trời.
Tái sanh tại nơi đây,
Ngài được hai hảo tướng,
Hưởng hạnh phúc tối thượng.
Lông mọc xoay thẳng lên,
Mắt cá tròn khéo gọn,
Dưới có thịt, có da
Trên hình dáng đẹp đẽ.
Nếu Ngài sống tại gia,
Tài dục đều tối thượng.
Không ai thắng hơn Ngài.
Chinh phục Diêm-phù-đề.
Nếu hạnh Ngài xuất gia,
Tinh tấn hơn mọi người,
Ngài là bậc tối thắng,
Trong tất cả chúng sanh.
Do vậy không tìm được,
Kẻ tối thắng hơn Ngài.
Ngài sống và ngự trị,
Cùng khắp mọi thế giới". (Trường Bộ Kinh, 30. Kinh Tướng)
Bây giờ đến tướng đại trượng phu ống chân giống con dê rừng.
"Này các Tỳ-kheo, trong bất cứ đời trước nào, hiện hữu nào, trú xứ nào, Như Lai trước làm Người, ngài siêng năng học hỏi, nghề nghiệp, mọi kỹ thuật, học thuật, oai nghi hay hành động: 'Làm thế nào để tôi mau học hay hành động: 'Làm thế nào để tôi mau học được, làm thế nào để tôi mau biết, làm thế nào để tôi mau thâu hoạch được, khỏi phải mệt nhọc lâu ngày?'. Với tác động, chất chứa, tích tụ và tăng thịnh của nghiệp ấy... Ngài từ trần từ chỗ kia và tái sanh ở đây, với tướng Ðại Trượng phu, có ống chân giống như con dê rừng". (Trường Bộ Kinh, 30. Kinh Tướng)
Trong kiếp cuối cùng của Thái tử Tất-đạt-đa cưỡi ngựa cũng giỏi, bắn cung cũng giỏi, võ nghệ cũng giỏi, văn chương cũng giỏi, ngài giỏi nhiều phương diện nhưng những cái này không phải tự nhiên có mà trong nhiều đời nhiều kiếp ngài đã siêng năng học hỏi, siêng năng đối với mọi ngành nghề, học thuật trên cuộc đời này. Khi gặp người giỏi là hay hỏi làm thế nào để học nhanh, làm thế nào để mau biết, mau thu hoạch được, khi làm cái gì đều để tâm chú ý, tìm hiểu, suy nghĩ vận dụng Tứ Như Ý Túc, trong sự học pháp cũng phải vận dụng Tứ Như Ý Túc, phải nghĩ làm thế nào để học nhanh hơn, tu có hiệu quả hơn.
Khi nấu trà cũng phải để ý xem người biết nấu làm như thế nào để khi người ta bận thì mình cũng biết nấu, khi nấu cơm cũng phải để ý nấu làm sao cho ngon, đầy dinh dưỡng nhưng ít tốn kém và vẫn sạch sẽ, mọi người ăn vào đầy sức khỏe, vì thế trong tất cả mọi chuyện đều phải để ý học hỏi chứ không phải cứ nhào vô làm để xong việc rồi thôi, tất cả mọi việc từ nấu trà, nấu cơm, trang trí trên bàn Phật, trên pháp tòa đều phải để ý, quán sát, suy tư, học và hỏi kinh nghiệm những người đi trước, mình lấy những nghề đó, những kĩ thuật đó để tạo ra phước báo công đức, thiện pháp. Nhưng không phải mình ham thích học nghề mà do có nhân duyên, do hoàn cảnh thuận lợi thích hợp thì học, mỗi một cái đều để tâm vào đó nghiên cứu để mau học được, mau biết được, mau thu hoạch kết quả, đỡ mệt mỏi mất thời gian lâu dài, phải vận dụng Tứ Như Ý Túc vào đó.
Một người khuân vác đi làm cả ngày lấm lem quần áo, mệt mỏi, đau nhức toàn thân, một người đi làm văn phòng để dùng đầu óc suy nghĩ để vẽ ra những bản vẽ, để có ra những ý tưởng. Có khi một ý tưởng đó bằng tiền lương suốt đời của người làm lao động tay chân, chỉ với một ý tưởng có thể đẻ ra số tiền hàng triệu đô la đó là do họ suy nghĩ tìm cách để công việc vận hành trơn tru, hiệu quả nhất nhưng ít tốn kém nhất, còn người không có trí chỉ biết lao vào làm việc tay chân, nhưng nói vậy không phải chê người làm việc tay chân nhưng người biết phấn đấu là những người học cao, những nước phát triển toàn là những nước có nhiều người học vấn cao, có như vậy nước đó mới tiến bộ, phát triển, dẫn đầu, còn những nước lao động tay chân thì phải ở phía sau thôi cho nên thành phần tri thức lúc nào cũng đứng đầu trong mọi lãnh vực từ ngoài đời cho đến trong đạo, người có học đi đến đâu cũng có vị trí, người ta biết sắp xếp cho những người khác làm, trong sự tu cũng vậy, người nào biết để tâm vào trong pháp thì đó là những bậc có kinh nghiệm trong tu học hoặc là những bậc đạo sư.
Mình làm công việc đó lúc mới vào cũng vậy, ba năm sau cũng vậy, mười năm sau cũng vậy, mình nghĩ vậy là tốt rồi nhưng thực ra mình đang tụt hậu vì mỗi ngày xã hội đều phát triển, những công nghệ càng phát triển, người ta đã đi du lịch ngoài không gian mà mình ngồi đây mấy chục năm vẫn vậy thì rõ ràng mình đã thụt lùi lại phía sau thì làm sao tiến bộ, làm sao phát triển được. Hòa Thượng Làng Mai được cả thế giới hưởng ứng vang dội là do Hòa Thượng vận dụng rất nhiều cách để hướng dẫn người phương tây tu học, bản chất của pháp là không thay đổi nhưng hành tướng, diệu dụng bên ngoài phải khéo vận dụng vì nếu không mình sẽ đi lùi so với xã hội.
Những giới trẻ bên nước ngoài không muốn đi chùa vì vào chùa đọc kinh không hiểu gì cả cho nên có khả năng các chùa bên nước ngoài không tồn tại được lâu dài, nếu muốn tồn tại lâu dài thì các thầy phải giỏi tiếng nước ngoài và phải biến đạo Phật thành những phương pháp thực tế, thực tiễn có giá trị lợi ích ngay lập tức, khi nghe pháp, ngồi thiền, thực tập thấy ngay hiệu quả, còn bây giờ vào chùa đọc kinh không hiểu gì cả hoặc cứ cầu nguyện, lạy lục trong khi giới trẻ bây giờ không đơn giản nhưng ngày xưa nữa. Ở Trung Quốc có ngài Thái Hư đại sư cải cách Phật giáo rất nhiều, các trường Phật giáo đều do ngài đề xướng, mình phải tìm mọi cách để mình mau hiểu, mau biết, mau thành công mà không mất thời gian dài, trong việc tu học cũng phải như vậy, nếu mình chỉ tu cho có, đúng giờ lên ngồi hết giờ lại xuống thì tu hết đời cũng không đi đến đâu, chỉ gieo được một chút thiện duyên thôi, ngược lại mình phải suy tư, quán xét, thao thức, trăn trở làm thế nào để tu tập, học pháp có hiệu quả.
"Ngài đầy đủ với tướng này, nếu sống tại gia thành vị Chuyển luân Thánh vương... Làm vua được những gì? Tất cả sự vật xứng đáng nhà vua, đặc tướng nhà vua, tài sản nhà vua, sở hữu nhà vua, Ngài đều có được một cách mau chóng. Làm vua được như vậy. Làm Phật được những gì? Tất cả sự vật gì xứng đáng vị Sa-môn, đặc tướng Sa-môn, tài sản Sa-môn, sở hữu Sa-môn, Ngài đều có được một cách mau chóng. Làm Phật được như vậy". (Trường Bộ Kinh, 30. Kinh Tướng)
Tất cả những gì một người tu hành cần phải có thì Thế Tôn đều viên mãn, đầy đủ, trọn vẹn.
"Trong các nghề, kỹ thuật
Trong cử chỉ, hành động,
Ngài muốn làm thế nào,
Ðể học biết mau chóng.
Không ai bị thương hại,
Học mau, không mệt mỏi,
Do hành thiện nghiệp này,
Ðược quả thiện nghiệp này,
Ðược quả thiện tốt đẹp.
Cân đối xoay nhẹ nhàng,
Trên da trơn mềm mại,
Lông được mọc đứng lên.
Người như vậy được gọi,
Người có chân dê rừng.
Tướng này, người ta đồn,
Khiến học hỏi mau chóng.
Nếu xuất gia ly dục,
Sống thiểu dục sáng suốt.
Mọi sự vật hợp pháp,
Ngài tuần tự chứng đắc,
Sống tinh tấn cao thượng,
Quả chứng thật mau chóng". (Trường Bộ Kinh, 30. Kinh Tướng)
Cử chỉ, hành động là trong một nghề nào thì phải làm như vậy, nếu là người xuất gia thì phải đi đứng, nói năng, oai nghi, cử chỉ cho đúng nghĩa một người xuất gia. Ngài để tâm vào đó học hỏi để mau chóng thu hoạch được kết quả tốt. Tướng tốt tiếp theo của ngài là da trơn mịn làm cho bụi không bám vào thân.
"Này các Tỳ-kheo, trong bất cứ đời trước nào, hiện hữu nào, trú xứ nào, Như Lai đời trước làm Người, đi đến các vị Sa-môn hay Bà-la-môn, sau khi đến liền hỏi: 'Bạch Tôn giả, thế nào là thiện? Thế nào là bất thiện? Thế nào là có tội? Thế nào là không có tội? Ðiều nào nên làm? Ðiều nào không nên làm? Ðiều nào làm sẽ đưa đến cho ta bất hạnh và đau khổ lâu dài? Ðiều nào nếu làm sẽ đưa đến cho ta hạnh phúc và an lạc lâu dài? Với tác động, chất chứa, tích tụ, tăng thịnh của nghiệp này...' Ngài sau khi từ trần từ chỗ kia được tái sanh lại đây với tướng Ðại Trượng phu này: Da của Ngài trơn mịn khiến bụi bặm không thể bám dính vào thân". (Trường Bộ Kinh, 30. Kinh Tướng)
Da mịn đến độ bụi không bám dính vào thân được, đây là hy hữu tướng, đại trượng phu tướng, hảo tướng. Khi là còn là người bình thường ngài thường đi đến các bậc tu hành để hỏi "Bạch Tôn giả, thế nào là thiện? Thế nào là bất thiện? Thế nào là có tội? Thế nào là không có tội? Ðiều nào nên làm? Ðiều nào không nên làm? Ðiều nào làm sẽ đưa đến cho ta bất hạnh và đau khổ lâu dài? Ðiều nào nếu làm sẽ đưa đến cho ta hạnh phúc và an lạc lâu dài?", thế nào là tội, thế nào là phước, thế nào là thiện, thế nào là ác. Ngài hỏi những câu này nhiều đời nhiều kiếp cho nên khi thành đạo ngài thấu triệt viên mãn lý nhân quả thiện ác, hạnh phúc và đau khổ, ngài chứng ngộ, thấy biết, thông đạt viên mãn, phước đức viên mãn, những việc cần làm đã làm xong viên mãn, hạnh phúc và an lạc của ngài là đi đến Niết-bàn tối thượng vĩnh cửu. Còn mình chỉ muốn vui, hạnh phúc chứ đau khổ không muốn vậy mà mình lại làm những điều đưa đến đau khổ, bất hạnh rồi mình than trời trách đất, oán đời hận người, mình không biết cái gì đưa đến vui, cái gì đưa đến khổ, cái gì là tội, cái gì là phước, cái gì đưa đến bất hạnh đau khổ dài lâu, cái nào đưa đến hạnh phúc an lạc lâu dài, mình không chịu học hỏi thậm chí có học nhưng không hỏi, không để tâm, không tư duy, quán chiếu.
"Ngài đầy đủ với các tướng này, nếu sống tại gia làm vị Chuyển luân Thánh vương... Làm vua, được những gì? Ðại trị tuệ, không có ai bằng Ngài về trí tuệ. Hay không ai hơn Ngài về tài sản thế tục. Làm vua được như vậy. Làm Phật được những gì? Ðược đại trí tuệ, quảng trí tuệ, hỷ tâm trí tuệ, mẫn tiệp trí tuệ, thông nhuệ trí tuệ, yểm ly trí tuệ, không có ai bằng Ngài về trí tuệ hay không có chúng sanh nào hơn Ngài. Làm Phật, Ngài được như vậy". (Trường Bộ Kinh, 30. Kinh Tướng)
Có đầy đủ những nghiệp lành này nên khi mất đi ngài được sanh lên chư thiên, đứng đầu thiên giới, vượt hơn các chư thiên ở mười phương diện, còn sanh cõi người thì đứng đầu nhân giới, còn khi làm Phật cũng không có chúng sanh nào hơn được ngài. Quảng trí tuệ là trí tuệ quảng đại, đại trí tuệ là trí tuệ rộng lớn, hỷ tâm trí tuệ là khi đã thấy biết các pháp nên ngài có tâm hoan hỉ, mẫn tiệp trí tuệ là trí tuệ mau nhanh, sắc bén, không do dự, phân vân, thông tuệ trí tuệ là trí tuệ thông suốt, yểm ly trí tuệ là trí tuệ đưa đến sự chán lìa đối với ngũ uẩn, đối với thế giới
"Trong những ngày quá khứ,
Ngài tha thiết muốn biết,
Ngài tha thiết muốn hỏi,
Yết kiến vị xuất gia,
Khéo nghe và học hỏi.
Chính nhờ hạnh nghiệp ấy,
Ngài chứng được trí tuệ.
Và sanh vào loài Người,
Ngài được da mịn màng.
Các vị chiêm tướng gia,
Hội họp và tuyên bố,
Vị này biết và thấy,
Mọi ý nghĩa tế nhị.
Nếu hạnh không xuất gia,
Sống hành trì như vậy,
Ngài là vị Chuyển luân,
Ngự trị cõi đất này.
Những vị nắm được nghĩa,
Không ai hơn bằng Ngài.
Nếu xuất gia ly dục,
Sống thoát tục sáng suốt;
Chứng được đạo Bồ-đề,
Tuệ tối hảo vô thượng". (Trường Bộ Kinh, 30. Kinh Tướng)
Từ nhiều đời nhiều kiếp ngài đã tu tập về chánh kiến hữu lậu của thế gian, tức là đưa lại hạnh phúc an lạc trong nhân thiên, khi ngài thành tựu Chánh Đẳng Chánh Giác thì ngài chứng ngộ chánh kiến vô lậu xuất thế, tức là nắm vững được nguyên lý này sẽ hạnh phúc an lạc dài lâu trong cõi người, cõi trời, còn khi chứng đắc Thánh trí, thành tựu Chánh Đẳng Chánh Giác thì ngài thành tựu an lạc của Niết-bàn tối thượng vượt ra khỏi tam giới. Nguyên lý sống là phải biết cái nào là thiện, cái nào là ác, cái nào là tội, cái nào là phước, cái nào nên làm, cái nào không nên làm, cái nào đưa đến bất hạnh đau khổ và cái nào đưa đến hạnh phúc an lạc lâu dài, sau đó làm theo những điều tốt lành trọn vẹn thì chứng đắc pháp thiện viên mãn của thế gian, còn khi chứng đắc dưới cội Bồ-đề thì khi đó ngài chứng đắc cái chí thiện xuất thế. Khi ngài dạy Bát Chánh Đạo thì cái đó là chánh kiến hữu lậu và vô lậu, chánh kiến vô lậu, vô vi sẽ đưa đến xuất ly ngũ uẩn, thoát khỏi tam giới, đoạn tận sanh tử, nếu muốn có chánh kiến xuất thế thì trước tiên phải có nền tảng. Tướng hảo tiếp theo của Thế Tôn là sắc hoàng kim, da màu đồng, sáng bóng.
"Này các Tỳ-kheo, trong bất cứ đời trước nào, hiện hữu nào, trú xứ nào, Như Lai đời trước làm Người, không sân hận, hoàn toàn không ảo não, dầu có bị nói nhiều cũng không tức tối, không phẫn nộ, không hiềm khích, không mất bình tĩnh, không hiểu lộ phẫn nộ, không sân hận phiền muộn. Trái lại, Ngài bố thí các đồ che đắp, mang mặc mềm mại, nhẹ nhàng; vải quyên mềm mại, vải bông mềm mại, vải lụa mềm mại, vải len mềm mại. Với tác động... Ngài từ trần từ chỗ kia, thác sanh tại chỗ này, được tướng Ðại Trượng phu này: sắc hoàng kim, da màu đồng, sáng bóng". (Trường Bộ Kinh, 30. Kinh Tướng)
Người không có sân hận sống nhẹ nhàng, bình an biết bao nhiêu, dù bị nói nhiều nhưng Như Lai không sân hận, không phiền muộn, không tức tối, không bị mất bình tĩnh, nếu mà thực tập được như vậy là có da sắc hoàng kim. Hiềm khích là không thích, ghim trong tâm, còn phẫn nộ là biểu hiện ra hành động, lời nói.
"Huỳnh kim mãn nguyệt tướng
Tam-giới độc xưng tôn
Hàng phục nhất thiết ma
Chư thiên giai cung thủ".
Đây là bài tán thán Thế Tôn thường được đọc trong các buổi dâng tấu sớ. Huỳnh kim mãn nguyệt tướng nghĩa là tướng của Đức Phật như trăng tròn sắc vàng, Tam giới độc xưng tôn nghĩa là một mình ngài vượt lên và được tôn trọng trong tam giới, hàng phục nhất thiết ma là tất cả ma quân đều bị ngài hàng phục, chư thiên giai cung thủ nghĩa là tất cả chư thiên phải chắp tay cúi đầu trước ngài. Ngoài ra còn "Như Lai đức tướng, nan tận tán dương" nghĩa là công đức, tướng hảo của Như Lai được tán dương không cùng tận, khen ngợi không bao giờ hết được. Nếu muốn có huỳnh kim mãn nguyệt tướng là không được sân hận, không buồn bã, dù bị nói cũng không được tức tối, không phẫn nộ, không hiềm khích, không mất bình tĩnh, chỉ có tu như vậy mới được huỳnh kim mãn nguyệt tướng.
"Ngài đầy đủ với tướng này, nếu sống tại gia, thành vị Chuyển luân Thánh vương. Làm vua được những gì? Ðược các đồ che đắp, mang mặc mềm mại, nhẹ nhàng; vải quyên mềm mại, vải bông mềm mại, vải lụa mềm mại, vải len mềm mại. Làm Phật được những gì? Ðược các đồ che đắp, mang mặc mềm mại, nhẹ nhàng; vải quyên mềm mại, vải bông mềm mại, vải lụa mềm mại, vải len mềm mại. Làm Phật, Ngài được như vậy". (Trường Bộ Kinh, 30. Kinh Tướng)
Ngoài ra Thế Tôn còn đi bố thí quần áo, chăn mền cho nên nếu làm vua sẽ có mọi loại vải mềm mại, còn khi thành Phật sẽ được cúng dường những đồ che đắp mềm mại, nhẹ nhàng.
"Cương quyết không sân hận,
Ngài sẵn sàng bố thí,
Các loại vải mềm mại,
Các đồ đắp mềm mại.
Trong những đời sống trước,
Ngài cương quyết phân phát,
Như thần mưa tung vải,
Mây móc trên đất liền.
Nhờ hạnh nghiệp như vậy,
Từ trần tại chỗ kia,
Ðược sanh lên cõi Trời,
Hưởng quả báo thiện hạnh.
Tận hưởng thiện báo xong,
Ngài sanh tại nơi đây,
Với thân màu hoàng kim,
Sáng chói như vàng ròng,
Mỹ lệ hùng tráng hơn,
Chẳng khác gì Ðế-thích.
Nếu không muốn xuất gia,
Ngài trị vì đất này,
Nhờ sức mạnh quá khứ,
Ngài được thật đầy đủ,
Mềm mại và tế nhị,
Ðồ che đắp mang mặc.
Nếu Ngài sống đời sống,
Xuất gia, không gia đình,
Kiên trì Ngài tận hưởng,
Quả báo nghiệp quá khứ,
Những điều Ngài đã làm,
Không bao giờ vô hiệu". (Trường Bộ Kinh, 30. Kinh Tướng)
Ngài bố thí như thần mưa tung vải, như mây móc trên đất liền, có bao nhiêu là đem ra bố thí hết, nhờ hạnh nghiệp như vậy nên khi sanh ra ở thế gian thân huỳnh kim sáng chói như vàng ròng, đẹp đẽ hùng tráng như vua trời cho nên có những vị vua gặp ngài một lần liền muốn kết giao huynh đệ, nói rằng nếu không đi tu thì về cai trị đất nước chung với họ. Những người khác nhìn thấy ngài không chớp mắt vì tướng hình của ngài đặc biệt thù thắng siêu việt nhưng chỉ những người biết xem tướng số mới nhìn ra, còn người bình thường chỉ biết đẹp ngoài ra không biết gì nữa cho nên khi ngài đi khất thực có nhiều người không cho, thậm chí còn bị mắng chửi. Để có được thân tướng đẹp đẽ hơn người như vậy là phải trải qua biết bao thời gian tu thành tích tụ thiện nghiệp vậy mà ngài bỏ tất cả đi tu, vào rừng nhịn đói nhịn khát, còn mình có khi nghèo rớt mồng tơi đi tu mà đi chạm vào là cũng tôi, ta, tao, mi, tớ trong khi ngài là thái tử đẹp đẽ lại bỏ hết tất cả đi tu.
"Này các Tỳ-kheo, trong bất cứ đời trước nào, hiện hữu nào, trú xứ nào, Như Lai đời trước làm Người, Ngài làm cho sum họp lại những bà con bạn bè thân tín không gặp nhau lâu ngày, bị đau khổ lâu ngày, làm cho sum họp lại mẹ với con, con với mẹ, làm cho sum họp lại cha với con, con với cha, làm cho sum họp lại giữa anh em với nhau, làm cho sum họp lại giữa anh và chị, giữa chị và em, làm cho hòa hợp lại, sống vui vẻ với nhau. Với tác động... Ngài từ trần tại chỗ kia, thác sanh tại chỗ này với tướng Ðại Trượng phu này là tướng mã âm tàng.
Ngài đầy đủ tướng này, nếu sống tại gia, làm vị Chuyển luân Thánh vương. Làm vua được những gì? Ðược nhiều con, hơn một ngàn người con đều là bậc anh hùng, bậc chiến thắng, dõng kiện, nhiếp phục địch quân. Làm vua, vị ấy được như vậy... Làm Phật được những gì? Ðược nhiều con, sẽ có hàng ngàn người con (xuất gia và tại gia) đều là bậc anh hùng, các bậc vô song, các bậc dõng kiện, nhiếp phục các địch quân. Làm Phật, Ngài được như vậy". (Trường Bộ Kinh, 30. Kinh Tướng)
Tướng mã âm tàng nghĩa là bộ phận sinh dục giống như con ngựa, bình thường là ẩn giấu, đến khi dùng mới hiển lộ. Tướng này Thế Tôn có được là do trong nhiều đời nhiều kiếp ngài làm cho sum họp bà con, bạn bè thân tín, đoàn tụ lại những người bị chia ly, phân tán, chia rẽ. Trên Tivi có chương trình "Như chưa từng có cuộc chia ly", đây là một chương trình rất hay và nhân văn, trong chương trình này người ta đi tìm mẹ con hoặc cha con, anh em, chị em thất lạc nhau mấy chục năm, trong buổi gặp mặt nhau rất xúc động, khóc nức nở. Từ nhiều đời nhiều kiếp ngài làm cho mọi người sum họp lại với nhau, những người nào giận nhau, có hiềm khích thì ngài giảng hòa, ngài giúp tháo gỡ những nút thắt, những nội kết buộc trong tâm, giúp cho hai bên tha thứ, bao dung, sống vui vẻ với nhau. Chúng sanh có nghiệp dễ nói lời chia rẽ, đổ dầu vô lửa cho cháy thêm lên, đó là ác nghiệp, ác pháp, tội lỗi cho nên mình cứ nghĩ mình hiền, sống tốt nhưng nếu không chánh niệm tỉnh giác, không nhận diện ngũ uẩn, không kiểm soát lời nói, đến khi nói xong mới nhận ra là trễ rồi, vì thế mà Thế Tôn giáo giới cho ngài La-hầu-la trước khi nói, trong khi nói và sau khi nói phải suy xét. Mình đừng nói để sanh ra sự chia rẽ, đừng nói để sanh ra hờn mác, đừng nói để gây thêm đổ vỡ, tan nát, hãy nói lời hòa hợp, tương kính, hài hòa, thương mến, bao dung lẫn nhau, trong gia đình có hai vợ chồng mà cự cãi nhau liên tục, anh chị em cứ buồn phiền nhau hoài, đồng nghiệp thì bằng mặt không bằng lòng, những cảm thọ đó làm khó chịu, bức xúc, đi ra vô gặp nhau cũng không ưa, trong khi Thế Tôn là nhiều đời nhiều kiếp, hiện hữu ở chỗ nào, ở trú xứ nào ngài đều là người giảng hòa, làm cho hòa hợp, những người bị chia lìa được hội tụ, được sum họp.
Bây giờ mình tu nhưng có cơ hội về thăm nhà hoặc các Phật tử lên tâm sự chuyện gia đình lục đục thì mình phải tìm cách vỗ về, khuyên bảo mọi người, tìm hiều nguồn cơn rồi hóa giải sự hiểu lầm, sự tức giận, gắn kết mọi người với nhau, giận một ngày đã thấy khó chịu thì huống chi giận một năm, mười năm, những cảm thọ đó đeo đuổi làm mình mệt mỏi, phải giải tỏa những cảm thọ sân hận đó để có những cảm thọ tương kính, thương yêu. Đó là đức hạnh hiền thiện tốt đẹp mà Đức Phật đã tu tập trong nhiều đời nhiều kiếp cho nên trong hội chúng của ngài trong khoảng thời gian ngài thành Chánh Đẳng Chánh Giác ở thế giới này chỉ có vài bất hòa nhỏ thôi. Các vị vua Ba-tư-nặc, A-xà-thế khen ngợi Thế Tôn hết lời, những người lính khi ngủ lại quay đầu về hướng có Thế Tôn trong khi vua ban cho bổng lộc, tiền lương mỗi tháng mà khi ngủ lại đưa chân về phía nhà vua.
"Bạch Thế Tôn, Isidatta và Purana là hai quan giữ ngựa, ăn cơm của con, đi xe của con, sinh sống do con cho, và chính con đem danh vọng lại cho họ. Nhưng họ không hạ mình đối với con như họ hạ mình đối với Thế Tôn. Thuở xưa, bạch Thế Tôn, trong khi hành quân chống với đội quân đối nghịch, và muốn thử thách Isidatta và Purana, hai quan giữ ngựa, con đến ở tại một căn nhà chật hẹp. Rồi bạch Thế Tôn, hai quan giữ ngựa, Isidatta và Purana, sau khi cùng nhau đàm luận về chánh pháp hơn nửa đêm, rồi nằm xuống ngủ, với đầu của họ hướng về phía mà họ được nghe là chỗ Thế Tôn ở và với chân hướng về chỗ con. Bạch Thế Tôn, con suy nghĩ như sau: 'Thật vi diệu thay! Thật hy hữu thay! Hai quan giữ ngựa Isidatta và Purana này ăn cơm của ta, đi xe của ta, sinh sống do ta cho, và chính ta đem danh vọng lại cho họ. Nhưng họ không hạ mình đối với ta như họ hạ mình đối với Thế Tôn. Thật sự những vị này ý thức được một sự tối thắng thù diệu nào trong giáo lý Thế Tôn, một sự thành đạt tuần tự'. Bạch Thế Tôn, đây là pháp truyền thống của con đối với Thế Tôn: 'Thế Tôn là bậc Chánh Ðẳng Giác, Pháp được Thế Tôn khéo giảng, đệ tử chúng Tăng của Thế Tôn khéo tu tập hành trì'". (Trung Bộ Kinh, 89. Kinh Pháp trang nghiêm)
Ngoài ra còn vua A-xà-thế muốn gặp một bậc tu hành đức độ để sám hối tội lỗi giết cha là vua Tần-bà-sa-la, có một vị quan đã dẫn vua đến gặp Thế Tôn. Vua A-xà-thế và đoàn tùy tùng rầm rộ đi đến nơi có Thế Tôn nhưng đến nơi thì vua hoảng hốt nghĩ rằng vị quan kia muốn ám sát ngài vì xung quanh rất tĩnh lặng, vị quan nói nhà vua cứ đi vào. Khi vào đến nơi nhà vua thấy Thế Tôn ngồi sừng sững như núi chúa, xung quanh là một ngàn hai trăm năm mươi vị Thánh Tăng thì nhà vua đã sụp xuống quỳ lạy và phát tâm quy y Đức Phật.
"- Tâu Ðại vương, chính tại vườn xoài này của chúng con, có Thế Tôn, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Chánh Giác, hiện đang trú ngụ với đại chúng Tỳ-kheo một nghìn hai trăm năm mươi vị. Thế Tôn Gotama có tiếng đồn tốt đẹp sau đây lan rộng: 'Ðây là Thế Tôn, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Chánh Giác, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Ðiều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhân Sư, Phật, Thế Tôn'. Ðại vương hãy đến chiêm bái Thế Tôn này. Rất có thể, nhờ chiêm bái Thế Tôn, tâm của Ðại vương được tịnh tín.
- Vậy khanh Jìvaka, hãy cho thắng kiệu voi.
Khi Ajàtasattu, con bà Videhi, vua nước Magadha đi đến không xa vườn xoài, ngài bỗng sợ hãi, kinh hoàng, tóc dựng lên. Lúc bấy giờ Ajàtasattu, con bà Videhi, vua nước Magadha sợ hãi, kinh hoàng, tóc dựng lên, nói với Jìvaka Komàrabhacca:
- Này khanh Jìvaka, người phản ta chăng? Này khanh Jìvaka, người lường gạt ta chăng? Này khanh Jìvaka, ngươi nạp ta cho kẻ thù chăng? Tại sao trong một đại chúng lớn như thế này gần một nghìn hai trăm năm mươi vị, mà không có một tiếng đằng hắng, không có một tiếng ho, không một tiếng ồn?
- Tâu Ðại vương, thần không phản lại Ngài, thần không lường gạt Ngài, tâu Ðại vương, thần không nạp Ngài cho kẻ thù, tâu Ðại Vương, hãy đi thẳng tới; tâu Ðại vương hãy đi thẳng tới. Tại chỗ kia trong căn nhà tròn chỗ có những ngọn đèn đang thắp sáng.
Lúc bấy giờ, Ajàtasattu, con bà Videhi, vua nước Magadha đi cho đến chỗ voi có thể đi được, rồi xuống voi đi đến cửa căn nhà tròn. Khi đến nơi liền nói với Jìvaka Komàrabhacca:
- Này khanh Jìvaka, Thế Tôn ở tại đâu?
- Tâu Ðại vương, vị ấy là Thế Tôn. Tâu Ðại vương, Thế Tôn ngồi dựa vào cột chính giữa, mặt hướng phía Nam, ngồi trước mặt chúng Tỳ-kheo.
Ajàtasattu, con bà Videhi, vua nước Magadha liền tiến đến chỗ Thế Tôn. Khi đến rồi, vua đứng một bên. Sau đi đứng một bên, Ajàtasattu, con bà Videhi, vua nước Magadha nhìn khắp chúng Tỳ-kheo đang yên lặng an tịnh như một hồ nước trong, cảm hứng nói rằng: 'Mong hoàng tử Udàyibhadda (Ưu-đà-di-bạt-đà) cũng được sự trầm lặng như sự trầm lặng của các vị Tỳ-kheo này vậy'". (Trường Bộ Kinh, 2. Kinh Sa-môn quả)
Do nhiều đời nhiều kiếp Đức Phật làm cho sum họp, đoàn tụ, sống vui vẻ với nhau cho nên ngài có tứ chúng hoặc là thất chúng đều hòa hợp, cung kính, sống an vui với nhau. Còn giờ mình có mấy người mà chia phe, chia nhóm, nhóm kia cao, nhóm này thấp, vậy là thất bại rồi.
"Ngài đầy đủ tướng này, nếu sống tại gia, làm vị Chuyển luân Thánh vương. Làm vua được những gì? Ðược nhiều con, hơn một ngàn người con đều là bậc anh hùng, bậc chiến thắng, dõng kiện, nhiếp phục địch quân. Làm vua, vị ấy được như vậy... Làm Phật được những gì? Ðược nhiều con, sẽ có hàng ngàn người con (xuất gia và tại gia) đều là bậc anh hùng, các bậc vô song, các bậc dõng kiện, nhiếp phục các địch quân. Làm Phật, Ngài được như vậy". (Trường Bộ Kinh, 30. Kinh Tướng)
Khi làm vua ngài có phước báo là có nhiều người con đều là anh hùng, còn khi làm Phật sẽ có hàng ngàn Thánh chúng đánh thắng quân địch phiền não. Tăng đoàn có sự cung kính, hòa kính, thương mến thì đại chúng sẽ được an lạc, thanh tịnh, trong sạch, an vui trong sự tu học.
"Thuở xưa trong quá khứ,
Trong nhiều đời tiền thân,
Ngài khiến cho sum họp,
Bà con, bạn, thân tín.
Ðã đau khổ lâu ngày,
Ðã phiêu bạt lâu ngày,
Ngài khiến họ hòa hợp,
Sống hoan hỉ với nhau.
Hạnh này Ngài sanh Thiên,
Hưởng hạnh phúc hỷ lạc,
Chết kia, sanh chỗ này,
Ngài được mã âm tàng.
Ngài có rất nhiều con,
Hơn đến số ngàn vị,
Là những bậc anh hùng,
Chiến thắng nhiếp địch quân,
Ðón chào lời hiếu kính,
Khiến tại gia hoan hỉ.
Nếu xuất gia tu đạo,
Uy lực thắng hơn nhiều.
Số con có nhiều hơn,
Biết vâng lời chỉ giáo.
Dầu tại gia, xuất gia,
Hảo tướng thật rõ ràng". (Trường Bộ Kinh, 30. Kinh Tướng)
Những người đã phiêu bạt lâu ngày, xa cách lâu ngày nên họ giận, họ bị oán hờn, hiềm khích, có khi hiểu lầm nhau thì ngài khiến cho họ hòa hợp lại với nhau, chỉ được cái hạnh tốt lành này thôi ngài đã được sanh lên cõi trời. Những bậc Thánh chúng ngày xưa của Đức Phật rất tuyệt vời, hội chúng của ngài rất hòa hợp, trang nghiêm, cung kính đó là do công đức của ngài tu tập sự đoàn kết, sum vầy, hoan hỉ, an lạc. Trong gia đình, đạo tràng, công ty phải luôn luôn dĩ hòa vi quý, gia hòa vạn sự hưng, thanh tịnh hòa lạc, không để có sự hiềm khích, mâu thuẫn ở chỗ mình ở, không hận không sân với bất kì ai, lấy sự hòa hợp làm báu vật. Gia hòa vạn sự hưng nghĩa là mọi việc trong gia đình đều hưng thịnh, vạn sự nghĩa là muôn việc, sống với nhau hòa hợp sẽ được an vui, an lạc.
Nếu như sống được theo chuẩn này cũng đã có sự an lạc trong sự tu học, sống với tâm rộng mở, tương ái, tương kính, nhìn nhau những ánh nhìn thiện cảm, có những suy nghĩ tốt đẹp về nhau, có những hành động tôn trọng nhau, quý kính nhau với chí nguyện cao cả của sự tu học, của sự từ bỏ, của sự hướng đến đời sống trong sạch, phạm hạnh thanh tịnh, từ bi trí tuệ, đó là đức hạnh cao thượng của một người tu và cũng là tướng hảo của người tu, nét đẹp của người tu, là sự thẩm mỹ của người tu cho nên những đức hạnh này chính là thẩm mỹ tối thượng của Phật giáo, đây là cách làm đẹp của đạo Phật. Trong nhiều đời nhiều kiếp Đức Phật đã làm đẹp cho tự thân mình và làm đẹp cho chúng sanh, đây cũng là chân – thiện – mỹ của một bậc Đa văn Thánh đệ tử.
./.
VÌ SAO PHẬT CÓ 32 TƯỚNG HẢO 2 ?
KINH TƯỚNG - TRƯỜNG BỘ
–Thích Minh Thành–
Kính thưa tất cả chư Tăng Ni và quý Phật tử, hôm nay chúng ta tiếp tục nghe bài kinh Tướng nằm trong Trường Bộ Kinh. Chúng ta đang nói đến tướng đại trượng phu là mắt cá tròn như con sò và lông mọc xoay tròn thẳng lên, nghĩa là từng sợi chân lông của ngài xoắn lại mọc thẳng lên, đó là một trong những tướng đặc biệt.
"Này các Tỳ-kheo, trong bất cứ đời trước nào, hiện hữu nào, trú xứ nào, Như Lai đời trước làm Người, Như Lai là một vị nói lời liên hệ lợi ích cho chúng sanh, liên hệ đến pháp, giải thích cho đại chúng, đem lại hạnh phúc an lạc cho chúng sanh, tán dương chánh hạnh. Với tác động, chất chứa, tích tụ và tăng thịnh của nghiệp... Ngài từ trần từ chỗ kia và tái sanh ở đây với hai tướng Ðại Trượng phu: mắt cá tròn như con sò và lông mọc xoay tròn thẳng lên". (Trường Bộ Kinh, 30. Kinh Tướng)
Như thế nào là nói lời liên hệ đến lợi ích cho chúng sanh? Nghĩa là khuyến khích, nhắc nhở mọi người giữ giới, khích lệ và hướng dẫn mọi người bỏ ác làm lành, khéo léo hướng dẫn cho mọi người phát tâm từ bi, phát khởi những cảm xúc thương yêu, tha thứ, bao dung, độ lượng, tương trợ, giúp đỡ, hòa hợp, cung kính và chỗ tối cao là liên hệ đến pháp, tức là chỉ cho mọi người phương pháp nhiếp phục và đoạn tận tham, sân, si, vô minh và bản ngã. Mỗi lời nói ra đều có lợi ích cho chúng sanh, đều liên hệ đến sự thật để mọi người thấy được bản chất khổ của thế gian này để mọi người không bị rơi vào tà kiến, tâm điên đảo, tưởng điên đảo, kiến điên đảo, ngài dùng mọi phương tiện, hành động, lời nói để khai mở trí tuệ sự thật để mọi người thấy vô thường, khổ, bất tịnh và vô ngã trong mọi trường hợp, mọi hoàn cảnh. Bất cứ lời nào nói ra đều liên hệ đến pháp, giải thích cho mọi người về pháp, đem lại lợi ích, hạnh phúc và an lạc cho chúng sanh, tu đức hạnh này là sự tích cực của khẩu nghiệp, còn nói dối, nói thiêu diệt, nói lưỡi đôi chiều, nói đâm thọc là tính tiêu cực của khẩu nghiệp, ngược lại là tính tích cực nhưng muốn đạt đến tính thiện của khẩu hành thì phải dừng tính bất thiện trước, chính vì vậy trong giới quy định không được nói dối, không nói lời đâm thọc, không nói lời phù phiếm nhảm nhí, phải dừng đuợc những cái này thì mới phát huy được tính thiện của khẩu nghiệp.
Cho nên việc tu tập ở cái miệng cũng phải có tuần tự, không thể một người nói cái gì cũng liên hệ đến lợi ích cho chúng sanh, liên hệ đến pháp, giải thích cho đại chúng, đem lại hạnh phúc an lạc cho chúng sanh, tán dương chánh hạnh, chưa thể làm được những cái này nếu không dừng được những lời nói xấu ác, dừng được những cái này càng nhiều thì mới phát huy được những cái tốt càng nhiều. Nếu thực tập được những điều này thì vợ chồng không cự cãi, anh em, huynh đệ hòa hợp vì mình nói lời đem lại lợi ích cho người ta, nói người ta nhiếp phục tham, sân, si, bản ngã thì mình cũng phải vậy, những lời nói liên hệ đến pháp luôn đem lại hạnh phúc và an lạc cho chúng sanh, tán dương chánh hạnh cho nên về sau Phật giáo phát triển sau này rất chú trọng vào những điều này nhưng những điều căn bản, nền tảng lại không để tâm nhiều nên cái pháp không viên mãn, nghĩa là cứ lo làm thiện mà bản thân trở thành bất thiện khi nào cũng không biết vì chất bất thiện trong tâm không lo trừ diệt mà cứ lo hướng ra ngoài làm thiện, đó là lý do pháp của Đức Phật rất tuyệt vời và viên mãn là vậy.
Trước nay chúng ta đã học bản chất của pháp, bây giờ chúng ta mở rộng ta tính diệu dụng của pháp, hành tướng của thiện pháp, còn nếu mới vào mà mình học thiện pháp trong khi vô minh, tham, sân, si trong tâm còn dày đặc thì những cái mình làm chỉ là vẻ bề ngoài thôi, đó là trình tự của pháp cho nên những người mới học cứ thích làm này làm kia mà không chịu quay lại nhận diện ngũ uẩn, nhiếp phục tham, sân, si, bản ngã thì làm một thời gian là thất bại, không đi đúng theo trình tự của pháp nhưng Phật giáo sau này lại phát triển những điều này, chú trọng làm thiện nhưng quên mất việc nhiếp phục và tận diệt cái bất thiện, đây là cái lõi cần phải thành tựu trước tiên. Sự thật thì nhiếp phục và đoạn tận tham, sân, si rất khó nhưng hướng ra ngoài làm này làm kia lại dễ dàng cho nên người ta chọn cái dễ để làm, pháp không phải khó hay dễ mà pháp phải đi đúng trình tự đạo lộ của nó chính vì vậy dần dần Phật giáo trở thành việc phước thiện bên ngoài, cái lõi không còn được nhìn thấy nữa, khi đọc hết 32 tướng trong bài kinh này chúng ta sẽ thấy về sau chỉ phát triển việc làm bên ngoài thôi.
Chúng ta học mấy năm cho đến giờ mới đưa ra những pháp trên những hình tướng bên ngoài, chúng ta phải học bản chất, đặc chất của pháp trước rồi sau đó mới học đến tướng dụng, biểu hiện bên ngoài của pháp, nếu không nắm vững vô thường, khổ, vô ngã, không nắm vững ngũ uẩn, cảm thọ và các lậu hoặc thì mình dễ bị dính mắc trong các hình tướng đẹp, thích thì chạy theo nó, không khéo sẽ đánh mất bản thân. Đức Phật dạy chúng ta từng chút một, ngài nói rõ tại sao ngài được tướng này tướng kia nhưng trong Tương Ưng Uẩn ghi lại có một vị Tỳ-kheo ao ước gặp Đức Phật vì vị này bệnh gần chết, Thế Tôn nói thấy pháp là thấy Như Lai, thấy Như Lai là thấy pháp chứ không phải thấy trên hình tướng này.
"-- Này Vakkali, Ông có gì phân vân, hối hận không?
-- Bạch Thế Tôn, thật sự con có nhiều phân vân, có nhiều hối hận!
-- Này Vakkali, Ông có gì tự trách mình về giới luật không?
-- Bạch Thế Tôn, con không có gì tự trách mình về giới luật.
-- Này Vakkali, nếu Ông không có gì tự trách mình về giới luật, vậy Ông có gì phân vân, có gì hối hận?
-- Ðã từ lâu, bạch Thế Tôn, con muốn đến để được thấy Thế Tôn. Nhưng thân con không đủ sức mạnh để được đến thấy Thế Tôn.
-- Thôi vừa rồi, này Vakkali, có gì đáng thấy đối với cái thân hôi hám này. Này Vakkali, ai thấy Pháp, người ấy thấy Ta. Ai thấy Ta, người ấy thấy Pháp. Này Vakkali, đang thấy Pháp, là thấy Ta. Ðang thấy Ta, là thấy Pháp". (Tương Ưng Bộ, Tập III - Thiên Uẩn, Chương I. Tương Ưng Uẩn (e), IV. Phẩm Trưởng Lão, V. Vakkàli)
Đó là sự giáo hóa vi diệu, đại viên mãn của Đức Phật cho nên tánh, tướng, thể, dụng đều đại viên mãn. Khi Đức Phật nói điều này là khuyến khích cho chúng sanh cố gắng vận dụng thân, khẩu, ý, hành đều thiện, đừng đi vào ác nghiệp để lãnh khổ đau, khi ngài nói cái kia là ngài đi thẳng vào cốt lõi của pháp, thật tướng của pháp, bản tánh của pháp để chúng ta không đam mê trong sắc tướng, những cái này chỉ là phương tiện để đạt đến cứu cánh cho nên cuối cùng Thế Tôn nói thân thối này có gì để mong chờ, phải thấy pháp mới thấy ngài, ai thấy ngài là đang thấy pháp. Mình nghe câu này có vẻ mâu thuẫn, ngài tu hành nhiều đời nhiều kiếp có hình dáng đẹp đẽ, tướng hảo không ai bằng vậy mà trong bài kinh này ngài lại nói tấm thân ngài hôi hám, nhưng không phải như vậy, một bên ngài nói về bản chất của pháp, một bên ngài nói về tướng trạng của pháp, diệu dụng của pháp, chính vì vậy nếu ngài đam mê trong 32 tướng này thì làm sao ngài đi xuất gia được, ngài nói cái này là sanh, già, bệnh, chết nên ngài từ bỏ, vì thế điều tuyệt diệu của Nikāya là làm việc thiện nhưng không chấp thủ trong việc thiện, đó là chỗ tối thượng của pháp và Nikāya sẽ đưa mình đến chỗ đó, còn thông thường là yêu việc thiện, thích việc thiện, mến việc thiện rồi chấp thủ việc thiện và bị quả báo phước lạc của việc thiện trói cột không đi ra được.
Nếu có những đức hạnh cao đẹp là Đức Phật khen ngợi, tuyên dương, ca ngợi đức hạnh đẹp đó cho nên nếu làm vua thế gian thì những dục lạc, tài vật ngài hưởng đều là tối thắng, cao tột đệ nhất, khi xuất gia thì ngài trở thành bậc tối thắng, tối tôn, đệ nhất trong chúng sanh.
"Thuở xưa lời Ngài nói,
Thuyết giảng cho Ðại chúng,
Liên hệ đến mục đích,
Liên hệ đến Chánh pháp.
Ngài là người đem lại,
Hạnh phúc cho chúng sanh,
Không xan lẫn hối tiếc,
Lễ đàn pháp và chơn.
Nhờ hành trì thiện nghiệp,
Sống hoan hỉ cõi Trời.
Tái sanh tại nơi đây,
Ngài được hai hảo tướng,
Hưởng hạnh phúc tối thượng.
Lông mọc xoay thẳng lên,
Mắt cá tròn khéo gọn,
Dưới có thịt, có da
Trên hình dáng đẹp đẽ.
Nếu Ngài sống tại gia,
Tài dục đều tối thượng.
Không ai thắng hơn Ngài.
Chinh phục Diêm-phù-đề.
Nếu hạnh Ngài xuất gia,
Tinh tấn hơn mọi người,
Ngài là bậc tối thắng,
Trong tất cả chúng sanh.
Do vậy không tìm được,
Kẻ tối thắng hơn Ngài.
Ngài sống và ngự trị,
Cùng khắp mọi thế giới". (Trường Bộ Kinh, 30. Kinh Tướng)
Bây giờ đến tướng đại trượng phu ống chân giống con dê rừng.
"Này các Tỳ-kheo, trong bất cứ đời trước nào, hiện hữu nào, trú xứ nào, Như Lai trước làm Người, ngài siêng năng học hỏi, nghề nghiệp, mọi kỹ thuật, học thuật, oai nghi hay hành động: 'Làm thế nào để tôi mau học hay hành động: 'Làm thế nào để tôi mau học được, làm thế nào để tôi mau biết, làm thế nào để tôi mau thâu hoạch được, khỏi phải mệt nhọc lâu ngày?'. Với tác động, chất chứa, tích tụ và tăng thịnh của nghiệp ấy... Ngài từ trần từ chỗ kia và tái sanh ở đây, với tướng Ðại Trượng phu, có ống chân giống như con dê rừng". (Trường Bộ Kinh, 30. Kinh Tướng)
Trong kiếp cuối cùng của Thái tử Tất-đạt-đa cưỡi ngựa cũng giỏi, bắn cung cũng giỏi, võ nghệ cũng giỏi, văn chương cũng giỏi, ngài giỏi nhiều phương diện nhưng những cái này không phải tự nhiên có mà trong nhiều đời nhiều kiếp ngài đã siêng năng học hỏi, siêng năng đối với mọi ngành nghề, học thuật trên cuộc đời này. Khi gặp người giỏi là hay hỏi làm thế nào để học nhanh, làm thế nào để mau biết, mau thu hoạch được, khi làm cái gì đều để tâm chú ý, tìm hiểu, suy nghĩ vận dụng Tứ Như Ý Túc, trong sự học pháp cũng phải vận dụng Tứ Như Ý Túc, phải nghĩ làm thế nào để học nhanh hơn, tu có hiệu quả hơn.
Khi nấu trà cũng phải để ý xem người biết nấu làm như thế nào để khi người ta bận thì mình cũng biết nấu, khi nấu cơm cũng phải để ý nấu làm sao cho ngon, đầy dinh dưỡng nhưng ít tốn kém và vẫn sạch sẽ, mọi người ăn vào đầy sức khỏe, vì thế trong tất cả mọi chuyện đều phải để ý học hỏi chứ không phải cứ nhào vô làm để xong việc rồi thôi, tất cả mọi việc từ nấu trà, nấu cơm, trang trí trên bàn Phật, trên pháp tòa đều phải để ý, quán sát, suy tư, học và hỏi kinh nghiệm những người đi trước, mình lấy những nghề đó, những kĩ thuật đó để tạo ra phước báo công đức, thiện pháp. Nhưng không phải mình ham thích học nghề mà do có nhân duyên, do hoàn cảnh thuận lợi thích hợp thì học, mỗi một cái đều để tâm vào đó nghiên cứu để mau học được, mau biết được, mau thu hoạch kết quả, đỡ mệt mỏi mất thời gian lâu dài, phải vận dụng Tứ Như Ý Túc vào đó.
Một người khuân vác đi làm cả ngày lấm lem quần áo, mệt mỏi, đau nhức toàn thân, một người đi làm văn phòng để dùng đầu óc suy nghĩ để vẽ ra những bản vẽ, để có ra những ý tưởng. Có khi một ý tưởng đó bằng tiền lương suốt đời của người làm lao động tay chân, chỉ với một ý tưởng có thể đẻ ra số tiền hàng triệu đô la đó là do họ suy nghĩ tìm cách để công việc vận hành trơn tru, hiệu quả nhất nhưng ít tốn kém nhất, còn người không có trí chỉ biết lao vào làm việc tay chân, nhưng nói vậy không phải chê người làm việc tay chân nhưng người biết phấn đấu là những người học cao, những nước phát triển toàn là những nước có nhiều người học vấn cao, có như vậy nước đó mới tiến bộ, phát triển, dẫn đầu, còn những nước lao động tay chân thì phải ở phía sau thôi cho nên thành phần tri thức lúc nào cũng đứng đầu trong mọi lãnh vực từ ngoài đời cho đến trong đạo, người có học đi đến đâu cũng có vị trí, người ta biết sắp xếp cho những người khác làm, trong sự tu cũng vậy, người nào biết để tâm vào trong pháp thì đó là những bậc có kinh nghiệm trong tu học hoặc là những bậc đạo sư.
Mình làm công việc đó lúc mới vào cũng vậy, ba năm sau cũng vậy, mười năm sau cũng vậy, mình nghĩ vậy là tốt rồi nhưng thực ra mình đang tụt hậu vì mỗi ngày xã hội đều phát triển, những công nghệ càng phát triển, người ta đã đi du lịch ngoài không gian mà mình ngồi đây mấy chục năm vẫn vậy thì rõ ràng mình đã thụt lùi lại phía sau thì làm sao tiến bộ, làm sao phát triển được. Hòa Thượng Làng Mai được cả thế giới hưởng ứng vang dội là do Hòa Thượng vận dụng rất nhiều cách để hướng dẫn người phương tây tu học, bản chất của pháp là không thay đổi nhưng hành tướng, diệu dụng bên ngoài phải khéo vận dụng vì nếu không mình sẽ đi lùi so với xã hội.
Những giới trẻ bên nước ngoài không muốn đi chùa vì vào chùa đọc kinh không hiểu gì cả cho nên có khả năng các chùa bên nước ngoài không tồn tại được lâu dài, nếu muốn tồn tại lâu dài thì các thầy phải giỏi tiếng nước ngoài và phải biến đạo Phật thành những phương pháp thực tế, thực tiễn có giá trị lợi ích ngay lập tức, khi nghe pháp, ngồi thiền, thực tập thấy ngay hiệu quả, còn bây giờ vào chùa đọc kinh không hiểu gì cả hoặc cứ cầu nguyện, lạy lục trong khi giới trẻ bây giờ không đơn giản nhưng ngày xưa nữa. Ở Trung Quốc có ngài Thái Hư đại sư cải cách Phật giáo rất nhiều, các trường Phật giáo đều do ngài đề xướng, mình phải tìm mọi cách để mình mau hiểu, mau biết, mau thành công mà không mất thời gian dài, trong việc tu học cũng phải như vậy, nếu mình chỉ tu cho có, đúng giờ lên ngồi hết giờ lại xuống thì tu hết đời cũng không đi đến đâu, chỉ gieo được một chút thiện duyên thôi, ngược lại mình phải suy tư, quán xét, thao thức, trăn trở làm thế nào để tu tập, học pháp có hiệu quả.
"Ngài đầy đủ với tướng này, nếu sống tại gia thành vị Chuyển luân Thánh vương... Làm vua được những gì? Tất cả sự vật xứng đáng nhà vua, đặc tướng nhà vua, tài sản nhà vua, sở hữu nhà vua, Ngài đều có được một cách mau chóng. Làm vua được như vậy. Làm Phật được những gì? Tất cả sự vật gì xứng đáng vị Sa-môn, đặc tướng Sa-môn, tài sản Sa-môn, sở hữu Sa-môn, Ngài đều có được một cách mau chóng. Làm Phật được như vậy". (Trường Bộ Kinh, 30. Kinh Tướng)
Tất cả những gì một người tu hành cần phải có thì Thế Tôn đều viên mãn, đầy đủ, trọn vẹn.
"Trong các nghề, kỹ thuật
Trong cử chỉ, hành động,
Ngài muốn làm thế nào,
Ðể học biết mau chóng.
Không ai bị thương hại,
Học mau, không mệt mỏi,
Do hành thiện nghiệp này,
Ðược quả thiện nghiệp này,
Ðược quả thiện tốt đẹp.
Cân đối xoay nhẹ nhàng,
Trên da trơn mềm mại,
Lông được mọc đứng lên.
Người như vậy được gọi,
Người có chân dê rừng.
Tướng này, người ta đồn,
Khiến học hỏi mau chóng.
Nếu xuất gia ly dục,
Sống thiểu dục sáng suốt.
Mọi sự vật hợp pháp,
Ngài tuần tự chứng đắc,
Sống tinh tấn cao thượng,
Quả chứng thật mau chóng". (Trường Bộ Kinh, 30. Kinh Tướng)
Cử chỉ, hành động là trong một nghề nào thì phải làm như vậy, nếu là người xuất gia thì phải đi đứng, nói năng, oai nghi, cử chỉ cho đúng nghĩa một người xuất gia. Ngài để tâm vào đó học hỏi để mau chóng thu hoạch được kết quả tốt. Tướng tốt tiếp theo của ngài là da trơn mịn làm cho bụi không bám vào thân.
"Này các Tỳ-kheo, trong bất cứ đời trước nào, hiện hữu nào, trú xứ nào, Như Lai đời trước làm Người, đi đến các vị Sa-môn hay Bà-la-môn, sau khi đến liền hỏi: 'Bạch Tôn giả, thế nào là thiện? Thế nào là bất thiện? Thế nào là có tội? Thế nào là không có tội? Ðiều nào nên làm? Ðiều nào không nên làm? Ðiều nào làm sẽ đưa đến cho ta bất hạnh và đau khổ lâu dài? Ðiều nào nếu làm sẽ đưa đến cho ta hạnh phúc và an lạc lâu dài? Với tác động, chất chứa, tích tụ, tăng thịnh của nghiệp này...' Ngài sau khi từ trần từ chỗ kia được tái sanh lại đây với tướng Ðại Trượng phu này: Da của Ngài trơn mịn khiến bụi bặm không thể bám dính vào thân". (Trường Bộ Kinh, 30. Kinh Tướng)
Da mịn đến độ bụi không bám dính vào thân được, đây là hy hữu tướng, đại trượng phu tướng, hảo tướng. Khi là còn là người bình thường ngài thường đi đến các bậc tu hành để hỏi "Bạch Tôn giả, thế nào là thiện? Thế nào là bất thiện? Thế nào là có tội? Thế nào là không có tội? Ðiều nào nên làm? Ðiều nào không nên làm? Ðiều nào làm sẽ đưa đến cho ta bất hạnh và đau khổ lâu dài? Ðiều nào nếu làm sẽ đưa đến cho ta hạnh phúc và an lạc lâu dài?", thế nào là tội, thế nào là phước, thế nào là thiện, thế nào là ác. Ngài hỏi những câu này nhiều đời nhiều kiếp cho nên khi thành đạo ngài thấu triệt viên mãn lý nhân quả thiện ác, hạnh phúc và đau khổ, ngài chứng ngộ, thấy biết, thông đạt viên mãn, phước đức viên mãn, những việc cần làm đã làm xong viên mãn, hạnh phúc và an lạc của ngài là đi đến Niết-bàn tối thượng vĩnh cửu. Còn mình chỉ muốn vui, hạnh phúc chứ đau khổ không muốn vậy mà mình lại làm những điều đưa đến đau khổ, bất hạnh rồi mình than trời trách đất, oán đời hận người, mình không biết cái gì đưa đến vui, cái gì đưa đến khổ, cái gì là tội, cái gì là phước, cái gì đưa đến bất hạnh đau khổ dài lâu, cái nào đưa đến hạnh phúc an lạc lâu dài, mình không chịu học hỏi thậm chí có học nhưng không hỏi, không để tâm, không tư duy, quán chiếu.
"Ngài đầy đủ với các tướng này, nếu sống tại gia làm vị Chuyển luân Thánh vương... Làm vua, được những gì? Ðại trị tuệ, không có ai bằng Ngài về trí tuệ. Hay không ai hơn Ngài về tài sản thế tục. Làm vua được như vậy. Làm Phật được những gì? Ðược đại trí tuệ, quảng trí tuệ, hỷ tâm trí tuệ, mẫn tiệp trí tuệ, thông nhuệ trí tuệ, yểm ly trí tuệ, không có ai bằng Ngài về trí tuệ hay không có chúng sanh nào hơn Ngài. Làm Phật, Ngài được như vậy". (Trường Bộ Kinh, 30. Kinh Tướng)
Có đầy đủ những nghiệp lành này nên khi mất đi ngài được sanh lên chư thiên, đứng đầu thiên giới, vượt hơn các chư thiên ở mười phương diện, còn sanh cõi người thì đứng đầu nhân giới, còn khi làm Phật cũng không có chúng sanh nào hơn được ngài. Quảng trí tuệ là trí tuệ quảng đại, đại trí tuệ là trí tuệ rộng lớn, hỷ tâm trí tuệ là khi đã thấy biết các pháp nên ngài có tâm hoan hỉ, mẫn tiệp trí tuệ là trí tuệ mau nhanh, sắc bén, không do dự, phân vân, thông tuệ trí tuệ là trí tuệ thông suốt, yểm ly trí tuệ là trí tuệ đưa đến sự chán lìa đối với ngũ uẩn, đối với thế giới
"Trong những ngày quá khứ,
Ngài tha thiết muốn biết,
Ngài tha thiết muốn hỏi,
Yết kiến vị xuất gia,
Khéo nghe và học hỏi.
Chính nhờ hạnh nghiệp ấy,
Ngài chứng được trí tuệ.
Và sanh vào loài Người,
Ngài được da mịn màng.
Các vị chiêm tướng gia,
Hội họp và tuyên bố,
Vị này biết và thấy,
Mọi ý nghĩa tế nhị.
Nếu hạnh không xuất gia,
Sống hành trì như vậy,
Ngài là vị Chuyển luân,
Ngự trị cõi đất này.
Những vị nắm được nghĩa,
Không ai hơn bằng Ngài.
Nếu xuất gia ly dục,
Sống thoát tục sáng suốt;
Chứng được đạo Bồ-đề,
Tuệ tối hảo vô thượng". (Trường Bộ Kinh, 30. Kinh Tướng)
Từ nhiều đời nhiều kiếp ngài đã tu tập về chánh kiến hữu lậu của thế gian, tức là đưa lại hạnh phúc an lạc trong nhân thiên, khi ngài thành tựu Chánh Đẳng Chánh Giác thì ngài chứng ngộ chánh kiến vô lậu xuất thế, tức là nắm vững được nguyên lý này sẽ hạnh phúc an lạc dài lâu trong cõi người, cõi trời, còn khi chứng đắc Thánh trí, thành tựu Chánh Đẳng Chánh Giác thì ngài thành tựu an lạc của Niết-bàn tối thượng vượt ra khỏi tam giới. Nguyên lý sống là phải biết cái nào là thiện, cái nào là ác, cái nào là tội, cái nào là phước, cái nào nên làm, cái nào không nên làm, cái nào đưa đến bất hạnh đau khổ và cái nào đưa đến hạnh phúc an lạc lâu dài, sau đó làm theo những điều tốt lành trọn vẹn thì chứng đắc pháp thiện viên mãn của thế gian, còn khi chứng đắc dưới cội Bồ-đề thì khi đó ngài chứng đắc cái chí thiện xuất thế. Khi ngài dạy Bát Chánh Đạo thì cái đó là chánh kiến hữu lậu và vô lậu, chánh kiến vô lậu, vô vi sẽ đưa đến xuất ly ngũ uẩn, thoát khỏi tam giới, đoạn tận sanh tử, nếu muốn có chánh kiến xuất thế thì trước tiên phải có nền tảng. Tướng hảo tiếp theo của Thế Tôn là sắc hoàng kim, da màu đồng, sáng bóng.
"Này các Tỳ-kheo, trong bất cứ đời trước nào, hiện hữu nào, trú xứ nào, Như Lai đời trước làm Người, không sân hận, hoàn toàn không ảo não, dầu có bị nói nhiều cũng không tức tối, không phẫn nộ, không hiềm khích, không mất bình tĩnh, không hiểu lộ phẫn nộ, không sân hận phiền muộn. Trái lại, Ngài bố thí các đồ che đắp, mang mặc mềm mại, nhẹ nhàng; vải quyên mềm mại, vải bông mềm mại, vải lụa mềm mại, vải len mềm mại. Với tác động... Ngài từ trần từ chỗ kia, thác sanh tại chỗ này, được tướng Ðại Trượng phu này: sắc hoàng kim, da màu đồng, sáng bóng". (Trường Bộ Kinh, 30. Kinh Tướng)
Người không có sân hận sống nhẹ nhàng, bình an biết bao nhiêu, dù bị nói nhiều nhưng Như Lai không sân hận, không phiền muộn, không tức tối, không bị mất bình tĩnh, nếu mà thực tập được như vậy là có da sắc hoàng kim. Hiềm khích là không thích, ghim trong tâm, còn phẫn nộ là biểu hiện ra hành động, lời nói.
"Huỳnh kim mãn nguyệt tướng
Tam-giới độc xưng tôn
Hàng phục nhất thiết ma
Chư thiên giai cung thủ".
Đây là bài tán thán Thế Tôn thường được đọc trong các buổi dâng tấu sớ. Huỳnh kim mãn nguyệt tướng nghĩa là tướng của Đức Phật như trăng tròn sắc vàng, Tam giới độc xưng tôn nghĩa là một mình ngài vượt lên và được tôn trọng trong tam giới, hàng phục nhất thiết ma là tất cả ma quân đều bị ngài hàng phục, chư thiên giai cung thủ nghĩa là tất cả chư thiên phải chắp tay cúi đầu trước ngài. Ngoài ra còn "Như Lai đức tướng, nan tận tán dương" nghĩa là công đức, tướng hảo của Như Lai được tán dương không cùng tận, khen ngợi không bao giờ hết được. Nếu muốn có huỳnh kim mãn nguyệt tướng là không được sân hận, không buồn bã, dù bị nói cũng không được tức tối, không phẫn nộ, không hiềm khích, không mất bình tĩnh, chỉ có tu như vậy mới được huỳnh kim mãn nguyệt tướng.
"Ngài đầy đủ với tướng này, nếu sống tại gia, thành vị Chuyển luân Thánh vương. Làm vua được những gì? Ðược các đồ che đắp, mang mặc mềm mại, nhẹ nhàng; vải quyên mềm mại, vải bông mềm mại, vải lụa mềm mại, vải len mềm mại. Làm Phật được những gì? Ðược các đồ che đắp, mang mặc mềm mại, nhẹ nhàng; vải quyên mềm mại, vải bông mềm mại, vải lụa mềm mại, vải len mềm mại. Làm Phật, Ngài được như vậy". (Trường Bộ Kinh, 30. Kinh Tướng)
Ngoài ra Thế Tôn còn đi bố thí quần áo, chăn mền cho nên nếu làm vua sẽ có mọi loại vải mềm mại, còn khi thành Phật sẽ được cúng dường những đồ che đắp mềm mại, nhẹ nhàng.
"Cương quyết không sân hận,
Ngài sẵn sàng bố thí,
Các loại vải mềm mại,
Các đồ đắp mềm mại.
Trong những đời sống trước,
Ngài cương quyết phân phát,
Như thần mưa tung vải,
Mây móc trên đất liền.
Nhờ hạnh nghiệp như vậy,
Từ trần tại chỗ kia,
Ðược sanh lên cõi Trời,
Hưởng quả báo thiện hạnh.
Tận hưởng thiện báo xong,
Ngài sanh tại nơi đây,
Với thân màu hoàng kim,
Sáng chói như vàng ròng,
Mỹ lệ hùng tráng hơn,
Chẳng khác gì Ðế-thích.
Nếu không muốn xuất gia,
Ngài trị vì đất này,
Nhờ sức mạnh quá khứ,
Ngài được thật đầy đủ,
Mềm mại và tế nhị,
Ðồ che đắp mang mặc.
Nếu Ngài sống đời sống,
Xuất gia, không gia đình,
Kiên trì Ngài tận hưởng,
Quả báo nghiệp quá khứ,
Những điều Ngài đã làm,
Không bao giờ vô hiệu". (Trường Bộ Kinh, 30. Kinh Tướng)
Ngài bố thí như thần mưa tung vải, như mây móc trên đất liền, có bao nhiêu là đem ra bố thí hết, nhờ hạnh nghiệp như vậy nên khi sanh ra ở thế gian thân huỳnh kim sáng chói như vàng ròng, đẹp đẽ hùng tráng như vua trời cho nên có những vị vua gặp ngài một lần liền muốn kết giao huynh đệ, nói rằng nếu không đi tu thì về cai trị đất nước chung với họ. Những người khác nhìn thấy ngài không chớp mắt vì tướng hình của ngài đặc biệt thù thắng siêu việt nhưng chỉ những người biết xem tướng số mới nhìn ra, còn người bình thường chỉ biết đẹp ngoài ra không biết gì nữa cho nên khi ngài đi khất thực có nhiều người không cho, thậm chí còn bị mắng chửi. Để có được thân tướng đẹp đẽ hơn người như vậy là phải trải qua biết bao thời gian tu thành tích tụ thiện nghiệp vậy mà ngài bỏ tất cả đi tu, vào rừng nhịn đói nhịn khát, còn mình có khi nghèo rớt mồng tơi đi tu mà đi chạm vào là cũng tôi, ta, tao, mi, tớ trong khi ngài là thái tử đẹp đẽ lại bỏ hết tất cả đi tu.
"Này các Tỳ-kheo, trong bất cứ đời trước nào, hiện hữu nào, trú xứ nào, Như Lai đời trước làm Người, Ngài làm cho sum họp lại những bà con bạn bè thân tín không gặp nhau lâu ngày, bị đau khổ lâu ngày, làm cho sum họp lại mẹ với con, con với mẹ, làm cho sum họp lại cha với con, con với cha, làm cho sum họp lại giữa anh em với nhau, làm cho sum họp lại giữa anh và chị, giữa chị và em, làm cho hòa hợp lại, sống vui vẻ với nhau. Với tác động... Ngài từ trần tại chỗ kia, thác sanh tại chỗ này với tướng Ðại Trượng phu này là tướng mã âm tàng.
Ngài đầy đủ tướng này, nếu sống tại gia, làm vị Chuyển luân Thánh vương. Làm vua được những gì? Ðược nhiều con, hơn một ngàn người con đều là bậc anh hùng, bậc chiến thắng, dõng kiện, nhiếp phục địch quân. Làm vua, vị ấy được như vậy... Làm Phật được những gì? Ðược nhiều con, sẽ có hàng ngàn người con (xuất gia và tại gia) đều là bậc anh hùng, các bậc vô song, các bậc dõng kiện, nhiếp phục các địch quân. Làm Phật, Ngài được như vậy". (Trường Bộ Kinh, 30. Kinh Tướng)
Tướng mã âm tàng nghĩa là bộ phận sinh dục giống như con ngựa, bình thường là ẩn giấu, đến khi dùng mới hiển lộ. Tướng này Thế Tôn có được là do trong nhiều đời nhiều kiếp ngài làm cho sum họp bà con, bạn bè thân tín, đoàn tụ lại những người bị chia ly, phân tán, chia rẽ. Trên Tivi có chương trình "Như chưa từng có cuộc chia ly", đây là một chương trình rất hay và nhân văn, trong chương trình này người ta đi tìm mẹ con hoặc cha con, anh em, chị em thất lạc nhau mấy chục năm, trong buổi gặp mặt nhau rất xúc động, khóc nức nở. Từ nhiều đời nhiều kiếp ngài làm cho mọi người sum họp lại với nhau, những người nào giận nhau, có hiềm khích thì ngài giảng hòa, ngài giúp tháo gỡ những nút thắt, những nội kết buộc trong tâm, giúp cho hai bên tha thứ, bao dung, sống vui vẻ với nhau. Chúng sanh có nghiệp dễ nói lời chia rẽ, đổ dầu vô lửa cho cháy thêm lên, đó là ác nghiệp, ác pháp, tội lỗi cho nên mình cứ nghĩ mình hiền, sống tốt nhưng nếu không chánh niệm tỉnh giác, không nhận diện ngũ uẩn, không kiểm soát lời nói, đến khi nói xong mới nhận ra là trễ rồi, vì thế mà Thế Tôn giáo giới cho ngài La-hầu-la trước khi nói, trong khi nói và sau khi nói phải suy xét. Mình đừng nói để sanh ra sự chia rẽ, đừng nói để sanh ra hờn mác, đừng nói để gây thêm đổ vỡ, tan nát, hãy nói lời hòa hợp, tương kính, hài hòa, thương mến, bao dung lẫn nhau, trong gia đình có hai vợ chồng mà cự cãi nhau liên tục, anh chị em cứ buồn phiền nhau hoài, đồng nghiệp thì bằng mặt không bằng lòng, những cảm thọ đó làm khó chịu, bức xúc, đi ra vô gặp nhau cũng không ưa, trong khi Thế Tôn là nhiều đời nhiều kiếp, hiện hữu ở chỗ nào, ở trú xứ nào ngài đều là người giảng hòa, làm cho hòa hợp, những người bị chia lìa được hội tụ, được sum họp.
Bây giờ mình tu nhưng có cơ hội về thăm nhà hoặc các Phật tử lên tâm sự chuyện gia đình lục đục thì mình phải tìm cách vỗ về, khuyên bảo mọi người, tìm hiều nguồn cơn rồi hóa giải sự hiểu lầm, sự tức giận, gắn kết mọi người với nhau, giận một ngày đã thấy khó chịu thì huống chi giận một năm, mười năm, những cảm thọ đó đeo đuổi làm mình mệt mỏi, phải giải tỏa những cảm thọ sân hận đó để có những cảm thọ tương kính, thương yêu. Đó là đức hạnh hiền thiện tốt đẹp mà Đức Phật đã tu tập trong nhiều đời nhiều kiếp cho nên trong hội chúng của ngài trong khoảng thời gian ngài thành Chánh Đẳng Chánh Giác ở thế giới này chỉ có vài bất hòa nhỏ thôi. Các vị vua Ba-tư-nặc, A-xà-thế khen ngợi Thế Tôn hết lời, những người lính khi ngủ lại quay đầu về hướng có Thế Tôn trong khi vua ban cho bổng lộc, tiền lương mỗi tháng mà khi ngủ lại đưa chân về phía nhà vua.
"Bạch Thế Tôn, Isidatta và Purana là hai quan giữ ngựa, ăn cơm của con, đi xe của con, sinh sống do con cho, và chính con đem danh vọng lại cho họ. Nhưng họ không hạ mình đối với con như họ hạ mình đối với Thế Tôn. Thuở xưa, bạch Thế Tôn, trong khi hành quân chống với đội quân đối nghịch, và muốn thử thách Isidatta và Purana, hai quan giữ ngựa, con đến ở tại một căn nhà chật hẹp. Rồi bạch Thế Tôn, hai quan giữ ngựa, Isidatta và Purana, sau khi cùng nhau đàm luận về chánh pháp hơn nửa đêm, rồi nằm xuống ngủ, với đầu của họ hướng về phía mà họ được nghe là chỗ Thế Tôn ở và với chân hướng về chỗ con. Bạch Thế Tôn, con suy nghĩ như sau: 'Thật vi diệu thay! Thật hy hữu thay! Hai quan giữ ngựa Isidatta và Purana này ăn cơm của ta, đi xe của ta, sinh sống do ta cho, và chính ta đem danh vọng lại cho họ. Nhưng họ không hạ mình đối với ta như họ hạ mình đối với Thế Tôn. Thật sự những vị này ý thức được một sự tối thắng thù diệu nào trong giáo lý Thế Tôn, một sự thành đạt tuần tự'. Bạch Thế Tôn, đây là pháp truyền thống của con đối với Thế Tôn: 'Thế Tôn là bậc Chánh Ðẳng Giác, Pháp được Thế Tôn khéo giảng, đệ tử chúng Tăng của Thế Tôn khéo tu tập hành trì'". (Trung Bộ Kinh, 89. Kinh Pháp trang nghiêm)
Ngoài ra còn vua A-xà-thế muốn gặp một bậc tu hành đức độ để sám hối tội lỗi giết cha là vua Tần-bà-sa-la, có một vị quan đã dẫn vua đến gặp Thế Tôn. Vua A-xà-thế và đoàn tùy tùng rầm rộ đi đến nơi có Thế Tôn nhưng đến nơi thì vua hoảng hốt nghĩ rằng vị quan kia muốn ám sát ngài vì xung quanh rất tĩnh lặng, vị quan nói nhà vua cứ đi vào. Khi vào đến nơi nhà vua thấy Thế Tôn ngồi sừng sững như núi chúa, xung quanh là một ngàn hai trăm năm mươi vị Thánh Tăng thì nhà vua đã sụp xuống quỳ lạy và phát tâm quy y Đức Phật.
"- Tâu Ðại vương, chính tại vườn xoài này của chúng con, có Thế Tôn, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Chánh Giác, hiện đang trú ngụ với đại chúng Tỳ-kheo một nghìn hai trăm năm mươi vị. Thế Tôn Gotama có tiếng đồn tốt đẹp sau đây lan rộng: 'Ðây là Thế Tôn, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Chánh Giác, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Ðiều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhân Sư, Phật, Thế Tôn'. Ðại vương hãy đến chiêm bái Thế Tôn này. Rất có thể, nhờ chiêm bái Thế Tôn, tâm của Ðại vương được tịnh tín.
- Vậy khanh Jìvaka, hãy cho thắng kiệu voi.
Khi Ajàtasattu, con bà Videhi, vua nước Magadha đi đến không xa vườn xoài, ngài bỗng sợ hãi, kinh hoàng, tóc dựng lên. Lúc bấy giờ Ajàtasattu, con bà Videhi, vua nước Magadha sợ hãi, kinh hoàng, tóc dựng lên, nói với Jìvaka Komàrabhacca:
- Này khanh Jìvaka, người phản ta chăng? Này khanh Jìvaka, người lường gạt ta chăng? Này khanh Jìvaka, ngươi nạp ta cho kẻ thù chăng? Tại sao trong một đại chúng lớn như thế này gần một nghìn hai trăm năm mươi vị, mà không có một tiếng đằng hắng, không có một tiếng ho, không một tiếng ồn?
- Tâu Ðại vương, thần không phản lại Ngài, thần không lường gạt Ngài, tâu Ðại vương, thần không nạp Ngài cho kẻ thù, tâu Ðại Vương, hãy đi thẳng tới; tâu Ðại vương hãy đi thẳng tới. Tại chỗ kia trong căn nhà tròn chỗ có những ngọn đèn đang thắp sáng.
Lúc bấy giờ, Ajàtasattu, con bà Videhi, vua nước Magadha đi cho đến chỗ voi có thể đi được, rồi xuống voi đi đến cửa căn nhà tròn. Khi đến nơi liền nói với Jìvaka Komàrabhacca:
- Này khanh Jìvaka, Thế Tôn ở tại đâu?
- Tâu Ðại vương, vị ấy là Thế Tôn. Tâu Ðại vương, Thế Tôn ngồi dựa vào cột chính giữa, mặt hướng phía Nam, ngồi trước mặt chúng Tỳ-kheo.
Ajàtasattu, con bà Videhi, vua nước Magadha liền tiến đến chỗ Thế Tôn. Khi đến rồi, vua đứng một bên. Sau đi đứng một bên, Ajàtasattu, con bà Videhi, vua nước Magadha nhìn khắp chúng Tỳ-kheo đang yên lặng an tịnh như một hồ nước trong, cảm hứng nói rằng: 'Mong hoàng tử Udàyibhadda (Ưu-đà-di-bạt-đà) cũng được sự trầm lặng như sự trầm lặng của các vị Tỳ-kheo này vậy'". (Trường Bộ Kinh, 2. Kinh Sa-môn quả)
Do nhiều đời nhiều kiếp Đức Phật làm cho sum họp, đoàn tụ, sống vui vẻ với nhau cho nên ngài có tứ chúng hoặc là thất chúng đều hòa hợp, cung kính, sống an vui với nhau. Còn giờ mình có mấy người mà chia phe, chia nhóm, nhóm kia cao, nhóm này thấp, vậy là thất bại rồi.
"Ngài đầy đủ tướng này, nếu sống tại gia, làm vị Chuyển luân Thánh vương. Làm vua được những gì? Ðược nhiều con, hơn một ngàn người con đều là bậc anh hùng, bậc chiến thắng, dõng kiện, nhiếp phục địch quân. Làm vua, vị ấy được như vậy... Làm Phật được những gì? Ðược nhiều con, sẽ có hàng ngàn người con (xuất gia và tại gia) đều là bậc anh hùng, các bậc vô song, các bậc dõng kiện, nhiếp phục các địch quân. Làm Phật, Ngài được như vậy". (Trường Bộ Kinh, 30. Kinh Tướng)
Khi làm vua ngài có phước báo là có nhiều người con đều là anh hùng, còn khi làm Phật sẽ có hàng ngàn Thánh chúng đánh thắng quân địch phiền não. Tăng đoàn có sự cung kính, hòa kính, thương mến thì đại chúng sẽ được an lạc, thanh tịnh, trong sạch, an vui trong sự tu học.
"Thuở xưa trong quá khứ,
Trong nhiều đời tiền thân,
Ngài khiến cho sum họp,
Bà con, bạn, thân tín.
Ðã đau khổ lâu ngày,
Ðã phiêu bạt lâu ngày,
Ngài khiến họ hòa hợp,
Sống hoan hỉ với nhau.
Hạnh này Ngài sanh Thiên,
Hưởng hạnh phúc hỷ lạc,
Chết kia, sanh chỗ này,
Ngài được mã âm tàng.
Ngài có rất nhiều con,
Hơn đến số ngàn vị,
Là những bậc anh hùng,
Chiến thắng nhiếp địch quân,
Ðón chào lời hiếu kính,
Khiến tại gia hoan hỉ.
Nếu xuất gia tu đạo,
Uy lực thắng hơn nhiều.
Số con có nhiều hơn,
Biết vâng lời chỉ giáo.
Dầu tại gia, xuất gia,
Hảo tướng thật rõ ràng". (Trường Bộ Kinh, 30. Kinh Tướng)
Những người đã phiêu bạt lâu ngày, xa cách lâu ngày nên họ giận, họ bị oán hờn, hiềm khích, có khi hiểu lầm nhau thì ngài khiến cho họ hòa hợp lại với nhau, chỉ được cái hạnh tốt lành này thôi ngài đã được sanh lên cõi trời. Những bậc Thánh chúng ngày xưa của Đức Phật rất tuyệt vời, hội chúng của ngài rất hòa hợp, trang nghiêm, cung kính đó là do công đức của ngài tu tập sự đoàn kết, sum vầy, hoan hỉ, an lạc. Trong gia đình, đạo tràng, công ty phải luôn luôn dĩ hòa vi quý, gia hòa vạn sự hưng, thanh tịnh hòa lạc, không để có sự hiềm khích, mâu thuẫn ở chỗ mình ở, không hận không sân với bất kì ai, lấy sự hòa hợp làm báu vật. Gia hòa vạn sự hưng nghĩa là mọi việc trong gia đình đều hưng thịnh, vạn sự nghĩa là muôn việc, sống với nhau hòa hợp sẽ được an vui, an lạc.
Nếu như sống được theo chuẩn này cũng đã có sự an lạc trong sự tu học, sống với tâm rộng mở, tương ái, tương kính, nhìn nhau những ánh nhìn thiện cảm, có những suy nghĩ tốt đẹp về nhau, có những hành động tôn trọng nhau, quý kính nhau với chí nguyện cao cả của sự tu học, của sự từ bỏ, của sự hướng đến đời sống trong sạch, phạm hạnh thanh tịnh, từ bi trí tuệ, đó là đức hạnh cao thượng của một người tu và cũng là tướng hảo của người tu, nét đẹp của người tu, là sự thẩm mỹ của người tu cho nên những đức hạnh này chính là thẩm mỹ tối thượng của Phật giáo, đây là cách làm đẹp của đạo Phật. Trong nhiều đời nhiều kiếp Đức Phật đã làm đẹp cho tự thân mình và làm đẹp cho chúng sanh, đây cũng là chân – thiện – mỹ của một bậc Đa văn Thánh đệ tử.
./.