Thư Viện Linh Quy
← Danh sách

KINH VÍ DỤ CON RẮN 1 - Các Dục Vui Ít Khổ Nhiều - Lo sợ, nguy hiểm càng nhiều

2026-03-03 00:53:07
Nikāya Giảng Giải

Các Dục Vui Ít Khổ Nhiều

Lo Sợ Nguy Hiểm Càng Nhiều!

KINH VÍ DỤ CON RẮN 1 - TRUNG BỘ

Thích Minh Thành

MỤC LỤC

TOC \o "1-3" \h \z \u I.Thế Tôn ví dụ về các dục PAGEREF _Toc129261514 \h 1

II.Đức Phật khai thị Arittha PAGEREF _Toc129261515 \h 9

III.Ví dụ con rắn PAGEREF _Toc129261516 \h 13

IV.Ví dụ chiếc bè PAGEREF _Toc129261517 \h 17

V.Trình pháp PAGEREF _Toc129261518 \h 19

Thế Tôn ví dụ về các dục

Chúng ta cùng tìm hiểu bài Kinh Ví Dụ Con Rắn, Trung Bộ Kinh, đây là bài kinh chứa rất nhiều pháp nghĩa sâu sắc mà Đức Phật day.

Một thời Thế Tôn ở Savatthi (Xá-vệ), tại Jetavana (Kỳ-đà Lâm), vườn ông Anathapindika (Cấp Cô Ðộc).

Lúc bấy giờ, Tỷ-kheo tên là Arittha, xưa làm nghề huấn luyện chim ưng, khởi lên ác tà kiến như sau: "Theo như ta hiểu pháp Thế Tôn thuyết giảng, khi thọ dụng những pháp được Thế Tôn gọi là chướng ngại pháp, thật sự không có chướng ngại gì".

Vị Tỷ-kheo Arittha khởi lên cách nhìn sai lầm, lệch lạc, xấu ác, cho rằng những gì Đức Thế Tôn gọi là chướng ngại pháp (tức là những điều Đức Phật ngăn cấm, xem đó là chướng ngại trong sự tu hành) thì vị này lại nghĩ mình vẫn thọ dụng được, những điều đó không có gì là chướng ngại.

Một số đông Tỳ-kheo sau khi nghe như vậy, liền đi đến chỗ Arittha xác nhận lại:

-- Này Hiền giả Arittha, có đúng sự thật rằng, Hiền giả khởi lên ác tà kiến như sau: " Theo như tôi hiểu pháp Thế Tôn thuyết giảng, khi thọ dụng những pháp được Thế Tôn gọi là chướng ngại pháp, thật sự không có chướng ngại gì "?

-- Thật sự là vậy, chư Hiền. Theo như tôi hiểu... không có chướng ngại gì.

Các thầy Tỳ-kheo muốn Arittha từ bỏ tà kiến đó nên liền cật vấn, vấn nạn và thảo luận như sau:

--"Hiền giả Arittha, chớ nói như vậy, chớ xuyên tạc Thế Tôn. Xuyên tạc Thế Tôn là không tốt. Thế Tôn không có nói như vậy. Hiền giả Arittha, Thế Tôn đã dùng nhiều pháp môn thuyết chướng đạo pháp. Và những ai thọ dụng chúng tự đủ bị chướng ngại.

Các thầy Tỳ-kheo nói Arittha không được xuyên tạc Đức Phật, Đức Phật không dạy như vậy, mà Ngài đã dùng nhiều hình ảnh, ví dụ, cách thức để nói các dục là chướng ngại, chướng đạo. Người nào thọ dụng chúng sẽ “tự đủ bị chướng ngại”, tức là người nào thọ dụng những thứ đó sẽ bị đầy đủ tất cả các chướng ngại.

Thế Tôn đã thuyết các dục vui ít, khổ nhiều, não nhiều, do vậy nguy hiểm càng nhiều hơn.

Các dục ở đây bao gồm: sắc đẹp, âm thanh dễ chịu, mùi thơm, thức ăn ngon, sự xúc chạm êm ái, khả lạc, khả hỷ, khả ái, liên hệ đến dục, hấp dẫn. Thế Tôn dạy năm đối tượng này là vui ít, khổ nhiều; phiền não, buồn phiền, lo âu, khổ đau nhiều; nguy hiểm càng nhiều hơn… nếu thọ dụng chúng. Câu “Thế Tôn đã thuyết các dục vui ít, khổ nhiều, não nhiều, do vậy nguy hiểm càng nhiều hơn” là câu kinh để chúng ta thiền quán. Các dục vui thì rất ít, khổ thì nhiều, đầy buồn đau, chứa đựng biết bao những hiểm họa, nguy hiểm, tai hại cùng những khổ nạn, ách nạn, hiểm nạn trong những tham muốn này.

Thế Tôn đã thuyết các dục được ví như khúc xương... Thế Tôn đã thuyết các dục được ví như một miếng thịt... Thế Tôn đã thuyết các dục được ví như bó đuốc cỏ khô... Thế Tôn đã thuyết các dục được ví như hố than hừng... Thế Tôn đã thuyết các dục được ví như cơn mộng... Thế Tôn đã thuyết các dục được ví như vật dụng cho mượn... Thế Tôn đã thuyết các dục được ví như trái cây... Thế Tôn đã thuyết các dục vọng được ví như lò thịt... Thế Tôn đã thuyết các dục vọng được ví như gậy nhọn... Thế Tôn đã thuyết các dục được ví như đầu rắn, vui ít khổ nhiều, não nhiều và do vậy, nguy hiểm càng nhiều hơn".

(Kinh Trung Bộ I, 22. Kinh Ví Dụ Con Rắn)

Những hình ảnh Thế Tôn đưa ra là để cho chúng ta quán chiếu, tác ý về các dục

Như miếng thịt

Thế Tôn thuyết các dục như một miếng thịt và bị các con thú tranh giành với nhau. Con này thấy miếng thịt đó là ngon thì những con khác cũng như vậy, cho nên chúng sẽ cấu xé nhau để giành miếng thịt đó. Trong thế giới loài vật, nhiều con vật đi tìm mồi, không phải loài mạnh, không phải là hổ, báo, sư tử, cọp beo; khi vừa tìm được mồi thì lại gặp loài khác mạnh hơn, chẳng hạn như gặp phải chim ưng, đại bàng bay ngang gắp miếng thịt đi, thậm chí có khi gắp luôn cả con vật yếu thế đó. Các dục cũng giống như miếng thịt đó vậy.

Cũng vậy, trong cuộc đời này, không ai tự nhiên mang những gì ngon, rẻ, bổ, đẹp đến cho mình; cho nên phải cẩn thận trong đó có chất độc, chất gây nghiện, thuốc mê. Không ai tự nhiên cho chúng ta nn món đồ đẹp, đồ tốt, vì vậy, phải có trí tuệ để nhìn ra sự thật. Người thế gian thường bị lòng tham làm cho mờ tối, ngu muội. Nhiều người ở vùng sâu vùng xa bị lừa “mua đồ 0 đồng”, đưa một ít tiền trước sau đó sẽ trả lại, họ tin nên đưa tiền và sau đó bị lừa mất hết. Do bị đánh vào lòng tham mà rất nhiều người bị lừa đảo, cho nên, tham là thâm, tham là chết.

Đó chính là giải thích cho ví dụ các dục là miếng thịt, vui ít, khổ nhiều, não nhiều, do vậy nguy hiểm càng nhiều hơn.

Như khúc xương

Năm thứ sắc, thanh, hương vị xúc được Đức Phật ví dụ như khúc xương, người bán hàng đã lóc hết phần thịt, rồi quăng bỏ khúc xương đi, trên đó chỉ còn dính một chút máu nhưng những con chó nhào lại táp. Có ví dụ Đức Phật ví dụ dục như khúc xương khô; trong đời thực hiện nay còn có những khúc xương bằng nhựa… những khúc xương này không có thịt, không có mùi vị, không có chất bổ, không có gì ngon nhưng những con chó thấy là nhào vào cắn xé, nhưng chỉ thêm mỏi mệt, chảy nước dãi chứ không được gì.

Bằng chứng thực tế là những người mê đắm trong dục lạc chỉ còn lại tấm thân tàn ma dại. Trăm ngàn người xét nghiệm bị dương tính với ma túy, thậm chí có những thanh thiếu niên trẻ đẹp, con nhà giàu nhưng bị sa đọa, trụy lạc, đam mê, nghiện ngập; cuối cùng chỉ còn lại tấm thân tàn ma dại như một bộ xương.

Lời Đức Phật nói hơn 2.600 năm trước nhưng giá trị vẫn vĩnh hằng, bất diệt cho đến ngày nay. Chúng sanh chỉ mải mê chạy theo các dục thì cuối cùng chỉ còn lại một tấm thân tàn và một bộ xương khô, thậm chí có thể mất mạng. Vì chạy theo những thứ ham muốn, ưa thích mà đưa bản thân vào cảnh vô cùng nguy hiểm; nhưng vì vô minh, không thấy không biết mà cứ ham thích để rồi vui ít khổ nhiều, buồn đau nhiều, nguy hiểm lại càng nhiều hơn.

Chính vì vậy, giáo pháp ly tham diệt dục là giáo pháp tối thượng của bậc Thánh, kết hợp với Chánh tri kiến thì mới diệt được tận cùng tất cả những dục, tham, ái, vô minh, như vậy mới có thể chấm dứt khổ. Bằng không, chúng ta cứ mãi chạy theo những khúc xương khô, chỉ cần có người quăng ra khúc xương là huynh đệ có thể tương tàn, không nhìn mặt nhau; vợ chồng có thể ly tán vì một chút máu tanh dính trong khúc xương kia. Đó là cách quán các dục giống như khúc xương khô.

Như bó đuốc cỏ khô

Đức Thế Tôn ví các dục như bó đuốc cỏ khô. Bó đuốc bằng cỏ cháy rất nhanh, chỉ cháy một chút là cháy đến tay người đang nắm. Người chạy theo các dục vọng, tham muốn cũng giống như đang cầm bó đuốc cỏ khổ, chỉ chốc lát là nó cháy vào tay, không kéo dài được lâu, cũng như “các dục vui ít, khổ nhiều, não nhiều, do vậy nguy hiểm càng nhiều hơn”. Chúng ta cần ghi nhớ thật kỹ điểu này để quán chiếu. Mỗi khi tâm ham thích, hướng ngoại, đeo đuổi hết thứ này đến thứ kia thì lấy câu này ra nhắc nhở bản thân; đưa vào tâm, đưa vào trí, đưa vào tuệ những câu kinh này. Khi học được những trí tuệ này thì cuộc đời mình sẽ đổi khác.

Như hố than hừng

Thế Tôn nói các dục như hố than hừng, khi rơi xuống đó thì mất mạng, từ chết cho đến bị thương. Nhưng do chúng sanh không thấy không biết nên cứ ham thích, khoan khoái nên nước mắt cứ tiếp tục rơi, máu cứ tiếp tục đổ, những dòng nước mắt tận cùng thương đau cứ chảy mãi, chẳng thể cạn dòng, cứ mãi khóc than đau khổ không thể dừng.

Vừa rồi, ở phố đi bộ Nguyễn Huệ suýt nữa cũng xảy ra tai nạn giẫm đạp, nhiều người không thở được nên bị khiêng ra ngoài do chen chút đông người. Dù rất nhiều chuyện tương tự đã xảy ra trên thế giới, đặc biệt là ở Hàn Quốc vừa rồi, thế nhưng chúng ta vẫn chen chút tìm kiếm những cái vui đó trong biển người, để rồi không thở được, phải gào khóc, cầu cứu để được khiêng ra ngoài. Chỉ vì ham muốn, ưa thích một chút cảm giác mà phải chịu nóng bức, mệt mỏi, nhiệt não.

Những hình ảnh ví dụ, những trí tuệ này chúng ta phải nghiền ngẫm cho thật sâu sắc. Luôn luôn an trú, quán chiếu, tư duy, suy nghĩ, chiêm nghiêm cho thật thẩm thấu. Phải sống được trong trí tuệ, trong sự thấy biết, trong lời dạy của bậc tối tôn tối thượng Chánh Đẳng Chánh Giác. Luôn nhìn đời như vậy thì thần chết không thể bắt gặp.

Như lầu sò chợ bể

Như bọt nước trôi sông

Nếu nhìn đời như thế

Thần chết có hề chi.

(Kinh Pháp cú, phẩm Thế gian, kệ 170)

Khi nhìn thấy được những sự ham thích, khoan khoái trong năm dục trưởng dưỡng – sắc, thanh, hương, vị, xúc này là những thứ khổ đau, buồn đau, sầu đau. Chỉ có giành giật, cấu xe, nhai nuốt, làm khổ cho nhau chứ không có gì vui. Khi nhìn được như vậy thì tâm hướng ra để nhàm chán, ly tham, viễn ly, từ bỏ, xuất ly; không chạy theo những đám đông bên ngoài, đây là nói về phần thân. Quan trọng nhất là phần tâm, vì có khi thân đã viễn ly nhưng tâm chưa viễn ly, thân ở núi rừng nhưng tâm hướng đến những sự ồn ào, đông đúc của các dục. Đức Phật gọi đó là thân viễn ly nhưng tâm chưa viễn ly, thân đã rời xa nhưng tâm vẫn chưa xác quyết trong sự rời xa thì vẫn khổ dài dài. Vì vậy, Đức Phật dạy thân viễn ly và tâm cũng phải viễn ly.

Mỗi khi đốt lửa, mỗi khi đi ngang nhà bếp thấy bếp lửa thì hãy quán chiếu đó hình ảnh lò lửa của dục, dục này xuất phát từ cảm thọ, cảm thọ có là từ thân này, thân này có là từ vô minh và khát ái; vô minh và khát ái có là do tà kiến và sự kiến chấp về thân; khi đó chúng ta quán năm thủ uẩn để phá thân kiến, thấy được sự ác độc, nhiệt não, đốt cháy của những ham muốn, dục vọng ngu si, đam mê, khát ái, dục ái, si ái, mê ái. Đập chúng tới tấp, đánh chúng liên tục, diệt tận tất cả trong từng giờ, từng phút, từng giây. Dùng Thánh trí tuệ để xử lý tất cả những cấu nhiễm đó, bằng không, chúng ta sẽ bị rơi xuống hố than hừng và bị nó đốt cháy, hỏa thiêu.

Như cơn mộng

Đức Thế Tôn ví các dục giống như giấc chiêm bao, khi tỉnh mộng thì vẫn trắng tay, cô đơn, lẻ loi, một mình. Những người giàu có, nổi tiếng, thậm chí là minh tinh điện ảnh còn trẻ, lượng fan hâm mộ đông đảo hàng đầu trong nước nhưng vì dục vọng lại buông thả, hãm hại những thiếu nữ chưa tới tuổi trưởng thành, nên phải chịu tù tội, thân bại danh liệt trong tù, khi được thả ra thì lại tiếp tục phạm tội, thậm chí phải bị thiến hóa học. Rất nhiều người dùng cả đời bồi đắp công danh để có được địa vị cao nhưng trong tích tắc có thể thân bại danh liệt, bỏ đi biệt xứ.

Dục vọng là thứ ác độc, khủng khiếp vô cùng; các bậc Thánh thấy được điều này nên đưa ra phương pháp nhiếp phục, chế ngự, diệt tận. Chúng ta phải thấy được sự độc ác của các dục để nhờm tởm, kinh hãi, mạ lỵ, khinh khi chúng. Luôn nhìn vào các cảm giác, hình bóng, suy nghĩ của ham muốn, dục vọng để mắng chửi nó và quán chiếu về sự nguy hiểm, tác hại, sự khốn nạn, khổ nạn, hiểm nạn, ách nạn mà nó đem lại cho ta. Khi nào những dục vọng thấp hèn này còn trong tâm mình là vẫn còn mầm mống của súc vật, súc sanh, thú vật, địa ngục, ngạ quỷ. Phải kiên trì quán chiếu, tác ý cho thật mạnh mẽ để nhiếp phục, chế ngự những rác bẩn này. Không phải một ngày, một tháng là thành công mà chúng ta phải kham nhẫn, kiên trì, nỗ lực không ngừng nghỉ. Luôn luôn vững chí, vững mạnh để làm công việc thanh lọc tâm, đây mới là công trình thật sự của người xuất gia, chứ không phải chùa chiền bên ngoài. Đức Thế Tôn và các bậc Hiền Thánh thuở xưa không phải chùa chiền, không phải lo đi xin bảng hiệu, mà các Ngài chỉ để tâm vào việc diệt tận tham, sân, si, dập tắt tất cả dục vọng, vô minh, bản ngã và các Ngài thành tựu. Khi đó, bá tánh, người dân tự động phát tâm xây dựng, cung thỉnh các vị. Các Ngài không dành cả cuộc đời để xây dựng, kiến tạo, không lấy đó làm mục đích Phạm hạnh, tu hành.

Các dục giống như giấc mộng, khi tỉnh ra không được gì, chỉ có một mình với những thiếu thốn, khát khao, đói khát, thèm khát, khát ái không được thỏa mãn từ vô lượng kiếp cho đến nay. Dù trăm kiếp trôi qua, ngàn kiếp trôi qua, trăm ngàn kiếp trôi qua, nhiều trăm ngàn kiếp trôi qua, nhiều thành kiếp, hoại kiếp đã trôi qua nhưng sự khao khát, thèm muốn, khát ái vẫn không được thỏa mãn. Nếu không có sự quán chiếu tận cùng về tứ tại, chín giai đoạn tử thi, bộ xương khô, nắm tro tàn một cách thâm sâu, thể nhập, chứng đắc thì không thể nào đoạn tận, nhiếp phục, chế ngự được tất cả các dục. Đây là các mà bậc Chánh Đẳng Chánh Giác, các vị Thánh chúng, bậc Đạo sư đã thành tựu và chúng ta cũng phải đi theo con đường đó để thành tựu.

Cho nên, phải quán chiếu về tứ tại, về chín giai đoạn tử thi, về bộ xương khô, về nắm tro tàn một cách thường xuyên và liên tục, cho đến khi nào diệt dục hoàn toàn và các tham ái được chấm dứt. Trong bài kinh “Vị giữ giới”, Tương Ưng Bộ Kinh, với chủ đề nói về lúc bắt đầu và kết thúc của sự tu tập, Ngài Xá Lợi Phất nói rằng, các bậc từ Dự lưu, Nhất lai, Bất lai cho đến bậc A-la-hán đều phải quán chiếu ngũ uẩn là hố than hừng, là gai nhọn, là kẻ giết người, là bất tịnh. Khi quán như vậy thì các Ngài đạt được hiện tại trú và chánh niệm tỉnh giác.

--Vị A-la-hán, này Hiền giả Kotthika, cần phải như lý tác ý năm thủ uẩn này là vô thường, khổ, bệnh hoạn, ung nhọt, mũi tên, bất hạnh, ốm đau, người lạ, hủy hoại, rỗng không, vô ngã.

Với vị A-la-hán, này Hiền giả, không có gì phải làm nữa, hay không có phải thêm gì nữa trong công việc làm. Nhưng sự tu tập, làm cho sung mãn những pháp này sẽ đưa đến hiện tại lạc trú và chánh niệm tỉnh giác.

(Tương Ưng Bộ Kinh III, C. Năm mươi kinh sau II. Phẩm Thuyết pháp, bài kinh Vị giữ giới)

Chúng ta thấy rằng, dù đạt được chí cao Thánh quả, tối thượng Thánh quả mà các Ngài vẫn quán như vậy và có được hỷ lạc trong pháp. Đừng nói chi những người còn đầy rẫy tham, sân, si, dục, ái như chúng ta. Nếu bỏ quên những pháp quán này thì làm sao đi đến nhiếp phục, chế ngự và đoạn tận cái dục độc ác, cái dục mãnh thú, cái dục súc sanh này.

Như vật dụng cho mượn

Nói theo tiếng Việt dễ hiểu thì Thế Tôn ví các dục như đồ mượn, chẳng hạn như mượn quần, mượn áo, muợn dây chuyền, mượn cà rá, mượn đồ trang sức sang trọng, đẹp đẽ của người khác. Khi nhìn vào, mọi người khen họ xinh đẹp, sang trọng, giàu có; bỗng dưng gặp người cho mượn, bị họ đòi lại, đè xuống lấy hết tất cả; cuối cùng phải trở lại một tấm thân nghèo khổ, xấu xí.

Các dục cũng vậy, cũng chỉ là đồ mượn, giống như được ăn một bữa tiệc thật ngon, sau khi ăn xong thì không còn nữa, những ngày sau lại thèm khát, muốn ăn; chứ không phải thỏa mãn được một lần là thỏa mãn luôn. Dục ăn uống, dục nam nữ, dục ngủ nghỉ, dục đi chơi, dục muốn hưởng thụ… cũng giống như nhau, cứ thèm hoài, muốn hoài. Vì chúng cũng như đồ mượn, mượn được một chút thì phải trả lại, cuối cùng vẫn là kẻ nghèo đói. Chỉ có các bậc Thánh mới là các bậc no đủ, không còn thèm khát, không còn khát vọng, không còn khát ái; vì các Ngài đã diệt tận, chấm dứt một cách hoàn toàn.

Những sự khao khát, đói khát, thèm khát trong vô lượng vô biên kiếp đã, đang và sẽ tiếp tục đòi hỏi nếu chúng ta không nhiếp phục, chế ngự và đoạn tận chúng, vì trước giờ chúng ta đang dùng đồ vay mượn.

Ngoài ra, Đức Phật ví dụ các dục giống như trái cây; các dục giống như cây nhọn; các dục giống như đầu con rắn cắn người, phun nọc độc; các dục giống như lò mổ, đi vào đó là đi gần đến sự chết.

Người nhặt các loại hoa,

Ý đắm say tham nhiễm,

Các dục chưa thỏa mãn,

Ðã bị chết chinh phục.

(Kinh Pháp cú, phẩm Hoa, kệ 48)

Cứ đi tìm dục, đi tìm cái muốn, đi tìm cái khoái, đi tìm cái tham, đi tìm cái thích là đang tiến gần đến lò xẻo thịt, giết mổ, chết chóc… cũng chỉ vì chạy theo những ham muốn đó. Như trong kinh Araka, Tăng Chi Bộ III, Đức Phật đưa ra hình ảnh: “Ví như, con bò cái sắp bị giết, được dắt đến lò thịt, mỗi bước chân giơ lên là bước gần đến bị giết, gần đến chết. Cũng vậy, ví dụ con bò cái sắp bị giết là đời sống con người, nhỏ bé, không đáng kể, nhiều khổ đau, nhiều ưu não”. Từng bước chân của con bò đang đi gần đến lò mổ, tiến gần đến cái chết mà nó không hề hay biết, cứ tưởng đó là vui, sắp được đi ăn cỏ, uống nước. Chúng sanh cũng vậy, cứ chạy theo các dục trong sắc, thanh, hương, vị, xúc – những sắc đẹp, tiếng hay, mùi thơm, vị ngon, xúc chạm êm ái là đồng nghĩa đang tiến gần đến lò mổ.

Chính vì vậy, các dục là vui ít khổ nhiều, não nhiều và do vậy, nguy hiểm càng nhiều hơn.

Đức Phật khai thị Arittha

Đoạn kinh trên là lời của chư Tỳ-kheo vì lòng thương, vì từ tâm nhắc lại lời dạy của Đức Phật, muốn giúp cho Tỳ-kheo Arittha từ bỏ ác tà kiến cho rằng dục không có chướng ngại cho sự tu hành. Sau đó, “dầu được các Tỷ-kheo ấy cật vấn, chất vấn thảo luận, vẫn nói lên ác tà kiến ấy, cứng đầu, chấp chặt, nắm chặt tà kiến ấy”, tỷ-kheo Arittha vẫn chấp chặt vào cách nhìn tà kiến, sai lầm, lệch lạc, không chịu từ bỏ.

Qua đó, chúng ta thấy rằng, trong thời Đức Thế Tôn còn tại thế, xung quanh là các bậc Thánh chúng mà vẫn tồn tại những tà kiến đáng sợ như vậy, cho nên chúng ta đừng nghĩ mình có thể độ hết tất cả mọi người. Có những người được Đức Phật đích thân giảng thuyết, tận tay chỉ dẫn; được ở cạnh bên bậc tối tôn tối thượng của chư Thiên và loài Người, mà người này còn là đệ tử xuất gia của Đức Phật nhưng vẫn vô minh, chấp thủ, tham ái như vậy. Cho nên, giáo pháp này không phải dễ. Trong kinh Nikāya thường dùng từ “cứng đầu, khó dạy, chấp chặt, khó bảo”, đây là những từ có thể dùng để làm đề mục quán chiếu sâu sắc trong sự tu học. Hãy tự chiêm nghiệm những từ này để xem bản thân chúng ta có mắc phải hay không. Mặc dù nghe pháp cũng thấy xúc động, cũng có nhiều cảm thọ về pháp nhưng sâu thẳm bên trong cũng có sự chống đối, nghĩ ngược lại điều được dạy. Chúng ta cần nhìn ra được những ý niệm, cảm thọ, suy nghĩ lầm thầm đó và diệt tận nó.

Vì các Tỷ-kheo không thể làm cho Tỷ-kheo Arittha từ bỏ ác tà kiến ấy, nên họ đến chỗ Thế Tôn ở và trình bày lại những gì đã xảy ra. Các Ngài thuật lại chuyện đã cất vấn Tỷ-kheo Arittha nhưng cuối cùng vị này vẫn chấp chặt, cứng đầu, không chịu nhìn nhận sai lầm. Sau khi nghe các thầy Tỳ-kheo trình bày, Thế Tôn cho một Tỳ-kheo khác nhân danh Ngài mời Tỳ-kheo Arittha đến gặp. Sau khi Tỳ-kheo Arittha đến, ngồi xuống một bên, Thế Tôn hỏi việc vị này khởi lên ác tà kiến như vậy có phải là sự thật không. Tỳ-kheo Arittha bạch Phật: “Thật sự là vậy, bạch Thế Tôn. Theo như con hiểu, thật sự không có chướng ngại gì”. Khi đó Phật nói rằng:

-- Này kẻ ngu si kia, sao Ông lại hiểu pháp Ta thuyết giảng như vậy? Này kẻ ngu si kia, có phải chăng, Ta đã dùng nhiều pháp môn thuyết chướng đạo pháp. Và những ai thọ dụng chúng tự đủ bị chướng ngại? Ta đã thuyết các dục vui ít, khổ nhiều, não nhiều, do vậy nguy hiểm càng nhiều hơn. Ta đã thuyết các dục được ví như khúc xương... Ta đã thuyết các dục được ví như miếng thịt... được ví như bó đuốc cỏ khô... được ví như hố than hừng... được ví như cơn mộng... được ví như vật dụng cho mượn... được ví như trái cây... được ví như lò thịt... được ví như gậy nhọn... Ta đã thuyết các dục được ví như đầu rắn, vui ít, khổ nhiều, não nhiều, và do vậy nguy hiểm càng nhiều hơn. Và này kẻ ngu si kia, không những Ông xuyên tạc Ta, vì Ông đã tự chấp thủ sai lạc, Ông tự phá hoại Ông và tạo nên nhiều tổn đức. Này kẻ ngu si kia, và như vậy sẽ đưa đến bất hạnh và đau khổ lâu dài cho Ông.

(Kinh Trung Bộ I, 22. Kinh Ví Dụ Con Rắn)

Trước đây, khi chưa học Nikāya, ta cứ tưởng Đức Phật lúc nào cũng im lặng, hiền hòa; đến khi tìm hiểu trong Nikāya, ta mới thấy thêm sự uy nghiêm của bậc Chánh Đẳng Chánh Giác. Đây là chỗ cần chiêm nghiệm sâu sắc, ngay tại thời Đức Phật, Ngài thuyết pháp ly tham diệt dục mà vẫn có những đệ tử như vậy thì huống hồ chi hiện tại ngày nay. “Chánh Pháp khó nghe” là vậy, bởi vì Đức Phật đánh thẳng vào những gì chúng sanh khao khát, thèm muốn. Nhìn lại sự tu học bây giờ để quán chiếu xem chúng ta có sống trong sự tham muốn trong năm dục trưởng dưỡng hay không, đó chính là chướng ngại pháp.

Rồi Thế Tôn gọi các Tỷ-kheo:

-- Chư Tỷ-kheo, các Ông nghĩ thế nào? Tỷ-kheo Arittha, xưa làm nghề huấn luyện chim ưng này có thể khởi lên tia lửa sáng gì trong pháp luật này không?

-- Bạch Thế Tôn, làm sao có thể được! Không thể được, bạch Thế Tôn.

Ðược nói vậy, Tỷ-kheo Arittha, xưa làm nghề huấn luyện chim ưng, im lặng, hổ thẹn, thụt vai, cúi đầu, lo âu, câm miệng.

Oai đức của Đức Phật và Thánh chúng khi đồng nói như vậy có sức mạnh vô cùng lớn. Do đó, vị Tỳ-kheo này “im lặng, hổ thẹn, thụt vai, cúi đầu, lo âu, câm miệng”.

Thế Tôn sau khi biết Tỳ-kheo Arittha “đang im lặng, hổ thẹn, thụt vai, cúi đầu, lo âu, câm miệng” thì Ngài nói tiếp:

-- Này kẻ ngu si kia, người ta sẽ được biết Ông qua ác tà kiến của chính Ông. Ở đây, Ta sẽ hỏi các Tỷ- kheo.

Rồi Thế Tôn gọi các Tỷ-kheo:

-- Chư Tỷ-kheo, các Ông có hiểu pháp Ta thuyết giảng, giống như Tỷ-kheo Arittha, xưa làm nghề huấn luyện chim ưng này, không những đã xuyên tạc Ta vì đã tự chấp thủ sai lạc, mà còn tự phá hoại mình và gây nên nhiều tổn đức?

-- Bạch Thế Tôn, không. Bạch Thế Tôn, Thế Tôn đã dùng nhiều pháp môn thuyết chướng đạo pháp; và những ai thọ dụng chúng, tự đủ bị chướng ngại. Thế Tôn đã thuyết các dục vui ít, khổ nhiều, não nhiều, do vậy nguy hiểm càng nhiều hơn, Thế Tôn đã thuyết các dục ví như khúc xương... (như trên)... Thế Tôn đã thuyết các dục ví như đầu rắn, vui ít, khổ nhiều, não nhiều và do vậy nguy hiểm càng nhiều hơn.

-- Lành thay, chư Tỷ-kheo! Lành thay, chư Tỷ-kheo! Các Ông hiểu pháp Ta thuyết giảng như vậy. Chư Tỷ-kheo, Ta đã dùng nhiều pháp môn thuyết chướng đạo pháp, và những ai thọ dụng chúng, tự đủ bị chướng ngại. Ta đã thuyết các dục vui ít, khổ nhiều, não nhiều, và do vậy nguy hiểm càng nhiều hơn. Ta đã thuyết các dục ví như khúc xương... (như trên)... Ta đã thuyết các dục ví như đầu rắn, vui ít, khổ nhiều, não nhiều, và do vậy nguy hiểm càng nhiều hơn. Nhưng Tỷ-kheo Arittha, xưa làm nghề huấn luyện chim ưng, không những xuyên tạc Ta vì đã tự chấp thủ sai lạc mà còn tự phá hoại mình và tạo nên nhiều tổn đức, và như vậy sẽ đưa đến bất hạnh, đau khổ lâu ngày cho kẻ ngu si ấy.

Thật sự, này các Tỷ-kheo, sự kiện này không xảy ra, người ta có thể thọ dụng các dục ngoài các dục, ngoài các dục tưởng, ngoài các dục tầm.

(Kinh Trung Bộ I, 22. Kinh Ví Dụ Con Rắn)

Hưởng dục trong sắc, thanh, hương, vị, xúc thật chất chỉ là hưởng những dục tưởng, dục tầm, ngoài những thứ này ra thật chất ta không thọ dụng được gì khác. Thứ nhất là tâm hướng về tìm cầu các dục; thứ hai là tâm tưởng tượng ra những hình ảnh về dục; thứ ba là cảm thọ sanh khởi khi tiếp xúc với các dục.

Dục tầm là tâm suy cầu, tầm cầu, hướng về dục. Dục tưởng là hình bóng về dục được sanh khởi trong tâm. Các dục này sanh khởi khi đã tiếp xúc với năm dục trưởng dưỡng bên ngoài. Thực chất chúng cũng chỉ là những thọ, tưởng, hành. Khi tiếp xúc với năm dục trưởng dưỡng sẽ sanh khởi cảm thọ đối với các dục. Trước khi tiếp xúc hoặc sau khi tiếp xúc thì ta tưởng tượng về dục, tâm hướng đến đó mới có những cảm thọ, hình bóng, suy nghĩ về nó. Cho nên, Đức Phật gọi đó là dục tầm, vì hướng đến nó nên mới sanh khởi những hình bóng; sau khi tìm kiếm, gặp gỡ được những thứ đó thì sanh khởi ra những cảm thọ về dục, tưởng về dục, những ý hành tầm cầu về dục. Khi tìm hiểu sâu vào pháp hành thì chúng ta mới thấy thật chất chỉ là thọ, tưởng, hành đi sâu bên trong tâm để quậy phá, xâm chiếm, áp đảo, chà đạp, đè bẹp, sai khiến, trói cột mình bởi những cảm giác, nghĩ, tưởng bên trong.

---

Cho nên, nhận diện ngũ uẩn rất quan trọng, nhờ đó ta mới thấy được các thọ, tưởng, hành để nhiếp phục, chế ngự và đoạn tận chúng. Phải ngăn chặn chúng từ trong trứng nước, từ trong mầm mống, từ khi chúng vừa manh nha. Người không biết tu đợi khi chúng biểu hiện ra ngoài thân thì mới nhận lấy hậu quả. Còn người biết tu, nhất là khi đã nhận diện được ngũ uẩn thì phải thấy được sự máy động khi những thọ, tưởng, hành vừa mới sanh khởi. Lập tức dập tắt chúng ngay bên trong tâm nhờ tuệ tực, định lực, như lý tác ý, tác ý từ xa, không đợi chuyện xảy đến rồi mới quán chiếu thì sẽ không đủ sức vượt qua. Luôn tác ý từ xa, quán chiếu từ xa để nuôi dưỡng, tưới tẩm, làm cho mình vững chắc, vững trú, vững mạnh trong pháp; đến khi giặc đến, phải chiến đấu với nó thì chỉ cần đại tướng quân trong tâm ra hiệu lệnh là tất cả những thọ, tưởng, hành bất thiện đều phải khiếp sợ. Tâm này ngoan ngoãn, nghe lời mỗi khi thống soái ra hiệu lệnh.

Vì vậy, nếu không tác ý, không thiền quán thì không thể phát sanh trí tuệ. Hơn nữa, nếu không có có niệm, định, không có sự điềm tĩnh, trầm tĩnh, bình tĩnh, chánh niệm tỉnh giác thì tâm không được tập trung, nói năng, làm việc bị lan man; thậm chí trình pháp cũng lan man, bị năm triền cái làm mê mờ. Có khi nói chuyện câu trước mâu thuẫn với câu sau mà mình cũng không biết, đó là do mức độ chánh niệm tỉnh giác không có. Làm việc cũng vậy, không biết nên làm việc gì trước, việc gì sau, không biết cái nào là quan trọng, thứ yếu, cứ làm bừa, làm đại. Tu như vậy cũng sẽ không có nền tảng, hiệu quả, vững chắc, sâu sắc. Cho nên, người tu chúng ta cần có sự trầm tĩnh để nhận diện ngũ uẩn, như lý giác sát, như lý tác ý, thiền quán từ xa. Gặp duyên phù hợp là tác ý liên tục để thâm nhập trí tuệ.

Ví dụ con rắn

Đức Thế Tôn tiếp tục dạy rằng:

Chư Tỷ-kheo, ở đây có một số người ngu si học pháp, như Kinh, Ứng tụng, Giải thuyết, Kệ tụng, Cảm hứng ngữ, Như thị ngữ, Bổn sanh, Vị tằng hữu pháp, Phương quảng. Sau khi học các pháp này, họ không quán sát ý nghĩa những pháp ấy với trí tuệ. Những pháp ấy, vì ý nghĩa không được trí tuệ quán sát, nên không trở thành rõ ràng. Họ học các pháp chỉ vì lợi ích, muốn chỉ trích người khác, chỉ vì lợi ích, muốn khoái khẩu biện luận, và họ không đạt được mục tiêu mà sự học pháp hướng đến. Những pháp ấy vì nắm giữ sai lạc nên đưa họ đến bất hạnh, đau khổ lâu dài. Vì sao vậy? Này các Tỷ-kheo, vì nắm giữ sai lạc các pháp.

Chư Tỷ-kheo, ví như một người ưa muốn rắn nước, tìm cầu rắn nước, đi khắp chỗ để tìm rắn nước. Người đó thấy một con rắn nước lớn, và người đó bắt con rắn ấy ở lưng hay ở đuôi. Con rắn ấy có thể quay lại cắn người đó nơi tay, nơi cánh tay hay ở một phần nào khác của cơ thể, và người đó có thể do nhân này mà bị chết hay bị đau khổ gần như chết. Vì sao vậy? Chư Tỷ-kheo, vì nắm bắt con rắn một cách sai lạc. Cũng vậy này các Tỷ-kheo, ở đây, một số người ngu si học pháp... Chư Tỷ-kheo, vì sự chấp thủ các pháp sai lạc.

(Kinh Trung Bộ I, 22. Kinh Ví Dụ Con Rắn)

Đoạn kinh này hết sức thâm sâu, đây mới chỉ nói đến pháp học. Phật dạy rằng, có một số người ngu si học pháp nhưng không quán sát nghĩa lý pháp ấy bằng trí tuệ nên pháp đó trở nên không rõ ràng; “họ học các pháp chỉ vì lợi ích, muốn chỉ trích người khác, chỉ vì lợi ích, muốn khoái khẩu biện luận, và họ không đạt được mục tiêu mà sự học pháp hướng đến”.

Câu kinh trên thâm thúy vô cùng. Như đã biết, người giảng đúng Chánh Pháp sẽ giúp người nghe hướng tâm đến sự buông bỏ; giảm bớt tham, sân, si; hạ thấp bản ngã. Ngược lại, nghe pháp mà càng tham muốn, càng tăng trưởng bản ngã, tham, sân, si, không thấy rõ mục đích, không có trí tuệ quán sát các pháp đang học thì pháp đó không được rõ ràng. Người này tu học bằng tâm tham, cứ muốn tìm kiếm thêm nhiều, học được một ít về Nikāya thì muốn tìm thêm pháp khác, trong khi tạng kinh Nikāya học đến chết cũng không hết được. Những lời dạy trong tạng kinh này đủ cho người tu trở thành bậc tối thượng giữa chư Thiên và loài Người. Vậy mà không chịu học, cứ chạy tìm cái nọ cái kia và cuối cùng nghe theo những tư tưởng tà kiến, sai lầm, lệch lạc, cuối cùng chúng quay trở lại hại mình nhưng mình không hay biết.

Nếu cứ huân tập những tà kiến sai lầm đó thì ta sẽ dần dần trở nên ưa sanh tử, thích sanh tử, mê sanh tử; càng học lại càng tham đắm trong ngũ uẩn, yêu thích luân hồi; có khi cho mình là anh hùng vì không sợ sanh tử. Trong khi, Đức Thế Tôn vì thấy sanh tử, khổ đau nên Ngài mới tìm con đường liễu sanh, thoát tử, tu tập ly tham để thoát ra khỏi ngũ uẩn; còn chúng ta tu học được một thời gian thì lại đi ngược lại. Vì vậy, đừng để những tư tưởng sai lầm, lệch lạc len lỏi vào tâm mình mà mình không hay biết, thậm chí còn truyền bá rộng ra. Cho nên, hãy tập trung nghiên cứu và tu tập theo bốn bộ Nikāya: Tăng Chi Bộ Kinh, Tương Ưng Bộ Kinh, Trung Bộ Kinh, Trường Bộ Kinh (Tiểu Bộ Kinh phải xem lại thật kỹ), ngoài ra không nên tìm học thêm những thứ khác. Từ bây giờ cho đến ngày chúng ta chết, cũng không đủ thời gian để hiểu được hết ý nghĩa trong bốn bộ kinh này. Nhưng vì tâm tham mà tìm học không ngừng, cuối cùng không có hiệu quả thật sự.

“Họ học các pháp chỉ vì lợi ích, muốn chỉ trích người khác”, nguy hiểm hơn, như lời Đức Phật đã chỉ dạy, cũng như sự thật trước mắt, nhiều người học xong thì bắt lỗi huynh đệ, cho mình là hay là giỏi. Sự học này chỉ tăng thêm ngã kiến, tăng thêm bản ngã, tăng thêm kiến chấp, chứ không học để đưa đến sự khiêm cung, phá ngã. Huynh đệ khi hỏi pháp với nhau, nếu ta biết thì bằng từ tâm chia sẻ, còn không biết thì cùng nhau trình lên bậc Đạo sư vì mình không đủ trí tuệ. Còn nhiều người chưa học được bao nhiêu thì muốn tách riêng, tự cho rằng mình học cao, hiểu sâu, hay giỏi, thậm chí còn phê phán lại thầy tổ, đạo sư. Điều này là cực kỳ nguy hiểm.

“Họ học các pháp chỉ vì lợi ích, muốn khoái khẩu biện luận”, người này “khoái khẩu biện luận”, nói cho đã miệng, không chịu tu tập, muốn làm một nhà nghiên cứu giỏi giang, mà không có sự thực hành, thực chứng, thực ngộ, không muốn chứng đắc những gì chưa chứng đắc, không muốn chứng đạt những gì chưa chứng đạt, không muốn chứng ngộ những gì chưa chứng ngộ, chỉ muốn tăng trưởng kiến thức, tri thức về Phật pháp. Đây là cách học của vô văn phàm phu, dù có nghe nhiều bao nhiêu nhưng tâm không hướng đến đoạn tận tham, sân, si, vô minh, bản ngã, khát ái thì không thể Hướng dự lưu, không đi được vào bốn đôi tám chúng Hiền Thánh của Đức Phật. Tâm chỉ muốn tăng trưởng kiến thức cho bản ngã, gọi là ngã kiến và điều này không tương ứng với Thánh đệ tử, “không đạt được mục tiêu mà sự học pháp hướng đến”.

“Những pháp ấy vì nắm giữ sai lạc nên đưa họ đến bất hạnh, đau khổ lâu dài. Vì sao vậy? Này các Tỷ-kheo, vì nắm giữ sai lạc các pháp”. Vì hiểu sai các pháp và chấp chặt vào đó nên người này bất hạnh, đau khổ lâu dài. Nếu không gặp được bậc Đạo sư, không gặp được bậc thành tựu chánh kiến, không được gặp các bậc chân nhân chỉ dạy thì không thể nào biết được đường đi. Cho nên, Đức Phật nói “thiện bạn hữu là toàn phần của Phạm hạnh”, nếu người hướng dẫn chỉ dạy sai lầm thì suốt cuộc đời tu tập không thể đi đúng đường được. Vì vậy, chúng ta cần bám sát vào tạng kinh, bám sát vào lời dạy của Đức Phật.

---

Ở đây, này các Tỷ-kheo, một số Thiện nam tử học pháp, như Kinh, Ứng tụng, Giải thuyết, Kệ tụng, Cảm hứng ngữ, Như thị ngữ, Bổn sanh, Vị tằng hữu pháp, Phương quảng. Sau khi học các pháp này, họ quán sát ý nghĩa những pháp ấy với trí tuệ. Những pháp ấy, vì ý nghĩa được trí tuệ quán sát, nên trở thành rõ ràng. Họ học pháp không vì lợi ích, muốn chỉ trích người khác, không vì lợi ích, muốn khoái khẩu biện luận, và họ đạt được mục tiêu mà sự học pháp hướng đến. Những pháp ấy, vì khéo nắm giữ, nên đưa họ đến hạnh phúc, an lạc lâu dài. Vì sao vậy? Này các Tỷ-kheo, vì khéo nắm giữ các pháp.

Chư Tỷ-kheo, ví như một người ưa muốn rắn nước, tìm cầu rắn nước đi khắp chỗ để tìm rắn nước. Người đó thấy một con rắn nước lớn. Người đó có thể khéo đè con rắn nước với cây gậy có nạng. Sau khi khéo đè với cây gậy có nạng, người đó có thể khéo nắm giữ cổ rắn. Chư Tỷ-kheo, dầu cho con rắn nước ấy có thể cuốn thân nó xung quanh tay, hay cánh tay, hay một thân phần nào khác, người đó cũng không vì nhân duyên ấy đi đến chỗ chết hay đến sự đau khổ gần như chết. Vì sao vậy? Chư Tỷ-kheo, vì khéo nắm giữ con rắn nước vậy.

Cũng vậy, chư Tỷ-kheo, ở đây, một số Thiện nam tử học pháp... chư Tỷ-kheo, vì khéo nắm giữ các pháp vậy. Do vậy, này các Tỷ-kheo, hãy hiểu rõ ý nghĩa lời Ta thuyết giảng và thọ trì như vậy. Nếu có ai không hiểu rõ ý nghĩa lời Ta thuyết giảng thì ở nơi đây, các Ông hãy hỏi Ta hay hỏi những bậc Tỷ-kheo trí thức.

(Kinh Trung Bộ I, 22. Kinh Ví Dụ Con Rắn)

Đức Phật dùng hình ảnh một người khéo léo bắt con rắn nước đúng cách để chỉ cho người khéo học và khéo nắm giữ các pháp mà Ngài truyền dạy. Nếu ai không hiểu rõ ý nghĩa lời Đức Phật thuyết giảng thì hãy hỏi Phật và những bậc Tỷ-kheo trí thức, tức là những bậc Thánh, đã nghe và thọ trì theo đúng Chánh Pháp. Cũng vậy, khi có điều gì chưa rõ thì chúng ta phải nghe bậc Đạo sư giảng giải, đây là bậc đã thành tựu. Tuy nhiên, đối với vị đã khai mở con mắt pháp cho mình mà đôi khi mình còn không chịu nghe theo, lại đi nghe lời kẻ khác thì chúng ta biết hỏi ai cho đúng Chánh Pháp bây giờ?

Ví dụ chiếc bè

Chư Tỷ-kheo, Ta sẽ giảng pháp cho các Ông, ví như chiếc bè để vượt qua, không phải để nắm giữ lấy. Hãy nghe và khéo tác ý, Ta sẽ giảng.

-- Thưa vâng, bạch Thế Tôn.

Những Tỷ-kheo ấy vâng đáp Thế Tôn. Thế Tôn thuyết giảng như sau:

-- Này các Tỷ-kheo, ví như có người đang đi trên con đường lớn dài, đến một vùng nước rộng, bờ bên này nguy hiểm và hãi hùng, bờ bên kia an ổn và không kinh hãi, nhưng không có thuyền để vượt qua hay không có cầu bắc qua từ bờ này đến bờ kia. Người đó tự suy nghĩ: "Ðây là vùng nước rộng, bờ bên này nguy hiểm và hãi hùng, bờ bên kia an ổn và không kinh hãi, nhưng không có thuyền để vượt qua hay không có cầu bắc qua từ bờ này đến bờ kia. Nay ta hãy thâu góp cỏ, cây, nhánh, lá, cột lại thành chiếc bè, và dựa trên chiếc bè này, tinh tấn dùng tay chân, có thể vượt qua bờ bên kia một cách an toàn". Chư Tỷ-kheo, rồi người đó thâu góp cỏ, cây, nhánh, lá cột lại thành chiếc bè, và nhờ chiếc bè này, tinh tấn dùng tay chân vượt qua bờ bên kia một cách an toàn. Khi qua bờ bên kia rồi, Người đó suy nghĩ: "Chiếc bè này lợi ích nhiều cho ta, nhờ chiếc bè này, ta tinh tấn dùng tay chân để vượt qua bờ bên kia một cách an toàn. Nay ta hãy đội chiếc bè này trên đầu hay vác nó trên vai, và đi đến chỗ nào ta muốn". Chư Tỷ-kheo, các Ông nghĩ thế nào? Chư Tỷ-kheo, nếu người đó làm như vậy, thì có làm đúng với sở dụng của chiếc bè chăng?

-- Bạch Thế Tôn, không.

-- Chư Tỷ-kheo, người đó phải làm thế nào cho đúng sở dụng của chiếc bè? Ở đây, chư Tỷ-kheo, người đó sau khi vượt qua bờ bên kia, có thể suy nghĩ: "Chiếc bè này lợi ích nhiều cho ta. Nhờ chiếc bè này, ta tinh tấn dùng tay chân đã vượt qua bờ bên kia một cách an toàn. Nay ta hãy kéo chiếc bè này lên trên bờ đất khô, hay nhận chìm xuống nước, và đi đến chỗ nào ta muốn". Chư Tỷ-kheo, làm như vậy, người đó làm đúng sở dụng chiếc bè ấy. Cũng vậy, này chư Tỷ-kheo, Ta thuyết pháp như chiếc bè để vượt qua, không phải để nắm giữ lấy.

Chư Tỷ-kheo, các Ông cần hiểu ví dụ cái bè. Chánh pháp còn phải bỏ đi, huống nữa là phi pháp.

(Kinh Trung Bộ I, 22. Kinh Ví Dụ Con Rắn)

Đây là câu kinh rất nổi tiếng: “Chánh Pháp ưng xả, há huống phi pháp”, hiện nay có rất nhiều ý kiến diễn giải ý nghĩa của câu này. Tuy nhiên, chúng ta cần hiểu kỹ, nếu không sẽ hiểu sai hoàn toàn, nhớ kỹ rằng, chúng ta chưa đi đến được giai đoạn bỏ chiếc bè để đi qua bờ bên kia. Câu kinh này Đức Phật dành cho những vị đã tu thâm sâu; còn chúng ta bây giờ chưa qua được bờ bên kia, vẫn đang tập tễnh bơi giữa dòng, vì vậy, chưa thể nào bỏ chiếc bè này được.

Cho nên, khi nghiên cứu kinh tạng, chúng ta phải hiểu trong từng trường hợp Đức Phật giảng dạy cho đối tượng nào, không nên nghe câu nào cũng nhập cuộc mình vào đó. Nên nhớ, chúng ta chỉ là những người đang đắm chìm trong vô minh từ bấy lâu nay; bây giờ chỉ mới vừa leo được lên chiếc bè, thậm chí còn chưa leo hết toàn thân, chỉ mới vừa đặt được một bàn tay hoặc hai bàn tay vào chiếc bè, cho nên đây chưa phải là giai đoạn bỏ bè. Giai đoạn này là lúc chúng ta đang cố gắng leo lên chiếc bè và tập trung đứng vững trên đó; còn những nghĩa lý thâm sâu cứ hãy để đến lúc thích hợp tiếp tục nghiên cứu, lý giải, học hỏi. Đây là lúc chúng ta phải leo được lên chiếc bè Chánh Pháp và trụ vững trên đó để nỗ lực, tinh tấn học cách chèo, cách bơi…

Minh Thành muốn đi từng bước cho thật chậm và thật chắc. Từng đoạn kinh phải được nghiên cứu từ từ, học kinh phải cho thấm thía, thấm nhuần. Bài kinh này là một sự kiện rất lớn trong thời Đức Phật, từ đó, chúng ta hãy nhìn lại tự thân để xem mình có bất cứ ý niệm, thầm ý, cảm thọ, tư tưởng sai lầm nào như Đức Phật đã chỉ ra hay không, nếu có thì phải diệt tận nó. Hãy xem kỹ những cảm giác, nghĩ, tưởng tham muốn trong người mình khi bị đánh phá có chống đối lại hay không?

Trình pháp

Thầy Thiện Huệ:

Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.

Con kính bạch trên Sư Phụ, con kính bạch quý thầy, quý sư cô cùng toàn thể các bậc Hiền trí.

Qua bài Kinh Ví Dụ Con Rắn, con thấy có rất nhiều những điểm nhấn mạnh cũng như những hình ảnh Đức Phật đưa ra mà riêng bản thân con cần phải áp dụng, thực hành. Khi nghe Sư Phụ giảng, trong con có những sắc tưởng, sắc tư, thanh tưởng, thanh tư của cố Hòa Thượng chùa Bửu Liên đã lên núi sách tấn cho Sư Phụ cũng như đại chúng. Người có nhắc đến hình ảnh hai con chó chơi thân với nhau nhưng chỉ cần có ai đó vứt khúc xương ra là hai con chó liền cắn nhau. Ví dụ đó cũng liên hệ đến bài kinh này, Đức Phật ví dụ dục cũng như khúc xương không còn thịt, càng cắn càng thêm mòn mỏi, đau khổ. Cũng vậy, nếu cứ chạy theo năm dục trưởng dưỡng để hưởng thụ thì chỉ càng thêm mệt mỏi, nhọc nhằn, mất sức. Cho nên, Đức Phật nói các dục là vui ít, khổ nhiều, phiền não lại càng nhiều. Trong đời sống tu hành nếu không khéo tác ý, không khéo quán chiếu sự nguy hiểm và thoát ra các dục thì sự nguy hiểm càng nhiều hơn. Con hiểu rằng dục chính là nguyên nhân của khổ đau, chính nó làm cho chúng sanh phải đau khổ.

Thứ hai, Đức Phật có ví dụ về cách học pháp của người Nikāya, mục đích học pháp là hiểu được những nghĩa lý thâm sâu lời Đức Phật trong tạng kinh Nikāya, từ đó hướng đến sự nhiếp phục dục và tham, xuất ly ra khỏi ngũ uẩn chứ không phải học pháp là để biện luận hơn thua, tranh đấu với nhau. Đó là cách học pháp sai lầm, chẳng khác nào đi bắt rắn mà không biết cách, bị nó cắn ngược trở lại và mình sẽ chịu đau khổ cho đến chết. Ngược lại, học pháp để hiểu lời Đức Phật dạy và quán chiếu, quán xét mục đích tu hành là nhiếp phục dục, tham, ái, sân, si, vô minh, bản ngã thì đó mới thật sự là mục đích của người tu, nó sẽ giúp ta an lạc lâu dài.

Thứ ba, hình ảnh chiếc bè qua sông giúp con hiểu được hiện tại mình còn chưa bước được lên chiếc bè, nếu bỏ hết các pháp thiện, pháp lành, không giữ chiếc bè để qua sông thì điều này rất nguy hiểm. Vì chúng ta đang trong giai đoạn cố gắng lên được chiếc bè để qua sông, chưa hoàn thành được mục đích cứu cánh Phạm hạnh thì không nên bỏ chiếc bè, phải nắm thật vững các pháp, nhất là trong Ba Mươi Bảy Phẩm Trợ Đạo để cố gắng tu học, hướng đến sự cứu cánh viên mãn của đời sống tu hành.

Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.

Sư cô Huệ Quý:

Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.

Con kính bạch trên Sư Phụ, con kính bạch quý thầy, quý sư cô cùng toàn thể đại chúng.

Buổi nghe pháp sáng nay giúp con rất hoan hỷ và tâm đắc bài Kinh Ví Dụ Con Rắn trong Trung Bộ Kinh. Bài kinh này đã cho con rất nhiều điều cần học hỏi. Bên cạnh những gì thầy Thiện Huệ đã trình bày, con còn thấy rằng bài kinh này đã cho con những điều đúng đắn trong quá trình học pháp Nikāya. Phải y cứ vào lời dạy của Đức Thế Tôn và đi đúng theo đạo lộ đó, nhìn lại tự thân để xem mình còn những vướng mắc gì để từ từ tháo gỡ. Tránh trường hợp học pháp để biện luận và chỉ trích người khác. Đây là những điều cần phải lưu ý.

Bài kinh này đã cho con thêm những nhìn nhận về quá trình học pháp Nikāya, tiếp thêm cho con niềm tin bất động với Đức Thế Tôn và giáo pháp ly tham của Ngài. Con biết mình không cần tìm đâu xa nữa ngoài những lời dạy của Đức Thế Tôn, đây là trí tuệ quá rõ ràng, quá đầy đủ trên con đường đi đến sự giác ngộ, giải thoát, đoạn tận tham, đoạn tận sân, đoạn tận si.

Phật tử 1:

Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.

Con cung kính đảnh lễ Đức Thế Tôn.

Con cung kính đảnh lễ Thánh pháp ly tham.

Con cung kính đảnh lễ Hiền Thánh Tăng, bậc thành tựu giới đức.

Con cung kính đảnh lễ bậc Đạo sư.

Con cung kính đảnh lễ Sư Phụ.

Qua bài pháp này, cảm thọ con nhắc nhở rằng hiện tại con phải góp nhặt từng tấm ván để kết thành một chiếc bè và sau đó mới có thể tự bước qua. Ngày hôm qua trong lúc lao tác, quý sư cô nhắc nhở con nghỉ ngơi nhưng con chưa hiền, chưa biết lắng nghe, chưa thực hiện được ứng lý hạnh của Đức Thế Tôn, con ở lại làm ráng cho xong. Khi về con mới thấy được bản ngã cố chấp của mình mà khi đó con không nhận ra. Con vừa đi vừa sám hối.

Sáng mới con phải xuống núi, những ngày ở Linh Quy Pháp Ấn, con được Sư Phụ chỉ dạy, quý thầy, quý sư cô và các bậc Hiền trí đã ôm ấp con vào lòng, đưa con vào dòng Thánh Pháp ly tham này. Cảm xúc của con rất dâng trào, rất biết ơn những bài pháp của Sư Phụ. Tình thương trong con, tâm hiền trong con cũng được tăng trưởng dần dần. Con xin nguyện khi xuống núi, về đến nhà, con sẽ cố gắng tinh tấn, góp nhặt từng chút, tạo thành một chiếc bè vững chắc rồi mình mới bước lên theo con đường Thánh Pháp này.

Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.

Phật tử 2:

Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.

Con kính bạch trên Sư Phụ, con kính bạch quý thầy, quý sư cô cùng toàn thể các bậc Hiền trí.

Thưa Sư Phụ, bài pháp hôm nay khiến con rất ấn tượng với hình ảnh con chó ngấu nghiến khúc xuơng khô và cuối cùng không nhận được gì, con thấy rất xót xa cho sự vô minh và tham ái. Khi được tu học trong dòng pháp này, con nghĩ mình phải cố gắng đi theo pháp này, vì hết cả đời này cũng chưa chắc mình hiểu được. Vì vậy, phải cố gắng mỗi ngày nhìn vào tự thân mình. Chúng con chỉ là những người mới chập chững tu học, mới chỉ sờ được vào chiếc bè, vì vậy cần cố gắng rất nhiều.

Con xin cảm ơn Sư Phụ và đại chúng rất nhiều.

Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.

Sư phụ:

Minh Thành mong đại chúng trong những ngày lễ này phải tăng cường tu học. Hãy để tâm nghiền ngẫm những hình ảnh Đức Phật ví dụ cho các dục trong bài kinh này để pháp đàm và viết bài thu hoạch. Ngày lễ là dịp những người bên ngoài tổ chức vui chơi; trong tâm ta nếu không vững thì cũng dễ bị dao động. Vì vậy, trong những ngày lễ Minh Thành thường cho đại chúng tu học nhiều hơn. Ngoài đời người ta đi chơi thì chúng ta cũng nhau đi dạo trong biển cả của Thánh Pháp, Thánh trí huệ; lấy tu học để trị sự hướng ngoại ra ngoài. Trong những ngày lễ, trên núi chúng ta thường tổ chức tu học cho nội tự hoặc cho những vị ở nơi khác trở về. Vì vậy, chúng ta hãy chiêm nghiệm thật sâu sắc mười ví dụ về dục để thấy được sự nguy hiểm, khổ đau, phiền não mà các dục mang lại, nhờ đó tăng trưởng trí tuệ về dục, trí tuệ về sự thấu hiểu bản chất của dục. Khi rảnh thì phải dành thời gian trùng tuyên Thánh điển cho những vị mới về tu học. Quý thầy cô hãy để tâm chăm sóc cho những người về Linh Quy Pháp Ấn tu học, nhất là những vị mới đến. Chúng ta hãy năng nổ, nhiệt tâm tu học, ngồi thiền, thiền quán, trình pháp, pháp đàm, trùng tuyên Thánh điển. Dùng mọi phương pháp để chúng ta tu học, có được những sự hân hoan, phấn khởi, thú vị, hỷ lạc trong sự học pháp và như vậy chúng ta sẽ được tăng thượng, tăng trưởng trong pháp, không có giảm thiểu.

./.