Thư Viện Linh Quy
← Danh sách

4. Nhận Diện Ngũ Uẩn 3-4

2026-03-03 00:53:07
Tinh Hoa NIKAYA - Nhận Diện Ngũ Uẩn 3-4

Thích Minh Thành

Nhận diện ngũ uẩn là chìa khóa mở thánh pháp tạng của toàn bộ hệ thống giáo lý của Đức Phật, nếu không nhận diện được ngũ uẩn sẽ không nhìn thấy chính xác thân tâm, từ đó không nhìn thấy các phiền não, lậu hoặc cho nên đây là bước rất quan trọng. Nếu không nhận diện đúng mà bị lẫn lộn giữa các uẩn thì sau này sẽ không nắm vững được pháp hành, không thực tập được, không giải chính xác kinh điển. Minh Thành sẽ phân biệt cho mọi người biết sự khác nhau giữa sắc và sắc tưởng, ví dụ gặp cô gái đó là sắc, sau khi trở về chùa hình bóng cô gái đó hiện lên trong tâm gọi là sắc tưởng. Những thứ trong đây là sắc nhưng khi đi ra khỏi nó rồi không thấy nữa, nhưng hình bóng của nó hiện ra trong tâm gọi là sắc tưởng. Cho nên hình tướng, hình dáng, hình bóng trong tâm gọi là tưởng nhưng hình bóng về sắc trong tâm gọi là sắc tưởng. Hình bóng về âm thanh, nghe câu nói đó rồi mà về nhà âm thanh đó vẫn vang trong đầu gọi là thanh tưởng. Mình tiếp xúc với mùi đó, về nhà nhớ lại hoặc vẫn ngửi thấy mùi hương thoang thoảng gần đây gọi là hương tưởng. Mình ăn một món rất ngon, hương vị rất ngon, không còn ăn nữa nhưng mùi vị đó vẫn hiện ra trong tâm gọi là vị tưởng. Tiếp xúc ngay lúc đó đã thấy thích nhưng trở về nhà thì sự tiếp xúc đó hiển hiện trở lại trong tâm gọi là xúc tưởng. Sắc; thanh; hương ở ngoài như vậy nhưng ít khổ hơn là trong cái tưởng, có những lời nói, hành động làm mình đau khổ suốt đời, nhớ lại là ray rứt, tan nát cõi lòng, những sự tiếp xúc hiện về trong tâm hoặc là vui sướng hoặc là đau khổ gọi là xúc tưởng. Gần 60 pháp vận hành trong tâm thức liên tục ngày đêm vậy mà mình không biết, mình chỉ thấy một cái to lớn là tôi và của tôi. Mình tu không tiến bộ, không thể nhập được trí tuệ là vì mình cứ nhìn bên ngoài.

Này các Tỳ-kheo, phàm có sắc gì quá khứ, vị lai, hiện tại, thuộc nội hay ngoại, thô hay tế, liệt hay thắng, xa hay gần; đây gọi là sắc uẩn. (Tập III - Thiên Uẩn, Chương I. Tương Ưng Uẩn (b), V. Tự Mình Làm Hòn Đảo, VI. Các Uẩn)

Sự tu tập của mình là nhìn thấy được bản chất của sắc uẩn đó, không để cho nó xâm chiếm thân tâm. Vì thế chữ sắc rất rộng, nó không chỉ là những thứ nhìn thấy xung quanh mà nhìn thấy trong tâm cũng là sắc nhưng thuộc về sắc tưởng quá khứ. Cô gái/chàng trai mình đã tiếp xúc, bây giờ hình bóng đó hiện khởi trở lại trong tâm thì đó gọi là sắc tưởng quá khứ. Ví dụ mình quen một người nào trên mạng mà mình vẫn chưa thấy mặt, chỉ mới nghe giọng nói rồi tưởng, đến khi gặp mặt mới biết rõ. Những cái được vẽ ra trong tâm gọi là sắc tưởng của vị lai, những gì mình tưởng ra thường sẽ không đúng nên cái biết của chúng ta đại đa số đều ở trên cái tưởng, cái biết ở trên sự tưởng tượng nên cái biết đó không đúng.

Có ba cấp độ nhận biết các pháp. Biết bằng nhận thức, bằng kiến thức, tri thức là của thế gian, do mình học hỏi, nghe nói, do kinh nghiệm. Cái biết thứ hai là do tưởng tượng, nghĩ rằng mình đã làm việc đó rồi thì lần sau làm cũng giống vậy, trong tâm đưa ra hình ảnh như vậy nhưng thật sự không phải vậy nên hư chuyện. Cái biết thứ ba là biết bằng tuệ tri, là cái biết bằng trí tuệ, đây là cái biết của thánh trí huệ, cái này mới đưa đến tột cùng chân lý và chấm dứt khổ đau. Chúng ta đang học cái biết bằng trí tuệ nhưng biết bằng trí tuệ này rất thâm sâu, không giống như mình tưởng tượng. Nếu người nào siêng năng tinh tấn, cần cù để tâm, tha thiết học hỏi thì trong ba năm này sẽ thành tựu chánh kiến, chánh kiến ở đây là cái biết tận cùng chứ không phải cái biết thông thường, đây là cái biết của bậc thánh gọi là thể nhập chánh tri kiến, tối thiểu cũng hướng đến Dự lưu quả, tham dự bốn đôi tám chúng hiền thánh của Đức Phật là phải thành tựu tuệ tri (biết bằng trí tuệ). Nhưng cái biết bằng trí tuệ này đòi hỏi cái tâm chân thành, cung kính, tha thiết, không còn bản ngã thì mới đi vào cái biết này được vì bản ngã là đại chướng ngại của việc thể nhập chánh tri kiến. Vì thế chúng ta học năm uẩn để nhìn thấy được những cấu tạo, yếu tố, những sự gắn kết, bộ phận lắp ráp của cái mà ta gọi là ngũ uẩn này, có hàng trăm ngàn pháp đang vận hành ngày đêm trong cái ta và của ta này một cách siêu nhanh, ngoài sức tưởng tượng.

Này các Tỳ-kheo, thế nào gọi là sắc? Bị thay đổi, này các Tỳ-kheo, nên gọi là sắc. Bị thay đổi bởi cái gì? Bị thay đổi bởi lạnh, bị thay đổi bởi nóng, bị thay đổi bởi đói, bị thay đổi bởi khát, bị thay đổi bởi sự xúc chạm của ruồi, muỗi, gió, sức nóng và rắn. Bị thay đổi, này các Tỳ-kheo, nên gọi là sắc. (Tương Ưng Bộ, Tập III – Thiên Uẩn, Chương I. Tương Ưng Uẩn (d), III. Phẩm Những Gì Ðược Ăn, VII. Ðáng Ðược Ăn)

Càng ngày định nghĩa về ngũ uẩn càng sâu sắc. Đây là định nghĩa đi vào bản chất của các pháp. Cụm từ "bị thay đổi" được lặp lại nhiều lần để chúng ta sanh ra cảm thọ, cảm xúc, để mình nắm được bản chất của sắc là bị thay đổi. Sắc không như vậy mãi mãi mà sẽ bị biến đổi, biến diệt, tan nát. Lạnh chút là cảm, ho. Nóng là bị sốt, khó chịu. Đói là đi không nổi, chân tay run rẩy cho nên có câu "pháp luân vị chuyển thực luân tiên", bánh xe pháp luân chưa quay mà bánh xe đồ ăn đã quay rồi hoặc là "có thực mới vực được đạo", ăn vào có sức khỏe mới giảng bài được. Bị thay đổi bởi sự xúc chạm của ruồi, muỗi, gió, tức là bị muỗi chích sẽ bị sốt xuất huyết, sốt rét phải vào viện truyền nước, gió độc thổi qua là trúng gió. Vì thế sắc này luôn luôn thay đổi, không có khi nào không thay đổi. Có một thầy tâm sự, khi thầy qua Ấn Độ để học lấy bằng tiến sĩ, vào buổi trưa ở Ấn Độ nóng 40 độ mồ hôi nhễ nhại, ngồi học mà khó chịu, có cảm giác khổ thọ. Thầy muốn về Việt Nam cho khỏe, ở đây khổ quá, khi đó thầy nhìn ra thấy có vài đứa trẻ ở trần chơi đá banh, da đen nhám lại, mặt mày dơ bẩn nhưng nó lại vui cười. Thầy mới suy nghĩ những đứa con nít đang vui sướng, chúng nó chỉ thấy lạc thọ, còn mình bỏ cha bỏ mẹ, bỏ thầy tổ, tốn biết bao tiền bạc, thủ tục mới qua đây được thế mà chỉ vì một chút nóng thôi đã muốn bỏ về. Thầy nhiếp phục suy nghĩ muốn bỏ về để tiếp tục theo đuổi việc học, cuối cùng lấy bằng tiến sĩ, làm giáo thọ giảng dạy tại trường Cao Trung cấp Phật học. Đó là sự tu tập trong năm uẩn, sự tác ý đánh đuổi những suy nghĩ bất thiện pháp, tác động tâm ý để làm sanh khởi thiện pháp, đánh phá sự thối lui. Ngài Huyền Trang đi thỉnh kinh, thà bước về trước mà chết chứ không lùi lại. Bên Ấn Độ rất nóng và nhiều rắn rết, cắn chết người là bình thường, lúc Minh Thành nhập thất ở Quang Âm Phật Đài ở Vũng Tàu, thất đó hồi xưa Hòa Thượng Thượng Thanh Hạ Từ - viện chủ thiền viện Trúc Lâm có nhập thất ở đó. Khi mới nhập thất thì nghe nói có nhiều rắn độc, có người đã bị rắn cắn chết, Minh Thành nghĩ mình tu thì cứ tu. Buổi trưa Minh Thành nằm nghĩ trên võng, kế bên là đại tạng kinh, đang nằm nghĩ trưa thì nghe ầm ầm trên nóc nhà nhưng vẫn kệ, đến lần thứ 3 mở mắt ra thấy con rắn rồng dài gần 2m ngay trên nóc nhà trên đầu mình. Minh Thành vẫn cứ nằm và nghĩ kệ nó nhưng lâu lâu vẫn mở mắt ra nhìn, vì vậy mà mình mới thấm một câu trong kinh Di Giáo đã ghi "rắn độc chưa ra khỏi nhà thì làm sao nằm yên ngủ được". Cho nên nằm đó nhưng vẫn mở mắt ra nhìn xem nó đi chưa, chưa đi thì lấy cây khều nhẹ mái tôn cho nó đi. Lần thứ hai là giữa đêm Minh Thành đi toilet, khoảng cách từ thất đến toilet khoảng 20m, lúc trước đi toilet cũng không cầm đèn pin mờ mờ soi cho thấy đường nhưng lần này lại cầm theo đèn pin soi vào thì thấy con rắn đưa cái đầu lên mà đó là rắn độc, cắn một cái là chết tại chỗ. Lần thứ ba là khi Minh Thành lấy đồ ra giặt thì thấy con rết vừa dài vừa to nằm trong đó. Như vậy mình thấy rằng bây giờ mình có tường vách, có thất đầy đủ tiện nghi mà tu tập ở những nơi vắng vẻ còn có cảm giác sợ hãi và khiếp đảm vì thế Thái tử Tất-đạt-đa ngày xưa đi tu ở mức độ nào, cho nên nghị lực của Bồ-tát rất phi thường, bây giờ học không có điện, không có quạt là muốn đi về, sức nhẫn nại, kiên trì của mình rất yếu nên không thể thành tựu được. Một bậc thái tử sống trong nhung lụa mà bỏ tất cả đi vào rừng hoang vu để tu, không có ăn, chạm vào bụng là đụng tới xương sườn, tóc rớt ra từng mảng.

Này Sariputta, trong khi Ta sống chỉ ăn một trái táo, thân thể của Ta trở thành hết sức ốm yếu. Vì Ta ăn quá ít, tay chân Ta trở thành như những cọng cỏ hay những đốt cây leo khô héo. Vì Ta ăn quá ít, bàn trôn của Ta trở thành như móng chân con lạc đà. Vì Ta ăn quá ít, các xương sống phô bày của Ta giống như một chuỗi banh. Vì Ta ăn quá ít, các xương sườn gầy mòn của Ta giống như rui cột nhà sàn hư nát. Vì ta ăn quá ít, nên con ngươi của Ta long lanh nằm sâu thẳm trong lỗ con mắt, giống như ánh nước long lanh nằm sâu thẳm trong một giếng nước thâm sâu. Vì Ta ăn quá ít, da đầu Ta trở thành nhăn nheo khô cằn như trái bí trắng và đắng bị cắt trước khi chín, bị cơn gió nóng làm cho nhăn nheo khô cằn. Này Sariputta, nếu Ta nghĩ: "Ta hãy sờ da bụng", chính xương sống bị Ta nắm lấy. Nếu Ta nghĩ: "Ta hãy sờ xương sống", thì chính da bụng bị Ta nắm lấy. Vì Ta ăn quá ít, nên này Sariputta, da bụng của Ta bám chặt xương sống. Này Sariputta, nếu Ta nghĩ: "Ta đi đại tiện hay đi tiểu tiện", thì Ta ngã quỵ, úp mặt xuống đất, vì Ta ăn quá ít. Này Sariputta, nếu Ta muốn thoa dịu thân Ta, lấy tay xoa bóp chân tay, thì này Sariputta, trong khi Ta lấy tay xoa bóp chân tay, các lông tóc hư mục rụng khỏi thân Ta, vì Ta ăn quá ít. (Trung Bộ Kinh, 12. Ðại kinh Sư tử hống, (Khổ hạnh của Bồ-tát))

Thành ra sự tu tập của chúng ta so với Phật vẫn còn cách rất xa. Thân thể này đứng đây chứ lỡ như bị tai nạn giao thông là thay hình đổi dạng ngay, thế nhưng trong suy nghĩ của chúng ta lại không nghĩ như vậy, cứ nghĩ sẽ như vậy hoài nên đó là vô minh, si mê, không thấy được pháp. Bất cứ khi nào nhìn sắc cũng phải thấy nó sẽ thay đổi, nó sẽ bị tan nát, hoại diệt, như vậy mới gọi là nhận diện sắc pháp, sắc uẩn.

Này các Tỳ-kheo, thế nào gọi là thọ? Ðược cảm thọ, này các Tỳ-kheo, nên gọi là thọ. Cảm thọ gì? Cảm thọ lạc, cảm thọ khổ, cảm thọ phi khổ phi lạc. Ðược cảm thọ, này các Tỳ-kheo, nên gọi là thọ. (Tương Ưng Bộ, Tập III – Thiên Uẩn, Chương I. Tương Ưng Uẩn (d), III. Phẩm Những Gì Ðược Ăn, VII. Ðáng Ðược Ăn)

Tất cả cảm giác đều nằm trong ba loại cảm giác: Cảm thọ lạc là vui sướng, thích thú, khoan khoái. Cảm thọ khổ là cảm thọ khó chịu, bực bội, bứt rứt. Cảm thọ phi khổ phi lạc là không thích cũng không vui.

 Này các Tỳ-kheo, thế nào gọi là tưởng? Nhận rõ, này các Tỳ-kheo, nên gọi là tưởng. Nhận rõ gì? Nhận rõ màu xanh, nhận rõ màu vàng, nhận rõ màu đỏ, nhận rõ màu trắng. Nhận rõ, này các Tỳ-kheo, nên gọi là tưởng. (Tương Ưng Bộ, Tập III – Thiên Uẩn, Chương I. Tương Ưng Uẩn (d), III. Phẩm Những Gì Ðược Ăn, VII. Ðáng Ðược Ăn)

Nhận rõ hình bóng trong tâm gọi là tưởng. Mình nhớ về hoa sen trắng thì trong tâm mình nhận rõ màu trắng của hoa sen. Mình nhớ về hoa mai thì mình nhận rõ màu vàng của hoa mai cho nên gọi là tưởng. Đây là cả một công trình tu tập chứ không phải đơn giản để hiểu được nó, thành ra tại sao đọc kinh rất nhiều vẫn không hiểu, phải thực hành sâu sắc mới hiểu được. Mình có được nhân duyên gặp được bậc thiện tri thức hướng dẫn, chia sẻ, nếu không thì không thể nào tự mình có thể hiểu được dòng kinh này. Tự thân Minh Thành nghe kinh Nikāya 10 năm vẫn chỉ hiểu trên chữ nghĩa mà Minh Thành là "Nho trùm Hán Thâm", tức là đọc thẳng đại chánh văn tu, dịch mấy chục tác phẩm của thiền, tịnh, luận tạng nhưng đọc Nikāya suốt 10 năm vẫn không hiểu hết được ý nghĩa trong đó, cho nên phải gặp bậc tu hành thành tựu chia sẻ thì mới mau nhanh thấy được, còn nếu không nhận diện được ngũ uẩn thì sự tu học của mình sẽ mênh mông, vô định, không biết bắt đầu từ đâu.

 Này các Tỳ-kheo, thế nào gọi là hành? Làm cho hiện hành (pháp) hữu vi nên gọi là hành. Làm cho hiện hành (pháp) hữu vi gì? Làm cho hiện hành sắc với sắc tánh, làm cho hiện hành thọ với thọ tánh, làm cho hiện hành tưởng với tưởng tánh, làm cho hiện hành các hành với hành tánh, làm cho hiện hành thức với thức tánh. Làm cho hiện hành (pháp) hữu vi, này các Tỳ-kheo, nên gọi là các hành. (Tương Ưng Bộ, Tập III – Thiên Uẩn, Chương I. Tương Ưng Uẩn (d), III. Phẩm Những Gì Ðược Ăn, VII. Ðáng Ðược Ăn)

Điều này cực kì thâm sâu, pháp hữu vi chính là năm uẩn. Khi nghĩ về hoa sen trắng thì trong tâm có hình bóng hoa sen trắng, mình biết lúc đó mình đang có suy nghĩ về hoa sen trắng, có hình bóng về hoa sen trắng trong tâm. Cái suy nghĩ là ý hành, nói ra miệng là khẩu hành, làm trên thân là thân hành, cho nên có ba hành: Thân hành, ý hành, khẩu hành. Ví dụ con nói đây là chuông đem từ Nepal về, tiếng chuông rất ấm và vang, hoặc là có Sư cô nói suy nghĩ về đề tài để thuyết trình, suy nghĩ đó làm cho các pháp rõ ra, nếu không có suy nghĩ đó, không phát ra lời nói thì không ai biết mình đang nghĩ gì "tôi đang suy nghĩ chuẩn bị vía Quan Âm" ,"tôi đang suy nghĩ về đề tài để thuyết trình". Khi nói như vậy thì làm cho các pháp hiện hành ra, "tôi đang suy nghĩ chiều này nấu món gì, bún riêu hay phở", đó là làm hiện hành sắc, bún riêu, phở là sắc, suy nghĩ là ý hành, phát ra miệng là khẩu hành, vừa nói ra thôi là làm cho hiện hành ý muốn của mình về cái sắc đó, có cảm thọ thích thú là làm cho hiện hành thọ, hình bóng tô bún hiện ra là làm cho hiện hành tưởng, lúc đó mình nhận thức trong tâm đang có hình bóng tô bún, đang có cảm thọ dễ chịu, đang có những suy nghĩ đó, thành ra suy nghĩ của mình làm cho hiện hành tất cả pháp. Vì thế trong bài kinh Cội Rễ Của Sự Vật, Đức Phật nói tất cả pháp lấy tác ý làm sanh khởi.

Này chư Hiền, các pháp lấy dục làm căn bản. Tất cả pháp lấy tác ý làm sanh khởi. Tất cả pháp lấy xúc làm tập khởi. Tất cả pháp lấy thọ làm chỗ tụ hội. Tất cả pháp lấy định làm thượng thủ. Tất cả pháp lấy niệm làm tăng thượng. Tất cả pháp lấy tuệ làm tối thượng. Tất cả pháp lấy giải thoát làm lõi cây (Tăng Chi Bộ, Chương VIII. Tám Pháp, IX. Phẩm Niệm, (III) (83) Cội Rễ Của Sự Vật).

Điều này cực kì quan trọng, chính suy nghĩ của mình mới làm hiện khởi ra tất cả các pháp ngũ uẩn. Ví dụ con đang nhớ về sư phụ ở dưới quê Đồng Tháp, ngôi chùa kế bờ sông êm đềm, hiền hòa trong làng quê. Khi con nói vậy thì sắc hiện hành, cảm thọ hiện hành, tưởng hiện hành, có suy nghĩ, có nhận thức thì đó là làm hiện hành các pháp hữu vi đó là hành. Làm cho hiện hành bản tánh của sắc; thọ; tưởng; hành; thức thì như ví dụ lúc đầu, hoa sen đó sẽ héo tàn, tô phở đó ăn rồi sẽ được bài tiết ra, thầy con đã già bệnh, thì đó là làm cho hiện hành tưởng với tưởng tánh, làm cho hiện hành các hành với hành tánh, làm cho hiện hành thức với thức tánh. Tất cả tính chất của ngũ uẩn là vô thường, khổ, vô ngã cho nên trong một câu nói làm cho hiện hành sắc với sắc tánh, trong các loại hoa con thích nhất hoa sen, vừa có sắc vừa có hương, ở trong bùn mà không hôi tanh mùi bùn, đem lên cúng Phật rất có ý nghĩa.

Như giữa đống rác nhớp,

Quăng bỏ trên đường lớn,

Chỗ ấy hoa sen nở,

Thơm sạch, đẹp ý người.

(Kinh Pháp Cú 04 – Phẩm Hoa, kệ 58)

Cũng vậy giữa quần sanh,

Uế nhiễm, mù, phàm tục,

Ðệ tử bậc Chánh Giác,

Sáng ngời với Tuệ Trí.

(Kinh Pháp Cú 04 – Phẩm Hoa, kệ 59)

"Hoa sen tuy đẹp nhưng mau tàn, héo úa", câu nói này là cho hiện hành sắc với sắc tánh. Hoa sen là sắc, tánh chất của sắc là bị thay đổi, vô thường. Có một cô nói "lên Linh Quy đường dốc, mệt mỏi, sương lạnh" thì đó là làm cho hiện hành thọ với thọ tánh, cảm thọ đó vô thường, thấy sướng nhưng có khổ trong đó.

A-di-đà Phật, bạch thầy giáo thọ sư. Kính thưa toàn thể tập thể lớp, khi nãy thầy nói là làm cho hiện hành sắc và tánh của sắc, hiện hành tánh của sắc là do vô thường chi phối. Nếu nói vô thường chi phối thì tưởng của sắc mới được chi phối, tánh của sắc bị chi phối theo hiện tượng như thế nào? Xin thầy giải thích cho con được rõ.

Tướng của sắc là hình dáng, hình tướng, còn tánh của sắc là sự biến đổi, tan nát, hoại diệt.

Thưa thầy, cho con xin được hỏi tiếp: Theo con được biết các pháp vốn dĩ không sanh diệt mà nó có thể biến theo quy luật vô thường của thời gian và nó biến hoại theo không gian, biến từ hình thể này qua hình thể khác, đó là tánh của nó vốn dĩ không sanh diệt, tưởng của nó sanh diệt vì nó hủy hoại theo ngày tháng, ví dụ thân xác tứ đại của chúng ta do luật vô thường sinh trụ dị diệt hay là tất cả các pháp có hình tướng thì gọi là sắc pháp thì đều là sanh diệt nhưng tánh vốn dĩ không sanh diệt, theo con được biết thì nó biến từ hình thể này sang hình thể khác, ví dụ thân tứ đại sau khi chết thì thân xác trả về cho đất, hơi thở trả về cho gió, hơi nóng trả về cho lửa.

Thầy có chết không?

Dạ, vốn dĩ con cũng chết nhưng bản tánh con không chết.

Thầy có chết hay không?

Dạ có.

Vậy sao thầy nói không sanh không diệt? Từ từ thầy sẽ hiểu.

Chúng ta phải nhớ là chúng ta đang học theo tinh thần kinh Nikāya, trong kinh Nikāya nói cái nào ra cái đó, không có chuyện nói trù tượng, nói quá sự thật của tưởng tượng cho nên những tư tưởng sau này khác với tư tưởng của Đức Phật. Chúng ta nên nhớ là mình đang học trở về giáo lý nguyên chất của Đức Phật cho nên những tư tưởng sau này là miễn bàn. Làm sao mình có thể nói mình không sanh không diệt được? Nói như vậy là nói vui chơi thôi, "an nhiên thị tịch" là mỹ từ thôi. Đói một chút thầy có chịu nổi không? Lạnh một chút thầy chịu nổi không? Cho nên chúng ta đang quay lại tinh thần gốc rất rõ ràng, còn những tư tưởng sau này là miễn bàn, mình đem tư tưởng khác vào đây sẽ không học được, phải y theo trong kinh, toàn bộ kinh Nikāya không có chỗ nào Đức Phật nói bất sanh bất diệt, chỉ có Niết-bàn giới gọi là bất tử bất diệt, còn tất cả các pháp sắc; thọ; tưởng; hành; thức đều nằm trong sanh diệt. Thành ra đâu đó đều rõ ràng chứ không có lung tung, nếu đem nhiều tư tưởng vào sẽ bị rối, học không có nơi quy tụ, không có đạo lộ. Chúng ta đang bị sanh diệt, đang bị khổ, miền Trung đang đau khổ mà thầy nói bất sanh bất diệt thì khỏi cần đi cứu trợ phải không? Chúng ta phải nắm cho vững sự thật là sự thật, chúng ta đau khổ vì bệnh tật, chúng ta đau khổ vì già, chúng ta đau khổ vì sự bại hoại, diệt vong, chúng ta đau khổ vì một lời nói, một hành vi không vừa lòng làm bực bội. Chúng ta phải chấp nhận sự thật đó thì mới tu được. Thành ra con khuyên các thầy các cô lắng nghe nhiều những lời nói trong kinh tạng Nikāya của Đức Phật, lắng nghe rồi từ từ sẽ hiểu ý của Đức Phật. Chúng ta đang bị bủa vây bởi sanh, già, bệnh, chết. Chúng ta đang bị bủa vây bởi dục tham ái, sân hận, vô minh, bản ngã. Chúng ta đang bị đau khổ rất lớn, chúng ta cần phải trị liệu sự đau khổ đó, chúng ta để hết tấm lòng học hỏi, tìm kiếm phương pháp, đạo lộ con đường để chúng ta thực tập. Cho nên đây là lời dạy của Đức Phật: Sắc là biến đổi, không có bất cứ một sắc nào có thể thường trụ, xưa và nay, vĩnh viễn cho đến mai sau sắc là biến đổi, là vô thường, là hoại diệt và chính cái này mình mới đau khổ, sầu bi. Vì nó tan hoại ngay với người mình yêu thương, cha mẹ mình đang già bệnh, chuẩn bị đối diện với cái chết thì mình có đau khổ không? Cho nên mình không thể đứng trước cha mẹ nói bất sanh bất diệt được, mình phải cảm nhận sâu sắc về pháp. Con xin thưa đại chúng, gần 30 năm con ở trong đại chánh tân tu đại tạng kinh, tất cả các truyền thống, các tông phái con đều đi qua, bây giờ con quay trở lại tạng kinh Nikāya thì các thầy, các cô nghĩ như thế nào? Mình tập lắng nghe rồi sẽ thấy những điều mình chưa thấy, mình sẽ nghe những điều mình chưa nghe. Chúng ta sẽ không bàn những đường lối tu khác mà chỉ nói trong tinh thần kinh A-Hàm và Nikāya, chúng ta sẽ có những buổi hỏi đáp thích hợp chứ không cắt ngang bài giảng để hỏi. Đặc biệt trên trang linhquyphapan.vn có phần phân loại kinh Nikāya, gần 500 chủ đề trong tạng kinh Nikāya được phân loại, do cư sĩ Chơn Tín Toàn làm ở Pháp gần 10 năm mới hoàn thành, ví dụ khi giảng về vô thường thì tất cả những chủ đề nói về vô thường sẽ vào chung một mục, khi nói về xuất gia thì tất cả những vấn đề Đức Phật nói cho người xuất gia sẽ vào chung một mục cho nên chúng ta đi vào ngay là trúng ngay kho báu, có người soạn sẵn cho mình hết rồi.

Tưởng và hành uẩn có rất nhiều cách giải thích, nếu học theo lý thuyết và nghiên cứu sẽ không rõ bằng thực tập. Khi Minh Thành qua thăm viếng các trường thiền Myanmar, Sri Lanka và ở Thái Lan, quý thầy học bên đó nhiều năm rất giỏi, khi hỏi về hành uẩn thì các thầy giải thích mấy chục tâm theo tinh thần của vi diệu pháp, như vậy chúng ta sẽ rất khó thực tập, còn theo tinh thần của Nikāya rất đơn giản nhưng đòi hỏi mình phải thực tập, nếu không thực tập sẽ không hiểu. Như vậy hành là suy nghĩ làm lộ rõ sắc; thọ; tưởng; hành; thức, suy nghĩ của mình làm lộ ra cảm giác và bản chất của cảm giác. Ví dụ một người thích đi chơi, sau khi đi chơi trở về thì than thở "mệt quá, biết vậy tôi không đi", câu nói đó làm cho hiện hành thọ với thọ tánh, cảm giác và bản chất của cảm giác là biến đổi, vô thường. Làm cho hiện hành tưởng với tưởng tánh là mình suy nghĩ, tưởng tượng sẽ như vậy, đến khi xảy ra thì không như tưởng tượng. Vì vậy có khi chỉ cần một câu nói thôi có thể làm hiện hành ngũ uẩn và bản tánh của ngũ uẩn, ví dụ "tôi ao ước đi lên Cổng Trời, nghe nói trên này như tiên cảnh bồng lai mà lên đây chẳng có gì", trong câu nói này có sắc và bản tánh của sắc, có những cảm giác, hình bóng, suy nghĩ, nhận thức trong câu nói đó. Thường ngày chúng ta thường sinh hoạt trong ngũ uẩn mà mình không thấy, không biết, kể cả trong giấc chiêm bao, trong mơ mình có hình bóng, cảm giác, suy nghĩ và mình biết thì lúc đó mình đã tỉnh dậy, nhưng trong giấc mơ đó có nhận thức của mình cho nên vấn đề là học nhận diện năm uẩn để chúng ta nhìn nhận lại thật sự cái mà chúng ta gọi là tôi, của tôi chỉ là năm nhóm đang hoạt động, chi phối, áp đảo chúng ta mà thôi.

Và này các Tỳ-kheo, thế nào gọi là thức? Rõ biết, này các Tỳ-kheo, nên gọi là thức. Rõ biết gì? Rõ biết chua, rõ biết đắng, rõ biết cay, rõ biết ngọt, rõ biết chất kiềm... rõ biết không phải chất kiềm, rõ biết mặn, rõ biết không mặn. Rõ biết, này các Tỳ-kheo, nên gọi là thức. (Tương Ưng Bộ, Tập III – Thiên Uẩn, Chương I. Tương Ưng Uẩn (d), III. Phẩm Những Gì Ðược Ăn, VII. Ðáng Ðược Ăn)

Trong phần này đưa ra rõ biết vị nhưng thật tế rõ biết này là rõ biết cả 6 trần, Đức Phật nói tóm tắt. Học nhận diện năm uẩn để chúng ta thấy rằng ngoài ngũ uẩn ra không có gì nữa, ngũ uẩn bao trùm thân tâm và thế giới. Sắc uẩn đã là đất, nước, gió, lửa, cảnh vật, đồ vật là bao trùm hết cả Trái Đất, không còn cái nào ngoài sắc uẩn nữa. Tâm là cảm giác, hình bóng, suy nghĩ và sự rõ biết, bốn phần này đã bao trùm mọi thứ cho nên không còn gì nằm ngoài năm uẩn được. Nếu không nhận diện được sẽ thấy vô vàn thiên sai vạn biệt nhưng thật sự tất cả chỉ là sắc pháp, sắc uẩn, bên trong chỉ là thọ; tưởng; hành; thức vì vậy khi nhận thức được ngũ uẩn chính mình là nhận thức được ngũ uẩn tất cả hữu tình chúng sanh.

Con mời đại chúng thân ngồi, lưng thẳng, cổ thẳng, vai đều, thân vai thả lỏng rõ biết trước mặt, mắt nhìn xuống phía trước, tuyệt đối không nhắm mắt mà phải mở mắt. Mắt nhìn xuống về phía trước khoảng 1m, tầm nhìn rộng mở không chú tâm vào một điểm, mở rộng tầm nhìn hết mức ra hai bên. Đức Phật gọi là rõ biết trước mặt, chánh niệm trước mặt, đặt niệm trước mặt. Cảm nhận hơi thở vào ra, cảm nhận sự động chuyển của hơi thở ở ba chỗ: Lồng ngực, chóp mũi và bụng. Từ ba chỗ động chuyển này lan tỏa cảm giác đó ra, cảm nhận cảm giác ở đầu, cảm nhận cảm giác trên gương mặt, hai vai, cánh tay, bàn tay, lòng bàn tay, cảm nhận cảm giác ở lưng, bụng, mông, ống chân, bàn chân, lòng bàn chân, cảm nhận cảm giác của toàn bộ cơ thể từ đỉnh đầu cho đến gót chân. Đức Phật gọi là cảm giác toàn thân, cảm nhận cảm giác của toàn bộ cơ thể và đại chúng không nhắm mắt, mở mắt nhìn về phía trước. Thứ ba là nội tâm tỉnh giác, trong tâm có những hình bóng, suy nghĩ, cảm giác gì phải rõ biết. Rõ biết những hình bóng, cảm giác và suy nghĩ trong tâm được Đức Phật gọi là nội tâm tỉnh giác.

Rõ biết trước mặt, cảm giác toàn thân, nội tâm tỉnh giác. Có những suy nghĩ, cảm giác, hình bóng gì bên trong chúng ta ghi nhận, rõ biết. Xin thưa với đại chúng là tuyệt đối không nhắm mắt, con đã nhắc nhưng vẫn có người nhắm mắt vì chúng ta đã quen rồi, mọi người về nghe thêm bài công năng thực hành ba pháp. Mình nhắm mắt thì tâm dễ bị hôn trầm, si và đi vào tưởng không được rõ ràng, không còn ở thực tại nữa cho nên ngồi thiền mà nhắm mắt là thất bại. Mình ở trong trạng thái lơ mơ không rõ ràng mà mình không biết, nhiều người cứ tưởng "hôm nay ngồi thiền thấy êm quá" nhưng đó lại là trạng thái của hôn trầm – thụy miên, kêu mở mắt thì chịu không nổi, cứ muốn nhắm mắt cho khỏe vì nhắm mắt sẽ ngủ gục, cho nên thực tập theo phương pháp ngồi thiền của kinh Nikāya là không được nhắm mắt vì nhắm mắt lại sẽ không được rõ ràng. Vì sao? Ngồi thiền còn mê hơn lúc không ngồi, bình thường mở mắt còn tỉnh táo nhận thức được, đến khi vào ngồi thiền nhắm mắt lại không còn biết gì nữa, như vậy ngồi thiền để phát sanh trí huệ mà ngồi thiền còn bị mê hơn lúc không ngồi thì ngồi thiền để làm gì? Cho nên vấn đề thứ nhất là không nhắm mắt. Vấn đề thứ hai là khi ngồi nếu mình chỉ tập trung vào hơi thở vào ra, cái bụng phồng xẹp thì cái pháp đó rất nhỏ, không đầy đủ. Khi ngồi nhắm mắt thì không biết trước mặt có gì, không nhận thấy sắc uẩn của mình như thế nào, không biết thọ; tưởng; hành, mình ở trong thế giới lờ mờ, si mê, tưởng hết hình bóng này đến hình bóng kia. Tại sao mình không nhìn vào một điểm? Vì nếu ngồi mà cứ nhìn vào một điểm thì một lúc sau sẽ tưởng ra con này con kia, hình này hình nọ, tạo cơ hội cho tưởng hoạt động, thêm nữa nếu nhìn vào một điểm sẽ mỏi mắt rồi lại bị tưởng. Cho nên tầm nhìn phải rộng mở, rõ ràng thì mình trở về thực tại, là sự thật trong giây phút hiện tại đó, còn nhắm lại sẽ không ở trong thực tại, không tỉnh táo, minh bạch, sáng tỏ. Còn về cảm giác toàn thân, an trú trong cảm giác toàn thân gọi là định tâm trên thân, tất cả pháp hội tụ ở cảm thọ mà mình thường trực an trú trong cảm giác toàn thân, nếu trong thân có gì là mình biết ngay, tham sanh khởi sẽ biến động trong cảm giác, sân sanh khởi lên là thay đổi trong cảm thọ, si xuất hiện là cảm giác thay đổi ngay, nếu mình an trú trong cảm giác toàn thân thì nếu có gì xuất hiện mình sẽ phát giác, phát hiện ngay lập tức và xử lý ngay, vì vậy an trú cảm giác toàn thân cực kì quan trọng và nó gọi là định tâm trên thân hay là quán thọ trong các cảm thọ trong kinh Tứ Niệm Xứ.

Thưa thầy, con vẫn thực tập như thầy đã hướng dẫn, con cũng cảm thấy ổn nhưng có một vấn đề thầy chỉ con phương pháp đối trị. Cách đây 1 năm con đến thiền viện Trúc Lâm Chánh Giác, bên đó tu theo thiền, trong một buổi khuya ngồi thiền có một thầy canh thiền, con ở bên Tịnh Độ nên qua Thiền Tông ngồi thiền có chút trục trặc, ngồi 2 tiếng trong tư thế ngồi kiết già, trong giây phút đầu con cũng chú tâm, ngồi ngay thẳng. Hai tiếng sau con mệt, bị mỏi chân, nhức, cảm thấy khó chịu, 5-10 phút sau con tụt Canxi. Lúc đó con suy nghĩ "phải ráng lên vì có Phật tử cũng thực tập xung quanh mình mà giờ có mình bị vậy thì kì quá". Thành ra con vừa ngồi vừa xem đồng hồ lại không có quạt máy làm đổ mồ hôi liên tục, con chỉ biết chịu đựng trong khi lưng và chân đã chịu hết nổi, quay qua quay lại không được vì ai cũng ngồi im và thầy canh thiền cũng ngồi đó, chẳng lẽ mình bỏ cuộc, lúc đó không còn thiền nữa mà chỉ suy nghĩ "Niệm Quan Âm thôi chứ bây giờ mà bỏ cuộc là Phật tử và mọi người cười" nên con ráng tới phút cuối cùng. Đến khi xả thiền con mới thấy dễ chịu, ai cũng khen con "mới qua mà sao ngồi thiền hay vậy?" nhưng trong bụng con nghĩ "không lẽ bây giờ nói ra thì nhục quá" nên con im lặng luôn. Con muốn thầy chỉ con cách thức để vượt qua trạng thái đó để con trú trong thiền mà cảm thấy an ổn. Mô Phật.

Cô đưa hai tay lên cao rồi gập người xuống thì đó là cảm giác toàn thân. Xin thưa đại chúng, bản thân Minh Thành lúc xưa đã thực tập thiền 15 năm với Hòa Thượng Trúc Lâm, thầy trụ trì có ý kêu ở lại để phụ giúp giáo thọ trong thiền viện nhưng nhân duyên của con là tiếp tục để gặp được kinh Nikāya nên con không dừng lại ở đó. Chúng ta trước nay quen tu theo cách thức đơn giản, ví dụ quen với câu niệm hoặc quen với hơi thở vào ra hoặc sự phồng xẹp cái bụng, những cái pháp này không đầy đủ để diệt tận các lậu hoặc. Một hơi thở thì làm sao đủ sức diệt trừ được tham ái nhưng mình tu thì cứ lựa làm những cái đơn giản nhưng muốn có thành quả cao, như vậy là đem tâm tham để tu hành cho nên không thành công, đây là chỗ cần suy xét sâu sắc. Không muốn cực, không chịu khó, chỉ muốn đơn giản, dễ dàng nhưng thành quả phải to lớn, với tâm thái như vậy nên mình không tìm được chánh pháp thật sự của Đức Phật.

Mình ngồi thiền như vậy là một cực hình theo lời cô kể chứ không sung sướng gì nhưng được khen thì cũng hỷ lạc, cho nên chúng ta tu đại đa số theo hình thức bề ngoài mà cái này không giải quyết được vấn đề thực sự bên trong, cho nên sự tu học Nikāya là phơi bày những gì bị che kín. Chúng ta học phải chân thật, phải dám nhìn nhận sự thật thì chúng ta mới có thể đi vào được chánh pháp, nếu không chúng ta sẽ thích những lời nói êm tai, dễ nghe, thuận theo ái tham nên mãi mãi chúng ta sẽ bị lừa gạt, chúng ta không thấy được sự thật vì sự thật rất phũ phàng, không giống như mình nghĩ. Chúng ta sẽ đi chầm chập cho chắc, không cần vội vàng vì mình đã bị sự lừa gạt bao vây quá nhiều và mình đã quen với những hình thức màu sắc bề ngoài, chứ không quen nội soi tự thân chính mình để nhìn nhận lại thật sự bên trong là gì. Điều này cần một sự tha thiết chân thành tu học, cần một sự nhẫn nại để nhìn lại. Khi ngồi thiền mà nhắm mắt thì còn thấy biết điều gì nữa? Nếu cả một ngày học hành, làm việc, đi tới lui mệt mỏi mà tối đến ngồi thiền lại nhắm mắt thì ngủ tới đâu? Vì thế mà người ta tu càng ngày càng sáng, càng tu thì tuệ sanh, minh sanh, trí sanh, nhãn sanh, giác sanh còn mình tu hoài, thiền hoài mà không thấy gì rồi sinh ra chán nản, vì không thấy kết quả tu tập thì làm sao thích thú để tiếp tục tu học. Bây giờ làm cái gì có kết quả thiết thực hiện tại, có thành quả mới thích rồi mới làm tiếp. Tại sao mình tu 5 năm, 7 năm, 15 năm trong chùa mà giờ gọi lên tụng kinh lại thấy chán, hoặc kêu lên ngồi thiền thấy nản vì không thấy sự an lạc thiền việt, pháp hỷ trong đó, không thấy trí huệ sanh, minh sanh, giác sanh, giác sanh, quanh sanh, đó là do thực tập chưa đầy đủ theo lời Đức Phật dạy. Con mong muốn mình có nhân duyên gặp nhau thì con sẽ cúng dường 30 năm đi cầu học toàn thế giới, bất cứ chỗ nào có cao Tăng, danh Tăng, có đạo tràng tu hành là con đến đảnh lễ, thậm chí là nhất bộ nhất bái (1 bước 1 lạy) để cầu pháp. Con mong rằng con đem được những gì tốt đẹp chân chánh của Phật pháp để cúng dường cho quý thầy, quý cô. Khi học dòng pháp này con mong quý thầy, quý cô phải khách quan mới học được, đừng lấy những gì trước nay mình học, mình nghiên cứu, tìm hiểu để so sánh sẽ không học được, tất cả những hiểu biết của mình để qua một bên, xem như đây là điều hoàn toàn mới thì học mới dễ. Nếu mình đem những điều mình đã học, đã tìm hiểu ra so sánh sẽ không học được, không thực tập được vì cái này vừa cổ xưa vừa mới mẻ, những cái chúng ta đang thực hành hiện nay phần nhiều là của các vị sau này đề xướng ra, ngay cả thời khóa tụng một ngày hai thời của chúng ta do Ngọc Lâm Quốc Sư (Trung Quốc) đặt ra, còn ở đây chúng ta đang quay trở về uống nước tận nguồn, đi tìm Phật pháp nguyên chất thật sự từ kim khổ của Đức Phật, thật sự đây là đang đi ngược dòng và sẽ làm chúng ta khó chịu vì nó đánh thẳng vào những điều mình thích thú, khao khát. Những cái tham, ái, dục của mình bị Đức Thế Tôn đánh phá để giúp mình nhìn nhận thân tâm một cách chính xác, đầy đủ, trọn vẹn, từ đó thấy được cái gì làm cho mình khổ. Những điều mình đang học cho đến cuối khóa thì những cái con đang chia sẻ nhằm minh họa cho hai đều Đức Phật đã nói là khổ và nguyên nhân của khổ.

Chúng ta có bị những cảm giác làm cho mình trằn trọc, thao thức, giày vò trong tâm không? Chúng ta có bị những hình bóng mờ ảo trong thân tâm làm cho mình sầu; bi; ưu; não không? Chúng ta có bị những suy nghĩ lầm thầm, thủ thỉ, thở than trong nội tâm làm cho mình lo lắng, khổ đau không? Chúng ta có bị thân xác này làm cho mình suy nghĩ rất nhiều không, các cô chỉ cần xem gương mà mụn nổi nhiều là sầu; bi, không muốn đi học, vậy sắc uẩn này có khổ không? Như vậy là đau khổ nằm trong sắc; thọ; tưởng; hành chứ không phải nằm ở chỗ khác, chính nhận thức rõ biết này làm cho mình sân si, ham muốn, làm cho mình bực bội, ganh tị "thà rằng không gặp thì thôi, chứ lỡ gặp rồi bỏ không được", trong nội tâm là cả một bãi chiến trường, có những vị ràng rụa nước mắt, đấm ngực, bứt tóc gần như chết vì gánh cái gánh nặng của thiện pháp, đừng nghĩ tu là khỏe, nghĩ như vậy là sai lầm, đừng nghĩ tu là không cần lo ăn, lo mặc, không cần lo chỗ ngủ nghỉ vì tất cả mọi thứ đều miễn phí. Tu là từ bỏ mọi thứ của thế gian nhưng phải gánh một gánh nặng của thiện pháp, chánh pháp, thánh pháp, nếu không gánh được thì đó là hiểm họa, ách nạn, nguy nan của đời sau, không khéo tu suốt đời không được gì còn bị âm thêm nữa, phải trả nợ trăm đời ngàn kiếp. Vì vậy mình không biết từ đâu phát sanh ra giận nhưng đó là từ cái thức, nhìn thấy mới giận, nghe câu nói mới giận, nhĩ thức rõ biết âm thanh nên nghe xong là bừng bừng lên, thiêu đốt lên. Có khi nhìn thấy một tấm hình thôi là xảy ra án mạng, đó là cái thức làm cho mình khổ. Bỗng nhiên có một người đăng hình mình mà hóa trang, vẽ mặt mình không giống ai hết thì lúc đó cái thọ của mình ra sao? Khi học thì tách ra từng phần sắc; thọ; tưởng; hành; thức nhưng khi vận hành thì nó vận hành cùng lúc, lúc thọ dâng lên là gương mặt thay đổi, hình bóng trong tâm hiện ra, suy nghĩ vận hành và có sự nhận thức, như vậy là cùng một lúc sôi sục lên, ngũ uẩn nhất tề xâm chiếm, áp đảo, tất cả hữu tình chúng sanh vạn loại bị ngũ uẩn chi phối. Chỗ thâm sâu và cốt lỗi nhất của Tập Đế trong tạng kinh Nikāya chính là vô minh và khát ái. Vô minh chính là không rõ đối với ngũ uẩn, không rõ sắc là sắc mà nghĩ sắc mà tôi, không rõ cảm giác là cảm giác mà nghĩ cảm giác là tôi, không rõ những hình bóng là tưởng mà nghĩ cái tưởng đó là tôi tưởng, đây là tư tưởng của tôi, không rõ suy nghĩ là hành uẩn mà suy nghĩ đó là tôi nghĩ, không rõ nhận thức là thức uẩn mà chấp vào cái thức này là tôi, là của tôi và tự ngã của tôi. Khát ái, tham ái cũng đối với năm uẩn, tham sắc, nhìn vào gương cũng thấy thích gương mặt mình thì đó là sắc thủ uẩn, yêu thích tự ngã ái, tự thể ái, sắc ái. Có bao giờ nhìn bóng mình trong gương mà nói "đây là tứ đại, là sắc pháp, là vô thường, khổ đau" không? Thấy như vậy là cái thấy của trí tuệ. Từ ngày cạo đầu đến giờ có bao giờ mình suy nghĩ tác ý như vậy không? Tác ý đó gọi là thánh tư duy, chánh tư duy, gọi là tuệ lực, sức mạnh của trí tuệ vì thế mà sự thật này rất phũ phàng, phá vỡ tất cả các pháp, thân tâm và thế giới trong, trong thánh trí huệ của năm uẩn không còn một hạt bụi nào có thể vương vấn lại, tất cả pháp bị tan vỡ, bị thánh trí huệ chiếu soi đã phá tất cả thì mới đi đến chỗ xuất ly khỏi ngũ uẩn, nhàm chán, ly tham thì đó mới là Niết-bàn, còn hiện tại chúng sanh đang bám chặt vào ngũ uẩn. Có năm ngón tay mới tạo thành bàn tay, tạo thành nắm tay mà mình không thấy năm ngón, chỉ thấy đúng một nắm tay, ngũ uẩn cũng từ năm nhóm kết hợp lại thành mà mình lại không thấy điều đó, chỉ thấy đúng một cái tôi, của tôi và tự ngã của tôi. Vì thế vô minh là đối với năm uẩn, khát ái, tham ái, tham dục, tham muốn cũng đối với ngũ uẩn, đây là con mắt của kinh tạng Nikāya, tất cả chúng ta đau khổ cũng không nằm ngoài năm uẩn. Chiếc xe đó bị trầy rồi nên buồn, cảm giác bị xúc phạm, hình bóng trong tâm, suy nghĩ, nhận thức diễn ra liên tục cho nên sự tu học để quay trở lại nhìn những cái đó. Dù chúng ta chưa thực hành được nhưng tối thiểu mình cũng có nhận thức chính xác về chánh pháp của Đức Phật và mình sẽ biết mình đang đứng ở chỗ nào trong giáo pháp, còn chưa nhìn ra ngũ uẩn, chưa nhìn ra thân tâm thì mình chỉ suy tưởng chứ chưa thật sự thấy và biết. Trong kinh Nikāya gọi Đức Thế Tôn là bậc kiến giả, bậc tri giả, bậc A-la-hán Chánh Đẳng Giác, tức là bậc đã biết, bậc đã nhìn thấy, bậc đã thấu hiểu cùng tột tất mọi khía cạnh góc độ đầy đủ, viên mãn năm uẩn, bậc đã chấm dứt hoàn toàn vô minh, khát ái và chấp thủ đối với ngũ uẩn, bậc đã xuất ly ra khỏi ngũ uẩn cho nên trí huệ của Đức Phật là bất khả tư nghị, còn mình là kẻ đang say mê, đắm đuối, khao khát trong ngũ uẩn vô thường này, đang chạy đuổi hình bắt bóng với những bong bóng nước, mình đã đau khổ, đang đau khổ và sẽ đau khổ dài dài nếu không thấy biết ngũ uẩn. Mình đã tìm kiếm, đang tìm kiếm và sẽ tìm kiếm. Mình đã khao khát, đang khao khát và sẽ khao khát chứ chúng ta chưa hoàn toàn là người đã dừng lại tất cả mát lạnh tịch tịnh và thanh lương, Cho đến khi nào chúng ta thấy triệt để bản chất vô thường, đau khổ và trống rỗng, vô ngã của ngũ uẩn, cho đến khi đó tâm chúng ta không còn tham muốn đối với ngũ uẩn nữa, bình an, đại bình an là đại Niết-bàn tịch tịnh.

Nguyện đem công đức này hướng về khắp tất cả đệ tử và chúng sanh đều trọn thành Phật đạo.

./.