Nhận Diện Thân Tâm 14 - Căn Bản Trí
Tinh Hoa Nikāya
Nhận Diện Thân Tâm 14
Căn Bản Trí
Thích Minh Thành
MỤC LỤC
TOC \o "1-3" \h \z \u I. Vô thường PAGEREF _Toc181285229 \h 1
II. Khổ PAGEREF _Toc181285230 \h 4
III. Thánh Trí về ngũ uẩn PAGEREF _Toc181285231 \h 10
I. Vô thường
Xin quý thầy rõ biết ở trước mặt, tầm nhìn rộng mở hết mức ra hai bên không trú vào một điểm nào, tầm nhìn rộng mở sáng tỏ ở phía trước. Cảm nhận hơi thở, cảm nhận cơ thể, cảm giác toàn thân, cảm nhận cảm giác từ đỉnh đầu cho đến gót chân. Hít vào làm cho thân an tịnh, thở ra làm cho tâm lắng dịu, dễ chịu. An tịnh… lắng dịu… dễ chịu, trong tâm tỉnh giác nhận rõ thọ; tưởng; hành, có hình bóng gì, có suy nghĩ gì, cảm giác như thế nào đều nhận biết rõ ràng. Chánh niệm ở trước mặt, cảm giác toàn thân và nội tâm tỉnh giác.
Ứng dụng theo trí tuệ trong kinh tạng Nikāya thì khi nhìn như vậy có rất nhiều pháp xuất hiện. Phải quán chiếu con mắt này là vô thường, con mắt này rồi sẽ mờ, biến hoại, chiếc lá này là pháp duyên sanh vô thường của đất, nước, gió, lửa, chiếc lá này là vô thường, tan nát, tan rã, hủy hoại, hoại diệt, sự rõ biết chiếc lá này là vô thường, là pháp duyên sanh. Nhãn xúc, sự tiếp xúc của ba pháp này là vô thường, biến hoại, là pháp duyên sanh, là pháp tan rã. Những cảm thọ sanh khởi lên hoặc là vui thích, hoặc là không vui thích, hoặc là thường thường, không thích cũng không ghét.
Tất cả những cảm thọ này vô thường, duyên sanh, biến hoại, hoại diệt, căn – trần – thức – xúc – thọ đều là vô thường, đều là tan nát, hủy hoại, hoại diệt, không chạy theo chiếc lá đó, không chạy theo cảm thọ ưa thích hay ghét bỏ cũng không bám vào cảm giác thường thường, phải thấy tất cả pháp vận hành là vô thường, duyên sanh, hoại diệt. Tâm trú trước vào bất cứ căn – trần – thức – xúc – thọ – tưởng – hành – thức, đó là cái nhìn của trí tuệ, không yêu thích vào một uẩn nào, không bám víu, không chấp thủ vào một pháp nào khi nó đang hiện hữu, khi nó đang có mặt, khi nó đang vận hành.
Khi đó mình phải như lý tác ý, còn mình trơ ra thì sống trong vô minh hoặc là mình tưởng theo những cái mình đã học được, không phải của bậc Chánh Đẳng Giác truyền trao Thánh trí thì lúc đó mình sẽ bị mê, dính mắc vào một trong những pháp đó, khi đưa chiếc lá lên thì thấy bình thường nhưng khi đưa cục vàng lên thì lạc thọ, sự tham ái sẽ có mặt.
Khi Đức Thế Tôn thuyết pháp ngài thường dùng móng tay khơi lên một chút phân bò rồi đưa lên để hỏi chuyện các thầy Tỳ-kheo, bên Ấn Độ có rất nhiều phân bò không ai dám đụng vào vì bên đó họ thờ con bò. Ngài hỏi cả đại địa là nhiều hay một chút phân bò dính trong tay ngài là nhiều thì các thầy nói đất dính trong tay Thế Tôn làm sao so được đất trong đại địa này. Thế Tôn nói nếu có ai nhìn thấy một chút hành nào, nếu có ai thấy một chút nào thường hằng, thường trú bằng một chút phân bò trong móng tay ngài thì người ấy chưa thành tựu chánh tri kiến.
"-- Bạch Thế Tôn, có thể có sắc nào, sắc ấy là thường còn, thường hằng, thường trú, không chịu sự biến hoại, vĩnh viễn thường hằng, vĩnh trú như vậy?
--Bạch Thế Tôn, có thể có thọ nào... có thể có tưởng nào... có thể có các hành nào... có thể có thức nào, thức ấy là thường còn, thường hằng, thường trú, không chịu sự biến hoại, vĩnh viễn thường hằng, vĩnh trú như vậy?
-- Này Tỳ-kheo, không có sắc nào, sắc ấy là thường còn, thường hằng, thường trú, không chịu sự biến hoại, vĩnh viễn thường hằng, vĩnh trú như vậy.
Rồi Thế Tôn lấy tay cầm lên một miếng phân bò và nói với Tỳ-kheo ấy:
-- Này Tỳ-kheo, cho đến được một ngã thể nhỏ như thế này cũng không thường còn, thường hằng, thường trú, chịu sự biến hoại, không vĩnh viễn thường hằng, vĩnh trú.
Nếu được một ngã thể nhỏ như thế này, này Tỳ-kheo, là thường còn, thường hằng, thường trú, không chịu sự biến hoại, vĩnh viễn thưòng hằng, vĩnh trú, thời đời sống Phạm hạnh để chơn chánh đoạn tận khổ đau không thể trình bày. Vì này Tỳ-kheo, cho đến được một ngã thể nhỏ bé như thế này cũng không thường còn, thường hằng, thường trú, chịu sự biến hoại, không vĩnh viễn thường hằng, vĩnh trú; do vậy đời sống Phạm hạnh để chơn chánh đoạn tận khổ đau có thể trình bày" (Tương Ưng Bộ, Tập III - Thiên Uẩn, Chương I. Tương Ưng Uẩn (f), V. Phẩm Hoa, IV. Phân Bò)
Hành ở đây là sự vận hành của năm uẩn. Một chút máu, một chút mủ, một chút phân cũng là hôi tanh, cũng là dơ bẩn, dù chỉ là một chút ít nhưng ngài vẫn không tán thán các hành, ngài dạy:
Chư hành vô thường thị sanh diệt pháp
Sanh diệt diệt thời tịch diệt vi lạc.
"Chư hành vô thường thị sanh diệt pháp", nói tắt là hành pháp cho nên chữ hành trong kinh Nikāya rất khủng khiếp, một chữ này thôi đã bao trùm vũ trụ. Tức là thân tâm, vật chất, tinh thần, sắc; thọ; tưởng; hành; thức đều nằm trong chữ "hành" này. Còn "sanh diệt diệt thời tịch diệt vi lạc" là khi chấm dứt ngũ uẩn, nếu không học Thánh trí ngũ uẩn sẽ không hiểu hết ý của những câu này.
"Các hành là vô thường,
Có sanh phải có diệt
Ðã sanh, chúng phải diệt,
Nhiếp chúng là an lạc"
(Trung Bộ Kinh, 16. Kinh Ðại Bát-Niết-Bàn)
Các hành ở đây là chỉ cho sự vận hành của sắc; thọ; tưởng; hành; thức, sự vận hành của ngũ uẩn là vô thường, biến hoại, hoại diệt, đó là pháp sanh diệt. Sanh diệt diệt thời là sự chấm dứt sự vận hành của năm uẩn này, tịch diệt vi lạc là chỉ cho bậc Thánh xuất ly năm uẩn, đoạn diệt năm uẩn, tử bỏ năm uẩn, chứng được tâm bất động giải thoát. Chữ "hành" trong kinh không phải dễ hiểu, bản thân con tu ba chục năm mới hiểu ra được chữ "hành" này.
Nghĩa đen của hành là đi, là suy nghĩ vì trong định nghĩa năm uẩn có ghi "suy nghĩ là hành", ngoài ra chữ hành còn có nghĩa là thực hành, tu hành, hành trì. Chữ "hành" này phải chia làm ba, đó là thân hành, khẩu hành, ý hành. Hành động của thân gọi là thân hành, lời nói miệng gọi là khẩu hành, suy nghĩ trong tâm gọi là ý hành, còn chữ "hành" mình đang nói là sự vận hành của ngũ uẩn, nó bao trùm hết tất cả thế giới, gọi là hành pháp.
"Tất cả hành vô thường
Với Tuệ, quán thấy vậy
Ðau khổ được nhàm chán;
Chính con đường thanh tịnh."
(Kinh Pháp Cú 20 – Phẩm Đạo, kệ 277)
"Tất cả hành khổ đau
Với Tuệ quán thấy vậy,
Ðau khổ được nhàm chán;
Chính con đường thanh tịnh"
(Kinh Pháp Cú 20 – Phẩm Đạo, kệ 278)
"Tất cả pháp vô ngã,
Với Tuệ quán thấy vậy,
Ðau khổ được nhàm chán
Chính con đường thanh tịnh"
(Kinh Pháp Cú 20 – Phẩm Đạo, kệ 279)
Cho nên chữ "hành" này là chỉ cho sự vận hành của ngũ uẩn cũng là chỉ cho vũ trụ vạn vật thân tâm gọi là hành pháp. Một lời nói của mình phát ra gọi là khẩu hành, một cử chỉ của mình gọi là thân hành, một ý nghĩ của mình gọi là ý hành cho nên mới có kinh Thân Hành Niệm, Đức Phật gọi bài kinh này là hương vị của bất tử. Thân Hành Niệm là nghĩ nhớ chánh niệm trong mỗi cử chỉ, hành vi của thân, niệm oai nghi, hành động. Tất cả đều sanh diệt, tan hoại, biến hoại, tan rã, mình cần thể nhập Thánh trí tuệ đó, nhàm chán đối với tất cả các hành, nhìn vào xác thân này, nhìn vào các cảnh sắc này không thấy có gì đáng ưa thích trong đó, dù cảnh đó đẹp đến mức độ nào cũng thấy nó là thứ tan nát, hủy hoại, hoại diệt.
II. Khổ
Tất cả cảm giác dù là sướng, khổ hay không sướng không khổ thì tất cả cảm giác đều là khổ.
"-- Lành thay, lành thay, này Tỳ-kheo! Này Tỳ-kheo, Ta nói rằng có ba thọ này: lạc thọ, khổ thọ, bất khổ bất lạc thọ. Ba thọ này được Ta nói đến. Nhưng này Tỳ-kheo, Ta lại nói: 'Phàm cái gì được cảm thọ, cái ấy nằm trong đau khổ'. Chính vì liên hệ đến tánh vô thường của các hành mà lời ấy được Ta nói lên: 'Phàm cái gì được cảm thọ, cái ấy nằm trong đau khổ'. Chính vì liên hệ đến tánh đoạn tận, tánh tiêu vong, tánh ly tham, tánh đoạn diệt, tánh biến hoại của các hành mà lời ấy được Ta nói lên: 'Phàm cái gì được cảm thọ, cái ấy nằm trong đau khổ'". (Tương Ưng Bộ, Tập IV – Thiên Sáu Xứ, Chương II. Tương Ưng Thọ, Phần Hai - Phẩm Sống Một Mình, I. Sống Một Mình)
Mình thấy ngon miệng nên ăn nhiều rồi bệnh, phải nhìn thấy được tính chất khổ nằm trong các cảm thọ. Tất cả các tưởng, hình bóng trong tâm, tất cả suy nghĩ đều hướng đến sự nhàm chán, ly tham, thoát ra, đó là trí tuệ của bậc Thánh. Cốt lõi của kinh tạng Nikāya, hồng tâm, tông chỉ, trái tim của nó là ly tham đối với ngũ uẩn, nhìn thấy được bản chất vô thường, đau khổ, biến hoại, tan nát, hủy hoại của nó rồi nhàm chán, thoát ra, không tham muốn nữa, không còn ưa thích với bất kì cái sắc nào nữa, không còn ham thích đối với bất kì cảm giác, suy nghĩ, nhận thức, hình bóng nào nữa thì lúc đó xuất ly ngũ uẩn.
Đi ngoài đường bị giật điện thoại đập đầu xuống đường nên bị thương rất nặng, có người cũng vì điện thoại mà chết, cái điện thoại đó nằm gọn trong bàn tay nhưng lại chứa cả thế giới thu nhỏ trong đó, dùng để xem kinh, đọc kinh sẽ rất bổ ích nhưng nếu xem những thứ ngoài kinh làm cho mình mất thời gian tu hành, mất thời gian học đạo, bị phân tâm, loạn tâm, tán tâm. Phải quán chiếu nhiều phương diện, khía cạnh để từ bỏ nó, xuất ly khỏi cái điện thoại, vị ngọt của điện thoại đem lại nhiều thứ nhưng nguy hại cũng rất lớn cho nên cần giải thoát khỏi cái điện thoại.
Xin thưa quý thầy là khi xuất gia là trong 15 năm con không dùng điện thoại, đến khi ra hướng dẫn huynh đệ trong các lớp Sơ cấp, Trung cấp mới được Phật tử cho điện thoại đời cũ để liên lạc công việc thì mới dùng, cho đến bây giờ cũng rất cẩn thận khi dùng. Khi nó tiện thì tiện nhiều nhưng hại cũng rất nhiều, tiện lợi là có thể chứa được cả đại tạng kinh trong chiếc điện thoại nhỏ đó, ngày xưa khi nhập thất phải mang theo cả chục thùng kinh còn bây giờ để gọn trong điện thoại để đọc kinh, còn những thầy nhỏ tuổi nhập thất mà đem theo điện thoại cũng mệt mỏi với nó. Phải nhìn thấy như vậy để mình quán chiếu thật kĩ, các thầy cố gắng học 35 loại trí tuệ của ngũ uẩn này, gom lại còn 7 trí vì nó là định lý giải thoát rất quan trọng cho pháp học và pháp hành về sau.
"Do danh sắc tập khởi nên thức tập khởi. Do danh sắc đoạn diệt nên thức đoạn diệt" (Tương Ưng Bộ, Tập III. Thiên Uẩn, Chương I. Tương Ưng Uẩn (c), B. Năm Mươi Kinh Ở Giữa, I. Phẩm Tham Luyến, IV. Thủ Chuyển)
Chúng ta đã biết sắc là tứ đại, còn danh chính là thọ, tưởng, tư, xúc, tác ý, tập khởi nghĩa là sự tập hợp và sanh khởi. Sở dĩ có thức, có sự rõ biết là do có sắc thân này, đó là phần cơ thể vật chất, cơ thể, gân xương, máu mủ, phần thứ hai là danh chính là tâm của mình, nó gồm cảm giác là thọ, hình bóng trong tâm là tưởng, tư là hành, xúc là sự tiếp xúc và tác ý là sự tác động tâm ý của mình. Do có danh và sắc tập khởi nên thức mới tập khởi, cái nhận thức này là do các pháp duyên sanh từ tứ đại thọ, tưởng, tư, xúc, tác ý thì mới sanh khởi ra các thức.
Nếu danh sắc đoạn diệt thì thức đoạn diệt, chính vì chỗ thức diệt cho nên mình mới chứng ngộ được Niết-bàn, tức là khi hết vô minh, tham ái, chấp thủ thì thức này sẽ diệt, thức này là pháp duyên sanh, nó nương dựa vào tứ đại là sắc và nó nương dựa vào tâm, những cái đó tụ tập sanh khởi lên thì có thức, nếu những cái này trục trặc, hoại diệt thì các thức không hiện hành ra được hoặc là bị chấm dứt hoàn toàn. Cho nên sắc; thọ; tưởng; hành; thức đều giống nhau, là những pháp vô thường, nó tập hợp lại sanh khởi ra.
"Ðây là con đường Thánh đạo Tám ngành đưa đến thức đoạn diệt, tức là chánh tri kiến, chánh tư duy... chánh định" (Tương Ưng Bộ, Tập III. Thiên Uẩn, Chương I. Tương Ưng Uẩn (c), B. Năm Mươi Kinh Ở Giữa, I. Phẩm Tham Luyến, IV. Thủ Chuyển)
Những gì chúng ta học chánh kiến là phần căn bản, đó là những cái tiền phương tiện để chúng ta chuẩn bị học về chánh tri kiến. Chánh kiến là phải thấy được ngũ uẩn, thấy được nhân duyên sanh diệt của ngũ uẩn, thấy được bản chất của ngũ uẩn, thấy được tên gọi, mặt mũi, tánh tình, thấy được các yếu tố hình thành của nó, thấy được guồng máy vận hành, mô thức hoạt động của nó, biết được cấu trúc, định lý của nó rồi sau đó mới dùng những phương tiện thiện xảo để đánh vào tử huyệt diệt tận nó. Lúc đầu chúng ta sẽ nhiếp phục những cái thô bạo, từ từ đi đến nhiếp phục những cái vi tế và cuối cùng là diệt tận nó luôn thì chúng ta sẽ thành tựu chánh trí, chánh giải thoát, Thập Thánh Đạo chứ không chỉ có Bát Chánh Đạo, khi học Nikāya sẽ biết được Thập Thánh Đạo, có chánh trí, chánh giải thoát nữa là mười nên gọi là Thập Thánh Đạo.
"Do duyên thức khởi lên lạc hỷ gì, đây là vị ngọt của thức" (Tương Ưng Bộ, Tập III. Thiên Uẩn, Chương I. Tương Ưng Uẩn (c), B. Năm Mươi Kinh Ở Giữa, I. Phẩm Tham Luyến, V. Bảy Xứ)
Khi nãy con đã ví dụ cầm lên cục vàng thì cảm thọ sẽ khác, cầm lên cục phân bò thì cảm thọ cũng sẽ khác, cầm chiếc lá khô lên cũng sẽ khác. Tại sao khi thấy cục vàng hay xấp tiền là mình thích còn khi cầm cả chồng báo lại không thích? Là do sự chấp thủ, do sự huân tập hiểu biết từ khi đẻ ra đã biết vàng, tiền là quý, nhiều người dân tộc ở vùng xa xôi, hẻo lánh không biết tiền đô là gì, không biết kim cương là gì cho nên cái thức rõ biết thôi, ngoài ra còn những ý hành sanh khởi lên, những gì đã từng thấy, từng nghe nay được hồi tưởng lại cho nên hễ biết cái gì mà khởi lên khoan khoái, thích thú, vui sướng thì đó là vị ngọt của thức.
Các thầy nhìn thấy trường thiền của mình đẹp nên thích thì đó là vị ngọt, mình thích là mình chết với nó, mình thích quen rồi nhưng đột nhiên qua ở chỗ điện không có, nước thì thiếu, chỉ có tấm tôn che lại thôi thì tâm mình sẽ ra sao cho nên cần nhìn sâu vào thọ; tưởng; hành; thức chứ nhìn bên ngoài là không được cho nên phải phá cái tâm khoan khoái, thích thú. Có một thầy ở Phật giáo nguyên thủy được một Phật tử dẫn lên núi, lúc đầu xin ở lại nhưng tối đến ngủ chỉ có tấm tôn vì trên núi mọi thứ đều đơn sơ.
Cho nên Phật tử này muốn đưa thầy xuống khách sạn ngủ, con chỉ nói tùy duyên thôi cho nên trong sinh hoạt thường nhật sẽ thấy được tâm, thấy được ngũ uẩn, thấy được sự tu tập của mình. Đức Thế Tôn của chúng ta ngồi dưới gốc cây, điều này nói lên tinh thần xả ly, ly tham đối với sắc uẩn, ngài bỏ ngai vàng là sự ly tham với sắc uẩn, có một vị trải một tấm vải đẹp dài từ trong ra ngoài nhà, họ năn nỉ Thế Tôn ba lần đạp lên tấm vải đó để họ có phước nhưng ngài không bước lên.
"Vương tử Bodhi, sau khi đêm ấy đã mãn, tại trú xá của mình cho sửa soạn các món ăn thượng vị, loại cứng và loại mềm, và cho trải vải trắng lâu đài Kokanada cho đến tầm cấp thấp nhất (pacchima), rồi gọi thanh niên Sanjikaputta:
-- Này Thanh niên Sanjikaputta, hãy đi đến Thế Tôn, sau khi đến, hãy báo giờ cho Thế Tôn được biết: 'Bạch Thế Tôn, đã đến giờ, cơm đã sẵn sàng'.
Rồi Thế Tôn vào buổi sáng đắp y, cầm y bát đi đến trú xá của vương tử Bodhi. Lúc bấy giờ, vương tử Bodhi chờ đón Thế Tôn đến, đang đứng ở cửa ngoài. Vương tử Bodhi thấy Thế Tôn từ xa đi đến, sau khi thấy, liền tiến đến đón, đảnh lễ Thế Tôn, đi đầu hướng dẫn đến lâu đài Kokanada. Rồi Thế Tôn đứng sát vào tầm cấp thấp nhất. Vương tử Bodhi bạch Thế Tôn:
-- Bạch Thế Tôn, Thế Tôn hãy bước lên trên vải, Thiện Thệ hãy bước lên trên vải, để con được hạnh phúc, an lạc lâu dài.
Ðược nghe nói vậy, Thế Tôn im lặng. Lần thứ hai, vương tử Bodhi bạch Thế Tôn:
-- Bạch Thế Tôn, Thế Tôn hãy bước lên trên vải, Thiện Thệ hãy bước lên trên vải, để cho con được hạnh phúc, an lạc lâu dài.
Lần thứ hai, Thế Tôn im lặng. Lần thứ ba, vương tử Bodhi bạch Thế Tôn:
-- Bạch Thế Tôn, Thế Tôn hãy bước lên trên vải, Thiện Thệ hãy bước lên trên vải, để cho con được hạnh phúc, an lạc lâu dài.
Rồi Thế Tôn nhìn Tôn giả Ananda. Tôn giả Ananda thưa với vương tử Bodhi:
-- Thưa vương tử, hãy cho cuộn lại tấm vải, Thế Tôn không có đi bộ trên vải, Như Lai còn nghĩ đến những người thấp kém" (Trung Bộ Kinh, 85. Kinh Vương tử Bồ-đề)
Nếu không đọc sâu vào Nikāya là mình không thấy được Đức Phật, nếu mình không lấy sự mẫu mực của nhân thiên sư phạm của bậc Chánh Đẳng Giác làm khuôn mẫu thì từ từ mình sẽ xa Phật rất nhiều mà mình không biết. Đời sống của Đức Phật và các bậc Thánh là đời sống ly tham, đơn sơ, giản đơn, từ ngữ bây giờ là tối giản, đi đến mức xả phú cầu bần, xả thân cầu đạo cho đến cái sau cùng là xả bỏ bản ngã để chứng nhập vô ngã.
Mình không khéo thì tu riết rồi chạy theo cái đẹp của sắc uẩn, thành công của sự tu không phải nằm trên đó, không phải thành công trên sắc; thọ; tưởng; hành; thức. Thế Tôn ở trong cung vàng nhưng ngài lại bỏ hết, đầu trần chân đất khoác tấm vải của người chết trong nghĩa địa. Nếu lấy Đức Phật làm mẫu mực, làm chuẩn tắc của nhân thiên sư phạm, những gì mà Đức Phật và các bậc Thánh chứng ngộ thì mình sẽ đạt được, còn bắt chước những người sau mà không theo Phật thì mình sẽ đạt được giống như người sau. Chúng ta đang học sự nguyên chất của Đức Phật cho nên cần chiêm nghiệm thật kĩ.
"Thức vô thường, khổ, vô ngã, đây là nguy hiểm của thức" (Tương Ưng Bộ, Tập III. Thiên Uẩn, Chương I. Tương Ưng Uẩn (c), B. Năm Mươi Kinh Ở Giữa, I. Phẩm Tham Luyến, V. Bảy Xứ)
Cái biết này là cái vô thường, mới hôm qua có một Phật tử là một cô giáo muốn quy y, cô dẫn theo một đứa cháu. Cô rất xúc động và bàng hoàng, người trong gia đình cô đổ cồn ra rửa tay nhưng lại đứng gần bếp gas thế là lửa phựt lên gây hỏa hoạn sập nhà, có đến mấy người chết. Chỉ có rửa tay một chút thôi mà nhà sập, người chết, ông cụ thành phế nhân, đó là sự đột ngột, vô thường, biến hoại, không ai tưởng tượng được nhưng sự việc đó có thật và cô nói trong dòng nước mắt cho nên tất cả các hành pháp trong ngũ uẩn là bất an, biến hoại, có thể sụp đổ bất cứ lúc nào nhưng vì vô minh, tham ái, chấp thủ nên cứ nghĩ mình mãi như vậy, tâm thức này là tâm thức mù lòa, si ám và đây là tâm thức nắm giữ thọ; tưởng; hành; thức, không muốn buông ra nên khổ đau dài dài, khổ đau muôn đời, đã khổ đau, đang khổ đau và tiếp tục khổ đau cho đến khi nào nhận thức một cách sâu sắc ngũ uẩn là thứ tan nát, hủy hoại, hoại diệt rồi nhàm chán, ly tham, từ bỏ thì lúc đó mới hết khổ.
"Sự nhiếp phục dục tham, sự đoạn tận dục tham đối với thức, đây là sự xuất ly của thức" (Tương Ưng Bộ, Tập III. Thiên Uẩn, Chương I. Tương Ưng Uẩn (c), B. Năm Mươi Kinh Ở Giữa, I. Phẩm Tham Luyến, V. Bảy Xứ)
III. Thánh Trí về ngũ uẩn
Có những tin tức đọc vào là bủn rủn tay chân, con giết cha mẹ diễn ra như cơm bữa, vợ phân xác chồng, anh em chém giết nhau chỉ vì vài tấc đất. Chưa bao giờ mà ác nghiệp, ác tham của chúng sanh lại hừng hực, mãnh liệt khủng khiếp như bây giờ cho nên kiếp hoại này đã đến, kiếp hoại này vừa là đạo đức, vừa thế giới, vừa là nhân tâm, nghĩa là biến hoại đi đến chỗ diệt tận.
-Sự chấp thủ ngũ uẩn là phiền não và khổ đau.
-Ngũ uẩn sanh khởi là do vô minh và khát ái.
-Ngũ uẩn diệt tận là khi hết vô minh và hết khát ái.
-Bát Chánh Đạo là phương pháp đúng, đưa đến tẩy sạch vô minh và khát ái đối với ngũ uẩn. (Nghi Thức Tu Học Nikāya)
Bài kinh này rất quan trọng, các thầy sẽ nắm được đầu đuôi của sự tu học. Người xuất gia chúng ta ai cũng tha thiết, khát ngưỡng tìm cầu pháp hành nhưng có khi học rất lâu, tu rất nhiều cũng chưa nắm được pháp hành. Trong bài kinh này Đức Phật, ngài Xá-lợi-phất và các bậc thượng thủ Thánh đệ tử sẽ cho chúng ta thấy được đầu đuôi của sự tu học, xuyên suốt từ lúc mới tu cho đến khi thành tựu Thánh quả tối cao của Phật giáo chỉ có một pháp thôi, đây là bài kinh Vị giữ giới nằm trong Tương Ưng Bộ, tập III.
"Một thời, Tôn giả Sàriputta (Xá-lợi-phất) và Tôn giả Mahà Kotthika trú ở Bàrànasi (Ba-la-nại), tại Isipatana (Chư Tiên đọa xứ), vườn Lộc Uyển.
Rồi Tôn giả Mahà Kotthika, vào buổi chiều, từ Thiền tịnh đứng dậy, đi đến Tôn giả Sàriputta... thưa như sau:
-- Thưa Hiền giả Sàriputta, những pháp gì Tỳ-kheo giữ giới cần phải như lý tác ý?
-- Này Hiền giả Kotthika, Tỳ-kheo giữ giới cần phải như lý tác ý năm thủ uẩn là vô thường, khổ, bệnh hoạn, ung nhọt, mũi tên, bất hạnh, ốm đau, người lạ, hủy hoại, rỗng không, vô ngã.
Thế nào là năm? Tức là sắc thủ uẩn, thọ thủ uẩn, tưởng thủ uẩn, hành thủ uẩn, thức thủ uẩn. Này Hiền giả Kotthika, vị Tỳ-kheo giữ giới cần phải như lý tác ý năm thủ uẩn là vô thường, khổ, bệnh hoạn, ung nhọt, mũi tên, bất hạnh, ốm đau, người lạ, hủy hoại, rỗng không, vô ngã.
Này Hiền giả, sự kiện này xảy ra: Tỳ-kheo giữ giới do như tác ý năm thủ uẩn này là vô thường... vô ngã, có thể chứng được quả Dự lưu" (Tương Ưng Bộ, Tập III - Thiên Uẩn, Chương I. Tương Ưng Uẩn (g), C. Năm Mươi Kinh Sau, II. Phẩm Thuyết Pháp, X. Vị Giữ Giới)
Đây là lý do con thường xuyên giải thích về năm uẩn, nhận diện năm uẩn, trí tuệ nhìn nhận năm uẩn. Nếu mới vào mà đọc vào kinh liền trong khi mình không biết gì về ngũ uẩn rõ ràng, đầy đủ, minh bạch các khía cạnh, góc độ thì khi vào kinh chỉ hiểu trên chữ nghĩa thôi. Ngài Xá-lợi-phất nói nếu quán về năm thủ uẩn thường xuyên như vậy thì có thể chứng quả Dự Lưu. Sau đây ngài Kotthika hỏi rằng sau khi đã chứng Thánh quả thứ nhất Dự Lưu thì tu như thế nào nữa.
"-- Với Tỳ-kheo đã chứng quả Dự lưu, này Hiền giả Sàriputta, những pháp gì cần phải như lý tác ý?
-- Với Tỳ-kheo đã chứng quả Dự lưu, này Hiền giả Kotthika, cần phải như lý tác ý năm thủ uẩn này là vô thường... vô ngã. Sự kiện này có thể xảy ra, này Hiền giả, Tỳ-kheo Dự lưu, do như lý tác ý năm thủ uẩn này là vô thường... vô ngã, có thể chứng được quả Nhứt lai" (Tương Ưng Bộ, Tập III - Thiên Uẩn, Chương I. Tương Ưng Uẩn (g), C. Năm Mươi Kinh Sau, II. Phẩm Thuyết Pháp, X. Vị Giữ Giới)
Ngài tiếp tục hỏi nếu một vị chứng Thánh quả thứ hai, tức là quả Nhất Lai trở lại một lần thì phải quán chiếu như thế nào.
"-- Nhưng Tỳ-kheo Nhứt lai, này Hiền giả Sàriputta, phải như lý tác ý các pháp gì?
-- Tỳ-kheo Nhứt lai, này Hiền giả Kotthika, phải như lý tác ý năm thủ uẩn này là vô thường... vô ngã. Sự kiện này có thể xảy ra, này Hiền giả, Tỳ-kheo Nhứt lai, do như lý tác ý năm thủ uẩn này là vô thường... vô ngã, có thể chứng được quả Bất lai" (Tương Ưng Bộ, Tập III - Thiên Uẩn, Chương I. Tương Ưng Uẩn (g), C. Năm Mươi Kinh Sau, II. Phẩm Thuyết Pháp, X. Vị Giữ Giới)
Ngài Kotthika tiếp tục hỏi nếu vị Tỳ-kheo chứng được Bất Lai thì phải tu tập tác ý như thế nào.
"-- Nhưng Tỳ-kheo Bất lai, này Hiền giả Sàriputta, cần phải như lý tác ý những pháp gì?
-- Tỳ-kheo Bất lai, này Hiền giả Kotthika, cần phải như lý tác ý năm thủ uẩn này là vô thường... vô ngã. Sự kiện này có thể xảy ra, này Hiền giả, Tỳ-kheo Bất lai, do như lý tác ý năm thủ uẩn này là vô thường... vô ngã, có thể chứng được quả A-la-hán.
-- Nhưng vị A-la-hán, này Hiền giả Sàriputta, cần phải như lý tác ý các pháp gì?
-- Vị A-la-hán, này Hiền giả Kotthika, cần phải như lý tác ý năm thủ uẩn này là vô thường, khổ, bệnh hoạn, ung nhọt, mũi tên, bất hạnh, ốm đau, người lạ, hủy hoại, rỗng không, vô ngã.
Với vị A-la-hán, này Hiền giả, không có gì phải làm nữa, hay không có phải thêm gì nữa trong công việc làm. Nhưng sự tu tập, làm cho sung mãn những pháp này sẽ đưa đến hiện tại lạc trú và chánh niệm tỉnh giác" (Tương Ưng Bộ, Tập III - Thiên Uẩn, Chương I. Tương Ưng Uẩn (g), C. Năm Mươi Kinh Sau, II. Phẩm Thuyết Pháp, X. Vị Giữ Giới)
Như vậy cái pháp này từ phàm phu mới tu cho đến bậc chí Thánh, đó là đạo lộ của bậc Thánh, những câu kinh này giống như khẩu quyết chứ không phải dễ hiểu. Trong đây là cả xương máu, trí tuệ, tự mình phải chiêm nghiệm, tư duy, triển khai thiền quán trong đời sống hằng ngày chứ không được đọc phớt qua vì đọc phớt qua không ai chứng quả cả.
Ví dụ quán chiếu năm thủ uẩn thì trước tiên phải biết năm uẩn là gì, kế đó phải hiểu được chữ "thủ", đó là sự nắm giữ trong tâm, nói đơn giản là nắm giữ cái thân này, trong cảm giác, suy nghĩ, nhận thức đều nắm giữ thân này, yêu thích suy nghĩ đó, bảo vệ suy nghĩ đó gọi là kiến thủ, kiến chấp, tà kiến, nắm giữ thọ, nắm giữ tưởng, nắm giữ hành, nắm giữ thức thì gọi là năm thủ uẩn và sự chấp thủ vào năm thủ uẩn này là phiền não và khổ đau, ngũ uẩn sanh khởi là do vô minh và tham ái, ngũ uẩn đoạn diệt cho đến khi nào hết vô minh, hết tham ái và con đường chấm dứt ngũ uẩn là con đường Tám Đúng của bậc Thánh nhưng cái đầu tiên là phải thấy đúng về năm uẩn. Từ trước giờ mình vẫn chưa học hết được hai chữ "thấy đúng", nếu học được hết thì đã Nhập Lưu, học xong hai chữ "chánh kiến" là Nhập Lưu Thánh quả, đắc pháp nhãn tịnh, quang sanh, kiến sanh, minh sanh, tuệ sanh, trí sanh, nhìn thấy được bản chất của năm thủ uẩn.
Khi đã thấy được năm uẩn, thấy được tính chất của nó, guồng máy, sự vận hành của nó, nó hại mình, nó làm mình đau khổ thì mình mới nhàm chán, không ưa thích nó nữa thì bắt đầu Hướng Dự Lưu cho đến Dự Lưu vào bốn đôi tám chúng hiền Thánh của Đức Phật. Cho đến khi nào trong nhận thức, suy nghĩ, trong cách nhìn đều thấy năm thứ này là ác độc, là đau khổ, bất an, là mũi tên, là kẻ sát nhân và mình không thèm khát, không khao khát, không ưa thích mà chỉ nhàm chán, từ bỏ thì bắt đầu bước vào bốn đôi tám chúng hiền Thánh Tăng, là ruộng phước vô thượng của chư thiên và loài người, là bậc Ứng Cúng vô thượng phước điền.
Sau khi đọc kinh xong phải tác ý diệt tận những thứ ác độc này, sắc; thọ; tưởng; hành; thức mới là kẻ thù của mình chứ không phải người nào bên ngoài, những dục tham, vô minh, mù lòa trong tâm mới làm mình đau khổ chứ không phải cô kia làm mình khổ, không phải bất cứ một ai ở bên ngoài làm mình khổ mà là sự mù lòa đối với năm uẩn mới làm cho mình khổ đau. Vì mù lòa không thấy không biết năm uẩn nên yêu thích năm uẩn, say đắm năm uẩn, nắm chặt năm uẩn, say sưa trong này rồi đau khổ trong này, ca ở đây, vui ở đây rồi cũng khóc tại đây. Chỉ có những bậc thành tựu Thánh trí tuệ mới bắt đầu nhàm chán nhưng trước hết phải thấy biết về năm uẩn, sau đó mới quán sát, nhìn ngó liên tục thì mình sẽ thấy được bộ mặt thật sự rồi mình sẽ nhàm chán nó, thành tựu Thánh trí tuệ, bước lên Thánh đạo, thành tựu Thánh trí, đạt đến Thánh quả.
./.
Nhận Diện Thân Tâm 14
Căn Bản Trí
Thích Minh Thành
MỤC LỤC
TOC \o "1-3" \h \z \u I. Vô thường PAGEREF _Toc181285229 \h 1
II. Khổ PAGEREF _Toc181285230 \h 4
III. Thánh Trí về ngũ uẩn PAGEREF _Toc181285231 \h 10
I. Vô thường
Xin quý thầy rõ biết ở trước mặt, tầm nhìn rộng mở hết mức ra hai bên không trú vào một điểm nào, tầm nhìn rộng mở sáng tỏ ở phía trước. Cảm nhận hơi thở, cảm nhận cơ thể, cảm giác toàn thân, cảm nhận cảm giác từ đỉnh đầu cho đến gót chân. Hít vào làm cho thân an tịnh, thở ra làm cho tâm lắng dịu, dễ chịu. An tịnh… lắng dịu… dễ chịu, trong tâm tỉnh giác nhận rõ thọ; tưởng; hành, có hình bóng gì, có suy nghĩ gì, cảm giác như thế nào đều nhận biết rõ ràng. Chánh niệm ở trước mặt, cảm giác toàn thân và nội tâm tỉnh giác.
Ứng dụng theo trí tuệ trong kinh tạng Nikāya thì khi nhìn như vậy có rất nhiều pháp xuất hiện. Phải quán chiếu con mắt này là vô thường, con mắt này rồi sẽ mờ, biến hoại, chiếc lá này là pháp duyên sanh vô thường của đất, nước, gió, lửa, chiếc lá này là vô thường, tan nát, tan rã, hủy hoại, hoại diệt, sự rõ biết chiếc lá này là vô thường, là pháp duyên sanh. Nhãn xúc, sự tiếp xúc của ba pháp này là vô thường, biến hoại, là pháp duyên sanh, là pháp tan rã. Những cảm thọ sanh khởi lên hoặc là vui thích, hoặc là không vui thích, hoặc là thường thường, không thích cũng không ghét.
Tất cả những cảm thọ này vô thường, duyên sanh, biến hoại, hoại diệt, căn – trần – thức – xúc – thọ đều là vô thường, đều là tan nát, hủy hoại, hoại diệt, không chạy theo chiếc lá đó, không chạy theo cảm thọ ưa thích hay ghét bỏ cũng không bám vào cảm giác thường thường, phải thấy tất cả pháp vận hành là vô thường, duyên sanh, hoại diệt. Tâm trú trước vào bất cứ căn – trần – thức – xúc – thọ – tưởng – hành – thức, đó là cái nhìn của trí tuệ, không yêu thích vào một uẩn nào, không bám víu, không chấp thủ vào một pháp nào khi nó đang hiện hữu, khi nó đang có mặt, khi nó đang vận hành.
Khi đó mình phải như lý tác ý, còn mình trơ ra thì sống trong vô minh hoặc là mình tưởng theo những cái mình đã học được, không phải của bậc Chánh Đẳng Giác truyền trao Thánh trí thì lúc đó mình sẽ bị mê, dính mắc vào một trong những pháp đó, khi đưa chiếc lá lên thì thấy bình thường nhưng khi đưa cục vàng lên thì lạc thọ, sự tham ái sẽ có mặt.
Khi Đức Thế Tôn thuyết pháp ngài thường dùng móng tay khơi lên một chút phân bò rồi đưa lên để hỏi chuyện các thầy Tỳ-kheo, bên Ấn Độ có rất nhiều phân bò không ai dám đụng vào vì bên đó họ thờ con bò. Ngài hỏi cả đại địa là nhiều hay một chút phân bò dính trong tay ngài là nhiều thì các thầy nói đất dính trong tay Thế Tôn làm sao so được đất trong đại địa này. Thế Tôn nói nếu có ai nhìn thấy một chút hành nào, nếu có ai thấy một chút nào thường hằng, thường trú bằng một chút phân bò trong móng tay ngài thì người ấy chưa thành tựu chánh tri kiến.
"-- Bạch Thế Tôn, có thể có sắc nào, sắc ấy là thường còn, thường hằng, thường trú, không chịu sự biến hoại, vĩnh viễn thường hằng, vĩnh trú như vậy?
--Bạch Thế Tôn, có thể có thọ nào... có thể có tưởng nào... có thể có các hành nào... có thể có thức nào, thức ấy là thường còn, thường hằng, thường trú, không chịu sự biến hoại, vĩnh viễn thường hằng, vĩnh trú như vậy?
-- Này Tỳ-kheo, không có sắc nào, sắc ấy là thường còn, thường hằng, thường trú, không chịu sự biến hoại, vĩnh viễn thường hằng, vĩnh trú như vậy.
Rồi Thế Tôn lấy tay cầm lên một miếng phân bò và nói với Tỳ-kheo ấy:
-- Này Tỳ-kheo, cho đến được một ngã thể nhỏ như thế này cũng không thường còn, thường hằng, thường trú, chịu sự biến hoại, không vĩnh viễn thường hằng, vĩnh trú.
Nếu được một ngã thể nhỏ như thế này, này Tỳ-kheo, là thường còn, thường hằng, thường trú, không chịu sự biến hoại, vĩnh viễn thưòng hằng, vĩnh trú, thời đời sống Phạm hạnh để chơn chánh đoạn tận khổ đau không thể trình bày. Vì này Tỳ-kheo, cho đến được một ngã thể nhỏ bé như thế này cũng không thường còn, thường hằng, thường trú, chịu sự biến hoại, không vĩnh viễn thường hằng, vĩnh trú; do vậy đời sống Phạm hạnh để chơn chánh đoạn tận khổ đau có thể trình bày" (Tương Ưng Bộ, Tập III - Thiên Uẩn, Chương I. Tương Ưng Uẩn (f), V. Phẩm Hoa, IV. Phân Bò)
Hành ở đây là sự vận hành của năm uẩn. Một chút máu, một chút mủ, một chút phân cũng là hôi tanh, cũng là dơ bẩn, dù chỉ là một chút ít nhưng ngài vẫn không tán thán các hành, ngài dạy:
Chư hành vô thường thị sanh diệt pháp
Sanh diệt diệt thời tịch diệt vi lạc.
"Chư hành vô thường thị sanh diệt pháp", nói tắt là hành pháp cho nên chữ hành trong kinh Nikāya rất khủng khiếp, một chữ này thôi đã bao trùm vũ trụ. Tức là thân tâm, vật chất, tinh thần, sắc; thọ; tưởng; hành; thức đều nằm trong chữ "hành" này. Còn "sanh diệt diệt thời tịch diệt vi lạc" là khi chấm dứt ngũ uẩn, nếu không học Thánh trí ngũ uẩn sẽ không hiểu hết ý của những câu này.
"Các hành là vô thường,
Có sanh phải có diệt
Ðã sanh, chúng phải diệt,
Nhiếp chúng là an lạc"
(Trung Bộ Kinh, 16. Kinh Ðại Bát-Niết-Bàn)
Các hành ở đây là chỉ cho sự vận hành của sắc; thọ; tưởng; hành; thức, sự vận hành của ngũ uẩn là vô thường, biến hoại, hoại diệt, đó là pháp sanh diệt. Sanh diệt diệt thời là sự chấm dứt sự vận hành của năm uẩn này, tịch diệt vi lạc là chỉ cho bậc Thánh xuất ly năm uẩn, đoạn diệt năm uẩn, tử bỏ năm uẩn, chứng được tâm bất động giải thoát. Chữ "hành" trong kinh không phải dễ hiểu, bản thân con tu ba chục năm mới hiểu ra được chữ "hành" này.
Nghĩa đen của hành là đi, là suy nghĩ vì trong định nghĩa năm uẩn có ghi "suy nghĩ là hành", ngoài ra chữ hành còn có nghĩa là thực hành, tu hành, hành trì. Chữ "hành" này phải chia làm ba, đó là thân hành, khẩu hành, ý hành. Hành động của thân gọi là thân hành, lời nói miệng gọi là khẩu hành, suy nghĩ trong tâm gọi là ý hành, còn chữ "hành" mình đang nói là sự vận hành của ngũ uẩn, nó bao trùm hết tất cả thế giới, gọi là hành pháp.
"Tất cả hành vô thường
Với Tuệ, quán thấy vậy
Ðau khổ được nhàm chán;
Chính con đường thanh tịnh."
(Kinh Pháp Cú 20 – Phẩm Đạo, kệ 277)
"Tất cả hành khổ đau
Với Tuệ quán thấy vậy,
Ðau khổ được nhàm chán;
Chính con đường thanh tịnh"
(Kinh Pháp Cú 20 – Phẩm Đạo, kệ 278)
"Tất cả pháp vô ngã,
Với Tuệ quán thấy vậy,
Ðau khổ được nhàm chán
Chính con đường thanh tịnh"
(Kinh Pháp Cú 20 – Phẩm Đạo, kệ 279)
Cho nên chữ "hành" này là chỉ cho sự vận hành của ngũ uẩn cũng là chỉ cho vũ trụ vạn vật thân tâm gọi là hành pháp. Một lời nói của mình phát ra gọi là khẩu hành, một cử chỉ của mình gọi là thân hành, một ý nghĩ của mình gọi là ý hành cho nên mới có kinh Thân Hành Niệm, Đức Phật gọi bài kinh này là hương vị của bất tử. Thân Hành Niệm là nghĩ nhớ chánh niệm trong mỗi cử chỉ, hành vi của thân, niệm oai nghi, hành động. Tất cả đều sanh diệt, tan hoại, biến hoại, tan rã, mình cần thể nhập Thánh trí tuệ đó, nhàm chán đối với tất cả các hành, nhìn vào xác thân này, nhìn vào các cảnh sắc này không thấy có gì đáng ưa thích trong đó, dù cảnh đó đẹp đến mức độ nào cũng thấy nó là thứ tan nát, hủy hoại, hoại diệt.
II. Khổ
Tất cả cảm giác dù là sướng, khổ hay không sướng không khổ thì tất cả cảm giác đều là khổ.
"-- Lành thay, lành thay, này Tỳ-kheo! Này Tỳ-kheo, Ta nói rằng có ba thọ này: lạc thọ, khổ thọ, bất khổ bất lạc thọ. Ba thọ này được Ta nói đến. Nhưng này Tỳ-kheo, Ta lại nói: 'Phàm cái gì được cảm thọ, cái ấy nằm trong đau khổ'. Chính vì liên hệ đến tánh vô thường của các hành mà lời ấy được Ta nói lên: 'Phàm cái gì được cảm thọ, cái ấy nằm trong đau khổ'. Chính vì liên hệ đến tánh đoạn tận, tánh tiêu vong, tánh ly tham, tánh đoạn diệt, tánh biến hoại của các hành mà lời ấy được Ta nói lên: 'Phàm cái gì được cảm thọ, cái ấy nằm trong đau khổ'". (Tương Ưng Bộ, Tập IV – Thiên Sáu Xứ, Chương II. Tương Ưng Thọ, Phần Hai - Phẩm Sống Một Mình, I. Sống Một Mình)
Mình thấy ngon miệng nên ăn nhiều rồi bệnh, phải nhìn thấy được tính chất khổ nằm trong các cảm thọ. Tất cả các tưởng, hình bóng trong tâm, tất cả suy nghĩ đều hướng đến sự nhàm chán, ly tham, thoát ra, đó là trí tuệ của bậc Thánh. Cốt lõi của kinh tạng Nikāya, hồng tâm, tông chỉ, trái tim của nó là ly tham đối với ngũ uẩn, nhìn thấy được bản chất vô thường, đau khổ, biến hoại, tan nát, hủy hoại của nó rồi nhàm chán, thoát ra, không tham muốn nữa, không còn ưa thích với bất kì cái sắc nào nữa, không còn ham thích đối với bất kì cảm giác, suy nghĩ, nhận thức, hình bóng nào nữa thì lúc đó xuất ly ngũ uẩn.
Đi ngoài đường bị giật điện thoại đập đầu xuống đường nên bị thương rất nặng, có người cũng vì điện thoại mà chết, cái điện thoại đó nằm gọn trong bàn tay nhưng lại chứa cả thế giới thu nhỏ trong đó, dùng để xem kinh, đọc kinh sẽ rất bổ ích nhưng nếu xem những thứ ngoài kinh làm cho mình mất thời gian tu hành, mất thời gian học đạo, bị phân tâm, loạn tâm, tán tâm. Phải quán chiếu nhiều phương diện, khía cạnh để từ bỏ nó, xuất ly khỏi cái điện thoại, vị ngọt của điện thoại đem lại nhiều thứ nhưng nguy hại cũng rất lớn cho nên cần giải thoát khỏi cái điện thoại.
Xin thưa quý thầy là khi xuất gia là trong 15 năm con không dùng điện thoại, đến khi ra hướng dẫn huynh đệ trong các lớp Sơ cấp, Trung cấp mới được Phật tử cho điện thoại đời cũ để liên lạc công việc thì mới dùng, cho đến bây giờ cũng rất cẩn thận khi dùng. Khi nó tiện thì tiện nhiều nhưng hại cũng rất nhiều, tiện lợi là có thể chứa được cả đại tạng kinh trong chiếc điện thoại nhỏ đó, ngày xưa khi nhập thất phải mang theo cả chục thùng kinh còn bây giờ để gọn trong điện thoại để đọc kinh, còn những thầy nhỏ tuổi nhập thất mà đem theo điện thoại cũng mệt mỏi với nó. Phải nhìn thấy như vậy để mình quán chiếu thật kĩ, các thầy cố gắng học 35 loại trí tuệ của ngũ uẩn này, gom lại còn 7 trí vì nó là định lý giải thoát rất quan trọng cho pháp học và pháp hành về sau.
"Do danh sắc tập khởi nên thức tập khởi. Do danh sắc đoạn diệt nên thức đoạn diệt" (Tương Ưng Bộ, Tập III. Thiên Uẩn, Chương I. Tương Ưng Uẩn (c), B. Năm Mươi Kinh Ở Giữa, I. Phẩm Tham Luyến, IV. Thủ Chuyển)
Chúng ta đã biết sắc là tứ đại, còn danh chính là thọ, tưởng, tư, xúc, tác ý, tập khởi nghĩa là sự tập hợp và sanh khởi. Sở dĩ có thức, có sự rõ biết là do có sắc thân này, đó là phần cơ thể vật chất, cơ thể, gân xương, máu mủ, phần thứ hai là danh chính là tâm của mình, nó gồm cảm giác là thọ, hình bóng trong tâm là tưởng, tư là hành, xúc là sự tiếp xúc và tác ý là sự tác động tâm ý của mình. Do có danh và sắc tập khởi nên thức mới tập khởi, cái nhận thức này là do các pháp duyên sanh từ tứ đại thọ, tưởng, tư, xúc, tác ý thì mới sanh khởi ra các thức.
Nếu danh sắc đoạn diệt thì thức đoạn diệt, chính vì chỗ thức diệt cho nên mình mới chứng ngộ được Niết-bàn, tức là khi hết vô minh, tham ái, chấp thủ thì thức này sẽ diệt, thức này là pháp duyên sanh, nó nương dựa vào tứ đại là sắc và nó nương dựa vào tâm, những cái đó tụ tập sanh khởi lên thì có thức, nếu những cái này trục trặc, hoại diệt thì các thức không hiện hành ra được hoặc là bị chấm dứt hoàn toàn. Cho nên sắc; thọ; tưởng; hành; thức đều giống nhau, là những pháp vô thường, nó tập hợp lại sanh khởi ra.
"Ðây là con đường Thánh đạo Tám ngành đưa đến thức đoạn diệt, tức là chánh tri kiến, chánh tư duy... chánh định" (Tương Ưng Bộ, Tập III. Thiên Uẩn, Chương I. Tương Ưng Uẩn (c), B. Năm Mươi Kinh Ở Giữa, I. Phẩm Tham Luyến, IV. Thủ Chuyển)
Những gì chúng ta học chánh kiến là phần căn bản, đó là những cái tiền phương tiện để chúng ta chuẩn bị học về chánh tri kiến. Chánh kiến là phải thấy được ngũ uẩn, thấy được nhân duyên sanh diệt của ngũ uẩn, thấy được bản chất của ngũ uẩn, thấy được tên gọi, mặt mũi, tánh tình, thấy được các yếu tố hình thành của nó, thấy được guồng máy vận hành, mô thức hoạt động của nó, biết được cấu trúc, định lý của nó rồi sau đó mới dùng những phương tiện thiện xảo để đánh vào tử huyệt diệt tận nó. Lúc đầu chúng ta sẽ nhiếp phục những cái thô bạo, từ từ đi đến nhiếp phục những cái vi tế và cuối cùng là diệt tận nó luôn thì chúng ta sẽ thành tựu chánh trí, chánh giải thoát, Thập Thánh Đạo chứ không chỉ có Bát Chánh Đạo, khi học Nikāya sẽ biết được Thập Thánh Đạo, có chánh trí, chánh giải thoát nữa là mười nên gọi là Thập Thánh Đạo.
"Do duyên thức khởi lên lạc hỷ gì, đây là vị ngọt của thức" (Tương Ưng Bộ, Tập III. Thiên Uẩn, Chương I. Tương Ưng Uẩn (c), B. Năm Mươi Kinh Ở Giữa, I. Phẩm Tham Luyến, V. Bảy Xứ)
Khi nãy con đã ví dụ cầm lên cục vàng thì cảm thọ sẽ khác, cầm lên cục phân bò thì cảm thọ cũng sẽ khác, cầm chiếc lá khô lên cũng sẽ khác. Tại sao khi thấy cục vàng hay xấp tiền là mình thích còn khi cầm cả chồng báo lại không thích? Là do sự chấp thủ, do sự huân tập hiểu biết từ khi đẻ ra đã biết vàng, tiền là quý, nhiều người dân tộc ở vùng xa xôi, hẻo lánh không biết tiền đô là gì, không biết kim cương là gì cho nên cái thức rõ biết thôi, ngoài ra còn những ý hành sanh khởi lên, những gì đã từng thấy, từng nghe nay được hồi tưởng lại cho nên hễ biết cái gì mà khởi lên khoan khoái, thích thú, vui sướng thì đó là vị ngọt của thức.
Các thầy nhìn thấy trường thiền của mình đẹp nên thích thì đó là vị ngọt, mình thích là mình chết với nó, mình thích quen rồi nhưng đột nhiên qua ở chỗ điện không có, nước thì thiếu, chỉ có tấm tôn che lại thôi thì tâm mình sẽ ra sao cho nên cần nhìn sâu vào thọ; tưởng; hành; thức chứ nhìn bên ngoài là không được cho nên phải phá cái tâm khoan khoái, thích thú. Có một thầy ở Phật giáo nguyên thủy được một Phật tử dẫn lên núi, lúc đầu xin ở lại nhưng tối đến ngủ chỉ có tấm tôn vì trên núi mọi thứ đều đơn sơ.
Cho nên Phật tử này muốn đưa thầy xuống khách sạn ngủ, con chỉ nói tùy duyên thôi cho nên trong sinh hoạt thường nhật sẽ thấy được tâm, thấy được ngũ uẩn, thấy được sự tu tập của mình. Đức Thế Tôn của chúng ta ngồi dưới gốc cây, điều này nói lên tinh thần xả ly, ly tham đối với sắc uẩn, ngài bỏ ngai vàng là sự ly tham với sắc uẩn, có một vị trải một tấm vải đẹp dài từ trong ra ngoài nhà, họ năn nỉ Thế Tôn ba lần đạp lên tấm vải đó để họ có phước nhưng ngài không bước lên.
"Vương tử Bodhi, sau khi đêm ấy đã mãn, tại trú xá của mình cho sửa soạn các món ăn thượng vị, loại cứng và loại mềm, và cho trải vải trắng lâu đài Kokanada cho đến tầm cấp thấp nhất (pacchima), rồi gọi thanh niên Sanjikaputta:
-- Này Thanh niên Sanjikaputta, hãy đi đến Thế Tôn, sau khi đến, hãy báo giờ cho Thế Tôn được biết: 'Bạch Thế Tôn, đã đến giờ, cơm đã sẵn sàng'.
Rồi Thế Tôn vào buổi sáng đắp y, cầm y bát đi đến trú xá của vương tử Bodhi. Lúc bấy giờ, vương tử Bodhi chờ đón Thế Tôn đến, đang đứng ở cửa ngoài. Vương tử Bodhi thấy Thế Tôn từ xa đi đến, sau khi thấy, liền tiến đến đón, đảnh lễ Thế Tôn, đi đầu hướng dẫn đến lâu đài Kokanada. Rồi Thế Tôn đứng sát vào tầm cấp thấp nhất. Vương tử Bodhi bạch Thế Tôn:
-- Bạch Thế Tôn, Thế Tôn hãy bước lên trên vải, Thiện Thệ hãy bước lên trên vải, để con được hạnh phúc, an lạc lâu dài.
Ðược nghe nói vậy, Thế Tôn im lặng. Lần thứ hai, vương tử Bodhi bạch Thế Tôn:
-- Bạch Thế Tôn, Thế Tôn hãy bước lên trên vải, Thiện Thệ hãy bước lên trên vải, để cho con được hạnh phúc, an lạc lâu dài.
Lần thứ hai, Thế Tôn im lặng. Lần thứ ba, vương tử Bodhi bạch Thế Tôn:
-- Bạch Thế Tôn, Thế Tôn hãy bước lên trên vải, Thiện Thệ hãy bước lên trên vải, để cho con được hạnh phúc, an lạc lâu dài.
Rồi Thế Tôn nhìn Tôn giả Ananda. Tôn giả Ananda thưa với vương tử Bodhi:
-- Thưa vương tử, hãy cho cuộn lại tấm vải, Thế Tôn không có đi bộ trên vải, Như Lai còn nghĩ đến những người thấp kém" (Trung Bộ Kinh, 85. Kinh Vương tử Bồ-đề)
Nếu không đọc sâu vào Nikāya là mình không thấy được Đức Phật, nếu mình không lấy sự mẫu mực của nhân thiên sư phạm của bậc Chánh Đẳng Giác làm khuôn mẫu thì từ từ mình sẽ xa Phật rất nhiều mà mình không biết. Đời sống của Đức Phật và các bậc Thánh là đời sống ly tham, đơn sơ, giản đơn, từ ngữ bây giờ là tối giản, đi đến mức xả phú cầu bần, xả thân cầu đạo cho đến cái sau cùng là xả bỏ bản ngã để chứng nhập vô ngã.
Mình không khéo thì tu riết rồi chạy theo cái đẹp của sắc uẩn, thành công của sự tu không phải nằm trên đó, không phải thành công trên sắc; thọ; tưởng; hành; thức. Thế Tôn ở trong cung vàng nhưng ngài lại bỏ hết, đầu trần chân đất khoác tấm vải của người chết trong nghĩa địa. Nếu lấy Đức Phật làm mẫu mực, làm chuẩn tắc của nhân thiên sư phạm, những gì mà Đức Phật và các bậc Thánh chứng ngộ thì mình sẽ đạt được, còn bắt chước những người sau mà không theo Phật thì mình sẽ đạt được giống như người sau. Chúng ta đang học sự nguyên chất của Đức Phật cho nên cần chiêm nghiệm thật kĩ.
"Thức vô thường, khổ, vô ngã, đây là nguy hiểm của thức" (Tương Ưng Bộ, Tập III. Thiên Uẩn, Chương I. Tương Ưng Uẩn (c), B. Năm Mươi Kinh Ở Giữa, I. Phẩm Tham Luyến, V. Bảy Xứ)
Cái biết này là cái vô thường, mới hôm qua có một Phật tử là một cô giáo muốn quy y, cô dẫn theo một đứa cháu. Cô rất xúc động và bàng hoàng, người trong gia đình cô đổ cồn ra rửa tay nhưng lại đứng gần bếp gas thế là lửa phựt lên gây hỏa hoạn sập nhà, có đến mấy người chết. Chỉ có rửa tay một chút thôi mà nhà sập, người chết, ông cụ thành phế nhân, đó là sự đột ngột, vô thường, biến hoại, không ai tưởng tượng được nhưng sự việc đó có thật và cô nói trong dòng nước mắt cho nên tất cả các hành pháp trong ngũ uẩn là bất an, biến hoại, có thể sụp đổ bất cứ lúc nào nhưng vì vô minh, tham ái, chấp thủ nên cứ nghĩ mình mãi như vậy, tâm thức này là tâm thức mù lòa, si ám và đây là tâm thức nắm giữ thọ; tưởng; hành; thức, không muốn buông ra nên khổ đau dài dài, khổ đau muôn đời, đã khổ đau, đang khổ đau và tiếp tục khổ đau cho đến khi nào nhận thức một cách sâu sắc ngũ uẩn là thứ tan nát, hủy hoại, hoại diệt rồi nhàm chán, ly tham, từ bỏ thì lúc đó mới hết khổ.
"Sự nhiếp phục dục tham, sự đoạn tận dục tham đối với thức, đây là sự xuất ly của thức" (Tương Ưng Bộ, Tập III. Thiên Uẩn, Chương I. Tương Ưng Uẩn (c), B. Năm Mươi Kinh Ở Giữa, I. Phẩm Tham Luyến, V. Bảy Xứ)
III. Thánh Trí về ngũ uẩn
Có những tin tức đọc vào là bủn rủn tay chân, con giết cha mẹ diễn ra như cơm bữa, vợ phân xác chồng, anh em chém giết nhau chỉ vì vài tấc đất. Chưa bao giờ mà ác nghiệp, ác tham của chúng sanh lại hừng hực, mãnh liệt khủng khiếp như bây giờ cho nên kiếp hoại này đã đến, kiếp hoại này vừa là đạo đức, vừa thế giới, vừa là nhân tâm, nghĩa là biến hoại đi đến chỗ diệt tận.
-Sự chấp thủ ngũ uẩn là phiền não và khổ đau.
-Ngũ uẩn sanh khởi là do vô minh và khát ái.
-Ngũ uẩn diệt tận là khi hết vô minh và hết khát ái.
-Bát Chánh Đạo là phương pháp đúng, đưa đến tẩy sạch vô minh và khát ái đối với ngũ uẩn. (Nghi Thức Tu Học Nikāya)
Bài kinh này rất quan trọng, các thầy sẽ nắm được đầu đuôi của sự tu học. Người xuất gia chúng ta ai cũng tha thiết, khát ngưỡng tìm cầu pháp hành nhưng có khi học rất lâu, tu rất nhiều cũng chưa nắm được pháp hành. Trong bài kinh này Đức Phật, ngài Xá-lợi-phất và các bậc thượng thủ Thánh đệ tử sẽ cho chúng ta thấy được đầu đuôi của sự tu học, xuyên suốt từ lúc mới tu cho đến khi thành tựu Thánh quả tối cao của Phật giáo chỉ có một pháp thôi, đây là bài kinh Vị giữ giới nằm trong Tương Ưng Bộ, tập III.
"Một thời, Tôn giả Sàriputta (Xá-lợi-phất) và Tôn giả Mahà Kotthika trú ở Bàrànasi (Ba-la-nại), tại Isipatana (Chư Tiên đọa xứ), vườn Lộc Uyển.
Rồi Tôn giả Mahà Kotthika, vào buổi chiều, từ Thiền tịnh đứng dậy, đi đến Tôn giả Sàriputta... thưa như sau:
-- Thưa Hiền giả Sàriputta, những pháp gì Tỳ-kheo giữ giới cần phải như lý tác ý?
-- Này Hiền giả Kotthika, Tỳ-kheo giữ giới cần phải như lý tác ý năm thủ uẩn là vô thường, khổ, bệnh hoạn, ung nhọt, mũi tên, bất hạnh, ốm đau, người lạ, hủy hoại, rỗng không, vô ngã.
Thế nào là năm? Tức là sắc thủ uẩn, thọ thủ uẩn, tưởng thủ uẩn, hành thủ uẩn, thức thủ uẩn. Này Hiền giả Kotthika, vị Tỳ-kheo giữ giới cần phải như lý tác ý năm thủ uẩn là vô thường, khổ, bệnh hoạn, ung nhọt, mũi tên, bất hạnh, ốm đau, người lạ, hủy hoại, rỗng không, vô ngã.
Này Hiền giả, sự kiện này xảy ra: Tỳ-kheo giữ giới do như tác ý năm thủ uẩn này là vô thường... vô ngã, có thể chứng được quả Dự lưu" (Tương Ưng Bộ, Tập III - Thiên Uẩn, Chương I. Tương Ưng Uẩn (g), C. Năm Mươi Kinh Sau, II. Phẩm Thuyết Pháp, X. Vị Giữ Giới)
Đây là lý do con thường xuyên giải thích về năm uẩn, nhận diện năm uẩn, trí tuệ nhìn nhận năm uẩn. Nếu mới vào mà đọc vào kinh liền trong khi mình không biết gì về ngũ uẩn rõ ràng, đầy đủ, minh bạch các khía cạnh, góc độ thì khi vào kinh chỉ hiểu trên chữ nghĩa thôi. Ngài Xá-lợi-phất nói nếu quán về năm thủ uẩn thường xuyên như vậy thì có thể chứng quả Dự Lưu. Sau đây ngài Kotthika hỏi rằng sau khi đã chứng Thánh quả thứ nhất Dự Lưu thì tu như thế nào nữa.
"-- Với Tỳ-kheo đã chứng quả Dự lưu, này Hiền giả Sàriputta, những pháp gì cần phải như lý tác ý?
-- Với Tỳ-kheo đã chứng quả Dự lưu, này Hiền giả Kotthika, cần phải như lý tác ý năm thủ uẩn này là vô thường... vô ngã. Sự kiện này có thể xảy ra, này Hiền giả, Tỳ-kheo Dự lưu, do như lý tác ý năm thủ uẩn này là vô thường... vô ngã, có thể chứng được quả Nhứt lai" (Tương Ưng Bộ, Tập III - Thiên Uẩn, Chương I. Tương Ưng Uẩn (g), C. Năm Mươi Kinh Sau, II. Phẩm Thuyết Pháp, X. Vị Giữ Giới)
Ngài tiếp tục hỏi nếu một vị chứng Thánh quả thứ hai, tức là quả Nhất Lai trở lại một lần thì phải quán chiếu như thế nào.
"-- Nhưng Tỳ-kheo Nhứt lai, này Hiền giả Sàriputta, phải như lý tác ý các pháp gì?
-- Tỳ-kheo Nhứt lai, này Hiền giả Kotthika, phải như lý tác ý năm thủ uẩn này là vô thường... vô ngã. Sự kiện này có thể xảy ra, này Hiền giả, Tỳ-kheo Nhứt lai, do như lý tác ý năm thủ uẩn này là vô thường... vô ngã, có thể chứng được quả Bất lai" (Tương Ưng Bộ, Tập III - Thiên Uẩn, Chương I. Tương Ưng Uẩn (g), C. Năm Mươi Kinh Sau, II. Phẩm Thuyết Pháp, X. Vị Giữ Giới)
Ngài Kotthika tiếp tục hỏi nếu vị Tỳ-kheo chứng được Bất Lai thì phải tu tập tác ý như thế nào.
"-- Nhưng Tỳ-kheo Bất lai, này Hiền giả Sàriputta, cần phải như lý tác ý những pháp gì?
-- Tỳ-kheo Bất lai, này Hiền giả Kotthika, cần phải như lý tác ý năm thủ uẩn này là vô thường... vô ngã. Sự kiện này có thể xảy ra, này Hiền giả, Tỳ-kheo Bất lai, do như lý tác ý năm thủ uẩn này là vô thường... vô ngã, có thể chứng được quả A-la-hán.
-- Nhưng vị A-la-hán, này Hiền giả Sàriputta, cần phải như lý tác ý các pháp gì?
-- Vị A-la-hán, này Hiền giả Kotthika, cần phải như lý tác ý năm thủ uẩn này là vô thường, khổ, bệnh hoạn, ung nhọt, mũi tên, bất hạnh, ốm đau, người lạ, hủy hoại, rỗng không, vô ngã.
Với vị A-la-hán, này Hiền giả, không có gì phải làm nữa, hay không có phải thêm gì nữa trong công việc làm. Nhưng sự tu tập, làm cho sung mãn những pháp này sẽ đưa đến hiện tại lạc trú và chánh niệm tỉnh giác" (Tương Ưng Bộ, Tập III - Thiên Uẩn, Chương I. Tương Ưng Uẩn (g), C. Năm Mươi Kinh Sau, II. Phẩm Thuyết Pháp, X. Vị Giữ Giới)
Như vậy cái pháp này từ phàm phu mới tu cho đến bậc chí Thánh, đó là đạo lộ của bậc Thánh, những câu kinh này giống như khẩu quyết chứ không phải dễ hiểu. Trong đây là cả xương máu, trí tuệ, tự mình phải chiêm nghiệm, tư duy, triển khai thiền quán trong đời sống hằng ngày chứ không được đọc phớt qua vì đọc phớt qua không ai chứng quả cả.
Ví dụ quán chiếu năm thủ uẩn thì trước tiên phải biết năm uẩn là gì, kế đó phải hiểu được chữ "thủ", đó là sự nắm giữ trong tâm, nói đơn giản là nắm giữ cái thân này, trong cảm giác, suy nghĩ, nhận thức đều nắm giữ thân này, yêu thích suy nghĩ đó, bảo vệ suy nghĩ đó gọi là kiến thủ, kiến chấp, tà kiến, nắm giữ thọ, nắm giữ tưởng, nắm giữ hành, nắm giữ thức thì gọi là năm thủ uẩn và sự chấp thủ vào năm thủ uẩn này là phiền não và khổ đau, ngũ uẩn sanh khởi là do vô minh và tham ái, ngũ uẩn đoạn diệt cho đến khi nào hết vô minh, hết tham ái và con đường chấm dứt ngũ uẩn là con đường Tám Đúng của bậc Thánh nhưng cái đầu tiên là phải thấy đúng về năm uẩn. Từ trước giờ mình vẫn chưa học hết được hai chữ "thấy đúng", nếu học được hết thì đã Nhập Lưu, học xong hai chữ "chánh kiến" là Nhập Lưu Thánh quả, đắc pháp nhãn tịnh, quang sanh, kiến sanh, minh sanh, tuệ sanh, trí sanh, nhìn thấy được bản chất của năm thủ uẩn.
Khi đã thấy được năm uẩn, thấy được tính chất của nó, guồng máy, sự vận hành của nó, nó hại mình, nó làm mình đau khổ thì mình mới nhàm chán, không ưa thích nó nữa thì bắt đầu Hướng Dự Lưu cho đến Dự Lưu vào bốn đôi tám chúng hiền Thánh của Đức Phật. Cho đến khi nào trong nhận thức, suy nghĩ, trong cách nhìn đều thấy năm thứ này là ác độc, là đau khổ, bất an, là mũi tên, là kẻ sát nhân và mình không thèm khát, không khao khát, không ưa thích mà chỉ nhàm chán, từ bỏ thì bắt đầu bước vào bốn đôi tám chúng hiền Thánh Tăng, là ruộng phước vô thượng của chư thiên và loài người, là bậc Ứng Cúng vô thượng phước điền.
Sau khi đọc kinh xong phải tác ý diệt tận những thứ ác độc này, sắc; thọ; tưởng; hành; thức mới là kẻ thù của mình chứ không phải người nào bên ngoài, những dục tham, vô minh, mù lòa trong tâm mới làm mình đau khổ chứ không phải cô kia làm mình khổ, không phải bất cứ một ai ở bên ngoài làm mình khổ mà là sự mù lòa đối với năm uẩn mới làm cho mình khổ đau. Vì mù lòa không thấy không biết năm uẩn nên yêu thích năm uẩn, say đắm năm uẩn, nắm chặt năm uẩn, say sưa trong này rồi đau khổ trong này, ca ở đây, vui ở đây rồi cũng khóc tại đây. Chỉ có những bậc thành tựu Thánh trí tuệ mới bắt đầu nhàm chán nhưng trước hết phải thấy biết về năm uẩn, sau đó mới quán sát, nhìn ngó liên tục thì mình sẽ thấy được bộ mặt thật sự rồi mình sẽ nhàm chán nó, thành tựu Thánh trí tuệ, bước lên Thánh đạo, thành tựu Thánh trí, đạt đến Thánh quả.
./.