Thư Viện Linh Quy
← Danh sách

Đạo Lộ Tu Học Tuần Tự 4

2026-03-03 00:53:07
7.12.2020. KINH NIKAYA GIẢNG GIẢI_ ĐẠO LỘ TU HỌC TUẦN TỰ 4_ Kinh Ganaka Moggallana- Trung Bộ III.mp3

Thích Minh Thành

Kính thưa đại chúng, hôm trước chúng ta đang học bài kinh Ganaka Moggallana, bên A-hàm gọi là toán số Mục-liên. Vị Bà-la-hôm hỏi Đức Thế Tôn ngài giảng dạy có trình tự, có đạo lộ, thứ lớp như vậy thì có phải tất cả đệ tử đều chứng ngộ được cứu cánh Niết-bàn hay chỉ có một số chứng ngộ được? Con đường của ngài tuyệt vời, phương pháp giáo dục tốt đẹp, là sơ thiện, trung thiện, hậu thiện, như vậy thì tất cả học với ngài đều chứng ngộ hay chỉ có một số chứng ngộ được thôi. Đức Thế Tôn trả lời một số được chứng ngộ, còn một số không chứng được. Vị Bà-la-môn hỏi tại sao lại như vậy thì Đức Phật hỏi ngược lại ông có biết đường đi đến Vương-Xá không thì Bà-la-môn nói biết. Có người đến hỏi ông muốn đến Vương-Xá phải đi như thế nào thì ông hướng dẫn người đó, nhưng vẫn có những người đi sai và có người đi đúng. Đức Thế Tôn hỏi tại sao ông đã chỉ đường rành rõ, chi tiết, cụ thể, chính xác nhưng vẫn có người đi sai?

-- Thưa Tôn giả Gotama, ở đây, con làm gì được? Con chỉ là người chỉ đường, thưa Tôn giả Gotama.

-- Cũng vậy, này Bà-la-môn, trong khi có mặt Niết-bàn, trong khi có mặt con đường đi đến Niết-bàn, và trong khi có mặt Ta là bậc chỉ đường. Nhưng các đệ tử của Ta, được Ta khuyến giáo như vậy, giảng dạy như vậy, một số chứng được cứu cánh đích Niết-bàn, một số không chứng được. Ở đây, này Bà-la-môn, Ta làm gì được? Như Lai chỉ là người chỉ đường. (Trung Bộ Kinh, 107. Kinh Ganaka Moggallàna)

Chữ "đạo" trong từ Đạo sư có nghĩa là dẫn đường, Như Lai chỉ là Đạo sư thôi, tức là thầy chỉ đường. Mỗi ngày mình lạy lục, cầu xin, cúng kiến, tụng niệm thì đó không phải là lời Đức Phật dạy mà mình phải đi, phải hiểu được ý nghĩa của việc lạy Phật và tụng đọc kinh điển. Người hướng dẫn bảo mình quẹo trái mà mình cứ thích quẹo phải thì mình cũng đến nơi nhưng mà là một nơi khác, không phải đích đến đúng với nơi cần thiết. Có một người khác cũng được hướng dẫn nhưng không đi mà cứ quỳ lạy, lạy từ ngày này qua ngày kia thì có đến đích được không? Cần phải đi đúng theo hướng dẫn mới đến được nơi cần đến, cho nên không phải siêng năng lạy rồi Phật thương cho đến Niết-bàn, muốn đạt đến Niết-bàn thì phải đi con đường Đức Phật đã giảng dạy:

Hãy giữ giới hạnh, hãy sống chế ngự với sự chế ngự của giới bổn, đầy đủ oai nghi chánh hạnh, thấy sự nguy hiểm trong những lỗi nhỏ nhặt, thọ trì và học tập các học giới.

Hãy hộ trì các căn, khi mắt thấy sắc chớ có nắm giữ tướng chung, chớ có nắm giữ tướng riêng.

Hãy tiết độ trong ăn uống.

Hãy chú tâm cảnh giác.

Hãy thành tựu chánh niệm tỉnh giác.

Hãy lựa một chỗ thanh vắng.

Từ bỏ tham ái ở đời, từ bỏ sân hận, từ bỏ hôn trầm thụy miên.

Đoạn trừ năm triền cái.

Đây là con đường tuần tự Đức Phật đã nói để đi đến sự dập tắt hết tất cả toàn bộ khổ uẩn này, tức là đống khổ này. Niết-bàn là sự dập tắt sự tham ái đối với ngũ uẩn, tham ái đối với hình hài, vật chất này, tham ái đối với những cảm giác, hình bóng trong tâm, tham ái đối với những suy nghĩ, nhận thức. Niết-bàn là sự dập tắt sân hận. Niết-bàn là sự dập tắt hoàn toàn vô minh, si mê và bản ngã. Muốn dập tắt những cái đó phải có đạo lộ theo trình tự, phải có con đường tuần tự, không phải nhảy một cái có thể leo lên được lầu cao, dù cho đi thang máy cũng phải đi từ tầng thấp nhất mới lên đến tầng cao nhất vì thế bước đầu tiên phải giữ giới hạnh, hộ trì căn, tiết độ trong ăn uống, giữ gìn tám đức tánh cao đẹp (bát đức). Nếu chúng ta không nhớ, không nắm bắt thì làm sao có thể hành trì trong cuộc sống hằng ngày? Phải tẩy sạch tâm tư khỏi các chướng ngại pháp, tức là tẩy sạch ngũ cái, thấy có dục tham, sân, hôn trầm – thụy miên, trạo cử - hối tiếc, hoài nghi là phải tẩy sạch, diệt tận. Chánh niệm tỉnh giác là đi tới đi lui đều tỉnh giác, nhìn thẳng nhìn quanh đều tỉnh giác, ăn, uống, nhai, nuốt, đều tỉnh giác, đại tiện, tiểu tiện đều tỉnh giác; khi đi, đứng, ngồi, nằm, thức, nói, yên lặng đều tỉnh giác. Sau đó chọn một chỗ thanh vắng để tu tập đoạn trừ năm triền cái, tiếp tục Đức Phật dạy sự chứng nhập từ Sơ thiền đến Tứ thiền, đoạn tận các lậu hoặc, đó là đạo lộ của Đức Phật và chúng ta đối chiếu lại đời sống hằng ngày của mình có làm theo sự chỉ dạy như trong này không.

Mình nghĩ rằng tu là một ngày hai thời công phu trên chánh điện là sai lầm. Phải xem lại trong sinh hoạt hằng ngày có hộ trì căn không, khi đi đứng nói năng có chánh niệm tỉnh giác không, khi ăn uống có tiết độ không, có phát hiện dục tham ái trong khi ăn không, có nhiếp phục dục trong khi ăn không, trong khi ngủ, nói, làm việc có nhìn thấy dục ái tham không, có tác ý tẩy sạch, trừ diệt và đoạn tận không, từ ban ngày hay ban đêm dù là lúc nằm hay ngồi có chú tâm tẩy sạch tâm tư khỏi các chướng ngại pháp không. Đây là vốn liếng để mọi người ra trường, những buổi học cuối rất quan trọng vì thầy đã trao gia tài của bậc thánh (thánh sản) cho các vị, sự tác thành Sa-môn hạnh là tài sản của bậc thánh, nếu không có những cái này thì đời sống xuất gia của mình là trống không, không có lợi ích thậm chí lại có hại. Vì thế Đức Thế Tôn đã nói ta chỉ là vị thầy chỉ đường, dẫn đường.

-- Thưa Tôn giả Gotama, đối với những người không phải vì lòng tin, chỉ vì sinh kế, xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình, những người xảo trá, lường gạt, hư ngụy, mất thăng bằng, cao mạn, dao động, nói phô tạp nhạp, không hộ trì các căn, ăn uống không tiết độ, không chú tâm cảnh giác, thờ ơ với Sa-môn hạnh, không tôn kính học tập, sống quá đầy đủ, uể oải, đi đầu trong thối thất, từ bỏ gánh nặng viễn ly, biếng nhác, tinh cần thấp kém, thất niệm, không tỉnh giác, không định tâm, tâm tán loạn, liệt tuệ, câm ngọng; Tôn giả Gotama không thể sống với những người như vậy. (Trung Bộ Kinh, 107. Kinh Ganaka Moggallàna)

Tức là người này đi tu vì miếng ăn, vì ở ngoài sống nghèo khổ, thiếu thốn cho nên đi tu vào chùa không cần lo miếng cơm manh áo, vì thế đi tu là vì sinh kế.

Còn những Thiện gia nam tử vì lòng tin xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình, không xảo trá, không lường gạt, không hư ngụy, không mất thăng bằng, không cao mạn, không dao động, không nói phô tạp nhạp, hộ trì các căn, ăn uống có tiết độ, chú tâm tỉnh giác, không thờ ơ với Sa-môn hạnh, tôn kính học tập, sống không quá đầy đủ, không uể oải, từ bỏ thối thất, đi đầu trong viễn ly, tinh cần, tinh tấn, chánh niệm, an trú, tỉnh giác, định tĩnh, nhứt tâm, có trí tuệ, không câm ngọng; Tôn giả Gotama sống hòa hợp với những vị ấy. (Trung Bộ Kinh, 107. Kinh Ganaka Moggallàna)

Đây là lời nhận định của ngoại học Bà-la-môn, tức là một người ở đạo khác nhận định về Đức Thế Tôn.

Ví như Tôn giả Gotama, trong các loại căn hương, hắc chiên đàn hương được gọi là tối thượng; trong các loại lõi cây hương, xích chiên đàn hương được gọi là tối thượng; trong các loại hoa hương, vũ quý hương (jasmine) được gọi là tối thượng. Cũng vậy là lời khuyến giáo của Tôn giả Gotama được xem là cao nhất trong những lời khuyến giáo hiện nay. (Trung Bộ Kinh, 107. Kinh Ganaka Moggallàna)

Đây là lời tán thán của vị Bà-la-môn đối với Đức Phật. Vi diệu nghĩa là tuyệt vời.

Thật vi diệu thay, thưa Tôn giả Gotama! Thật vi diệu thay, thưa Tôn giả Gotama! Như người dựng đứng lại những gì bị quăng ngã xuống, phơi bày những gì bị che kín, chỉ đường cho những người bị lạc hướng, đem đèn sáng vào trong bóng tối để những ai có mắt có thể thấy sắc; cũng vậy, Chánh pháp đã được Tôn giả Gotama dùng nhiều phương tiện trình bày giải thích. Con xin quy y Tôn giả Gotama, quy y Pháp và chúng Tỳ-kheo Tăng. Mong Tôn giả Gotama nhận con làm đệ tử, từ nay cho đến mạng chung, con trọn đời quy ngưỡng. (Trung Bộ Kinh, 107. Kinh Ganaka Moggallàna)

Đây mới thật sự là câu quy y thời Đức Phật còn câu quy y mình đang tụng trong chùa là của Trung Quốc, đây là câu nói của những người ở đạo khác, họ tôn kính Đức Phật, họ khen ngợi Đức Phật bằng tất cả tấm lòng. Nghi thức mình đang tụng đọc hiện tại là của Ngọc Lâm quốc sư từ đời Thanh ở Trung Quốc soạn ra. Trở lại vấn đề không phải vì lòng tin mà xuất gia, xuất gia vì sinh kế, nhiều gia đình dưới quê nghèo khó nên gửi con em vào chùa để chùa nuôi cho ăn học, đến khi học xong lớp 12 lại ra đời. Những xứ như Nepal có nhiều người nghèo khổ, cha mẹ cũng gửi con cháu vào tu học rất nhiều, chẳng những không lo sinh kế mà còn được ăn học và còn được cung kính, gia đình hãnh diện có người con đi tu nhưng không biết thật sự có tu hay không cho nên việc nhận người xuất gia và thọ giới phải cẩn thận, không phải số lượng nhiều là tốt vì từ thời Đức Phật đã có hiện trạng này chứ không phải bây giờ mới có, những người này không có mục đích muốn giải thoát. Những người xảo trá, lường gạt, hư ngụy, mất thăng bằng, cao mạn, dao động, nói phô tạp nhạp, không hộ trì các căn có rất nhiều, nếu không ứng dụng theo lời Phật dạy một cách nghiêm túc là mình bị dính những cái này rất nhiều, không chú tâm cảnh giác, thờ ơ với Sa-môn hạnh. Đọc những lời này phải phát khởi cảm giác xấu hổ, tàm quý, lo lắng, sợ hãi. Như thế nào là thờ ơ với Sa-môn hạnh?

Này các Tỳ-kheo, có ba hạnh Sa-môn cần phải làm này của Sa-môn. Thế nào là ba?

Thọ trì tăng thượng giới học, thọ trì tăng thượng định học, thọ trì tăng thượng tuệ học. Ðây là ba hạnh Sa-môn cần phải làm này của Sa-môn. Ở đây vậy, này các Tỳ-kheo, hãy học tập như sau: "Sắc bén sẽ là ước muốn chúng ta để thọ trì tăng thượng giới học. Sắc bén sẽ là ước muốn chúng ta để thọ trì tăng thượng định học. Sắc bén sẽ là ước muốn chúng ta để thọ trì tăng thượng tuệ học". Như vậy, này các Tỳ-kheo, các Thầy cần phải học tập.

Ví như, này các Tỳ-kheo, một con lừa đi theo sau lưng một đàn bò nghĩ rằng: "Ta cũng là con bò, ta cũng là con bò", nhưng nó không có màu sắc giống như con bò. Nó không có tiếng giống như con bò. Nó không có chân giống như con bò. Tuy vậy, nó vẫn đi theo đàn bò, nghĩ rằng: "Ta cũng là con bò, ta cũng là con bò". Cũng vậy, này các Tỳ-kheo, ở đây Tỳ-kheo đi theo sau lưng chúng Tỳ-kheo, nghĩ rằng: "Ta cũng là Tỳ-kheo, ta cũng là Tỳ-kheo". Nhưng vị ấy không có ước muốn thọ trì tăng thượng giới học như các Tỳ-kheo khác. Vị ấy không có ước muốn thọ trì tăng thượng định học như các Tỳ-kheo khác. Vị ấy không có ước muốn thọ trì tăng thượng tuệ học như các Tỳ-kheo khác. Tuy vậy, vị ấy vẫn đi theo sau lưng chúng Tỳ-kheo, nghĩ rằng: "Ta cũng là Tỳ-kheo, ta cũng là Tỳ-kheo". (Tăng Chi Bộ, Chương III. Ba Pháp, IX. Phẩm Sa-Môn, 81.- Sa Môn)

Nếu không biết Sa-môn hạnh là gì thì làm sao thành tựu Sa-môn hạnh? Phải có ước muốn sắc bén tăng thượng giới học, ước muốn sắc bén tăng thượng định học tức là thiền định, ước muốn sắc bén tăng thượng tuệ học. Nếu không có ba ước muốn đó sẽ giống như con lừa đi theo con bò, không có màu sắc, âm thanh của con bò nhưng nó vẫn đi theo đàn bò, nghĩ rằng: "Ta cũng là con bò, ta cũng là con bò". Đi theo sau chúng Tỳ-kheo mà không có ước muốn sắc bén để phát triển giới đức, giới hạnh, không có ước muốn mãnh liệt để đạt được tâm thanh tịnh, thiền định, không có ước muốn sắc bén để thành tựu thánh trí huệ, tri kiến của bậc thánh, thấy đúng về thân tâm thì vẫn đi theo sau lưng chúng Tỳ-kheo, nghĩ rằng: "Ta cũng là Tỳ-kheo, ta cũng là Tỳ-kheo" nhưng vị ấy không phải là Tỳ-kheo.

Mình kiểm tra lại xem bản thân có ước muốn tăng thượng giới chưa? Ước muốn của mình có mãnh liệt đối với nội tâm tịch tịnh chưa? Một ngày mình ngồi thiền mấy lần, một lần được bao lâu? Một ngày niệm giới mấy lần, tác ý, soi chiếu về giới hạnh được mấy lần? Tự mình dò xét mình, tự mình đi đến mình thì đó là Sa-môn hạnh. Đức hạnh của người tu, hành vi của người xuất gia, việc làm của một người khất sĩ gọi là Sa-môn hạnh, cho nên khi thờ ơ với Sa-môn hạnh, không tôn kính học tập, sống quá đầy đủ, ngủ đến nỗi híp mắt, Đức Thế Tôn tu khổ hạnh càng ngày càng teo ốm lại còn mình càng tu thì càng phát phì ra, tu chơn chánh một ngày ăn một bữa còn mình ăn một ngày đủ ba bữa, phải tự xem xét lại giới đức, giới hạnh của mình. Uể oải, đi đầu trong thối thất, từ bỏ gánh nặng viễn ly, đời tu của chúng ta thật sự là sự viễn ly vì hạnh viễn ly rất quan trọng, người tu không có hạnh này thì không thể thành tựu, cả thân tâm đều phải viễn ly. Biếng nhác, tinh cần thấp kém, thất niệm, không tỉnh giác, không định tâm, tâm tán loạn, liệt tuệ, câm ngọng, tự kiểm tra lại mình có phạm vào những điều này không? Mình có tự lừa dối mình không? Mình nói mình không giận nhưng mình giận, mình nói mình không tham nhưng mình lại tham, mình hay nói tu để diệt ngã nhưng bản ngã càng ngày càng lớn. Trong bốn giới của lời nói thì trong kinh Nikāya là nói lời phù phiếm, phù phiếm là nói không có ý nghĩa, không có lợi ích, không liên hệ đến mục đích của đời sống phạm hạnh chính là đoạn tận tham sân si, những lời nào không liên hệ đến mục đích đều bị coi là lời phù phiếm. Câm ngọng phải được hiểu sâu sắc hơn ở chỗ không biết nói pháp, không chịu nói pháp, không câm ngọng nghĩa là biết nói pháp thì những vị này sống hòa hợp được với Thế Tôn. Sau đó vị Bà-la-môn này tán thán Đức Phật bằng cách đem ra các loại hương, gỗ để so sánh với lời khuyến giáo của Phật, được xem là cao nhất trong những lời khuyến giáo hiện nay, lời của Đức Thế Tôn trong thời đại đó không có bất cứ lời của các vị khác có thể so sánh được cho nên vị Bà-la-môn này lạy Đức Phật và xin quy y.

Chúng ta sẽ nghe thêm vài bài kinh với tính chất là cảnh sách của người xuất gia để chúng ta có động lực mạnh mẽ, tinh tấn, tinh cần, nỗ lực hơn trong sự tu học.

Khó làm, khó kham nhẫn,

Thiếu trí, hành Sa-môn,

Chỗ kẻ ngu thối đọa,

Chỗ ấy đầy chướng ngại.

Bao ngày hành Sa-môn

Nếu tâm không chế ngự,

Mỗi bước, phải sa đọa,

Nô lệ cho suy tư,

Như rùa rút chân cẳng,

Trong mai rùa của mình.

Vị Tỳ-kheo cũng vậy,

Thâu nhiếp mọi suy tư,

Không tham dính vật gì,

Không làm hại người nào,

Hoàn toàn thật tịch tịnh,

Không chỉ trích một ai.

(Tương Ưng Bộ, Tập I - Thiên Có Kệ, Chương I. Tương Ưng Chư Thiên, II. Phẩm Vườn Hoan Hỷ, VII. Khó Làm (hay Con rùa))

Đoạn kinh này cho chúng ta biết rằng hạnh của người tu khó làm, khó chịu đựng. Người xuất gia thiếu trí huệ sẽ bị thối đọa, lùi lại và rơi xuống, sẽ gặp nhiều chướng ngại, khổ đau. Khi mình ở trong chùa, trong đời sống tu tập mà tâm không chế ngự 6 căn thì mỗi bước đi đều rơi xuống chỗ sa đọa. Làm nô lệ cho suy tư tức là bị suy nghĩ dẫn dắt, thao túng, xâm chiếm, áp đảo và mình là nô lệ cho suy nghĩ (hành uẩn), bị suy nghĩ làm chủ chứ không làm chủ suy nghĩ. Ở đây Đức Phật lấy hình ảnh con rùa Thâu nhiếp mọi suy tư, Không tham dính vật gì, Không làm hại người nào, tức là không tham sân, Hoàn toàn thật tịch tịnh, Không chỉ trích một ai.

Qua bài học Đạo Lộ Tuần Tự tu học thì mình học được gì, cảm nhận như thế nào về lời dạy của Đức Phật?

Sư cô: Mô Phật, kính bạch trên thầy và sư huynh đệ. Con xin được phát biểu cảm nghĩ khi được học bài Kinh Ganaka Moggallàna. Con thấy Đức Phật giảng dạy rất rõ ràng, ở ngoài thế tục một công trình gì hình thành nên cũng có sự tuần tự, trong đạo lộ của sự tu học để đạt được Niết-bàn giải thoát cũng có đạo lộ tuần tự. Khi tìm hiểu về điều này thì con thấy Đức Phật giảng rất rõ ràng, sau khi thành tựu giới, phải hộ trì căn, sau khi hộ trì căn phải biết tiết độ ăn uống, tiếp theo phải chú tâm cảnh giác, chánh niệm tỉnh thức, tham muốn đời sống viễn ly là tìm nơi thanh vắng thực hiện thiền định, cuối cùng là loại trừ năm triền cái để đạt được các tầng thiền và đạt được sự giải thoát. Con có sự liên kết là theo đúng Sa-môn hạnh sẽ đi từ giới – định – tuệ, lấy nền tảng cơ bản là giới, sau đó là định và tuệ. Khi học như vậy con xem lại đời sống tu tập chính mình thì con nhận thức rằng khi được thầy chia sẻ bài kinh này thì con rất khát ngưỡng đi trên con đường này để đạt đến sự giải thoát nhưng trong việc hộ trì hay đời sống tu tập còn nhiều yếu kém nên nhân bài học này con xin tri ân thầy đã tạo điều kiện để con biết đến bài kinh này, lấy đó là tư lương trên con đường tu tập. Mô Phật, con xin cảm ơn thầy.

Sư Phụ: Qua bài kinh này và những điều Đức Phật đã dạy thì mọi người cảm nhận như thế nào, điều gì đọng lại trong tâm tư sau khi học bài kinh này? Chỗ nào là chỗ mình tâm đắc? Có suy nghĩ gì về đời sống tu tập hiện nay của chúng ta và tự thân mình.

Sư cô: Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật. Kính bạch trên thầy và toàn thể đại chúng. Sau khi học xong bài kinh này con có điều tâm đắc đó là khi mới bước chân vào đạo Phật và sau khi tiếp xúc lâu dài thì con có tâm dựa dẫm vào Phật và cầu xin quá nhiều nhưng lại không thực hành theo lời Phật dạy. Sau bài kinh này con hiểu ra rằng Đức Phật chỉ là người chỉ đường cho mình và tự mình phải bước đi trên con đường đó, không thể cứ mãi cầu xin, mong muốn một ai đó giúp mình mà chỉ có thể tự mình đi, tự mình chứng ngộ, không ai có thể tự giúp mình bằng chính mình. Con xin hết.

Sư Phụ: Mình đã phá được mấy triền trong năm triền cái? Mình có cảm nhận như thế nào trong việc hộ trì căn, liên hệ đến thực tế đời sống tu tập hiện nay của tự thân chúng ta.

Sư cô: Mô Phật, kính bạch thầy cùng quý sư cô. Con xin phát biểu cảm nghĩ về bài học này, con nghĩ người xuất gia cần chánh niệm tỉnh giác, thực hành hạnh thiểu dục tri túc để tiết độ trong ăn uống, không tham dục để đi tìm cầu. Nếu cứ đi tìm cầu theo bên ngoài sẽ không có thời gian tu học thì trí tuệ không được viên mãn, người tu phải có trí tuệ mới giải thoát được, không có trí tuệ cứ tham đắm vào ngũ dục, tìm cầu để thỏa mãn ước muốn làm tâm buông lung, không có thanh tịnh, không có thời gian tu học, không có thời gian thiền định, lúc nào cũng nghĩ đến việc thỏa mãn ước muốn, muốn cung kính thì sẽ không thành tựu được người xuất gia.

Sư cô: Nam mô A-di-đà Phật, kính bạch thầy cùng đại chúng. Suy nghĩ của con giống sư cô khi nãy, khi chúng ta đã vào xuất gia rồi, duyên mình ở trú xứ nào thì chúng ta nên cố gắng ở trú xứ đó chứ đừng ở nơi này lại hướng đến nơi khác thì cuối cùng đời tu của mình không có chỗ trụ lại. Ngay ở trú xứ nào thì chúng ta phải cố gắng làm hết bổn phận của người xuất gia ở trú xứ đó, hoàn thành thời khóa tu tập, công quả theo sức lực sẽ có công đức cộng với sức lực tu hành thì mới có thể trả nợ cho Đàn-na tín thí, công ơn thầy tổ hoặc y chỉ sư mình đang tu tập.

Sư cô: Mô Phật, kính bạch trên thầy cùng đại chúng. Sau khi được thầy giảng giải bài kinh này, khi về trú xứ con có thực hành tiết độ trong ăn uống, khi đó tham dục sanh khởi rất nhiều. Lúc đầu con nghĩ mình làm được dễ dàng nhưng đến khi thực hành rồi mới thấy được khó khăn, vì tập quán lâu đời của mình đã quen rồi nên khi tiết chế lại thì bị thúc giục trong tâm. Khi chưa nhai hết cơm đã thúc giục gắp đồ ăn tiếp theo, đến nay con vẫn chưa thực hành thành công tiết độ trong ăn uống, con sẽ cố gắng thực hành các pháp còn lại. Mô Phật, con xin hết.

Sư Phụ: Đó mới là sự thực tập, phải đem lời kinh của Đức Phật, những pháp hành đó ứng dụng vào đời sống, phải nhìn thấy được dục tham ái vận hành như thế nào. Mọi người thường có suy nghĩ ăn thì có gì mà học nhưng đến khi bắt tay vào thực hành sẽ thấy khó như thế nào.

Sư cô: Mô Phật, kính bạch trên thầy cùng đại chúng. Sau khi học bài kinh thầy giảng thì con thấy những điều Đức Phật dạy rất thực tế. Thứ nhất là trong kinh nói phải thấy sự nguy hiểm trong các lỗi nhỏ nhặt, khi về con cũng đọc đi đọc lại thì con nhận ra những lỗi mình thường xem là nhỏ nhặt nhưng những lỗi ấy dẫn đến những sai lầm rất lớn, ví dụ việc ăn uống mình nghĩ là nhỏ nhặt nhưng thực ra không nhỏ nhặt, vừa ngồi vào bàn ăn là đã ăn bằng mắt rồi, mình nhìn tất cả các món rồi lựa món hợp khẩu vị rồi món đó thôi, ăn ngon lại cứ ăn hết phần người khác, nhiều khi trong miệng nhai chưa hết thì tay lại gắp thêm vào bát. Sau khi học bài này trong bữa ăn con ăn chậm lại, sau khi ăn hết thì con mới gắp chứ không như lúc đầu là cứ gắp hết món mình thích cho vào bát ăn một lần, ăn như thế thì cứ ăn đầy bụng cũng không thấy ngon, ăn xong lại không nhớ lúc trưa đã ăn món gì, ngày nào cũng ăn như thế thì trong bữa ăn đáng lẽ mình chánh niệm thì mỗi bữa ăn là một thời tu nhưng cho là nhỏ nhặt nên không tu được gì hết. Nếu chú ý thì một ngày mình tu được tới ba lần trong khi ăn, nên con nghĩ ngày này qua ngày khác thì tâm mình cũng sẽ chậm lại, đằm thắm lại, như vậy thì mình sẽ có thói quen quan sát nội tâm nhiều hơn, khi có ý niệm khởi lên sẽ nhận biết được nó, còn sống vội quá thì có gì khởi lên mình không nhận biết được, không kiềm được việc mình làm đến lúc dừng lại thì đã muộn, còn tâm chậm lại thì mình sẽ dừng lại, tránh việc hành động hay nói năng đụng chạm người khác gây ra bất hòa. Tu dần dần thì những lỗi nhỏ nhặt sẽ không dẫn đến những sai lầm lớn, theo con là như vậy.

Sư Phụ: Đại chúng nghe thêm bài Cách Ăn Của Đức Phật, tu là tu trong những cái nhỏ nhặt chứ không phải tu trong những chuyện lớn lao mà bỏ qua những cái nhỏ này.

Sư cô: Kính bạch thầy, con xin có ý kiến của con. Những việc rất nhỏ nhưng cũng sẽ đem đến tổn hại cho chính mình và mọi người.

Sư Phụ: Những điều nhỏ nhặt đó sẽ trở thành phép màu.

Nguyện đem công đức này hướng về khắp tất cả đệ tử và chúng sanh đều trọn thành Phật đạo.

./.