LỄ VESAK- Ý NGHĨA PHẬT ĐẢN SANH - THÀNH ĐẠO – NHẬP NIẾT BÀN
LỄ VESAK
Ý NGHĨA PHẬT ĐẢN SANH
THÀNH ĐẠO – NHẬP NIẾT BÀN
–Thích Minh Thành–
MỤC LỤC
TOC \o "1-3" \h \z \u I.Đản Sanh PAGEREF _Toc148949439 \h 1
II.Tìm đạo và giác ngộ PAGEREF _Toc148949440 \h 1
III. Nhập Niết Bàn PAGEREF _Toc148949441 \h 9
Đản Sanh
Hôm nay là ngày Đức Phật ra đời, ngày sinh nhật của Thế Tôn, ngày đản sanh của thái tử Tất Đạt Đa, ngày xuất hiện của một bậc Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác tối tôn, tối thắng, tối cao, tối thượng của Tam Thiên Đại Thiên Thế Giới. Tất cả chúng ta gồm Tăng Ni, Phật tử phải vui mừng, hân hoan, phấn khởi, hạnh phúc, vui sướng, hỷ lạc hơn ngày Tết. Chúng ta đã ăn Tết bao nhiêu năm rồi, càng Tết đến thì già đi, càng Tết đến thì hết sức khỏe, hết thời gian, nhưng ngày hôm nay bậc Đại Giác ra đời và đem cho chúng ta một mùa xuân bất diệt. Tất cả chư Thiên, nhân loại, lục đạo chúng sanh đều reo hò hân hoan từ chư Thiên ở cõi Dục giới, tứ đại thiên vương, cho đến Phạm Thiên vì sự xuất hiện của một bậc đại vĩ nhân, sự ra đời của bậc Đại Giác Ngộ, sự hiện hữu của bậc Thiên Nhân Sư, chúng ta rất được vinh dự, vinh quang vì được làm con của Ngài.
Hãy làm cho mình phấn khởi lên, dạt dào lên, hạnh phúc lên vì chúng ta là những người may mắn nhất trong 8 tỷ người trên hành tinh này. Ngày hôm nay của 2.567 năm trước, Đức Thế Tôn đản sanh, rung chuyển hết đất trời, chư Thiên reo vang, nhạc trời vang dội du dương rung động hết cả Trái Đất.
Tìm đạo và giác ngộ
Sau khi Bồ Tát ra đời, Ngài lớn lên trong nhung lụa, cung vàng điện ngọc nhưng luôn khắc khoải, trăn trở, ưu tư về đời sống của kiếp người này. Ngài lớn lên trong nhung lụa, gấm vóc, quyền uy, sự đầy đủ tất cả những thứ mà con người trên cuộc đời này ước mong, khao khát, tưởng mơ. Mặc dù đã hưởng thụ đầy đủ nhưng Ngài vẫn ở trong sự trăn trở, thao thức, băn khoăn cho kiếp người. Nhà vua rất thương Ngài vì Ngài là con cầu con khẩn. Trước đây, nhà vua và hoàng hậu đã từng đi khắp nơi để cầu xin có con, đi hết các đình miếu, các vị thần để cầu xin mới sinh được Ngài. Ngài là người được nâng niu, chăm sóc tận tình nên cha mẹ Ngài không muốn cho Ngài nhìn thấy những nỗi khổ của thế gian. Chỉ muốn cho Ngài nhìn thấy những cái đẹp, cái tốt, cái vui ở trong hoàng cung.
Một hôm Ngài đi ra khỏi hoàng thành để du ngoạn thì Ngài thấy cảnh một người già lưng còng, tóc bạc, da nhăn, gối mỏi, mắt mờ, tai điếc. Ngài rất lấy làm lạ lẫm vì trong cung điện Ngài không được thấy những điều này vì mọi người đã che đậy những cái khổ để không cho Ngài nhìn thấy. Ngài hỏi Xa Nặc “Tại sao bị già như vậy?”. “Thưa Thái tử, đó là người già”. Già nên tóc bạc, da nhăn, lưng còng, gối mỏi, mắt mờ, tai điếc. Chúng ta cũng hãy chiêm nghiệm về hoàn cảnh người già neo đơn, đi ăn xin, đi bán vé số, ngủ vỉa hè, nằm công viên, đi cầm nón lá để ăn xin… Chính những cảnh tượng của già nua, đau khổ đó đã chạm vào trái tim của Ngài. Nếu gặp trường hợp già nua nhưng sống trong giàu có, có lẽ cũng chưa đánh động đến trái tim của Ngài được như vậy.
Khi đi tới cổng thành tiếp theo, Ngài thấy cảnh một người bệnh nằm trên giường trong trạng thái đau khổ. Xã hội Ấn Độ thời đó rất nghèo, những em bé, người già đen đúa hóc hác, tiều tụy khô khan, nằm trên giường ho sặc sụa, không có chăn màn để đắp, sống trong cảnh nghèo lụp xụp, Ngài lại hỏi Xa Nặc “Những người này bị sao?”. “Người ấy bị bệnh thưa Thái tử”. “Bệnh là sao?”. Bệnh là đau đớn, quằn quại, khó chịu, khổ sở, không có tiền thì càng thê thảm, lạnh lẽo trong mùa đông giá rét, nằm liệt giường liệt chiếu không có tiền mua thuốc chữa bệnh. Nghe như vậy, Ngài nhói tim và đau lòng xót thương, cũng là con người như mình nhưng tại sao lại rơi vào hoàn cảnh này, Ngài rất đau lòng và xót xa.
Ngài đi qua cửa thành khác thì thấy cảnh người chết, họ tắt hơi và nằm dài như khúc gỗ. Những người chung quanh than khóc kêu gào thảm thiết: mẹ ơi, cha ơi, sao lại bỏ con đi vậy? Bao nhiêu những người thân quyến kêu gào khóc lóc thảm thiết trước một tấm thân nằm trơ như khúc gỗ không còn nghe thấy gì. Ở Ấn Độ thời đó, khi người vừa chết sẽ để đó và chờ đem đi hỏa táng chứ không quấn lại bỏ vào quan tài ngay. Nhiều khi thân người bị bệnh, nặng kí thì sẽ bốc mùi hôi, rỉ chảy ra những chất dịch. Ngài thấy cảnh tượng đó sao mà xót xa cho cuộc đời này, tim Ngài đau nhói và suy nghiệm sâu sắc về kiếp người. Ngài hỏi Xa Nặc sau này Ngài có giống như vậy không? Xa Nặc nói ai cũng vậy, Ngài sau này cũng sẽ già, bệnh, chết. Phụ vương của Ngài cũng sẽ như vậy, vợ con Ngài cũng vậy. Tất cả con người trên thế gian đều kết thúc trong sự chết, không vượt khỏi sự chết, đều bị cái chết đánh sập, phá sập. Dầu là vua chúa hay người ăn xin đều phải kết thúc trong sự chết. Thái tử ôm trái tim của mình mà nghẹn ngào, xót xa cho người đối diện đó và thương xót cho cả những người xung quanh đang kêu gào trước người đã chết.
Bằng một trái tim sâu sắc, bằng một trái tim đại từ đại bi đã được huân tu từ vô lượng kiếp cho đến kiếp cuối cùng này, những hình ảnh đó đã đánh sâu vào tâm khảm của Ngài, một cảm xúc sâu sắc trào dâng, chấn động trong lòng khi Ngài thấy sự kết thúc của đời sống này bằng nước mắt, bằng sự tử vong, bằng sự diệt tận. Ta đây đang tuổi trẻ rồi cũng sẽ già, đang sức khỏe rồi cũng sẽ bệnh, đang sống rồi cũng sẽ kết thúc bằng sự chết. Thật là xót xa, đau nhói, ưu tư, trăn trở, thao thức. Tại sao những hữu tình khác không suy nghĩ về điều này? Còn đối với Ngài, những cảnh già, bệnh, chết đã để lại trong Ngài ấn tượng sâu sắc, chấn động, xúc động. Con người đa phần là trơ trơ, dù cho đã từng đi rất nhiều đám tang và chứng kiến cảnh tang tóc, thậm chí người thân trong gia đình, bạn bè mình mất thì đau lòng một chút nhưng sau đó mình lại lãng quên, nhưng Ngài không lãng quên, đó là sự chánh niệm thâm sâu của Bồ Tát, không quên được những hình ảnh đó.
Đi đến cổng thành tiếp theo, Ngài thấy một vị Sa Môn xuất gia thanh thoát, thanh cao, thánh thiện, trong Ngài bắt đầu nhen nhúm lên một lối thoát. Ngài nhìn thấy trong hoàng cung, các vua quan và quân lính cãi nhau, trong gia đình tham lam, sân hận, si mê, ích kỷ, hẹp hòi, muốn soán ngôi vua, tranh giành đấu đá nhau với những âm mưu thầm kín trong hoàng cung. Ở ngoài đời thì người mới đạp người cũ, huống chi là trong hoàng cung, các vua quan tranh giành ngôi vị, địa vị rồi bao nhiêu mưu toan. Ngài nhìn thấy và tự hỏi tại sao họ không nhớ đến sự già nua, bệnh tật, chết chóc mà cứ tham sân si hơn thua, tranh giành, cống cao, ngã mạn, giết hại lẫn nhau. Những ấn tượng về già, bệnh, chết đã trở thành đề mục thiền quán, trở thành công án lớn, trở thành chủ đề ám ảnh, ấn tượng, suy tư sâu sắc để tìm cách thoát ra vì Ngài không muốn kết thúc ở trong cái già, bệnh, chết, đau khổ này. Ngài phải tìm một lối thoát không bị sanh, không bị già, không bị bệnh, không bị chết.
Ví như những bông hoa tươi đẹp sau vài ngày nữa sẽ ở trong thùng rác, cũng vậy những ngày tháng tuổi trẻ đầy sức sống, đầy nhan sắc của ta mà khi còn tươi trẻ thì dần dần trở nên tàn tạ, đau nhức trong sự già nua. Thái tử suy tư về việc muốn thoát khỏi già, bệnh, chết, để đi đến cảnh không già, không bệnh, không chết. Ngài ưu tư, trăn trở về việc này và Ngài đã xin cha mẹ đi xuất gia nhưng không được chấp nhận.
Cha mẹ Ngài đã cưới vợ cho Ngài, sinh con, xây ba cung điện cho ba mùa khác nhau trong năm, cho Ngài đầy đủ sự hưởng thụ nhất trên đời nhưng rồi những điều này không làm cho Ngài lãng quên được những hình ảnh về già nua, bệnh tật, chết chóc. Ngài muốn đạt đến cảnh không còn già nua, bệnh tật, chết chóc nữa, không còn tham sân si, sầu, bi, khổ, ưu, não nữa. Ngài đã xin phụ vương đi xuất gia nhưng không được chấp thuận và cha của Ngài nói rằng con muốn gì ta cũng chiều ý con nhưng không được đi làm tu sĩ. Ngài thưa với vua rằng hãy làm Ngài trẻ mãi không già, khỏe hoài không bệnh, sống mãi không chết. Nếu phụ vương đáp ứng được thì Ngài xin ở lại hoàng cung, không đi xuất gia nữa.
Sau bao tháng ngày suy tư, trăn trở, vào một ngày nọ, lúc nửa đêm Ngài đã bỏ lại vợ đẹp, con thơ, cung hoàng, điện ngọc, bỏ lại cha già, mẹ hiền, cùng tất cả vương vị ngai vàng quyền uy và cùng người đánh xe Xa Nặc, cưỡi chú ngựa Kiền Trắc trong đêm tối vượt thành để đi tìm cầu đạo giải thoát. Ngài trả lại hoàng bào, đính đầy vàng ngọc bảo thạch giao lại cho Xa Nặc, cắt mái tóc đen huyền của tuổi thanh xuân, gửi lại cho cha hoàng bào, rồi đi tìm thầy học đạo. Ngài phải tìm ra cho ra được con đường chấm dứt sanh già bệnh chết, để đem đạo lộ này để đền đáp lại cho tất cả thân quyến và chúng sanh.
Từ đó bắt đầu một hành trình lang thang nay đây mai đó tìm đến các vị thầy. Học với vị thầy nào, Ngài cũng chứng đắc đến những tầng thiền cao từ sơ thiền, nhị thiền, tam thiền, tứ thiền, không vô biên xứ, thức vô biên xứ, vô sở hữu xứ, phi tưởng phi phi tưởng xứ, tứ thiền bát định. Ngài chứng đắc rất nhanh những cảnh giới cao nhất của các bậc Đạo sư, Tổ sư ở các tông phái thời đó. Và các bậc Đạo sư đều nhận Thái Tử là huynh đệ, không dám làm thầy của Thái tử. Từ thân tướng, sức khỏe, trí tuệ, tâm từ của Ngài đều khiến người khác tâm phục khẩu phục; từ học trò cho đến các vị giáo chủ của các đạo phái, tông phái, tổ sư, đạo sư đều như vậy. Những vị ấy mong Thái tử ở lại để các giao hết học trò lại cho Ngài hướng dẫn, số lượng lên đến cả ngàn người, Ngài sẽ thay thế vị trí của các bậc Tổ sư ấy. Nhưng chúng ta phải thấy rằng, địa vị cao nhất là ngai vàng mà Ngài còn từ bỏ thì làm sao Ngài đi tìm địa vị ở trong tu hành, cho nên Ngài không nhận và từ bỏ hết.
Sau thời gian học đạo từ các vị Đạo sư, Ngài không thấy ai có thể giải quyết được vấn đề mà Ngài đang tìm kiếm là thoát ly sanh tử. Ngài quyết định tự mình dấn thân và bắt đầu với sáu năm khổ hạnh đau khổ. Nửa tháng Ngài ăn một lần, khi lấy tay rờ vào da bụng thì đụng tới xương sườn, tóc rớt xuống từng mảng, Ngài phải dùng thức ăn làm bằng cỏ, ăn phân bò. Ngài tự tu hết các pháp môn thời đó như là tu hạnh giống như con chó, con bò, đi bằng bốn chân, vô chuồng bò, ăn phân bò, uống nước tiểu bò. Ngài để cho bụi bặm sình bùn dính trên thân nhưng không làm sạch chúng đi. Những em bé mục đồng tiểu tiện lên người của Ngài, lấy cây đâm vào lỗ tai Ngài nhưng Ngài không khởi tâm sân hận. Đến khổ hạnh cùng cực là Ngài dùng nước tiểu của mình và phân của mình. Đó là khổ hạnh cùng cực của Bồ Tát, nửa tháng ăn một bữa, mỗi bữa ăn một loại trái cây rụng hoặc một hột mè. Ngài muốn đi tiểu tiện thì khi đứng lên Ngài té xuống, không đủ sức để bước đi vì sức khỏe quá yếu và cạn kiệt.
Đến giai đoạn Ngài sống độc cư một mình, khi thấy bóng người là Ngài bỏ chạy, không muốn tiếp xúc, Ngài chạy trốn từ cánh rừng này tới cánh rừng kia. Trong suốt sáu năm tu khổ hạnh và tu đắc tứ thiền bát định nhưng vẫn không thoát khỏi sanh già bệnh chết. Cuối cùng Ngài từ bỏ tất cả và tự tu một mình.
Khi ngài tự tu một mình thì Ngài đi sâu vào thiền định bằng tâm trong sáng, thanh tịnh, Ngài nhìn ra được ngũ uẩn, thân thể này là sắc pháp do tứ đại tạo thành, nhìn ra toàn bộ vũ trụ hành tinh này tất cả đều là sắc uẩn. Sau đó ngài nhìn vào trong tâm, Ngài thấy những cảm giác thuộc về thọ uẩn, những hình bóng thuộc về tưởng uẩn, những lời nói lầm thầm thuộc về hành uẩn, những sự nhận thức thuộc về thức uẩn. Ngài nhìn thấy sâu vào bên trong năm uẩn là tham, sân, si, những cảm xúc của nóng bức thiêu đốt, sân hận, si mê tà kiến; không thấy đúng về sự thật về ngũ uẩn mà cho rằng đây là tôi, của tôi, tự ngã của tôi.
Càng nhìn sâu vào bên trong, Ngài bắt đầu nhìn ra cấu nhiễm và Ngài bắt đầu cuộc thanh lọc, quét dọn, lau chùi, tổng vệ sinh, tẩy rửa một cách hoàn toàn tất cả tham, sân, si, dục, ái, vô minh, bản ngã. Cho nên chữ Phật là bậc tự mình phát giác phát hiện ra những cấu uế trong tự thân của mình, trong cuộc đời này. Ngài đã tẩy sạch tất cả các cấu uế trọn vẹn, viên mãn, thanh tịnh. Lúc đó Ngài tự mình giác ngộ và tâm Ngài đạt đến chỗ thanh tịnh viên mãn, trong sạch hoàn toàn.
Vào canh một giữa đêm đầu tiên Ngài chứng đắc Túc Mạng Minh, Túc là xưa, mạng là sinh mạng, minh là trí tuệ, trí tuệ nhìn thấy tất cả những sinh mạng, những đời sống của mình từ vô lượng vô biên kiếp thuở quá khứ. Ngài ngồi bằng tâm nhu nhuyến, thuần tịnh dễ sử dụng để hướng tâm nhớ đến đời trước của mình, Ngài đã thấy được đời trước mình sanh ra ở đâu, làm gì, dựng vợ gả chồng ra sao, sống chết ra sao, Ngài đã thấy rõ nét về đại cương và chi tiết của từng kiếp. Sau đó Ngài hướng tâm đến các đời trước thì thấy rõ quê quán, cha mẹ là ai, sống ra sao, đau khổ buồn vui như thế nào. Ngài nhìn thấy từng kiếp người, từ đời thứ 3, thứ 4 cho đến đời 100, 1.000, 100.000 và thấy rằng trong vô lượng kiếp sanh tử trong quá khứ đều kết thúc trong nước mắt và khổ đau.
Đến canh thứ hai, Ngài có suy nghĩ về các chúng sanh khác không biết đời sống họ ra sao và sống như thế nào, Ngài đã hướng tâm đến tất cả chúng sanh, Ngài nhìn thấy những chúng sanh làm việc ác bị rơi xuống địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh, vô lượng vô biên trăm ngàn muôn ức kiếp của chúng sanh và khi ấy Ngài thành tựu Sanh Tử Minh, thấy biết được tất cả đời sống của chúng sanh trong vô lượng vô biên kiếp trong Thái Dương hệ, trong Tam Thiên Đại Thiên Thế Giới, trong 10.000 thế giới.
Đến canh thứ ba, với tâm thanh tịnh, trong sáng định tĩnh Ngài hướng tâm rà soát lại nội tâm sâu thẳm nhất trong nội tâm của Ngài, Ngài thấy rõ được tâm Ngài đã hoàn toàn sạch hết tất cả mê lầm, hoàn toàn trong sáng, thanh tịnh. Ngài thấy bao nhiêu đời sống của mình đều kết thúc bằng nước mắt, bao nhiêu kiếp sống của mình kết thúc trong chết chóc, trong già nua, trong bệnh tật, trong nước mắt. Hết đời sống này đến đời sống khác đều kết thúc bằng nước mắt, Ngài nhìn lại giống như 100, 1000, 1 triệu bộ phim đang xảy ra nhưng đều kết thúc trong nước mắt và đau khổ. Ngài đã thốt lên đây là khổ, khổ là đây và Ngài đã thành tựu Thánh trí, thấy được nỗi khổ niềm đau của chúng sanh là từ dục, ái, tham, sân, si, vô minh, bản ngã. Ngài chứng đắc được thánh trí thứ hai là Khổ tập, nguyên nhân của khổ. Tiếp theo Ngài quán chiếu cảnh chấm dứt khổ với tâm thanh tịnh của Ngài, Ngài thấy được đạo lộ đưa đến con đường chấm dứt khổ là con đường Bát Thánh Đạo, là Thánh đạo tám ngành, thành tựu Bốn thánh trí về Ngũ uẩn, Bốn thánh trí về Tứ Diệu Đế, Bốn Thánh Trí về lậu hoặc, trong canh ba Ngài chứng được Lậu Tận Minh.
Bồ Tát chính thức chứng được Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác, trở thành duy nhất trong Tam Thiên Đại Thiên Thế Giới, trong 10.000 cõi và lúc đó quả địa cầu rung chấn, các chư Thiên ở các tầng trời đã reo hò: Bồ Tát Tất Đạt Đa đã thành Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác. Cao hơn là tầng trời Dạ Ma Thiên, tầng trời Hóa Lạc Thiên, cõi trời Đâu Suất Thiên, cõi trời Tha Hóa Tự Tại thiên, trăm ngàn vạn ức chư Thiên đồng chúc tụng xưng tán, reo hò: BỒ TÁT TẤT ĐẠT ĐA ĐÃ THÀNH VÔ THƯỢNG CHÁNH ĐẲNG CHÁNH GIÁC. Âm ba này chấn động 10.000 thế giới, Tam Thiên Đại Thiên Thế Giới, rung chuyển đến cõi trời Phạm Thiên.
Trăm ngàn vạn ức vô lượng chư Thiên tất cả đều tập hợp tại Bồ Đề Đạo Tràng, rải hoa trổi nhạc trời, bao nhiêu thù thắng, tất cả muôn ngàn vạn ức, 10,000 thế giới, Tam Thiên thế giới đầy khắp trong hư không, trải dài mấy trăm cây số, đứng đông đúc không có chỗ hở, dù bằng một lỗ chân lông. Tất cả chư Thiên hội tụ về chúc tụng, xưng tán, đảnh lễ, cúng dường, ca ngợi Thế Tôn là bậc đại chiến thắng. Không có bất cứ ai đánh bại được Ngài, Ngài là bậc đại hùng đại lực, toàn tri toàn giác, là bậc vô thượng giữa chư Thiên và loài người, là tối cao trong Tam Thiên đại Thiên thế giới.
Trong giây phút này chúng ta thật vinh quang, vinh dự, hãnh diện vô cùng vì chúng ta là đệ tử của bậc tối cao, đại giác Pháp vương trong Tam Thiên Đại Thiên Thế Giới này. Đó là ý nghĩa quan trọng của đại lễ Vesak. Là sự xuất hiện của bậc vĩ nhân trong sáu nẻo luân hồi, bậc đã thoát ra tất cả Ngũ uẩn, vượt ra khỏi thế giới, vượt ra khỏi tham sân si,vượt ra khỏi phiền não lậu hoặc, bậc đã đánh tan tất cả mê lầm để vượt ra những cấu uế, bậc đã thành tựu sự giác ngộ cao nhất không có ai cao hơn nữa.
Thế Tôn ơi, con thật hạnh phúc quá, con thật hoan hỷ quá, con biết ơn Ngài vô tận, con cảm ơn Ngài vô cùng. Hôm nay là ngày sinh nhật của Thế Tôn, chúng con bằng tất cả trái tim, bằng tất cả tấm lòng, bằng tất cả sự cung kính, sự biết ơn, chúng con xin dập đầu cúi lạy bậc tôn kính nhất đời, tâm hoàn toàn thanh tịnh, diệt tận tham sân si, đấng giác ngộ hoàn toàn, thân tâm và thế giới.
Chúng con nguyện làm con ngoan của Ngài, làm trò giỏi của Ngài, quyết tâm diệt tham sân si, tu tập tâm hiền từ, hiền hậu, hiền hòa, hiền lương, hiền đức, hiền trí để con đi theo các bậc hiền thánh. Đi theo đức Thế Tôn trên con đường diệt khổ, đạt đến Niết Bàn, hạnh phúc tối thượng. Tất cả sự hạnh phúc này con xin dâng lên trong ngày sinh nhật của Phật. Đấng cha lành của chúng con, chúng con thật vui và hoan hỷ, phấn khởi, hân hoan dào dạt sung sướng vì sau gần 3000 năm Ngài diệt độ, chúng con vẫn thừa hưởng giáo Pháp thâm sâu vi diệu, tối thượng mà Ngài đã để lại một gia tài vĩ đại thiêng liêng quý báu cao tột cho chư Thiên vả nhân loại. Chúng con sẽ đảnh lễ trước tôn tượng của Ngài và xối những gáo nước trong sạch để thể hiện lòng tri ân, báo ân đối với đức Như Lai.
Sau khi thành đạo, những bước chân đầu trần chân đất, khoác lên mình chiếc y phấn tảo, áo khâu bằng tấm vải vụn ở nghĩa địa, đi khắp nơi để hoằng pháp 45 năm ròng rã. Có những lúc không có gì ăn, Ngài đã uống nước lã. Lúc đó đạo Phật chưa được thịnh hạnh như bây giờ, họ vẫn xem đạo Phật là tà đạo, là quái dị, họ tu theo thần lửa, thần sông. Nhưng Ngài vẫn vững từng bước chân đi ròng rã 45 năm giáo hóa khắp mọi miền Ấn Độ. Khi được lên tu tập ở Linh Quy Pháp Ấn, chúng ta sẽ có trải nghiệm đi chân không, ôm bình bát đi khất thực, để tưởng nhớ đến Đức Phật, nhớ để cố gắng, nỗ lực tu hành.
Nhập Niết Bàn
Trong những hơi thở cuối cùng của cuộc đời, Đức Phật nằm dưới hai cây Sala Song thọ, sắp nhập Niết Bàn. Lúc đó cây sa la không phải là mùa trổ hoa nhưng tất cả đều nở trái mùa, lá xanh tươi thắm, rơi xuống thân Ngài. Chư Thiên trong vòng bán kính 200 km2, đông đúc không có một lỗ hở, hơn cả kẹt xe. Chư thiên trong 10.000 thế giới, trong Tam Thiên Đại Thiên Thế Giới hội tụ để đưa tiễn Ngài ở giây phút cuối cùng của bậc Đạo sư của thế gian. Các vị chư Thiên, thái tử cõi trời, Thiên chúng tấu nhạc, rải thiên hoa, vung lên trầm hương chiên đàn cõi trời, rơi trên thân Như Lai.
Khi các Ngài rải hoa cúng dường, Đức Phật nói không phải cúng dường như vậy là đầy đủ. Sau khi Ngài nhắm mắt ra đi, ai là người chân chánh thực hành chánh Pháp, thành tựu chánh Pháp, người đó mới là người cúng dường tối thượng. Cho nên, ai là người thực hành Pháp của Như Lai mới là người cúng dường tối thượng cao nhất.
Nếu có Tỷ-kheo, Tỷ-kheo ni, cư sĩ nam hay cư sĩ nữ nào thành tựu Chánh Pháp và Tùy Pháp, sống chơn chánh trong Chánh Pháp, hành trì đúng Chánh Pháp, thời người ấy kính trọng, tôn sùng, đảnh lễ, cúng dường Như Lai với sự cúng dường tối thượng.
(trích Trường Bộ Kinh, Bài 16. Kinh Đại Bát Niết Bàn)
Rồi Đức Phật nói rằng, các vị hãy nghe lời nhắn nhủ sau cùng của ta, tất cả mọi sự vật là vô thường, rồi đây tất cả phải chịu lưỡi hái của tử thẩn, tất cả đều chịu sự kết thúc trong nước mắt là sự chết. các Pháp hữu vi là vô thường, hãy tinh tấn lên để giải thoát. Chớ có buông lung phóng dật, hãy nỗ lực tinh tấn lên, để diệt tận tham sân si, nhiếp phục những ham muốn thấp hèn, tinh tấn lên để bẻ gãy ngọn cờ bản ngã, ngã mạn, hãy sống khiêm cung, khiêm nhường, khiêm hòa, hãy sống với tâm hiền lành, hiền từ, hãy sống với tâm thương rộng lớn, biết tha thứ cho nhau. Biết bao dung độ lượng cho nhau, biết nỗi khổ niềm đau với nhau, để cùng trang trải tình thương vô tận.
Này các Tỷ-kheo, nay Ta khuyên dạy các Ngươi: “Các pháp hữu vi là vô thường. Hãy tinh tấn, chớ có phóng dật”. Ðó là lời cuối cùng của Như Lai.
(trích Trường Bộ Kinh, Bài 16. Kinh Đại Bát Niết Bàn)
Và sau khi nói đức Thế Tôn nhập vào các tầng thiền, đại định, sau đó Ngài trút hơi thở cuối cùng, giữa hai cây Sala song thọ. Đó là cuôc đời vĩ đại, lịch sử chói lọi, của một bậc đại vĩ nhân- Tôn giả Gotama- Phật Thích Ca Mâu Ni Cù Đàm.
Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật!
./.
Ý NGHĨA PHẬT ĐẢN SANH
THÀNH ĐẠO – NHẬP NIẾT BÀN
–Thích Minh Thành–
MỤC LỤC
TOC \o "1-3" \h \z \u I.Đản Sanh PAGEREF _Toc148949439 \h 1
II.Tìm đạo và giác ngộ PAGEREF _Toc148949440 \h 1
III. Nhập Niết Bàn PAGEREF _Toc148949441 \h 9
Đản Sanh
Hôm nay là ngày Đức Phật ra đời, ngày sinh nhật của Thế Tôn, ngày đản sanh của thái tử Tất Đạt Đa, ngày xuất hiện của một bậc Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác tối tôn, tối thắng, tối cao, tối thượng của Tam Thiên Đại Thiên Thế Giới. Tất cả chúng ta gồm Tăng Ni, Phật tử phải vui mừng, hân hoan, phấn khởi, hạnh phúc, vui sướng, hỷ lạc hơn ngày Tết. Chúng ta đã ăn Tết bao nhiêu năm rồi, càng Tết đến thì già đi, càng Tết đến thì hết sức khỏe, hết thời gian, nhưng ngày hôm nay bậc Đại Giác ra đời và đem cho chúng ta một mùa xuân bất diệt. Tất cả chư Thiên, nhân loại, lục đạo chúng sanh đều reo hò hân hoan từ chư Thiên ở cõi Dục giới, tứ đại thiên vương, cho đến Phạm Thiên vì sự xuất hiện của một bậc đại vĩ nhân, sự ra đời của bậc Đại Giác Ngộ, sự hiện hữu của bậc Thiên Nhân Sư, chúng ta rất được vinh dự, vinh quang vì được làm con của Ngài.
Hãy làm cho mình phấn khởi lên, dạt dào lên, hạnh phúc lên vì chúng ta là những người may mắn nhất trong 8 tỷ người trên hành tinh này. Ngày hôm nay của 2.567 năm trước, Đức Thế Tôn đản sanh, rung chuyển hết đất trời, chư Thiên reo vang, nhạc trời vang dội du dương rung động hết cả Trái Đất.
Tìm đạo và giác ngộ
Sau khi Bồ Tát ra đời, Ngài lớn lên trong nhung lụa, cung vàng điện ngọc nhưng luôn khắc khoải, trăn trở, ưu tư về đời sống của kiếp người này. Ngài lớn lên trong nhung lụa, gấm vóc, quyền uy, sự đầy đủ tất cả những thứ mà con người trên cuộc đời này ước mong, khao khát, tưởng mơ. Mặc dù đã hưởng thụ đầy đủ nhưng Ngài vẫn ở trong sự trăn trở, thao thức, băn khoăn cho kiếp người. Nhà vua rất thương Ngài vì Ngài là con cầu con khẩn. Trước đây, nhà vua và hoàng hậu đã từng đi khắp nơi để cầu xin có con, đi hết các đình miếu, các vị thần để cầu xin mới sinh được Ngài. Ngài là người được nâng niu, chăm sóc tận tình nên cha mẹ Ngài không muốn cho Ngài nhìn thấy những nỗi khổ của thế gian. Chỉ muốn cho Ngài nhìn thấy những cái đẹp, cái tốt, cái vui ở trong hoàng cung.
Một hôm Ngài đi ra khỏi hoàng thành để du ngoạn thì Ngài thấy cảnh một người già lưng còng, tóc bạc, da nhăn, gối mỏi, mắt mờ, tai điếc. Ngài rất lấy làm lạ lẫm vì trong cung điện Ngài không được thấy những điều này vì mọi người đã che đậy những cái khổ để không cho Ngài nhìn thấy. Ngài hỏi Xa Nặc “Tại sao bị già như vậy?”. “Thưa Thái tử, đó là người già”. Già nên tóc bạc, da nhăn, lưng còng, gối mỏi, mắt mờ, tai điếc. Chúng ta cũng hãy chiêm nghiệm về hoàn cảnh người già neo đơn, đi ăn xin, đi bán vé số, ngủ vỉa hè, nằm công viên, đi cầm nón lá để ăn xin… Chính những cảnh tượng của già nua, đau khổ đó đã chạm vào trái tim của Ngài. Nếu gặp trường hợp già nua nhưng sống trong giàu có, có lẽ cũng chưa đánh động đến trái tim của Ngài được như vậy.
Khi đi tới cổng thành tiếp theo, Ngài thấy cảnh một người bệnh nằm trên giường trong trạng thái đau khổ. Xã hội Ấn Độ thời đó rất nghèo, những em bé, người già đen đúa hóc hác, tiều tụy khô khan, nằm trên giường ho sặc sụa, không có chăn màn để đắp, sống trong cảnh nghèo lụp xụp, Ngài lại hỏi Xa Nặc “Những người này bị sao?”. “Người ấy bị bệnh thưa Thái tử”. “Bệnh là sao?”. Bệnh là đau đớn, quằn quại, khó chịu, khổ sở, không có tiền thì càng thê thảm, lạnh lẽo trong mùa đông giá rét, nằm liệt giường liệt chiếu không có tiền mua thuốc chữa bệnh. Nghe như vậy, Ngài nhói tim và đau lòng xót thương, cũng là con người như mình nhưng tại sao lại rơi vào hoàn cảnh này, Ngài rất đau lòng và xót xa.
Ngài đi qua cửa thành khác thì thấy cảnh người chết, họ tắt hơi và nằm dài như khúc gỗ. Những người chung quanh than khóc kêu gào thảm thiết: mẹ ơi, cha ơi, sao lại bỏ con đi vậy? Bao nhiêu những người thân quyến kêu gào khóc lóc thảm thiết trước một tấm thân nằm trơ như khúc gỗ không còn nghe thấy gì. Ở Ấn Độ thời đó, khi người vừa chết sẽ để đó và chờ đem đi hỏa táng chứ không quấn lại bỏ vào quan tài ngay. Nhiều khi thân người bị bệnh, nặng kí thì sẽ bốc mùi hôi, rỉ chảy ra những chất dịch. Ngài thấy cảnh tượng đó sao mà xót xa cho cuộc đời này, tim Ngài đau nhói và suy nghiệm sâu sắc về kiếp người. Ngài hỏi Xa Nặc sau này Ngài có giống như vậy không? Xa Nặc nói ai cũng vậy, Ngài sau này cũng sẽ già, bệnh, chết. Phụ vương của Ngài cũng sẽ như vậy, vợ con Ngài cũng vậy. Tất cả con người trên thế gian đều kết thúc trong sự chết, không vượt khỏi sự chết, đều bị cái chết đánh sập, phá sập. Dầu là vua chúa hay người ăn xin đều phải kết thúc trong sự chết. Thái tử ôm trái tim của mình mà nghẹn ngào, xót xa cho người đối diện đó và thương xót cho cả những người xung quanh đang kêu gào trước người đã chết.
Bằng một trái tim sâu sắc, bằng một trái tim đại từ đại bi đã được huân tu từ vô lượng kiếp cho đến kiếp cuối cùng này, những hình ảnh đó đã đánh sâu vào tâm khảm của Ngài, một cảm xúc sâu sắc trào dâng, chấn động trong lòng khi Ngài thấy sự kết thúc của đời sống này bằng nước mắt, bằng sự tử vong, bằng sự diệt tận. Ta đây đang tuổi trẻ rồi cũng sẽ già, đang sức khỏe rồi cũng sẽ bệnh, đang sống rồi cũng sẽ kết thúc bằng sự chết. Thật là xót xa, đau nhói, ưu tư, trăn trở, thao thức. Tại sao những hữu tình khác không suy nghĩ về điều này? Còn đối với Ngài, những cảnh già, bệnh, chết đã để lại trong Ngài ấn tượng sâu sắc, chấn động, xúc động. Con người đa phần là trơ trơ, dù cho đã từng đi rất nhiều đám tang và chứng kiến cảnh tang tóc, thậm chí người thân trong gia đình, bạn bè mình mất thì đau lòng một chút nhưng sau đó mình lại lãng quên, nhưng Ngài không lãng quên, đó là sự chánh niệm thâm sâu của Bồ Tát, không quên được những hình ảnh đó.
Đi đến cổng thành tiếp theo, Ngài thấy một vị Sa Môn xuất gia thanh thoát, thanh cao, thánh thiện, trong Ngài bắt đầu nhen nhúm lên một lối thoát. Ngài nhìn thấy trong hoàng cung, các vua quan và quân lính cãi nhau, trong gia đình tham lam, sân hận, si mê, ích kỷ, hẹp hòi, muốn soán ngôi vua, tranh giành đấu đá nhau với những âm mưu thầm kín trong hoàng cung. Ở ngoài đời thì người mới đạp người cũ, huống chi là trong hoàng cung, các vua quan tranh giành ngôi vị, địa vị rồi bao nhiêu mưu toan. Ngài nhìn thấy và tự hỏi tại sao họ không nhớ đến sự già nua, bệnh tật, chết chóc mà cứ tham sân si hơn thua, tranh giành, cống cao, ngã mạn, giết hại lẫn nhau. Những ấn tượng về già, bệnh, chết đã trở thành đề mục thiền quán, trở thành công án lớn, trở thành chủ đề ám ảnh, ấn tượng, suy tư sâu sắc để tìm cách thoát ra vì Ngài không muốn kết thúc ở trong cái già, bệnh, chết, đau khổ này. Ngài phải tìm một lối thoát không bị sanh, không bị già, không bị bệnh, không bị chết.
Ví như những bông hoa tươi đẹp sau vài ngày nữa sẽ ở trong thùng rác, cũng vậy những ngày tháng tuổi trẻ đầy sức sống, đầy nhan sắc của ta mà khi còn tươi trẻ thì dần dần trở nên tàn tạ, đau nhức trong sự già nua. Thái tử suy tư về việc muốn thoát khỏi già, bệnh, chết, để đi đến cảnh không già, không bệnh, không chết. Ngài ưu tư, trăn trở về việc này và Ngài đã xin cha mẹ đi xuất gia nhưng không được chấp nhận.
Cha mẹ Ngài đã cưới vợ cho Ngài, sinh con, xây ba cung điện cho ba mùa khác nhau trong năm, cho Ngài đầy đủ sự hưởng thụ nhất trên đời nhưng rồi những điều này không làm cho Ngài lãng quên được những hình ảnh về già nua, bệnh tật, chết chóc. Ngài muốn đạt đến cảnh không còn già nua, bệnh tật, chết chóc nữa, không còn tham sân si, sầu, bi, khổ, ưu, não nữa. Ngài đã xin phụ vương đi xuất gia nhưng không được chấp thuận và cha của Ngài nói rằng con muốn gì ta cũng chiều ý con nhưng không được đi làm tu sĩ. Ngài thưa với vua rằng hãy làm Ngài trẻ mãi không già, khỏe hoài không bệnh, sống mãi không chết. Nếu phụ vương đáp ứng được thì Ngài xin ở lại hoàng cung, không đi xuất gia nữa.
Sau bao tháng ngày suy tư, trăn trở, vào một ngày nọ, lúc nửa đêm Ngài đã bỏ lại vợ đẹp, con thơ, cung hoàng, điện ngọc, bỏ lại cha già, mẹ hiền, cùng tất cả vương vị ngai vàng quyền uy và cùng người đánh xe Xa Nặc, cưỡi chú ngựa Kiền Trắc trong đêm tối vượt thành để đi tìm cầu đạo giải thoát. Ngài trả lại hoàng bào, đính đầy vàng ngọc bảo thạch giao lại cho Xa Nặc, cắt mái tóc đen huyền của tuổi thanh xuân, gửi lại cho cha hoàng bào, rồi đi tìm thầy học đạo. Ngài phải tìm ra cho ra được con đường chấm dứt sanh già bệnh chết, để đem đạo lộ này để đền đáp lại cho tất cả thân quyến và chúng sanh.
Từ đó bắt đầu một hành trình lang thang nay đây mai đó tìm đến các vị thầy. Học với vị thầy nào, Ngài cũng chứng đắc đến những tầng thiền cao từ sơ thiền, nhị thiền, tam thiền, tứ thiền, không vô biên xứ, thức vô biên xứ, vô sở hữu xứ, phi tưởng phi phi tưởng xứ, tứ thiền bát định. Ngài chứng đắc rất nhanh những cảnh giới cao nhất của các bậc Đạo sư, Tổ sư ở các tông phái thời đó. Và các bậc Đạo sư đều nhận Thái Tử là huynh đệ, không dám làm thầy của Thái tử. Từ thân tướng, sức khỏe, trí tuệ, tâm từ của Ngài đều khiến người khác tâm phục khẩu phục; từ học trò cho đến các vị giáo chủ của các đạo phái, tông phái, tổ sư, đạo sư đều như vậy. Những vị ấy mong Thái tử ở lại để các giao hết học trò lại cho Ngài hướng dẫn, số lượng lên đến cả ngàn người, Ngài sẽ thay thế vị trí của các bậc Tổ sư ấy. Nhưng chúng ta phải thấy rằng, địa vị cao nhất là ngai vàng mà Ngài còn từ bỏ thì làm sao Ngài đi tìm địa vị ở trong tu hành, cho nên Ngài không nhận và từ bỏ hết.
Sau thời gian học đạo từ các vị Đạo sư, Ngài không thấy ai có thể giải quyết được vấn đề mà Ngài đang tìm kiếm là thoát ly sanh tử. Ngài quyết định tự mình dấn thân và bắt đầu với sáu năm khổ hạnh đau khổ. Nửa tháng Ngài ăn một lần, khi lấy tay rờ vào da bụng thì đụng tới xương sườn, tóc rớt xuống từng mảng, Ngài phải dùng thức ăn làm bằng cỏ, ăn phân bò. Ngài tự tu hết các pháp môn thời đó như là tu hạnh giống như con chó, con bò, đi bằng bốn chân, vô chuồng bò, ăn phân bò, uống nước tiểu bò. Ngài để cho bụi bặm sình bùn dính trên thân nhưng không làm sạch chúng đi. Những em bé mục đồng tiểu tiện lên người của Ngài, lấy cây đâm vào lỗ tai Ngài nhưng Ngài không khởi tâm sân hận. Đến khổ hạnh cùng cực là Ngài dùng nước tiểu của mình và phân của mình. Đó là khổ hạnh cùng cực của Bồ Tát, nửa tháng ăn một bữa, mỗi bữa ăn một loại trái cây rụng hoặc một hột mè. Ngài muốn đi tiểu tiện thì khi đứng lên Ngài té xuống, không đủ sức để bước đi vì sức khỏe quá yếu và cạn kiệt.
Đến giai đoạn Ngài sống độc cư một mình, khi thấy bóng người là Ngài bỏ chạy, không muốn tiếp xúc, Ngài chạy trốn từ cánh rừng này tới cánh rừng kia. Trong suốt sáu năm tu khổ hạnh và tu đắc tứ thiền bát định nhưng vẫn không thoát khỏi sanh già bệnh chết. Cuối cùng Ngài từ bỏ tất cả và tự tu một mình.
Khi ngài tự tu một mình thì Ngài đi sâu vào thiền định bằng tâm trong sáng, thanh tịnh, Ngài nhìn ra được ngũ uẩn, thân thể này là sắc pháp do tứ đại tạo thành, nhìn ra toàn bộ vũ trụ hành tinh này tất cả đều là sắc uẩn. Sau đó ngài nhìn vào trong tâm, Ngài thấy những cảm giác thuộc về thọ uẩn, những hình bóng thuộc về tưởng uẩn, những lời nói lầm thầm thuộc về hành uẩn, những sự nhận thức thuộc về thức uẩn. Ngài nhìn thấy sâu vào bên trong năm uẩn là tham, sân, si, những cảm xúc của nóng bức thiêu đốt, sân hận, si mê tà kiến; không thấy đúng về sự thật về ngũ uẩn mà cho rằng đây là tôi, của tôi, tự ngã của tôi.
Càng nhìn sâu vào bên trong, Ngài bắt đầu nhìn ra cấu nhiễm và Ngài bắt đầu cuộc thanh lọc, quét dọn, lau chùi, tổng vệ sinh, tẩy rửa một cách hoàn toàn tất cả tham, sân, si, dục, ái, vô minh, bản ngã. Cho nên chữ Phật là bậc tự mình phát giác phát hiện ra những cấu uế trong tự thân của mình, trong cuộc đời này. Ngài đã tẩy sạch tất cả các cấu uế trọn vẹn, viên mãn, thanh tịnh. Lúc đó Ngài tự mình giác ngộ và tâm Ngài đạt đến chỗ thanh tịnh viên mãn, trong sạch hoàn toàn.
Vào canh một giữa đêm đầu tiên Ngài chứng đắc Túc Mạng Minh, Túc là xưa, mạng là sinh mạng, minh là trí tuệ, trí tuệ nhìn thấy tất cả những sinh mạng, những đời sống của mình từ vô lượng vô biên kiếp thuở quá khứ. Ngài ngồi bằng tâm nhu nhuyến, thuần tịnh dễ sử dụng để hướng tâm nhớ đến đời trước của mình, Ngài đã thấy được đời trước mình sanh ra ở đâu, làm gì, dựng vợ gả chồng ra sao, sống chết ra sao, Ngài đã thấy rõ nét về đại cương và chi tiết của từng kiếp. Sau đó Ngài hướng tâm đến các đời trước thì thấy rõ quê quán, cha mẹ là ai, sống ra sao, đau khổ buồn vui như thế nào. Ngài nhìn thấy từng kiếp người, từ đời thứ 3, thứ 4 cho đến đời 100, 1.000, 100.000 và thấy rằng trong vô lượng kiếp sanh tử trong quá khứ đều kết thúc trong nước mắt và khổ đau.
Đến canh thứ hai, Ngài có suy nghĩ về các chúng sanh khác không biết đời sống họ ra sao và sống như thế nào, Ngài đã hướng tâm đến tất cả chúng sanh, Ngài nhìn thấy những chúng sanh làm việc ác bị rơi xuống địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh, vô lượng vô biên trăm ngàn muôn ức kiếp của chúng sanh và khi ấy Ngài thành tựu Sanh Tử Minh, thấy biết được tất cả đời sống của chúng sanh trong vô lượng vô biên kiếp trong Thái Dương hệ, trong Tam Thiên Đại Thiên Thế Giới, trong 10.000 thế giới.
Đến canh thứ ba, với tâm thanh tịnh, trong sáng định tĩnh Ngài hướng tâm rà soát lại nội tâm sâu thẳm nhất trong nội tâm của Ngài, Ngài thấy rõ được tâm Ngài đã hoàn toàn sạch hết tất cả mê lầm, hoàn toàn trong sáng, thanh tịnh. Ngài thấy bao nhiêu đời sống của mình đều kết thúc bằng nước mắt, bao nhiêu kiếp sống của mình kết thúc trong chết chóc, trong già nua, trong bệnh tật, trong nước mắt. Hết đời sống này đến đời sống khác đều kết thúc bằng nước mắt, Ngài nhìn lại giống như 100, 1000, 1 triệu bộ phim đang xảy ra nhưng đều kết thúc trong nước mắt và đau khổ. Ngài đã thốt lên đây là khổ, khổ là đây và Ngài đã thành tựu Thánh trí, thấy được nỗi khổ niềm đau của chúng sanh là từ dục, ái, tham, sân, si, vô minh, bản ngã. Ngài chứng đắc được thánh trí thứ hai là Khổ tập, nguyên nhân của khổ. Tiếp theo Ngài quán chiếu cảnh chấm dứt khổ với tâm thanh tịnh của Ngài, Ngài thấy được đạo lộ đưa đến con đường chấm dứt khổ là con đường Bát Thánh Đạo, là Thánh đạo tám ngành, thành tựu Bốn thánh trí về Ngũ uẩn, Bốn thánh trí về Tứ Diệu Đế, Bốn Thánh Trí về lậu hoặc, trong canh ba Ngài chứng được Lậu Tận Minh.
Bồ Tát chính thức chứng được Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác, trở thành duy nhất trong Tam Thiên Đại Thiên Thế Giới, trong 10.000 cõi và lúc đó quả địa cầu rung chấn, các chư Thiên ở các tầng trời đã reo hò: Bồ Tát Tất Đạt Đa đã thành Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác. Cao hơn là tầng trời Dạ Ma Thiên, tầng trời Hóa Lạc Thiên, cõi trời Đâu Suất Thiên, cõi trời Tha Hóa Tự Tại thiên, trăm ngàn vạn ức chư Thiên đồng chúc tụng xưng tán, reo hò: BỒ TÁT TẤT ĐẠT ĐA ĐÃ THÀNH VÔ THƯỢNG CHÁNH ĐẲNG CHÁNH GIÁC. Âm ba này chấn động 10.000 thế giới, Tam Thiên Đại Thiên Thế Giới, rung chuyển đến cõi trời Phạm Thiên.
Trăm ngàn vạn ức vô lượng chư Thiên tất cả đều tập hợp tại Bồ Đề Đạo Tràng, rải hoa trổi nhạc trời, bao nhiêu thù thắng, tất cả muôn ngàn vạn ức, 10,000 thế giới, Tam Thiên thế giới đầy khắp trong hư không, trải dài mấy trăm cây số, đứng đông đúc không có chỗ hở, dù bằng một lỗ chân lông. Tất cả chư Thiên hội tụ về chúc tụng, xưng tán, đảnh lễ, cúng dường, ca ngợi Thế Tôn là bậc đại chiến thắng. Không có bất cứ ai đánh bại được Ngài, Ngài là bậc đại hùng đại lực, toàn tri toàn giác, là bậc vô thượng giữa chư Thiên và loài người, là tối cao trong Tam Thiên đại Thiên thế giới.
Trong giây phút này chúng ta thật vinh quang, vinh dự, hãnh diện vô cùng vì chúng ta là đệ tử của bậc tối cao, đại giác Pháp vương trong Tam Thiên Đại Thiên Thế Giới này. Đó là ý nghĩa quan trọng của đại lễ Vesak. Là sự xuất hiện của bậc vĩ nhân trong sáu nẻo luân hồi, bậc đã thoát ra tất cả Ngũ uẩn, vượt ra khỏi thế giới, vượt ra khỏi tham sân si,vượt ra khỏi phiền não lậu hoặc, bậc đã đánh tan tất cả mê lầm để vượt ra những cấu uế, bậc đã thành tựu sự giác ngộ cao nhất không có ai cao hơn nữa.
Thế Tôn ơi, con thật hạnh phúc quá, con thật hoan hỷ quá, con biết ơn Ngài vô tận, con cảm ơn Ngài vô cùng. Hôm nay là ngày sinh nhật của Thế Tôn, chúng con bằng tất cả trái tim, bằng tất cả tấm lòng, bằng tất cả sự cung kính, sự biết ơn, chúng con xin dập đầu cúi lạy bậc tôn kính nhất đời, tâm hoàn toàn thanh tịnh, diệt tận tham sân si, đấng giác ngộ hoàn toàn, thân tâm và thế giới.
Chúng con nguyện làm con ngoan của Ngài, làm trò giỏi của Ngài, quyết tâm diệt tham sân si, tu tập tâm hiền từ, hiền hậu, hiền hòa, hiền lương, hiền đức, hiền trí để con đi theo các bậc hiền thánh. Đi theo đức Thế Tôn trên con đường diệt khổ, đạt đến Niết Bàn, hạnh phúc tối thượng. Tất cả sự hạnh phúc này con xin dâng lên trong ngày sinh nhật của Phật. Đấng cha lành của chúng con, chúng con thật vui và hoan hỷ, phấn khởi, hân hoan dào dạt sung sướng vì sau gần 3000 năm Ngài diệt độ, chúng con vẫn thừa hưởng giáo Pháp thâm sâu vi diệu, tối thượng mà Ngài đã để lại một gia tài vĩ đại thiêng liêng quý báu cao tột cho chư Thiên vả nhân loại. Chúng con sẽ đảnh lễ trước tôn tượng của Ngài và xối những gáo nước trong sạch để thể hiện lòng tri ân, báo ân đối với đức Như Lai.
Sau khi thành đạo, những bước chân đầu trần chân đất, khoác lên mình chiếc y phấn tảo, áo khâu bằng tấm vải vụn ở nghĩa địa, đi khắp nơi để hoằng pháp 45 năm ròng rã. Có những lúc không có gì ăn, Ngài đã uống nước lã. Lúc đó đạo Phật chưa được thịnh hạnh như bây giờ, họ vẫn xem đạo Phật là tà đạo, là quái dị, họ tu theo thần lửa, thần sông. Nhưng Ngài vẫn vững từng bước chân đi ròng rã 45 năm giáo hóa khắp mọi miền Ấn Độ. Khi được lên tu tập ở Linh Quy Pháp Ấn, chúng ta sẽ có trải nghiệm đi chân không, ôm bình bát đi khất thực, để tưởng nhớ đến Đức Phật, nhớ để cố gắng, nỗ lực tu hành.
Nhập Niết Bàn
Trong những hơi thở cuối cùng của cuộc đời, Đức Phật nằm dưới hai cây Sala Song thọ, sắp nhập Niết Bàn. Lúc đó cây sa la không phải là mùa trổ hoa nhưng tất cả đều nở trái mùa, lá xanh tươi thắm, rơi xuống thân Ngài. Chư Thiên trong vòng bán kính 200 km2, đông đúc không có một lỗ hở, hơn cả kẹt xe. Chư thiên trong 10.000 thế giới, trong Tam Thiên Đại Thiên Thế Giới hội tụ để đưa tiễn Ngài ở giây phút cuối cùng của bậc Đạo sư của thế gian. Các vị chư Thiên, thái tử cõi trời, Thiên chúng tấu nhạc, rải thiên hoa, vung lên trầm hương chiên đàn cõi trời, rơi trên thân Như Lai.
Khi các Ngài rải hoa cúng dường, Đức Phật nói không phải cúng dường như vậy là đầy đủ. Sau khi Ngài nhắm mắt ra đi, ai là người chân chánh thực hành chánh Pháp, thành tựu chánh Pháp, người đó mới là người cúng dường tối thượng. Cho nên, ai là người thực hành Pháp của Như Lai mới là người cúng dường tối thượng cao nhất.
Nếu có Tỷ-kheo, Tỷ-kheo ni, cư sĩ nam hay cư sĩ nữ nào thành tựu Chánh Pháp và Tùy Pháp, sống chơn chánh trong Chánh Pháp, hành trì đúng Chánh Pháp, thời người ấy kính trọng, tôn sùng, đảnh lễ, cúng dường Như Lai với sự cúng dường tối thượng.
(trích Trường Bộ Kinh, Bài 16. Kinh Đại Bát Niết Bàn)
Rồi Đức Phật nói rằng, các vị hãy nghe lời nhắn nhủ sau cùng của ta, tất cả mọi sự vật là vô thường, rồi đây tất cả phải chịu lưỡi hái của tử thẩn, tất cả đều chịu sự kết thúc trong nước mắt là sự chết. các Pháp hữu vi là vô thường, hãy tinh tấn lên để giải thoát. Chớ có buông lung phóng dật, hãy nỗ lực tinh tấn lên, để diệt tận tham sân si, nhiếp phục những ham muốn thấp hèn, tinh tấn lên để bẻ gãy ngọn cờ bản ngã, ngã mạn, hãy sống khiêm cung, khiêm nhường, khiêm hòa, hãy sống với tâm hiền lành, hiền từ, hãy sống với tâm thương rộng lớn, biết tha thứ cho nhau. Biết bao dung độ lượng cho nhau, biết nỗi khổ niềm đau với nhau, để cùng trang trải tình thương vô tận.
Này các Tỷ-kheo, nay Ta khuyên dạy các Ngươi: “Các pháp hữu vi là vô thường. Hãy tinh tấn, chớ có phóng dật”. Ðó là lời cuối cùng của Như Lai.
(trích Trường Bộ Kinh, Bài 16. Kinh Đại Bát Niết Bàn)
Và sau khi nói đức Thế Tôn nhập vào các tầng thiền, đại định, sau đó Ngài trút hơi thở cuối cùng, giữa hai cây Sala song thọ. Đó là cuôc đời vĩ đại, lịch sử chói lọi, của một bậc đại vĩ nhân- Tôn giả Gotama- Phật Thích Ca Mâu Ni Cù Đàm.
Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật!
./.