Làm sao giải thoát
LÀM SAO GIẢI THOÁT
Thích Minh Thành
MỤC LỤC
TOC \o "1-3" \h \z \u I.Năm điều đưa đến giải thoát PAGEREF _Toc71877717 \h 1
II.Năm xuất ly giới PAGEREF _Toc71877718 \h 5
III.Trình pháp PAGEREF _Toc71877719 \h 12
Năm điều đưa đến giải thoát
Kính thưa đại chúng, hôm nay chúng nghe Đức Thế Tôn nói về năm pháp giải thoát và xuất ly gọi là Năm Giải Thoát Xứ – năm điều đưa đến giải thoát. Trước đây mình nghe giải thoát, mong cầu giải thoát nhưng không biết phương pháp, điều gì đưa đến mình giải thoát thật sự. Hôm nay chúng ta nghe bậc Chánh Biến Tri, bậc Đạo sư cao cả của chúng ta, Ngài nói trong Tăng Chi Bộ Kinh, nói về năm giải thoát xứ, năm điều đưa đến giải thoát.
Trong bài kinh Phúng Tụng, Trường Bộ Kinh tập 2, chúng ta trích đoạn trong Trường Bộ Kinh, do trích đoạn nên không nói rõ đây là Ngài Xá Lợi Phất hay Đức Thế Tôn nói:
Này các Hiền giả, ở đây vị Tỷ kheo, khi nghe bậc Ðạo Sư, hay một vị đồng phạm hạnh đáng kính nào thuyết pháp. Này các Hiền giả, khi vị Tỷ kheo nghe bậc Ðạo Sư hay một vị đồng phạm hạnh đáng kính nào thuyết pháp, vị ấy, đối với pháp ấy, hiểu được nghĩa lý và hiểu cả văn cú. Nhờ hiểu được nghĩa lý và hiểu cả văn cú, khoan khoái sanh. Nhờ khoan khoái, hỷ sanh. Nhờ hỷ tâm, thân khinh an sanh. Nhờ thân khinh an, lạc thọ sanh. Nhờ lạc thọ, tâm được định tĩnh. Ðó là giải thoát xứ thứ nhất.
Giải thoát xứ thứ hai là người này đã học, đã hiểu, đã nghe như vậy, thuyết pháp một cách rộng rãi cho người khác.
Giải thoát xứ thứ ba là vị này tụng đọc một cách rõ ràng (tức là học thuộc lòng).
Giải thoát xứ thư tư là dùng tâm tầm cầu, tư duy, quán sát các pháp ấy.
Giải thoát xứ thứ năm là vị này khéo nắm giữ một định tướng nào đó, khéo tác ý, khéo thọ trì, khéo thể nhập nhờ trí huệ.(Trường Bộ Kinh, 33. Kinh Phúng Tụng)
Trong bài kinh mỗi một đoạn Đức Phật lặp lại nhiều lần, Ngài Xá Lợi Phất cũng lặp lại nhiều lần rất dài. Ở đây Minh Thành chỉ lấy nghĩa trọng yếu không có lặp lại.
Như vậy, giải thoát xứ thứ nhất là: khi nghe pháp vị này hiểu từ ngữ cho đến nghĩa lý, do hiểu cho nên vị này khoan khoái, vui cho nên hoan hỷ sanh khởi, mà hoan hỷ sanh khởi cho nên thân được nhẹ nhàng, nhẹ nhõm, khinh an khi nghe pháp, do thân khinh an cho nên tâm được lạc, cho nên lạc thọ sanh. Thân nhẹ nhàng nên tâm an lạc, tâm an lạc cho nên được định tĩnh.
Thành ra nhiều người hiểu lầm tu là khắc khổ, nhưng tâm phải lạc mới đi đến định, nếu tâm không vui sẽ không đi vào thiền định, nên người tu hỷ lạc do ly dục sanh, từ sơ thiền đã như vậy. Cho nên từ nghe hiểu khoan khoái, hoan hỷ, khinh an, lạc thọ, định tĩnh đó là giải thoát thứ nhất. Mình xem lại đã được những điều gì? Mình nghe hiểu vui, tâm an lạc nhẹ nhàng vui vẻ đó là giải thoát thứ nhất. Đó là giải thoát khỏi dục, khỏi tham, giải thoát khỏi những hệ lụy của những tâm phàm bình thường. Khi nghe pháp sẽ đi vào pháp, sẽ bỏ lại phía sau những dục, tham, ái, sân, si, phiền não của thế gian, đó là giải thoát thứ nhất. Cho nên giải thoát là tìm ngay trong giảng đường, ngay nơi nghe pháp, là nhập giải thoát xứ thứ nhất. Cho nên tại sao thầy hay giảng pháp đó chính là muốn giải thoát, mỗi lần giảng là mình đi vào giải thoát được giải thoát xứ. Người nghe được thấm, hiểu, được hoan hỷ, khinh an lạc thì cũng được giải thoát xứ, chính là mình chia sẻ giải thoát xứ cho mọi người, đây là ngôi chùa tâm linh, đại tùng lâm, đại già lam, đây là đại thiền đường, đây là giải thoát xứ.
Giải thoát xứ thứ hai là: vị ấy đã nghe, đã hiểu, đã đọc và thuyết pháp một cách rộng rãi cho người khác, vị ấy đối với pháp ấy hiểu được nghĩa lý, hiểu được văn cú. Nói lại cho người khác nghe, chứ không phải nghe hiểu nhưng nói lại không được, mà phải nói. Nói lúc cần nói, chứ người ta không cần mà mình nói hoài thì không được; hoặc lúc người ta cần nhưng mình lại nói không được thì không phải giải thoát xứ. Ai cần học, muốn hỏi thì mình nói, đây là giải thoát xứ thứ hai. Đây là chính kim ngôn của Đức Thế Tôn, là kim khẩu miệng vàng, nói cho những người cần nghe, những người cần học, những người muốn nghe, những người ham học ham tu.
Giải thoát xứ thứ ba là: tụng đọc pháp một cách rõ ràng, là mình học thuộc lòng. Cho nên trả bài mà hân hoan vui vẻ, tâm thanh tịnh, an lạc, thích thú, hỷ trong pháp là giải thoát xứ. Còn trả bài mà khổ, bị bắt ép, buồn phiền thì không phải là giải thoát xứ. Nghe pháp mà hân hoan thì hỷ sanh, lạc sanh, định tĩnh sanh là giải thoát xứ.
Giải thoát xứ thứ tư là: dùng tâm tầm cầu, suy tư, quán sát pháp ấy. Tầm cầu, suy tư, quán sát pháp mà mình đã nghe, đã học, đã hiểu. Ví dụ mình đọc sắc là gì, thọ là gì, tưởng là gì, hành là gì, thức là gì, vô minh là gì, trí huệ là gì, Mình đọc hết, nhưng mà mình có tâm cầu không, có suy tư nghĩa lý không, có quán sát trong nội tâm những pháp đó không? Mình có thấy thật sự sắc là tứ đại không, có thấy sắc do tứ đại tạo thành không, mình có tầm cầu nghĩa lý đó không? Có xem trong cảm giác có tham, sân, si, bản ngã hay không? Có nhìn lại để thấy không hay đọc xong thì thôi? Hay mình cho chuyện đó của ông thầy, ông Phật, của cuốn kinh, của người giảng, còn chuyện mình không dính dáng, khi trở ra thì không nhớ gì hết, thì đó là thiếu giải thoát xứ thứ tư. Phải có đủ năm giải thoát này thì mới đi đến chỗ giải thoát rốt ráo. Cho nên tầm cầu, suy tư, quán sát các pháp trong nội tâm, xem thế nào là tưởng, trong tưởng có gì? Thế nào là hành, nững suy nghĩ, suy tư có gì? Có suy tư về tôi, về của tôi không?
Vui thay chúng ta sống,
Không gì, gọi của ta.
Ta sẽ hưởng hỷ lạc,
Như chư thiên Quang Âm.
(Kinh Pháp Cú – Phẩm An Lạc)
Người nào thường thường quán chiếu về vấn đề không cái gì là tôi, không có gì của tôi trong năm uẩn thì người đó sống như chư thiên ở cõi trời Quan Âm, cõi trời luôn luôn sống trong hỷ lạc, ánh sáng. Mình chỉ ví dụ vậy thôi, chứ chư thiên, Quan Âm cũng chưa bằng người thành tựu Chánh Tri Kiến – đã thấy không cái gì là tôi, không cái gì của tôi. Đức Phật lúc nào cũng nói không cái gì là tôi, không cái gì của tôi, còn mình có tầm cầu, tư duy, quán sát vậy không, hay mình sống trong cái tưởng? Ví dụ: không thấy thầy bước ra là tưởng thầy bệnh nhưng không phải mà thầy đang đi kinh hành, an lạc không cái gì là tôi, không cái gì là của tôi. Thầy nghe trúc lay, nghe gió thoảng, nghe chim hót, ngồi thiền, đi kinh hành nghe pháp, chứ đâu có bệnh, mà ở đây cứ tưởng thầy bệnh đó là tưởng uẩn. Phải chiêm nghiệm không cái gì là tôi, không cái gì của tôi.
Lâu lâu mình thấy lờ mờ, lờ đờ, vọng tưởng thì mình niệm câu: “Sắc thân này là vô thường, khổ vô ngã không phải là tôi, không phải của tôi. Cảm giác này là vô thường, không đáng để mình thích thú, không đáng hoan hỷ, không đáng dính mắc, không phải đối tượng để ưa thích, không phải là tôi, không phải của tôi. Những nghĩ tưởng không phải là tôi, không phải là của tôi. Nhận thức cũng vậy, nhận thức là vô thường trống rỗng, không cái gì là tôi, không cái gì của tôi”. Lúc đó là mình đang lướt trên mây không còn đi dưới đất do không còn cái gì của tôi, không có đất, không có tài sản, không có con cái, thì rất khỏe.
Đêm hôm qua, Minh Thành kinh hành chiêm nghiệm “không gì là tôi, không gì là của tôi”, cảm thấy rất an lạc, không có tưởng tượng nổi, không biết đem an lạc chia cho ai, ai nhận nổi an lạc này? Chỉ có suy tư quán chiếu vào lý vô ngã mới thấy. Minh Thành kinh hành mà cười một mình “Đất này không phải của tôi, nhà này không phải của mình, xe này không phải của mình, những người ở đây không phải đệ tử của mình, thân này không phải của mình, áo này không phải của mình, giường mình đang nằm không phải của mình, mền mình đang đắp ấm không phải của mình, cảm giác này cũng không phải của mình, không cái gì là của mình”, đi một mình và cười, không cái gì của mình thì đâu có lo lắng sợ hãi, đó là giải thoát xứ.
Tầm cầu, suy tư, quán sát sự sanh diệt của năm uẩn để thấy được thực tính, bản chất của nó. Không có gì hết, không có ai hết, không có gì cả, trống rỗng. Minh Thành có suy nghĩ độc địa nhưng chưa dám làm là tự mình tổ chức đám ma cho mình. Bây giờ ở Hàn Quốc, Thái Lan có dịch vụ cho chết thử 10-15 phút, do có một số sinh viên tự vẫn nên người ta làm để cho họ biết trân quý cuộc sống, dịch vụ này tốn khá nhiều chi phí, có hình, cho vào hòm và đậy nắp lại, nhưng khoét lổ cho thở và nằm khoảng 15-20, sau đó ra ngoài rồi mới trân quý cuộc sống. Cho nên mình phải chết, phải nghĩ đến cái chết, nhưng nghĩ đến chết không có gì lo sợ, đo đó phải tư duy quán sát chiêm nghiệm, nếu mà học xong để đó thì không có lợi lạc gì hết.
Giải thoát xứ thứ năm là: suy tư quán sát, khéo nắm giữ một định tướng nào đó, khéo tác ý, khéo thọ trì, khéo thể nhập nhờ trí huệ. Nắm giữ một định tướng, ví dụ mình nắm giữ tướng của bộ xương, mình nắm giữ tướng của dòi ăn, nắm giữ tướng của đống thịt bầy nhầy, giống như người ta bán thịt heo, mình phải nắm giữ một định tướng, khéo hộ trì, khéo léo gìn giữ, khéo léo tác ý, phải nắm giữ định tướng cho thường trực, đừng cho mất. Khéo thọ trì là khéo nhận và giữ gìn, khéo tác ý là khéo suy sét những định tướng mà mình đang tu tập, như vậy mình sẽ khéo thể nhập nhờ trí huệ. Khi thể nhập được trí huệ thì phá tung bản ngã, vô minh, tham, sân, si, chấp thủ với năm uẩn là vào Thánh quả đó là giải thoát xứ thứ năm. Ở đây có ai nắm giữ được định tướng, hay giờ ngồi thiền lại rớt, mất hết, mình phải giữ định tướng đó. Thí dụ tu tập về cốt tưởng là lúc nào cũng nhìn thấy bộ xương trước mặt, ai tới trước mặt cũng nhìn thấy bộ xương đó là định tướng, phải tu tới mức đó mới là giải thoát xứ thứ năm. Ai đến cũng nhìn thấy là dòi, ai nhìn thấy cũng là Bạch Cốt Tinh, đó là phá dục tham ái, lúc nào cũng nhìn thấy thân thể mình đang nằm chết, đó là định tướng phá tung hết tham sân si, bản ngã.
Vừa rồi Minh Thành nhập thất hai tuần thực tập, rất khó do phải giữ một định tướng, cũng giữ được nhiều nhưng không liên tục mà gián đoạn. Nếu liên tục và không gián đoạn thì vào Thánh quả, nếu giữ được định tướng thì ngũ uẩn rất an tịnh. Nếu vừa hướng ngoại hay vừa phóng tâm, thì mình nói: “Mình chết rồi còn suy nghĩ gì được nữa? Chết rồi còn tính gì nữa? Chết rồi còn lo gì nữa? Chết rồi còn sợ gì nữa?”, là tự nhiên ngũ uẩn an tịnh hết, khinh an, tâm, thọ tưởng, hành, thức yên tịnh vắng lặng, đây là giải thoát xứ thứ năm.
Năm xuất ly giới
Tiếp theo, ta nói về Năm Xuất Ly Giới, năm điều giúp cho mình ra khỏi.
Xuất ly thứ nhất là: “Này các Hiền giả, ở đây vị Tỷ-kheo, có tác ý đối với dục vọng, tâm không hướng nhập dục vọng, không tín lạc, không an trú, không bị chi phối bởi dục vọng. Khi vị này có tác ý đối với ly dục, tâm hướng nhập ly dục, tín lạc, an trú và bị chị phối bởi ly dục, tâm của vị ấy khéo ly, khéo tu, khéo khởi, khéo giải thoát, khéo ly hệ đối với các dục lạc. Và các lậu hoặc, các tổn hại, các nhiệt não khởi lên do duyên các dục lạc, vị ấy đối với chúng được giải thoát, không còm cảm thọ cảm giác ấy. Như vậy được gọi là giải thoát đối với các dục vọng”. (Trường Bộ Kinh, 33. Kinh Phúng Tụng)
Điều nay rất sâu sắc, thường ngày khi mình tu thấy rất rõ. Tức là khi tâm nghĩ tham muốn cái gì thì đó gọi là có tác ý đối với dục vọng. Khi đó người có thực tập tu thì người này không có tâm hướng nhập vào dục vọng đó, không thấy các dục vọng đó là vui, không an trú, không bị bị chi phối bởi dục vọng khởi lên ở trong cảm giác đó, trong tưởng, trong suy nghĩ đó. Thí dụ ở trong nghĩ tưởng sanh khởi lên niềm vui thích đi chơi, thích xe đẹp, thích món đồ, hay một người nào đó, khi đó người biết tu đang thực tập xuất ly giới thì không hướng vào dục vọng mà hướng đi ra. Đó gọi là tâm không hướng nhập vào dục vọng, không tín lạc, không tin tưởng rằng đó là vui, không đi theo tham muốn đó là vui, mà thấy là khổ là vô thường, không an trú, không chi phối bởi dục vọng. Không an trú là không ở trong đó, không bị chi phối, nếu mà khởi lên mà bị chi phối thì mình sẽ nhập cuộc luôn, nó dẫn mình đi. Do khởi lên mà mình không thấy, do mình không nhìn lại thường trực nên không phát giác, gọi là xâm chiếm, an trú, chế ngự và áp đảo – đây là những từ Đức Phật dùng trong kinh tạng Nikāya, và mình bị lật đổ. Do không thường trực nhìn lại nên không phát giác ra, nếu không phát giác ra, đôi khi mình lại đi theo, đó là vô văn phàm phu không biết tu và nhập cuộc luôn. Còn đối với người Đa văn Thánh đệ tử biết tu là có chống lại, nhưng phàm phu thì buông xuôi luôn, cho nên gọi an trú và bị chi phối.
“Vị này có tác ý đối với ly dục, tâm hướng nhập ly dục”, là vị này có tác ý đối với ly dục, khi khởi lên những ham muốn thì vị này tác ý là không đi theo, không muốn đi theo ham muốn đó, không chạy theo, không nhập cuộc và không chấp nhận thì đó là điều sâu sắc.
“Không cho rằng ham muốn đó là vui, không an trú trong đó và tâm của vị ấy khéo ly, khéo tu, khéo khởi, khéo giải thoát, khéo ly hệ đối với các dục lạc”. Đây là điều Chánh Đẳng Chánh Giác, Đức Thế Tôn nói, bậc Đại Thánh, tối thượng Thánh, tối tôn Thánh mới nói được. Tâm vị ấy khéo ly tức là khéo léo xa lìa ham muốn đó, khéo léo xa lìa cảm giác đó, khéo léo xa lìa tưởng đó, khéo léo xa lìa suy nghĩ nhận thức đó, khéo léo xa lìa đó là khéo tu, do lìa được thì mới tu, chứ không phải bên ngoài. Khéo khởi là sao? “Khởi” là khởi lên ý niệm ly dục đây là Như Lý Tác Ý. Khéo làm cho Như Lý Tác Ý về Chánh Tư Duy sanh khởi, không đi theo đó gọi là khéo khởi. Khéo giải thoát là khéo mở ra, mình giãy vùng ra, thoát ra, gọi là khéo giải thoát. Khéo ly hệ đối với các dục lạc là lìa hệ phược, trói cột. Đây là chỗ sâu sắc, kim cương cũng không đổi được, chính là công phu của bậc Thánh, sự tu hành của người xuất gia là đây, do đó mình phải học thuộc lòng.“Tâm của vị ấy khéo ly, khéo tu, khéo khởi, khéo giải thoát, khéo ly hệ đối với các dục lạc”. Do đó mình chỉ cần làm một việc, nhìn lại thấy buộc là tháo gỡ, thấy dính mắc là gỡ ra, cho đến hết dính mắc, là Chánh Đẳng Giác Vô Sở Trước, là vị Tỷ-kheo sống không chấp trước bất cứ vật gì trên đời. Trong Tứ Niệm Xứ, không chấp trước bất cứ vật gì trên đời là giải thoát. Bất cứ vật gì và tất cả vật đều nằm trong năm uẩn, nhìn thấy bản chất của năm uẩn nên xa lìa gọi là không chấp trước bất cứ vật gì trên đời, là tâm khéo giải thoát. Cho nên trọng điểm quan trọng đầu tiên là cung kính đối với giáo pháp ly tham. Chánh Pháp thật sự của Đức Phật là đưa đến hiệu quả ly tham, ly dục, ly ái, ly hệ trói cột, nhưng ly từ từ chứ không phải một cái là xong.
Ví dụ, giờ này đêm khuya mà đắp 2-3 mềm ấm, lăn qua trở lại, thấy đã, chính là ái trong đó. Có tiếng kẻng đánh thức mà mình chưa muốn thức dù nghe rồi, vẫn nằm thêm nữa đó là tham; hay ăn no rồi mà mình thấy nhiều món ngon, thì lại ăn thêm đó là tham, ăn xong rồi đứng dậy đi không nổi. Đó là những điều rất nhỏ nhiệm. Do đó bất cứ lúc nào mình cũng nên nhớ hai chữ “Ly Tham”, đó là mục tiêu của mình tu tập, hãy để hai chữ này khắc lên trán, khắc vào tim, khắc vào tâm. Ly tham thì sẽ hết khổ. Ly tham đối với sắc, ly tham đối với mọi vật chất trên đời, ly tham đối với cảm giác, nghĩ tưởng, đối với nhận thức, nếu thật sự làm được việc này thì mình chỉ cần ngồi cho Trời và Người đảnh lễ, đáng chấp tay, đáng cung kính, đáng đảnh lễ, đáng cúng dường, là ruộng phước vô thượng ở trên đời.
Mình xét kĩ lại tất cả cái khổ là từ những thứ mình tham đều là năm uẩn, không có gì ngoài năm uẩn. Do đó ly tham đối với năm uẩn là Thánh, siêu Thánh, nên phải tập từ từ. Nếu chỉ xác định hướng đi ra thì đã tốt rồi, là vào Hướng Dự lưu, có đôi khi mình nói hướng đi ra nhưng tâm lại đi vào, muốn kiếm thêm. Cho nên để thấy triệt để tận cùng là phải nghe Đức Thế Tôn nói, suy tầm, suy tư, quán xét, quán chiếu thâm sâu, quán đến xuyên thủng khối vô minh uẩn đến triệt để thì mới sạch. Do đó mình học và nghiền ngẫm quyết định hướng đi ra vậy là thành công, biết cách, biết đường rồi từ từ mình sẽ đi ra, không thể bỏ hết một lần, đó chỉ là xuất ly thứ nhất. Nếu mình hành đúng, thực hành đúng như lời Đức Phật dạy thì chắc chắn sẽ giải thoát. Ngày xưa mình tìm hoài không thấy, do mình vào chỉ chú tâm lạy lục, mong cầu, cúng, ghi tên xin cầu, sau đó thì mình vẫn giận, vẫn phiền, vẫn khổ, do mình không làm đúng theo lời Đức Phật. Có nhiều Phật tử về đây nói rằng sao ở chùa giống như ở trên trời, tâm mình thiện là thiên, ai ở đây cũng thiện tâm tức là thiên cộng thêm Chánh Pháp thì là tuyệt vời!
“Các lậu hoặc, các tổn hại, các nhiệt não khởi lên do duyên các dục lạc, vị ấy đối với chúng được giải thoát”. Các lậu hoặc, các tổn hại, các nhiệt não rất ghê gớm, nhiệt não rất nóng bức nếu muốn mà không được thỏa mãn thì rất nóng bức, bực bội, khó chịu. Cho nên ái không được là sân, giống như yêu không được là hận, trả thù là cũng từ tham, dục, ái; ăn không được thì phá; “trâu buộc ghét trâu ăn”, đầy dẫy hết từ ngoài đến trong, từ thô đến tế,... không đi ra khỏi được. “Các lậu hoặc, các tổn hại, các nhiệt não khởi lên do duyên các dục lạc, vị ấy đối với chúng được giải thoát”, không còn cảm thọ cảm giác ấy, như vậy gọi là giải thoát đối với các dục vọng. Chuyện nhỏ thực tế là mình điện thoại cho một người, 5-10 cuộc mà không gọi được đó là nhiệt não, hoặc điện thoại mà không bắt máy hoặc cắt điện thoại thì đó là nhiệt não, do mình muốn gặp mà không được. Nhưng vị này tu thì phải giải thoát các cảm giác ấy, giải thoát nhiệt não, giải thoát nóng bức đó, giải thoát bực bội. Đâu có gì thật chỉ là pháp duyên sanh, nghe chứ chưa chắc là thật, để từ từ hỏi lại, bình tĩnh lại là mình ra khỏi cảm giác sân hận, bực bội, bực tức đó.
Xuất ly thứ hai là Sân Hận, xuất ly thứ ba là Hại Tâm – hai điều này mình sẽ nói chung.
“Này các Hiền giả, lại nữa, vị Tỷ-kheo có tác ý đối với sân hận, tâm không hướng nhập sân hận, không tín lạc, không an trú, không bị chi phối bởi sân hận. Khi vị này có tác ý đối với vô sân, tâm hướng nhập vô sân...” Chỗ này rất quan trọng, tâm có tác ý đối với sân hận. Trong tâm khởi lên ý niệm giận, sanh khởi một cảm giác nóng bức, bực bội, khó chịu, tức tối, nếu có tu thì tâm không hướng nhập sân hận, mà tâm tác ý vô sân, không có sân, không chấp nhận cảm giác sân, không chấp nhận những hình ảnh trong tưởng ví dụ tưởng sẽ gặp người nào đó. “Trải tâm từ đi, hãy thương xót tội nghiệp tha thứ. Đi theo tâm để làm gì? Tâm này rất nguy hiểm, tai hại, đốt cháy, sụp đổ, đổ vỡ tan nát hủy hoại, không đi theo tâm đó”. Do đó chữ “tín lạc” rất khó hiểu, nghĩa là tin rằng cơn sân này làm cho mình được thỏa mãn, vui thích. Giận mà vui thích là sao? Pdhải nói cho bằng được, làm cho bằng được mới chịu,đó gọi là tín lạc. Chấp nhận an trú trong đó, nuôi dưỡng nó làm cho tăng trưởng phát triển quảng đại, mình thấy điều đó đáng làm, phải làm đó là sai, là sập vào bẫy. Còn người tu thì phải đi ra khỏi, đây là xuất ly giới thứ hai là sân.
“Vị này tác ý đối với vô sân, tâm không hướng nhập vô sân, có tín lạc, có an trú, có bị chi phối bởi sân, tâm vị ấy khéo ly, khéo tu, khéo khởi, khéo giải thoát, khéo ly hệ đối với vô sân”. Nếu tâm có sự thích thú trong sân hận, an trú ở trong sân hận, bị chi phối thị vị này khéo lìa, khéo tu tập, khéo khởi tâm từ, khéo giải thoát, mở tâm sân, khéo ly hệ rời sự trói buộc, như vậy các lậu hoặc, các sự tổn hại nhiệt não sẽ được giải thoát. Nói nhiều nhưng cuối cùng là tham với sân, Hại cũng gần gần giống như sân, bực một người nào đó muốn làm điều gì cho hả giận, mong người đó gặp chuyện gì đó mình cảm thấy vui, gọi là “hạnh tai lạc họa”, là mình hạnh phúc khi thấy người bị tai họa. Do ghét người đó nên người đó gặp chuyện gì là mình vui, thấy họ đáng đời, gặp quả báu. Đó là hại tâm gọi là “hạnh tai lạc họa yểm tha năng”, hạnh phúc khi người ta bị tai họa, còn người có tài năng thì mình dìm xuống, ém xuống không cho ai biết.
Xuất ly thứ tư là: “Vị Tỷ-kheo Có tác ý đối với sắc, tâm không hướng nhập vào sắc, không tín lạc, không an trú, không bị chi phối bởi sắc”, chữ “sắc” rất “đắt”, cân hết cả trái đất, hết vũ trụ. Tâm của mình có hướng nhập vào sắc không? Ví dụ hôm nay làm việc đói bụng, ở nhà thì ăn tàu hũ chiên sả ớt với canh chua, mình nghĩ trưa nay có món đó chắc ngon, như vậy là hướng nhập sắc. Hình ảnh tưởng hiện lên, trong đó thọ, hành; sắc, thanh, hương vị, xúc pháp có đầy đủ hết, có mùi chua, tàu hũ sả ớt giòn cay, bao nhiêu hiện ra hết. Tác ý đối với sắc, tâm không hướng nhập vào sắc khi khởi lên, mình tác ý: “Đây là vô thường, có ngon thì cũng nuốt vô là xong, một lát thì xả ra có mùi gì. Tham làm gì, có cái gì ăn cái nấy thôi, tùy duyên, cho tâm an”. Cái tưởng này rất ghê gớm, thật ra mình khổ về sắc ít hơn là khổ về sắc tưởng.
Khổ về âm thanh thì ít khổ hơn về thanh tưởng. Âm thanh chỉ nói một câu, nhưng khi về nhà 1-2 tháng, thậm chí nhiều năm sau vẫn còn nhớ câu nói ấy. Câu nói đó có thể là yêu mà cũng có thể là hận, có thể là thù, nhưng đó chỉ là thanh tưởng, âm thanh đi qua rồi nhưng mỗi lần nhớ đến lại nát tim gan, tan nát cõi lòng vì câu nói ấy. Mình nhớ lại là thanh tưởng, theo duyên sanh pháp thì tiếp tục là xúc, thọ, tưởng, hành. Ý căn tiếp xúc với thọ, tưởng, hành – ý thức, ý xúc sanh ra, ba pháp giao thoa, tiếp tục nghĩ ra. Hình ảnh về một người nào đó cũng vậy, tiếp xúc là xong rồi, nhưng khi về thì nằm nhớ lại bao nhiêu chuyện đã xảy ra. Mình cứ suy nghĩ lại: hành động đó ra sao? Lời nói như thế nào? Cách đối xử làm sao? Tất cả đều là sắc tưởng, thanh tưởng, hương tưởng, vị tưởng, xúc tưởng, pháp tưởng vận hành với tưởng, nếu mình lìa xa được tưởng thì sẽ ít khổ hơn, nếu không sẽ nuôi dưỡng tưởng.
Cho nên rất ghê gớm khi tác ý đối với sắc, tâm không hướng nhập vào sắc. Tất cả những thứ cảm giác, nghĩ tưởng, nhận thức vận hành là do sắc, nên sắc là căn nhà cho thức trú ẩn. Đức Thế Tôn nói trong Tương Ưng Uẩn, sắc do bị chấp thủ, nhận sắc là mình, của mình, là tôi, là của tôi, là bản ngã, cho nên thọ, tưởng, hành, thức bám vào sắc. Do đó mình cần suy nghĩ tâm hướng nhập vào sắc, là không chạy theo sắc, tâm khéo ly, khéo tu, khéo khởi, khéo giải thoát, khéo ly hệ đối với sắc. “Tâm vị ấy khéo ly, khéo khởi, khéo giải thoát, khéo ly hệ đối với sắc”, sắc làm cho mình phiền não, mệt mỏi, khốn khổ, tại họa, hiểm họa.Ví dụ: Tuổi mình là 40-50-60-7-80-90, nhưng suy xét kỹ, sâu trong nội tâm vẫn còn muốn nhiều thứ, tính nhiều thứ, chứ không phải hết tính. Mình tính, muốn nhiều thứ, tất cả ở trong sắc, không lìa khỏi sắc, cho nên mình phải chiêm nghiệm nhiều, tư duy nhiều. Nhớ lại những chuyện xưa là sắc tưởng – những hình bóng sắc của quá khứ; mình nhớ lại những chuyện vừa tiếp xúc gọi là sắc hiện tại; sau đó mình nghĩ sau này, tuần sau, tháng sau, năm sau đó là sắc tương lai. Trong bài kinh Trăng Rằm, Đức Phật nói:
Này Tỷ-kheo, phàm có sắc gì, quá khứ, vị lai hay hiện tại, nội hay ngoại, thô hay tế, liệt hay thắng, xa hay gần, đối với tất cả sắc, thấy được như thật với trí tuệ là: "Cái này không phải của tôi, cái này không phải là tôi, cái này không phải tự ngã của tôi". (Trung Bộ Kinh, 109. Đại Kinh Mãn Nguyệt)
Phải nhìn nhận đó là vô thường, phải thấy đó là vô thường, là khổ, là vô ngã. Nếu mình thấy là vô thường, khổ vô ngã tự nhiên tâm sẽ không hướng chạy theo sắc tưởng, nhưng nếu mình thấy người thật, cảnh thật, xe thật, tiền thật, nhà thật thì làm sao mình đi ra khỏi, đến lúc nằm trên giường bệnh, thở oxy, lúc đó mới biết thì đã muộn làm sao mà tu kịp, lúc này mới biết hoảng sợ, lo lắng, tiếc nuối, thậm chí ở trong mờ mịt do không tỉnh giác chánh niệm, mờ mịt hoảng loạn không biết đi đâu, không biết sắc là sắc mà nghĩ sắc là của tôi, đó là xuất ly thứ tư.
Cuối cùng, xuất ly thứ năm là: “Vị Tỷ kheo có tác ý đối với tự thân, tâm không hướng nhập tự thân, không tín lạc, không an trú, không bị chi phối bởi tự thân. Khi vị này có tác ý đối với thân diệt, tâm hướng nhập thân diệt, tín lạc, an trú, bị chi phối bởi thân diệt”. Đây là chỗ sâu sắc, thân đây gọi là sự xuất ly khỏi có thân. Có một bài kinh khác đầy đủ hơn: “Tỷ-kheo, tác ý về có thân, tâm không phấn chấn trong có thân, không tịnh tín, không an trú, không quyết định. Nhưng khi tác ý đến đoạn diệt có thân, tâm liền phấn chấn trong đoạn diệt có thân, được tịnh tín, được an trú, được quyết định. Tâm ấy của vị ấy là khéo làm, khéo tụ tập, khéo tăng trưởng, khéo giải thoát, khéo không liên hệ đến có thân. Và do duyên với có thân, khởi lên các lậu hoặc não hại, nhiệt não, vị ấy giải thoát khỏi chúng, không cảm giác thọ ấy. Ðây gọi là xuất ly khỏi có thân”.
“Tác ý đối với tự thân, tâm không có hướng nhập tự thân”. Ví dụ: khi nghĩ mình xuất gia xong rồi trở thành gì? Làm cái gì? Được cái gì? Trở thành thiền sư, pháp sư hay kinh sư? Phải làm trụ trì hay sao? Đó là hướng nhập có thân, đầu tư vào sắc uẩn, mình nghĩ chùa phải to hơn, Phật tử về nhiều, nổi tiếng hơn đó là hướng nhập có thân, hướng nhập vào sắc. Cho nên không khéo thì mình lại đầu tư trong sắc pháp, sắc uẩn, vô thường, trong có thân, luân hồi, chứ không phải đầu tư vào nơi đi ra khỏi luân hồi. Tất cả những suy nghĩ, nghĩ tưởng của mình đều suy nghĩ, nghĩ tưởng đến chỗ có thân, tác ý đối với tự thân. Do tác ý như vậy mình sẽ tín lạc, tin vào thân có thật, rồi mình vui chỗ có thân, an trú trong có thân, bị chi phối bởi sự có thân, như thế thì sầu, bi, khổ, ưu, não sanh. Bởi vì sự an trú, bám chấp vào thân, vào sắc uẩn, vào thọ, tưởng, hành, thức, sự bám trú đó là căn cứ địa làm cho bản ngã sanh, làm cho tham dục sanh, làm cho sân hận sanh, làm cho si mê sanh, làm cho tật đố sanh, làm cho sầu, bi, khổ, ưu, nã sanh. Do đó phải bằng trí để nhận diện năm uẩn, để thấy rõ đó là pháp duyên sanh vô thường, biến hoại. Một ngày kia thì cũng sẽ nằm dài trên đất có bốn người khiêng, ngừng thở, tim ngừng đập rồi thân thể sẽ nức nẻ, xanh đen, bầm tím, chảy máu, chảy mủ, nước vàng, dòi bò ăn trong thân thể, cuối cùng chỉ là bộ xương, một đống thịt rã rời hết, sẽ nát ra thành bụi, như vậy thì thân ở đâu? Sắc ở đâu? Rõ ràng là như vậy.
Khi quán chiếu thâm sâu, Thân Hành Niệm trong Tứ Niệm Xứ, thì sẽ dẹp hướng suy nghĩ tác ý đối với tự thân, không hướng nhập tự thân, không tin đó là có thật, không an trú trong tư tưởng đó, không bị chi phối bởi sự có thân. “Vị ấy tác ý đối với thân diệt, tâm hướng nhập thân diệt”, hướng nhập sự chấm dứt, thân đã tận, phạm hạnh đã thành, việc nên làm đã làm, không còn trở lui trạng thái này nữa. Câu nói khải hoàn ca của bậc Đại Thánh A-la-hán, đó là phút khải hoàn ca, bài ca chiến thắng, vì vậy không khéo sẽ đi ngược với bậc Thánh, các bậc Thánh đi đến sự chấm dứt sanh tử luân hồi, mà mình đầu tư suy nghĩ tưởng mơ. Đã xuất gia nhưng cũng vậy, cứ đầu tư cho sắc, cho thân, đầu tư vào những chỗ của ta mà không thấy đó là sắc uẩn, sắc pháp.
“Tâm vị ấy khéo ly, khéo tu, khéo khởi, khéo giải thoát, khéo ly hệ thân diệt”, chấm dứt sự ràng buộc đam mê, chấp thủ, luyến ái ở trong thân pháp vô thường, bất tịnh, tan nát bất cứ lúc nào, bất cứ ở đâu, bất cứ chỗ nào, hoàn toàn mình không làm chủ sinh mạng. Thật là mong manh, thật là tạm bợ, vô thường giống như món đồ gốm dễ vỡ, nhưng mình không thấy rõ điều đó, ảo tưởng cho là thật, tôi ta nhân ngã bỉ thử, bao nhiêu tham, sân, si, phiền não khởi lên. Đức Phật nói trong Tiểu Kinh Khổ Uẩn và Đại Kinh Khổ Uẩn từ lòng tham, lòng dục người này chửi người kia, gậy gộc đánh nhau, nhóm này nhóm kia tranh đấu với nhau, nước này với nước kia. Cũng từ lòng tham, con người chế tạo ra vũ khí tối tân, chỉ cầm bấm nút là tan nát, hủy hết hết. Từ lòng tham, không thấy được bản chất đưa đến sầu, bi, khổ, ưu, não.
Như vậy, hôm nay chúng ta tìm hiểu Năm Giải Thoát Xứ và Năm Xuất Ly Giới – năm pháp đưa đến giải thoát và năm pháp giúp mình chấm dứt khổ đau, luân hồi. Chúng ta phải nắm cho thật là vững, thật kỹ để ứng dụng. Năm xuất ly giới là tâm hướng đến chỗ lìa tham, lìa sân, lìa hại, lìa sắc, lìa tự thân. Đó là xuất ly giới, là cảnh giới của giải thoát. Chữ “giới” ở đây là giới vức, lãnh vực. Tâm mình luôn hướng về năm xuất ly giới, luôn thực tập, an trú, quán chiếu, quán sát bên trong, như vậy là mình đang trong thế giới của giải thoát. Nếu đi vào năm chỗ đó là bị ràng buộc, còn đi ra khỏi là được xuất ly, giải thoát.
Trình pháp
Xin mời đại chúng phát biểu cảm nhận của mình về bài học hôm nay.
Thầy Pháp Giới (lúc tập sự):
Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.
Kính bạch sư phụ, quý thầy và toàn thể đại chúng.
Hôm nay sau khi nghe bài giảng của sư phụ về năm giải thoát và xuất ly, con thấy rằng con đường tu học của mình còn rất là dài để đi đến thành tựu, đi đến con đường mà Thế Tôn đã chỉ dạy. Mình cần tinh tấn hơn nữa, cần quyết tâm hơn nữa, phải luôn quán tưởng, niệm chết mọi lúc mọi nơi, để có quyết tâm trì chí nỗ lực mọi phút giây. Luôn luôn nhìn lại ngũ uẩn để có thể thành tựu được năm pháp giải thoát và năm pháp xuất ly, khi thấy ngũ uẩn đang vận hành, thì mình có thể giải thoát và xuất ly. Như vậy mới xứng đáng là người đi theo con đường mà Phật đã chỉ dạy.
Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.
Thầy Pháp An:
Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật!
Kính Thưa thầy trụ trì, kính thưa đại chúng và toàn thể Phật tử.
Sau khi nghe bài pháp của thầy trụ trì, năm giải thoát và năm xuất ly, theo suy nghĩ và hiểu biết của mình Pháp An thấy rằng, Đức Phật nói ngũ uẩn phát khởi lên có cảm thọ, tưởng, hành, thức, mình phải dùng trí suy tư quán xét, nhất là quán bất tịnh, quán xác chết và quán những thứ có tác dụng mãnh liệt. Sau đó dùng trí tuệ, dùng Như Lý Tác Ý chính xác, giúp tâm vững vàng và có nghị lực để thoát qua giải thoát cuộc đời mình. Nếu không có sự suy tư, quán xét chính xác thì đối với tai hại của ngũ uẩn trong sanh tử, tham, sân, phiền não, mình không thể vượt qua được. Do đó mình phải suy tư rõ ràng, quán xét chính xác, dùng Như Lý Tác Ý mạnh để cố thể thoát ly ra được. Pháp an có những suy nghĩ như vậy để kính cùng sư phụ quý thầy và đại chúng.
Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.
Phật tử 1:
Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.
Kính bạch quý thầy cùng toàn thể đại chúng.
Hôm nay con có duyên lành được thầy từ bi giảng cho chúng con nghe pháp rất hay, nhờ đó con mới hiểu rõ ý nghĩa của bài kinh đó. Trong lúc thầy giảng con có ý hành, con đọc bài kinh đó chắc là con sẽ hiểu sai hoặc con không hiểu được. Nhờ thầy hướng dẫn con mới thấy được sự vi tế của các pháp, nếu không có sự hướng dẫn đó, có thể là chúng con có thể lầm lẫn mà đầu tư vào những việc làm mà con nghĩ rằng đó là việc làm tốt, giúp cho mình đi trên đường giải thoát, nhưng không ngờ đó là ngược lại. Con rất là cám ơn thầy, con xin hết.
Thầy Pháp Nghĩa (lúc tập sự):
Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.
Kính bạch sư phụ, quý thầy và toàn thể đại chúng.
Hôm nay được duyên lành, được sư phụ giảng một bài pháp của Đức Thế Tôn nói về năm pháp giải thoát và xuất ly. Lúc đầu mới nghe pháp thì tâm con không được nhu nhuyến mà uể oải, khi nghe những lời giảng pháp của sư phụ về năm giải thoát và xuất ly, tâm con rất hoan hỷ, rất vui, vì con đường của Đức Phật đưa ra rất là rõ, không thừa cũng không thiếu. Nếu ,ình chú tâm vào để nhiếp phục tham, sân, si, thành tựu trí về ngũ uẩn thì chắc chắn đưa đến giải thoát. Những pháp của Đức Phật đưa ra không quá sâu xa, có chăng chỉ là mình lười biếng, không chịu tu tập, giải đãi. Hôm nay con rất vui, cám ơn sư phụ đã truyền trao cho con một pháp thật là vi diệu.
Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật
Phật tử 2:
Kính bạch thầy cùng toàn thể đại chúng.
Con thì không hiểu nhiều về vấn đề thầy phân tích nhưng con hiểu được hơn về ngũ uẩn, thầy đã nói những gì cần để mình giải thoát được trong ngũ uẩn. Con thấy khi diệt được tham, sân, si thì đã giải thoát được một phần. Con rất cám ơn thầy đã giảng một bài pháp, con đã hiểu được phần đầu của bài, còn bốn phần sau con không nắm./.
Thích Minh Thành
MỤC LỤC
TOC \o "1-3" \h \z \u I.Năm điều đưa đến giải thoát PAGEREF _Toc71877717 \h 1
II.Năm xuất ly giới PAGEREF _Toc71877718 \h 5
III.Trình pháp PAGEREF _Toc71877719 \h 12
Năm điều đưa đến giải thoát
Kính thưa đại chúng, hôm nay chúng nghe Đức Thế Tôn nói về năm pháp giải thoát và xuất ly gọi là Năm Giải Thoát Xứ – năm điều đưa đến giải thoát. Trước đây mình nghe giải thoát, mong cầu giải thoát nhưng không biết phương pháp, điều gì đưa đến mình giải thoát thật sự. Hôm nay chúng ta nghe bậc Chánh Biến Tri, bậc Đạo sư cao cả của chúng ta, Ngài nói trong Tăng Chi Bộ Kinh, nói về năm giải thoát xứ, năm điều đưa đến giải thoát.
Trong bài kinh Phúng Tụng, Trường Bộ Kinh tập 2, chúng ta trích đoạn trong Trường Bộ Kinh, do trích đoạn nên không nói rõ đây là Ngài Xá Lợi Phất hay Đức Thế Tôn nói:
Này các Hiền giả, ở đây vị Tỷ kheo, khi nghe bậc Ðạo Sư, hay một vị đồng phạm hạnh đáng kính nào thuyết pháp. Này các Hiền giả, khi vị Tỷ kheo nghe bậc Ðạo Sư hay một vị đồng phạm hạnh đáng kính nào thuyết pháp, vị ấy, đối với pháp ấy, hiểu được nghĩa lý và hiểu cả văn cú. Nhờ hiểu được nghĩa lý và hiểu cả văn cú, khoan khoái sanh. Nhờ khoan khoái, hỷ sanh. Nhờ hỷ tâm, thân khinh an sanh. Nhờ thân khinh an, lạc thọ sanh. Nhờ lạc thọ, tâm được định tĩnh. Ðó là giải thoát xứ thứ nhất.
Giải thoát xứ thứ hai là người này đã học, đã hiểu, đã nghe như vậy, thuyết pháp một cách rộng rãi cho người khác.
Giải thoát xứ thứ ba là vị này tụng đọc một cách rõ ràng (tức là học thuộc lòng).
Giải thoát xứ thư tư là dùng tâm tầm cầu, tư duy, quán sát các pháp ấy.
Giải thoát xứ thứ năm là vị này khéo nắm giữ một định tướng nào đó, khéo tác ý, khéo thọ trì, khéo thể nhập nhờ trí huệ.(Trường Bộ Kinh, 33. Kinh Phúng Tụng)
Trong bài kinh mỗi một đoạn Đức Phật lặp lại nhiều lần, Ngài Xá Lợi Phất cũng lặp lại nhiều lần rất dài. Ở đây Minh Thành chỉ lấy nghĩa trọng yếu không có lặp lại.
Như vậy, giải thoát xứ thứ nhất là: khi nghe pháp vị này hiểu từ ngữ cho đến nghĩa lý, do hiểu cho nên vị này khoan khoái, vui cho nên hoan hỷ sanh khởi, mà hoan hỷ sanh khởi cho nên thân được nhẹ nhàng, nhẹ nhõm, khinh an khi nghe pháp, do thân khinh an cho nên tâm được lạc, cho nên lạc thọ sanh. Thân nhẹ nhàng nên tâm an lạc, tâm an lạc cho nên được định tĩnh.
Thành ra nhiều người hiểu lầm tu là khắc khổ, nhưng tâm phải lạc mới đi đến định, nếu tâm không vui sẽ không đi vào thiền định, nên người tu hỷ lạc do ly dục sanh, từ sơ thiền đã như vậy. Cho nên từ nghe hiểu khoan khoái, hoan hỷ, khinh an, lạc thọ, định tĩnh đó là giải thoát thứ nhất. Mình xem lại đã được những điều gì? Mình nghe hiểu vui, tâm an lạc nhẹ nhàng vui vẻ đó là giải thoát thứ nhất. Đó là giải thoát khỏi dục, khỏi tham, giải thoát khỏi những hệ lụy của những tâm phàm bình thường. Khi nghe pháp sẽ đi vào pháp, sẽ bỏ lại phía sau những dục, tham, ái, sân, si, phiền não của thế gian, đó là giải thoát thứ nhất. Cho nên giải thoát là tìm ngay trong giảng đường, ngay nơi nghe pháp, là nhập giải thoát xứ thứ nhất. Cho nên tại sao thầy hay giảng pháp đó chính là muốn giải thoát, mỗi lần giảng là mình đi vào giải thoát được giải thoát xứ. Người nghe được thấm, hiểu, được hoan hỷ, khinh an lạc thì cũng được giải thoát xứ, chính là mình chia sẻ giải thoát xứ cho mọi người, đây là ngôi chùa tâm linh, đại tùng lâm, đại già lam, đây là đại thiền đường, đây là giải thoát xứ.
Giải thoát xứ thứ hai là: vị ấy đã nghe, đã hiểu, đã đọc và thuyết pháp một cách rộng rãi cho người khác, vị ấy đối với pháp ấy hiểu được nghĩa lý, hiểu được văn cú. Nói lại cho người khác nghe, chứ không phải nghe hiểu nhưng nói lại không được, mà phải nói. Nói lúc cần nói, chứ người ta không cần mà mình nói hoài thì không được; hoặc lúc người ta cần nhưng mình lại nói không được thì không phải giải thoát xứ. Ai cần học, muốn hỏi thì mình nói, đây là giải thoát xứ thứ hai. Đây là chính kim ngôn của Đức Thế Tôn, là kim khẩu miệng vàng, nói cho những người cần nghe, những người cần học, những người muốn nghe, những người ham học ham tu.
Giải thoát xứ thứ ba là: tụng đọc pháp một cách rõ ràng, là mình học thuộc lòng. Cho nên trả bài mà hân hoan vui vẻ, tâm thanh tịnh, an lạc, thích thú, hỷ trong pháp là giải thoát xứ. Còn trả bài mà khổ, bị bắt ép, buồn phiền thì không phải là giải thoát xứ. Nghe pháp mà hân hoan thì hỷ sanh, lạc sanh, định tĩnh sanh là giải thoát xứ.
Giải thoát xứ thứ tư là: dùng tâm tầm cầu, suy tư, quán sát pháp ấy. Tầm cầu, suy tư, quán sát pháp mà mình đã nghe, đã học, đã hiểu. Ví dụ mình đọc sắc là gì, thọ là gì, tưởng là gì, hành là gì, thức là gì, vô minh là gì, trí huệ là gì, Mình đọc hết, nhưng mà mình có tâm cầu không, có suy tư nghĩa lý không, có quán sát trong nội tâm những pháp đó không? Mình có thấy thật sự sắc là tứ đại không, có thấy sắc do tứ đại tạo thành không, mình có tầm cầu nghĩa lý đó không? Có xem trong cảm giác có tham, sân, si, bản ngã hay không? Có nhìn lại để thấy không hay đọc xong thì thôi? Hay mình cho chuyện đó của ông thầy, ông Phật, của cuốn kinh, của người giảng, còn chuyện mình không dính dáng, khi trở ra thì không nhớ gì hết, thì đó là thiếu giải thoát xứ thứ tư. Phải có đủ năm giải thoát này thì mới đi đến chỗ giải thoát rốt ráo. Cho nên tầm cầu, suy tư, quán sát các pháp trong nội tâm, xem thế nào là tưởng, trong tưởng có gì? Thế nào là hành, nững suy nghĩ, suy tư có gì? Có suy tư về tôi, về của tôi không?
Vui thay chúng ta sống,
Không gì, gọi của ta.
Ta sẽ hưởng hỷ lạc,
Như chư thiên Quang Âm.
(Kinh Pháp Cú – Phẩm An Lạc)
Người nào thường thường quán chiếu về vấn đề không cái gì là tôi, không có gì của tôi trong năm uẩn thì người đó sống như chư thiên ở cõi trời Quan Âm, cõi trời luôn luôn sống trong hỷ lạc, ánh sáng. Mình chỉ ví dụ vậy thôi, chứ chư thiên, Quan Âm cũng chưa bằng người thành tựu Chánh Tri Kiến – đã thấy không cái gì là tôi, không cái gì của tôi. Đức Phật lúc nào cũng nói không cái gì là tôi, không cái gì của tôi, còn mình có tầm cầu, tư duy, quán sát vậy không, hay mình sống trong cái tưởng? Ví dụ: không thấy thầy bước ra là tưởng thầy bệnh nhưng không phải mà thầy đang đi kinh hành, an lạc không cái gì là tôi, không cái gì là của tôi. Thầy nghe trúc lay, nghe gió thoảng, nghe chim hót, ngồi thiền, đi kinh hành nghe pháp, chứ đâu có bệnh, mà ở đây cứ tưởng thầy bệnh đó là tưởng uẩn. Phải chiêm nghiệm không cái gì là tôi, không cái gì của tôi.
Lâu lâu mình thấy lờ mờ, lờ đờ, vọng tưởng thì mình niệm câu: “Sắc thân này là vô thường, khổ vô ngã không phải là tôi, không phải của tôi. Cảm giác này là vô thường, không đáng để mình thích thú, không đáng hoan hỷ, không đáng dính mắc, không phải đối tượng để ưa thích, không phải là tôi, không phải của tôi. Những nghĩ tưởng không phải là tôi, không phải là của tôi. Nhận thức cũng vậy, nhận thức là vô thường trống rỗng, không cái gì là tôi, không cái gì của tôi”. Lúc đó là mình đang lướt trên mây không còn đi dưới đất do không còn cái gì của tôi, không có đất, không có tài sản, không có con cái, thì rất khỏe.
Đêm hôm qua, Minh Thành kinh hành chiêm nghiệm “không gì là tôi, không gì là của tôi”, cảm thấy rất an lạc, không có tưởng tượng nổi, không biết đem an lạc chia cho ai, ai nhận nổi an lạc này? Chỉ có suy tư quán chiếu vào lý vô ngã mới thấy. Minh Thành kinh hành mà cười một mình “Đất này không phải của tôi, nhà này không phải của mình, xe này không phải của mình, những người ở đây không phải đệ tử của mình, thân này không phải của mình, áo này không phải của mình, giường mình đang nằm không phải của mình, mền mình đang đắp ấm không phải của mình, cảm giác này cũng không phải của mình, không cái gì là của mình”, đi một mình và cười, không cái gì của mình thì đâu có lo lắng sợ hãi, đó là giải thoát xứ.
Tầm cầu, suy tư, quán sát sự sanh diệt của năm uẩn để thấy được thực tính, bản chất của nó. Không có gì hết, không có ai hết, không có gì cả, trống rỗng. Minh Thành có suy nghĩ độc địa nhưng chưa dám làm là tự mình tổ chức đám ma cho mình. Bây giờ ở Hàn Quốc, Thái Lan có dịch vụ cho chết thử 10-15 phút, do có một số sinh viên tự vẫn nên người ta làm để cho họ biết trân quý cuộc sống, dịch vụ này tốn khá nhiều chi phí, có hình, cho vào hòm và đậy nắp lại, nhưng khoét lổ cho thở và nằm khoảng 15-20, sau đó ra ngoài rồi mới trân quý cuộc sống. Cho nên mình phải chết, phải nghĩ đến cái chết, nhưng nghĩ đến chết không có gì lo sợ, đo đó phải tư duy quán sát chiêm nghiệm, nếu mà học xong để đó thì không có lợi lạc gì hết.
Giải thoát xứ thứ năm là: suy tư quán sát, khéo nắm giữ một định tướng nào đó, khéo tác ý, khéo thọ trì, khéo thể nhập nhờ trí huệ. Nắm giữ một định tướng, ví dụ mình nắm giữ tướng của bộ xương, mình nắm giữ tướng của dòi ăn, nắm giữ tướng của đống thịt bầy nhầy, giống như người ta bán thịt heo, mình phải nắm giữ một định tướng, khéo hộ trì, khéo léo gìn giữ, khéo léo tác ý, phải nắm giữ định tướng cho thường trực, đừng cho mất. Khéo thọ trì là khéo nhận và giữ gìn, khéo tác ý là khéo suy sét những định tướng mà mình đang tu tập, như vậy mình sẽ khéo thể nhập nhờ trí huệ. Khi thể nhập được trí huệ thì phá tung bản ngã, vô minh, tham, sân, si, chấp thủ với năm uẩn là vào Thánh quả đó là giải thoát xứ thứ năm. Ở đây có ai nắm giữ được định tướng, hay giờ ngồi thiền lại rớt, mất hết, mình phải giữ định tướng đó. Thí dụ tu tập về cốt tưởng là lúc nào cũng nhìn thấy bộ xương trước mặt, ai tới trước mặt cũng nhìn thấy bộ xương đó là định tướng, phải tu tới mức đó mới là giải thoát xứ thứ năm. Ai đến cũng nhìn thấy là dòi, ai nhìn thấy cũng là Bạch Cốt Tinh, đó là phá dục tham ái, lúc nào cũng nhìn thấy thân thể mình đang nằm chết, đó là định tướng phá tung hết tham sân si, bản ngã.
Vừa rồi Minh Thành nhập thất hai tuần thực tập, rất khó do phải giữ một định tướng, cũng giữ được nhiều nhưng không liên tục mà gián đoạn. Nếu liên tục và không gián đoạn thì vào Thánh quả, nếu giữ được định tướng thì ngũ uẩn rất an tịnh. Nếu vừa hướng ngoại hay vừa phóng tâm, thì mình nói: “Mình chết rồi còn suy nghĩ gì được nữa? Chết rồi còn tính gì nữa? Chết rồi còn lo gì nữa? Chết rồi còn sợ gì nữa?”, là tự nhiên ngũ uẩn an tịnh hết, khinh an, tâm, thọ tưởng, hành, thức yên tịnh vắng lặng, đây là giải thoát xứ thứ năm.
Năm xuất ly giới
Tiếp theo, ta nói về Năm Xuất Ly Giới, năm điều giúp cho mình ra khỏi.
Xuất ly thứ nhất là: “Này các Hiền giả, ở đây vị Tỷ-kheo, có tác ý đối với dục vọng, tâm không hướng nhập dục vọng, không tín lạc, không an trú, không bị chi phối bởi dục vọng. Khi vị này có tác ý đối với ly dục, tâm hướng nhập ly dục, tín lạc, an trú và bị chị phối bởi ly dục, tâm của vị ấy khéo ly, khéo tu, khéo khởi, khéo giải thoát, khéo ly hệ đối với các dục lạc. Và các lậu hoặc, các tổn hại, các nhiệt não khởi lên do duyên các dục lạc, vị ấy đối với chúng được giải thoát, không còm cảm thọ cảm giác ấy. Như vậy được gọi là giải thoát đối với các dục vọng”. (Trường Bộ Kinh, 33. Kinh Phúng Tụng)
Điều nay rất sâu sắc, thường ngày khi mình tu thấy rất rõ. Tức là khi tâm nghĩ tham muốn cái gì thì đó gọi là có tác ý đối với dục vọng. Khi đó người có thực tập tu thì người này không có tâm hướng nhập vào dục vọng đó, không thấy các dục vọng đó là vui, không an trú, không bị bị chi phối bởi dục vọng khởi lên ở trong cảm giác đó, trong tưởng, trong suy nghĩ đó. Thí dụ ở trong nghĩ tưởng sanh khởi lên niềm vui thích đi chơi, thích xe đẹp, thích món đồ, hay một người nào đó, khi đó người biết tu đang thực tập xuất ly giới thì không hướng vào dục vọng mà hướng đi ra. Đó gọi là tâm không hướng nhập vào dục vọng, không tín lạc, không tin tưởng rằng đó là vui, không đi theo tham muốn đó là vui, mà thấy là khổ là vô thường, không an trú, không chi phối bởi dục vọng. Không an trú là không ở trong đó, không bị chi phối, nếu mà khởi lên mà bị chi phối thì mình sẽ nhập cuộc luôn, nó dẫn mình đi. Do khởi lên mà mình không thấy, do mình không nhìn lại thường trực nên không phát giác, gọi là xâm chiếm, an trú, chế ngự và áp đảo – đây là những từ Đức Phật dùng trong kinh tạng Nikāya, và mình bị lật đổ. Do không thường trực nhìn lại nên không phát giác ra, nếu không phát giác ra, đôi khi mình lại đi theo, đó là vô văn phàm phu không biết tu và nhập cuộc luôn. Còn đối với người Đa văn Thánh đệ tử biết tu là có chống lại, nhưng phàm phu thì buông xuôi luôn, cho nên gọi an trú và bị chi phối.
“Vị này có tác ý đối với ly dục, tâm hướng nhập ly dục”, là vị này có tác ý đối với ly dục, khi khởi lên những ham muốn thì vị này tác ý là không đi theo, không muốn đi theo ham muốn đó, không chạy theo, không nhập cuộc và không chấp nhận thì đó là điều sâu sắc.
“Không cho rằng ham muốn đó là vui, không an trú trong đó và tâm của vị ấy khéo ly, khéo tu, khéo khởi, khéo giải thoát, khéo ly hệ đối với các dục lạc”. Đây là điều Chánh Đẳng Chánh Giác, Đức Thế Tôn nói, bậc Đại Thánh, tối thượng Thánh, tối tôn Thánh mới nói được. Tâm vị ấy khéo ly tức là khéo léo xa lìa ham muốn đó, khéo léo xa lìa cảm giác đó, khéo léo xa lìa tưởng đó, khéo léo xa lìa suy nghĩ nhận thức đó, khéo léo xa lìa đó là khéo tu, do lìa được thì mới tu, chứ không phải bên ngoài. Khéo khởi là sao? “Khởi” là khởi lên ý niệm ly dục đây là Như Lý Tác Ý. Khéo làm cho Như Lý Tác Ý về Chánh Tư Duy sanh khởi, không đi theo đó gọi là khéo khởi. Khéo giải thoát là khéo mở ra, mình giãy vùng ra, thoát ra, gọi là khéo giải thoát. Khéo ly hệ đối với các dục lạc là lìa hệ phược, trói cột. Đây là chỗ sâu sắc, kim cương cũng không đổi được, chính là công phu của bậc Thánh, sự tu hành của người xuất gia là đây, do đó mình phải học thuộc lòng.“Tâm của vị ấy khéo ly, khéo tu, khéo khởi, khéo giải thoát, khéo ly hệ đối với các dục lạc”. Do đó mình chỉ cần làm một việc, nhìn lại thấy buộc là tháo gỡ, thấy dính mắc là gỡ ra, cho đến hết dính mắc, là Chánh Đẳng Giác Vô Sở Trước, là vị Tỷ-kheo sống không chấp trước bất cứ vật gì trên đời. Trong Tứ Niệm Xứ, không chấp trước bất cứ vật gì trên đời là giải thoát. Bất cứ vật gì và tất cả vật đều nằm trong năm uẩn, nhìn thấy bản chất của năm uẩn nên xa lìa gọi là không chấp trước bất cứ vật gì trên đời, là tâm khéo giải thoát. Cho nên trọng điểm quan trọng đầu tiên là cung kính đối với giáo pháp ly tham. Chánh Pháp thật sự của Đức Phật là đưa đến hiệu quả ly tham, ly dục, ly ái, ly hệ trói cột, nhưng ly từ từ chứ không phải một cái là xong.
Ví dụ, giờ này đêm khuya mà đắp 2-3 mềm ấm, lăn qua trở lại, thấy đã, chính là ái trong đó. Có tiếng kẻng đánh thức mà mình chưa muốn thức dù nghe rồi, vẫn nằm thêm nữa đó là tham; hay ăn no rồi mà mình thấy nhiều món ngon, thì lại ăn thêm đó là tham, ăn xong rồi đứng dậy đi không nổi. Đó là những điều rất nhỏ nhiệm. Do đó bất cứ lúc nào mình cũng nên nhớ hai chữ “Ly Tham”, đó là mục tiêu của mình tu tập, hãy để hai chữ này khắc lên trán, khắc vào tim, khắc vào tâm. Ly tham thì sẽ hết khổ. Ly tham đối với sắc, ly tham đối với mọi vật chất trên đời, ly tham đối với cảm giác, nghĩ tưởng, đối với nhận thức, nếu thật sự làm được việc này thì mình chỉ cần ngồi cho Trời và Người đảnh lễ, đáng chấp tay, đáng cung kính, đáng đảnh lễ, đáng cúng dường, là ruộng phước vô thượng ở trên đời.
Mình xét kĩ lại tất cả cái khổ là từ những thứ mình tham đều là năm uẩn, không có gì ngoài năm uẩn. Do đó ly tham đối với năm uẩn là Thánh, siêu Thánh, nên phải tập từ từ. Nếu chỉ xác định hướng đi ra thì đã tốt rồi, là vào Hướng Dự lưu, có đôi khi mình nói hướng đi ra nhưng tâm lại đi vào, muốn kiếm thêm. Cho nên để thấy triệt để tận cùng là phải nghe Đức Thế Tôn nói, suy tầm, suy tư, quán xét, quán chiếu thâm sâu, quán đến xuyên thủng khối vô minh uẩn đến triệt để thì mới sạch. Do đó mình học và nghiền ngẫm quyết định hướng đi ra vậy là thành công, biết cách, biết đường rồi từ từ mình sẽ đi ra, không thể bỏ hết một lần, đó chỉ là xuất ly thứ nhất. Nếu mình hành đúng, thực hành đúng như lời Đức Phật dạy thì chắc chắn sẽ giải thoát. Ngày xưa mình tìm hoài không thấy, do mình vào chỉ chú tâm lạy lục, mong cầu, cúng, ghi tên xin cầu, sau đó thì mình vẫn giận, vẫn phiền, vẫn khổ, do mình không làm đúng theo lời Đức Phật. Có nhiều Phật tử về đây nói rằng sao ở chùa giống như ở trên trời, tâm mình thiện là thiên, ai ở đây cũng thiện tâm tức là thiên cộng thêm Chánh Pháp thì là tuyệt vời!
“Các lậu hoặc, các tổn hại, các nhiệt não khởi lên do duyên các dục lạc, vị ấy đối với chúng được giải thoát”. Các lậu hoặc, các tổn hại, các nhiệt não rất ghê gớm, nhiệt não rất nóng bức nếu muốn mà không được thỏa mãn thì rất nóng bức, bực bội, khó chịu. Cho nên ái không được là sân, giống như yêu không được là hận, trả thù là cũng từ tham, dục, ái; ăn không được thì phá; “trâu buộc ghét trâu ăn”, đầy dẫy hết từ ngoài đến trong, từ thô đến tế,... không đi ra khỏi được. “Các lậu hoặc, các tổn hại, các nhiệt não khởi lên do duyên các dục lạc, vị ấy đối với chúng được giải thoát”, không còn cảm thọ cảm giác ấy, như vậy gọi là giải thoát đối với các dục vọng. Chuyện nhỏ thực tế là mình điện thoại cho một người, 5-10 cuộc mà không gọi được đó là nhiệt não, hoặc điện thoại mà không bắt máy hoặc cắt điện thoại thì đó là nhiệt não, do mình muốn gặp mà không được. Nhưng vị này tu thì phải giải thoát các cảm giác ấy, giải thoát nhiệt não, giải thoát nóng bức đó, giải thoát bực bội. Đâu có gì thật chỉ là pháp duyên sanh, nghe chứ chưa chắc là thật, để từ từ hỏi lại, bình tĩnh lại là mình ra khỏi cảm giác sân hận, bực bội, bực tức đó.
Xuất ly thứ hai là Sân Hận, xuất ly thứ ba là Hại Tâm – hai điều này mình sẽ nói chung.
“Này các Hiền giả, lại nữa, vị Tỷ-kheo có tác ý đối với sân hận, tâm không hướng nhập sân hận, không tín lạc, không an trú, không bị chi phối bởi sân hận. Khi vị này có tác ý đối với vô sân, tâm hướng nhập vô sân...” Chỗ này rất quan trọng, tâm có tác ý đối với sân hận. Trong tâm khởi lên ý niệm giận, sanh khởi một cảm giác nóng bức, bực bội, khó chịu, tức tối, nếu có tu thì tâm không hướng nhập sân hận, mà tâm tác ý vô sân, không có sân, không chấp nhận cảm giác sân, không chấp nhận những hình ảnh trong tưởng ví dụ tưởng sẽ gặp người nào đó. “Trải tâm từ đi, hãy thương xót tội nghiệp tha thứ. Đi theo tâm để làm gì? Tâm này rất nguy hiểm, tai hại, đốt cháy, sụp đổ, đổ vỡ tan nát hủy hoại, không đi theo tâm đó”. Do đó chữ “tín lạc” rất khó hiểu, nghĩa là tin rằng cơn sân này làm cho mình được thỏa mãn, vui thích. Giận mà vui thích là sao? Pdhải nói cho bằng được, làm cho bằng được mới chịu,đó gọi là tín lạc. Chấp nhận an trú trong đó, nuôi dưỡng nó làm cho tăng trưởng phát triển quảng đại, mình thấy điều đó đáng làm, phải làm đó là sai, là sập vào bẫy. Còn người tu thì phải đi ra khỏi, đây là xuất ly giới thứ hai là sân.
“Vị này tác ý đối với vô sân, tâm không hướng nhập vô sân, có tín lạc, có an trú, có bị chi phối bởi sân, tâm vị ấy khéo ly, khéo tu, khéo khởi, khéo giải thoát, khéo ly hệ đối với vô sân”. Nếu tâm có sự thích thú trong sân hận, an trú ở trong sân hận, bị chi phối thị vị này khéo lìa, khéo tu tập, khéo khởi tâm từ, khéo giải thoát, mở tâm sân, khéo ly hệ rời sự trói buộc, như vậy các lậu hoặc, các sự tổn hại nhiệt não sẽ được giải thoát. Nói nhiều nhưng cuối cùng là tham với sân, Hại cũng gần gần giống như sân, bực một người nào đó muốn làm điều gì cho hả giận, mong người đó gặp chuyện gì đó mình cảm thấy vui, gọi là “hạnh tai lạc họa”, là mình hạnh phúc khi thấy người bị tai họa. Do ghét người đó nên người đó gặp chuyện gì là mình vui, thấy họ đáng đời, gặp quả báu. Đó là hại tâm gọi là “hạnh tai lạc họa yểm tha năng”, hạnh phúc khi người ta bị tai họa, còn người có tài năng thì mình dìm xuống, ém xuống không cho ai biết.
Xuất ly thứ tư là: “Vị Tỷ-kheo Có tác ý đối với sắc, tâm không hướng nhập vào sắc, không tín lạc, không an trú, không bị chi phối bởi sắc”, chữ “sắc” rất “đắt”, cân hết cả trái đất, hết vũ trụ. Tâm của mình có hướng nhập vào sắc không? Ví dụ hôm nay làm việc đói bụng, ở nhà thì ăn tàu hũ chiên sả ớt với canh chua, mình nghĩ trưa nay có món đó chắc ngon, như vậy là hướng nhập sắc. Hình ảnh tưởng hiện lên, trong đó thọ, hành; sắc, thanh, hương vị, xúc pháp có đầy đủ hết, có mùi chua, tàu hũ sả ớt giòn cay, bao nhiêu hiện ra hết. Tác ý đối với sắc, tâm không hướng nhập vào sắc khi khởi lên, mình tác ý: “Đây là vô thường, có ngon thì cũng nuốt vô là xong, một lát thì xả ra có mùi gì. Tham làm gì, có cái gì ăn cái nấy thôi, tùy duyên, cho tâm an”. Cái tưởng này rất ghê gớm, thật ra mình khổ về sắc ít hơn là khổ về sắc tưởng.
Khổ về âm thanh thì ít khổ hơn về thanh tưởng. Âm thanh chỉ nói một câu, nhưng khi về nhà 1-2 tháng, thậm chí nhiều năm sau vẫn còn nhớ câu nói ấy. Câu nói đó có thể là yêu mà cũng có thể là hận, có thể là thù, nhưng đó chỉ là thanh tưởng, âm thanh đi qua rồi nhưng mỗi lần nhớ đến lại nát tim gan, tan nát cõi lòng vì câu nói ấy. Mình nhớ lại là thanh tưởng, theo duyên sanh pháp thì tiếp tục là xúc, thọ, tưởng, hành. Ý căn tiếp xúc với thọ, tưởng, hành – ý thức, ý xúc sanh ra, ba pháp giao thoa, tiếp tục nghĩ ra. Hình ảnh về một người nào đó cũng vậy, tiếp xúc là xong rồi, nhưng khi về thì nằm nhớ lại bao nhiêu chuyện đã xảy ra. Mình cứ suy nghĩ lại: hành động đó ra sao? Lời nói như thế nào? Cách đối xử làm sao? Tất cả đều là sắc tưởng, thanh tưởng, hương tưởng, vị tưởng, xúc tưởng, pháp tưởng vận hành với tưởng, nếu mình lìa xa được tưởng thì sẽ ít khổ hơn, nếu không sẽ nuôi dưỡng tưởng.
Cho nên rất ghê gớm khi tác ý đối với sắc, tâm không hướng nhập vào sắc. Tất cả những thứ cảm giác, nghĩ tưởng, nhận thức vận hành là do sắc, nên sắc là căn nhà cho thức trú ẩn. Đức Thế Tôn nói trong Tương Ưng Uẩn, sắc do bị chấp thủ, nhận sắc là mình, của mình, là tôi, là của tôi, là bản ngã, cho nên thọ, tưởng, hành, thức bám vào sắc. Do đó mình cần suy nghĩ tâm hướng nhập vào sắc, là không chạy theo sắc, tâm khéo ly, khéo tu, khéo khởi, khéo giải thoát, khéo ly hệ đối với sắc. “Tâm vị ấy khéo ly, khéo khởi, khéo giải thoát, khéo ly hệ đối với sắc”, sắc làm cho mình phiền não, mệt mỏi, khốn khổ, tại họa, hiểm họa.Ví dụ: Tuổi mình là 40-50-60-7-80-90, nhưng suy xét kỹ, sâu trong nội tâm vẫn còn muốn nhiều thứ, tính nhiều thứ, chứ không phải hết tính. Mình tính, muốn nhiều thứ, tất cả ở trong sắc, không lìa khỏi sắc, cho nên mình phải chiêm nghiệm nhiều, tư duy nhiều. Nhớ lại những chuyện xưa là sắc tưởng – những hình bóng sắc của quá khứ; mình nhớ lại những chuyện vừa tiếp xúc gọi là sắc hiện tại; sau đó mình nghĩ sau này, tuần sau, tháng sau, năm sau đó là sắc tương lai. Trong bài kinh Trăng Rằm, Đức Phật nói:
Này Tỷ-kheo, phàm có sắc gì, quá khứ, vị lai hay hiện tại, nội hay ngoại, thô hay tế, liệt hay thắng, xa hay gần, đối với tất cả sắc, thấy được như thật với trí tuệ là: "Cái này không phải của tôi, cái này không phải là tôi, cái này không phải tự ngã của tôi". (Trung Bộ Kinh, 109. Đại Kinh Mãn Nguyệt)
Phải nhìn nhận đó là vô thường, phải thấy đó là vô thường, là khổ, là vô ngã. Nếu mình thấy là vô thường, khổ vô ngã tự nhiên tâm sẽ không hướng chạy theo sắc tưởng, nhưng nếu mình thấy người thật, cảnh thật, xe thật, tiền thật, nhà thật thì làm sao mình đi ra khỏi, đến lúc nằm trên giường bệnh, thở oxy, lúc đó mới biết thì đã muộn làm sao mà tu kịp, lúc này mới biết hoảng sợ, lo lắng, tiếc nuối, thậm chí ở trong mờ mịt do không tỉnh giác chánh niệm, mờ mịt hoảng loạn không biết đi đâu, không biết sắc là sắc mà nghĩ sắc là của tôi, đó là xuất ly thứ tư.
Cuối cùng, xuất ly thứ năm là: “Vị Tỷ kheo có tác ý đối với tự thân, tâm không hướng nhập tự thân, không tín lạc, không an trú, không bị chi phối bởi tự thân. Khi vị này có tác ý đối với thân diệt, tâm hướng nhập thân diệt, tín lạc, an trú, bị chi phối bởi thân diệt”. Đây là chỗ sâu sắc, thân đây gọi là sự xuất ly khỏi có thân. Có một bài kinh khác đầy đủ hơn: “Tỷ-kheo, tác ý về có thân, tâm không phấn chấn trong có thân, không tịnh tín, không an trú, không quyết định. Nhưng khi tác ý đến đoạn diệt có thân, tâm liền phấn chấn trong đoạn diệt có thân, được tịnh tín, được an trú, được quyết định. Tâm ấy của vị ấy là khéo làm, khéo tụ tập, khéo tăng trưởng, khéo giải thoát, khéo không liên hệ đến có thân. Và do duyên với có thân, khởi lên các lậu hoặc não hại, nhiệt não, vị ấy giải thoát khỏi chúng, không cảm giác thọ ấy. Ðây gọi là xuất ly khỏi có thân”.
“Tác ý đối với tự thân, tâm không có hướng nhập tự thân”. Ví dụ: khi nghĩ mình xuất gia xong rồi trở thành gì? Làm cái gì? Được cái gì? Trở thành thiền sư, pháp sư hay kinh sư? Phải làm trụ trì hay sao? Đó là hướng nhập có thân, đầu tư vào sắc uẩn, mình nghĩ chùa phải to hơn, Phật tử về nhiều, nổi tiếng hơn đó là hướng nhập có thân, hướng nhập vào sắc. Cho nên không khéo thì mình lại đầu tư trong sắc pháp, sắc uẩn, vô thường, trong có thân, luân hồi, chứ không phải đầu tư vào nơi đi ra khỏi luân hồi. Tất cả những suy nghĩ, nghĩ tưởng của mình đều suy nghĩ, nghĩ tưởng đến chỗ có thân, tác ý đối với tự thân. Do tác ý như vậy mình sẽ tín lạc, tin vào thân có thật, rồi mình vui chỗ có thân, an trú trong có thân, bị chi phối bởi sự có thân, như thế thì sầu, bi, khổ, ưu, não sanh. Bởi vì sự an trú, bám chấp vào thân, vào sắc uẩn, vào thọ, tưởng, hành, thức, sự bám trú đó là căn cứ địa làm cho bản ngã sanh, làm cho tham dục sanh, làm cho sân hận sanh, làm cho si mê sanh, làm cho tật đố sanh, làm cho sầu, bi, khổ, ưu, nã sanh. Do đó phải bằng trí để nhận diện năm uẩn, để thấy rõ đó là pháp duyên sanh vô thường, biến hoại. Một ngày kia thì cũng sẽ nằm dài trên đất có bốn người khiêng, ngừng thở, tim ngừng đập rồi thân thể sẽ nức nẻ, xanh đen, bầm tím, chảy máu, chảy mủ, nước vàng, dòi bò ăn trong thân thể, cuối cùng chỉ là bộ xương, một đống thịt rã rời hết, sẽ nát ra thành bụi, như vậy thì thân ở đâu? Sắc ở đâu? Rõ ràng là như vậy.
Khi quán chiếu thâm sâu, Thân Hành Niệm trong Tứ Niệm Xứ, thì sẽ dẹp hướng suy nghĩ tác ý đối với tự thân, không hướng nhập tự thân, không tin đó là có thật, không an trú trong tư tưởng đó, không bị chi phối bởi sự có thân. “Vị ấy tác ý đối với thân diệt, tâm hướng nhập thân diệt”, hướng nhập sự chấm dứt, thân đã tận, phạm hạnh đã thành, việc nên làm đã làm, không còn trở lui trạng thái này nữa. Câu nói khải hoàn ca của bậc Đại Thánh A-la-hán, đó là phút khải hoàn ca, bài ca chiến thắng, vì vậy không khéo sẽ đi ngược với bậc Thánh, các bậc Thánh đi đến sự chấm dứt sanh tử luân hồi, mà mình đầu tư suy nghĩ tưởng mơ. Đã xuất gia nhưng cũng vậy, cứ đầu tư cho sắc, cho thân, đầu tư vào những chỗ của ta mà không thấy đó là sắc uẩn, sắc pháp.
“Tâm vị ấy khéo ly, khéo tu, khéo khởi, khéo giải thoát, khéo ly hệ thân diệt”, chấm dứt sự ràng buộc đam mê, chấp thủ, luyến ái ở trong thân pháp vô thường, bất tịnh, tan nát bất cứ lúc nào, bất cứ ở đâu, bất cứ chỗ nào, hoàn toàn mình không làm chủ sinh mạng. Thật là mong manh, thật là tạm bợ, vô thường giống như món đồ gốm dễ vỡ, nhưng mình không thấy rõ điều đó, ảo tưởng cho là thật, tôi ta nhân ngã bỉ thử, bao nhiêu tham, sân, si, phiền não khởi lên. Đức Phật nói trong Tiểu Kinh Khổ Uẩn và Đại Kinh Khổ Uẩn từ lòng tham, lòng dục người này chửi người kia, gậy gộc đánh nhau, nhóm này nhóm kia tranh đấu với nhau, nước này với nước kia. Cũng từ lòng tham, con người chế tạo ra vũ khí tối tân, chỉ cầm bấm nút là tan nát, hủy hết hết. Từ lòng tham, không thấy được bản chất đưa đến sầu, bi, khổ, ưu, não.
Như vậy, hôm nay chúng ta tìm hiểu Năm Giải Thoát Xứ và Năm Xuất Ly Giới – năm pháp đưa đến giải thoát và năm pháp giúp mình chấm dứt khổ đau, luân hồi. Chúng ta phải nắm cho thật là vững, thật kỹ để ứng dụng. Năm xuất ly giới là tâm hướng đến chỗ lìa tham, lìa sân, lìa hại, lìa sắc, lìa tự thân. Đó là xuất ly giới, là cảnh giới của giải thoát. Chữ “giới” ở đây là giới vức, lãnh vực. Tâm mình luôn hướng về năm xuất ly giới, luôn thực tập, an trú, quán chiếu, quán sát bên trong, như vậy là mình đang trong thế giới của giải thoát. Nếu đi vào năm chỗ đó là bị ràng buộc, còn đi ra khỏi là được xuất ly, giải thoát.
Trình pháp
Xin mời đại chúng phát biểu cảm nhận của mình về bài học hôm nay.
Thầy Pháp Giới (lúc tập sự):
Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.
Kính bạch sư phụ, quý thầy và toàn thể đại chúng.
Hôm nay sau khi nghe bài giảng của sư phụ về năm giải thoát và xuất ly, con thấy rằng con đường tu học của mình còn rất là dài để đi đến thành tựu, đi đến con đường mà Thế Tôn đã chỉ dạy. Mình cần tinh tấn hơn nữa, cần quyết tâm hơn nữa, phải luôn quán tưởng, niệm chết mọi lúc mọi nơi, để có quyết tâm trì chí nỗ lực mọi phút giây. Luôn luôn nhìn lại ngũ uẩn để có thể thành tựu được năm pháp giải thoát và năm pháp xuất ly, khi thấy ngũ uẩn đang vận hành, thì mình có thể giải thoát và xuất ly. Như vậy mới xứng đáng là người đi theo con đường mà Phật đã chỉ dạy.
Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.
Thầy Pháp An:
Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật!
Kính Thưa thầy trụ trì, kính thưa đại chúng và toàn thể Phật tử.
Sau khi nghe bài pháp của thầy trụ trì, năm giải thoát và năm xuất ly, theo suy nghĩ và hiểu biết của mình Pháp An thấy rằng, Đức Phật nói ngũ uẩn phát khởi lên có cảm thọ, tưởng, hành, thức, mình phải dùng trí suy tư quán xét, nhất là quán bất tịnh, quán xác chết và quán những thứ có tác dụng mãnh liệt. Sau đó dùng trí tuệ, dùng Như Lý Tác Ý chính xác, giúp tâm vững vàng và có nghị lực để thoát qua giải thoát cuộc đời mình. Nếu không có sự suy tư, quán xét chính xác thì đối với tai hại của ngũ uẩn trong sanh tử, tham, sân, phiền não, mình không thể vượt qua được. Do đó mình phải suy tư rõ ràng, quán xét chính xác, dùng Như Lý Tác Ý mạnh để cố thể thoát ly ra được. Pháp an có những suy nghĩ như vậy để kính cùng sư phụ quý thầy và đại chúng.
Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.
Phật tử 1:
Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.
Kính bạch quý thầy cùng toàn thể đại chúng.
Hôm nay con có duyên lành được thầy từ bi giảng cho chúng con nghe pháp rất hay, nhờ đó con mới hiểu rõ ý nghĩa của bài kinh đó. Trong lúc thầy giảng con có ý hành, con đọc bài kinh đó chắc là con sẽ hiểu sai hoặc con không hiểu được. Nhờ thầy hướng dẫn con mới thấy được sự vi tế của các pháp, nếu không có sự hướng dẫn đó, có thể là chúng con có thể lầm lẫn mà đầu tư vào những việc làm mà con nghĩ rằng đó là việc làm tốt, giúp cho mình đi trên đường giải thoát, nhưng không ngờ đó là ngược lại. Con rất là cám ơn thầy, con xin hết.
Thầy Pháp Nghĩa (lúc tập sự):
Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.
Kính bạch sư phụ, quý thầy và toàn thể đại chúng.
Hôm nay được duyên lành, được sư phụ giảng một bài pháp của Đức Thế Tôn nói về năm pháp giải thoát và xuất ly. Lúc đầu mới nghe pháp thì tâm con không được nhu nhuyến mà uể oải, khi nghe những lời giảng pháp của sư phụ về năm giải thoát và xuất ly, tâm con rất hoan hỷ, rất vui, vì con đường của Đức Phật đưa ra rất là rõ, không thừa cũng không thiếu. Nếu ,ình chú tâm vào để nhiếp phục tham, sân, si, thành tựu trí về ngũ uẩn thì chắc chắn đưa đến giải thoát. Những pháp của Đức Phật đưa ra không quá sâu xa, có chăng chỉ là mình lười biếng, không chịu tu tập, giải đãi. Hôm nay con rất vui, cám ơn sư phụ đã truyền trao cho con một pháp thật là vi diệu.
Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật
Phật tử 2:
Kính bạch thầy cùng toàn thể đại chúng.
Con thì không hiểu nhiều về vấn đề thầy phân tích nhưng con hiểu được hơn về ngũ uẩn, thầy đã nói những gì cần để mình giải thoát được trong ngũ uẩn. Con thấy khi diệt được tham, sân, si thì đã giải thoát được một phần. Con rất cám ơn thầy đã giảng một bài pháp, con đã hiểu được phần đầu của bài, còn bốn phần sau con không nắm./.