Cấu Nhiễm Của Tâm & Cách Thanh Lọc - Kinh Ví Dụ Tấm Vải 1 - Trung Bộ I
Kinh Nikāya Giảng Giải
Cấu Nhiễm Của Tâm & Cách Thanh Lọc
Kinh Ví Dụ Tấm Vải 1 - Trung Bộ I
Thích Minh Thành
MỤC LỤC
TOC \o "1-3" \h \z \u I. Yếu chỉ tu hành PAGEREF _Toc174197039 \h 1
II. Cấu uế nội tâm PAGEREF _Toc174197040 \h 2
III. Thành tựu lòng tin PAGEREF _Toc174197041 \h 9
I. Yếu chỉ tu hành
Hôm nay chúng ta học bài kinh số bảy nằm trong Trung Bộ, tập I có tên là kinh Ví dụ tấm vải. Xin thưa đại chúng là toàn bộ đạo lộ hay quá trình pháp hành của kinh tạng Nikāya không có gì khác hơn là thanh lọc cấu nhiễm của nội tâm, đây là tổng cương lĩnh của đại tạng kinh Nikāya, đó là sự thanh lọc các cấu nhiễm, rác bẩn trong tâm của chúng ta cho nên khi nắm vững được tông chỉ, cương lĩnh thì học vào kinh sẽ không thấy bất ngờ.
Thường thì trong bản kinh Đức Thế Tôn và các vị Thánh chúng nói rất nhiều về những ô nhiễm, cấu uế, rác bẩn của thân tâm chính mình và chúng sanh. Mình muốn thanh lọc, quét dọn, lau chùi, tẩy rửa tâm cấu uế này thì bước đầu tiên phải thường nhìn lại thì mới thấy chân tướng nội tâm. Những cái thấy xác thực, chính xác, thấy đúng về nội tâm chính là chánh tri kiến, vì thế bài kinh Ví dụ tấm vải này phơi bày, trình bày những cấu nhiễm của nội tâm, vạch trần, nêu rõ những pháp, những cảm thọ, những trạng thái, hành tướng của nội tâm chúng ta. Trong bài này có rất nhiều từ diễn tả sự cấu uế của nội tâm.
Chính vì sự quay lại nhìn thân thể, nhìn cảm giác, nhìn những hình bóng, cảm giác, nhận thức, suy nghĩ mà danh từ chuyên môn là nhận diện năm uẩn thì chúng ta mới phát giác, phát hiện trong tâm chúng ta lại có nhiều pháp cấu nhiễm như thế. Khi thấy như vậy thì mắt pháp bắt đầu mở, mắt tuệ bắt đầu được khai, đạo nhãn của mình bắt đầu được minh kiến, còn nếu tu mà cứ thấy mình hay, mình giỏi, mình tài, mình hơn thì đó chỉ là cái thấy của phàm phu, chưa thành tựu được chánh kiến.
Chúng ta cần nhớ kĩ cương lĩnh, yếu chỉ này thì học kinh rất dễ, không thấy lạ so với khi học những cách thức khác chỉ nói về những cái hay, cái tốt, kinh tạng Nikāya là những lời dạy gốc của Đức Phật, trong đây phơi bày chân tướng của các pháp, mà các pháp này chính là thân tâm chúng ta. Bài kinh này tuy rằng ngắn nhưng có rất nhiều vấn đề cốt lõi trong sự hành trì nên chúng ta cần học kĩ, trong đây vừa nói lên các phiền não, lậu hoặc vừa nói lên sự tịnh tín bất động, vừa nói lên cách thức để thanh lọc, vệ sinh, quét dọn, tẩy rửa nội tâm, nói lên những diệu đức, diệu hạnh, diệu trí tuệ của tam bảo.
II. Cấu uế nội tâm
Bài kinh này không có ai hỏi mà Đức Phật tự nói cho nên gọi là vô vấn tự thuyết.
"Như vầy tôi nghe.
Một thời Thế Tôn ở Savatthi (Xá-vệ), tại Jetavana (Kỳ-đà Lâm), vườn ông Anathapindika (Cấp Cô Ðộc). Lúc bấy giờ Thế Tôn gọi các Tỳ-kheo: 'Này các Tỳ-kheo'. –'Bạch Thế Tôn', các vị Tỳ-kheo ấy vâng đáp Thế Tôn. Thế Tôn nói như sau:
-- Này các Tỳ-kheo, như một tấm vải cấu uế, nhiễm bụi, một người thợ nhuộm nhúng tấm vải ấy vào thuốc nhuộm này hay thuốc nhuộm khác - hoặc xanh, hoặc vàng, hoặc đỏ, hoặc tía - vải ấy sẽ được màu nhuộm không tốt đẹp, sẽ được màu nhuộm không sạch sẽ. Vì sao vậy? Này các Tỳ-kheo, vì tấm vải không được trong sạch. Cũng vậy, này các Tỳ-kheo, cõi ác chờ đợi một tâm cấu uế.
Này các Tỳ-kheo, như một tấm vải thanh tịnh, trong sạch, một người thợ nhuộm nhúng tấm vải ấy vào thuốc nhuộm này hay thuốc nhuộm khác - hoặc xanh, hoặc vàng, hoặc đỏ, hoặc tía, vải ấy sẽ được màu nhuộm tốt đẹp, sẽ được màu nhuộm sạch sẽ. Vì sao vậy? Này các Tỳ-kheo, vì tấm vải được trong sạch. Cũng vậy, này các Tỳ-kheo, cõi thiện chờ đợi một tâm không cấu uế".
(Trung Bộ Kinh, 7. Kinh Ví dụ tấm vải)
Phần trên là Đức Phật nêu ví dụ, ở dưới là Đức Phật nói pháp. Cõi ác tức là địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh sẽ chờ đợi một tâm uế nhiễm, cấu nhiễm. Cõi thiện chính là nhân thiên, đó là cõi người có đầy đủ phước báo hoặc là Tứ Đại Thiên Vương, Tam Thập Tam Thiên, Dạ-ma Thiên, Đâu-suất Thiên, Hóa Lạc Thiên, Tha Hóa Tự Tại Thiên hoặc là lên tận Tịnh Cư Thiên của các bậc Thánh đệ tử thiên, cõi thiện này chờ đợi một cái tâm trong sạch không cấu uế.
Đức Thế Tôn dùng từ rất bình dị tâm cấu uế và tâm không cấu uế chứ ngài không nói cái gì lớn lao, hoa mỹ. Ngài chỉ nói về tâm dơ và tâm sạch, tâm dơ thì cõi ác chờ đợi, tâm sạch thì cõi thiện đợi chờ. Sau đây ngài nói về pháp:
"Và này các Tỳ-kheo, thế nào là những cấu uế của tâm? Tham dục, tà tham là cấu uế của tâm, sân là cấu uế của tâm, phẫn là cấu uế của tâm, hận là cấu uế của tâm, hư ngụy, não hại, tật đố, xan tham, man trá, khi cuống, ngoan cố, cấp tháo, quá mạn, kiêu, phóng dật là cấu uế của tâm".
(Trung Bộ Kinh, 7. Kinh Ví dụ tấm vải)
Phẫn nghĩa là phẫn nộ, là sự tức giận. Hư ngụy là giả dối, không thành thật. Não hại là những ý nghĩ, ngôn ngữ, hành vi muốn làm hại người khác, những ý nghĩ muốn hại người khác là một sự dơ bẩn của tâm. Tật đố là sự ganh tỵ, đố kỵ, thấy người ta được khen, được cúng dường, được nổi tiếng, thấy người ta tài giỏi, thành công thì trong tâm ganh ghét, không muốn nhìn, không muốn thấy, đó là sự dơ bẩn của tâm. Xan là keo kiệt, bủn xỉn, tham là tham lam, tham muốn. Man trá tức là dối trá một cách gian xảo, man trá đồng nghĩa với gian trá, gian xảo, giảo hoạt, xảo trá. Khi cuống cũng là dối nhưng là dối lừa, lừa bịp. Ngoan cố nghĩa nặng là cứng đầu cứng cổ, cố chấp, khó dạy, khó bảo, khó nói, ương ngạnh, có lỗi được các bậc trưởng thượng chỉ lỗi thì không nhận lỗi, thậm chí quay lại phản kháng, chống cự thì đó là ngoan cố, mình có bản ngã, sân hận, cố chấp, cứng cỏi, ngược lại với từ này là nhu nhuyến, đó là một tâm mềm mại dễ sử dụng, đó là tâm có tu tập, còn tâm ngoan cố là tâm không có tu tập.
Ngày xưa chưa đi sâu vào trong kinh Nikāya Minh Thành không thích đọc những cái này, tự thấy bản thân không có những thứ này mà sao trong kinh lại nói xấu dữ vậy. Nhưng bây giờ lại thấy hay vô cùng, nó thấm trong xương tủy, khi nhận diện ngũ uẩn, khi thực hành Tứ Niệm Xứ, khi nhìn lại từng ý nghĩ, suy tư, cảm thọ, từng hình bóng trong tâm thì những từ này chỉ mới là một phần ngàn so với tâm thôi. Những thứ này ở trong từng suy nghĩ, ở trong những hình bóng, nhận thức, cảm xúc của mình, vậy mà mình không thấy không biết, mình đáng thương vô cùng cho nên Đức Phật mới gọi mình là vô minh, nghĩa là không có sự sáng suốt để nhìn thấy chân tướng của nội tâm, hành tướng của nội tâm, không thấy được các hành, tức là những sự vận hành trong tâm đều không thấy.
Cấp tháo là gấp gáp, thô tháo, vội vàng, hấp tấp. Cấp giống như cấp cứu, nghĩa là gấp, tháo cũng là vội, là sự tháo động, lúc nào cũng tỏ ra nhanh, vội vàng, ăn cũng nhanh, đi cũng nhanh, thấy ai chậm chạp là khó chịu, thấy ai nói chậm là trong lòng cũng nóng lên cho nên cấp tháo là một sự cấu uế, cấu nhiễm của tâm. Quá mạn là một sự ta đây, bằng người ta nhưng lại nói hơn người ta. Kiêu nghĩa là kiêu mạn, kiêu căng, kiêu ngạo. Mỗi một từ như vậy được Đức Phật lập lại liên tục để mình nhớ, phóng dật là một sự buông lung thả lỏng các căn, không thu thúc, không bảo vệ, không gìn giữ, không thu nhiếp mà buông lơi, buông thả, buông trôi khi sáu căn tiếp xúc sáu trần, từ trong kinh gọi là "thả lỏng các căn". Tất cả những thứ đó đều là cấu uế của tâm.
Bước đầu tiên lúc nào cũng phải nhận diện ngũ uẩn, tức là nhìn nhận những cảm thọ, hình bóng, suy nghĩ trong tâm, chỉ có nhìn nhận thường xuyên mới phát hiện ra những thứ này, còn không nhìn nhận thì dù có học cũng chỉ là đọc trên từ ngữ. Khi nhận diện ngũ uẩn thì đây là thực pháp, nó đang hiện hữu thực tại, đang có mặt, đang vận hành trong tâm, trong cảm thọ, suy tư, nghĩ tưởng của chúng ta. Chúng ta nhận diện nó bằng những buổi thiền tập, bằng sự để ý vào bên trong thọ; tưởng; hành, sau đó Thế Tôn nói tiếp:
"Này các Tỳ-kheo, Tỳ-kheo nào nghĩ rằng: 'Tham dục, tà tham là cấu uế của tâm' và sau khi biết vậy, vị ấy đoạn trừ tham dục, tà tham cấu uế của tâm."
(Trung Bộ Kinh, 7. Kinh Ví dụ tấm vải)
Bước nhận diện ngũ uẩn trong kinh không nói vì tất cả chư Thánh đệ tử, chư vị Tỳ-kheo ngày xưa ai cũng phải làm. Bước đầu tiên là nhận diện năm uẩn tức là nhìn lại nội tâm, đây là bước quyết định, đó là lý do tại sao chúng ta thường xuyên được nhắc phải nhận diện ngũ uẩn vì không nhận diện là không thấy gì cả vì đang hướng ngoại, khi đã hướng ngoại thì năm dục trưởng dưỡng sẽ lôi kéo làm mình không thấy được nội tâm. Bước thứ hai là thấy được những cấu uế của tâm. Bước thứ ba sau khi thấy được thì phải tác ý "đó là sự dơ bẩn, rác bẩn, cấu nhiễm là ác, là bất thiện pháp. Đó là thứ cần chùi rửa, cần vệ sinh, cần tẩy sạch".
Nhiều khi được hướng dẫn khi thấy có tham thì biết có tham, thấy có sân thì biết có sân rồi tự nó diệt là chưa đủ mà cần phải tác ý đánh đuổi nó, những bậc nào nhìn thấy rồi nó tự tan biến là những bậc điêu luyện, thuần thục trong thiền định, thiền tuệ, các lậu hoặc của các ngài đã cạn rồi thì chỉ cần thấy là tự động nó tan biến, cũng như những người hợp ý nhau chỉ cần nhìn là hiểu ý ngay, còn không biết gì thì nhìn cũng như không. Cũng vậy, người này đã hiểu được tâm mình một cách thiện xảo, nhuần nhuyễn, khéo léo cho nên chỉ cần nhìn thấy là lậu hoặc tự tan biến, còn mình thì cái sân nổi lên là quật ngã mình, những sự buông lung phóng dật sanh khởi lên là cuốn trôi mình đi.
Chúng ta phải nhớ mình đang ở đâu để học không bị lẫn lộn thứ tự, không đốt cháy giai đoạn, bước cầu thang mà sải chân lên tận năm bậc thì vô cùng hiểm nguy cho nên sự tu của chúng ta không được thành công hoặc là thành công nhưng không đúng với Thánh đạo, Thánh quả là do không đi đúng theo trình tự đạo lộ mà Đức Thế Tôn đã chỉ dạy cho nên sau khi thấy biết các lậc hoặc, cấu uế của tâm thì phải tác ý đoạn tận.
Dục là có cảm giác thúc giục trong cảm thọ, ví dụ đang học mà trong tâm có sự thúc giục đi uống nước hoặc là đang ở trong lớp học mà có sự thúc giục mở chai nước uống, đó là mình không thấy được sự thúc giục đó vì đó là giờ tập trung tâm ý lắng tai nghe pháp, khi có sự thúc giục sanh khởi thì phải nhận diện được nó, đó chính là nhận diện cảm thọ, quán thọ trên các thọ. Đang ngồi thiền mà có sự thúc giục đi nghỉ hoặc là ngủ vì mệt mỏi, đau nhức, nếu ngồi thiền ngay trên gường là nằm xuống gọn gàng luôn.
Tham là một sự ham muốn, thường thì ham muốn đối với sắc; thanh; hương; vị; xúc. Khi có sự ham muốn đối với món đồ, cảnh sắc hoặc một con người hoặc là tiếng nhạc, âm thanh nào đó, hoặc là mùi vị, món ngon nào đó hoặc là một sự tiếp xúc nào đó thì mình phải thấy phải biết và phải xem ham muốn đó là thiện hay bất thiện. Nếu thấy nó là bất thiện, là dơ bẩn, cấu nhiễm thì phải tác ý đoạn trừ nó, không làm theo ý muốn, sự thúc giục của nó.
Mình có đồng hồ đeo tay xem giờ là được rồi nhưng lại thấy bạn có đồng hồ đẹp hơn vậy là hình bóng của đồng hồ đó chập chờn trong tâm, có suy nghĩ "nếu có đồng hồ đó đeo vào sẽ đẹp hơn", có cảm giác thích thú thì phải nhìn ra đó là cấu uế của tâm nên không đi theo ý nghĩ đó, tác ý trừ diệt nó "mình đã đi tu rồi, mái tóc còn bỏ, cha mẹ còn bỏ, lục thân quyến thuộc còn bỏ vậy mà có cái đồng hồ bỏ không được hay sao", tác ý như vậy để trừ diệt suy tưởng đó. Như vậy mới gọi là nhìn lại để thấy nội tâm có cấu uế rồi tác ý để đoạn trừ cho đến khi nào loại bỏ hoàn toàn ý nghĩ ham muốn về đồng hồ đó hay món đồ, đối tượng nào đó, cần tác động tâm ý liên tục để từ bỏ suy nghĩ đó.
"Nghĩ rằng: 'Sân là cấu uế của tâm', và sau khi biết vậy, vị ấy đoạn trừ sân, cấu uế của tâm; phẫn... hận... hư ngụy... não hại, tật đố, xan tham, man trá, khi cuống... ngoan cố... cấp tháo... mạn... quá mạn... kiêu; nghĩ rằng: 'Phóng dật là cấu uế của tâm' thì sau khi biết vậy, vị ấy đoạn trừ phóng dật, cấu uế của tâm". (Trung Bộ Kinh, 7. Kinh Ví dụ tấm vải)
Khi nhìn lại tâm thấy có một cảm giác khó chịu, bực bội, giận hờn thì mình phải tác ý "đây là vết nhơ của tâm, đây là vết bẩn của tâm, đây là cấu uế của tâm. Cái này cần phải từ bỏ, cái này cần phải tẩy sạch, chấm dứt, đoạn tận". Cảm thọ sân hận này làm dơ tâm giống như tấm vải bị nhuộm màu thì tấm vải sẽ không đẹp, mỗi một cảm thọ, mỗi một suy nghĩ, hình bóng sanh khởi lên mình phải nhìn nhận, thấy rõ, tác động tâm ý đánh đuổi, nhiếp phục, đoạn tận và trừ diệt.
Ví dụ sanh khởi lên suy nghĩ muốn làm cho người ta khổ (não hại), muốn nói một câu nào đó cho hả giận, mình phải thấy ý nghĩ này là cấu uế của tâm, ý nghĩ này là thấp hèn, hèn hạ, hạ liệt, là phàm phu, khi mình mang hình tướng người tu đầu tròn, áo vuông, đắp y mà giờ mình lại có ý nghĩ muốn làm người ta đau đớn, khổ sở thì ý nghĩ này không phù hợp, cần diệt tận, trừ sạch, không để cho nó tồn tại trong tâm.
"Ðến giai đoạn này, đối với vị ấy có sự từ bỏ, có sự diệt trừ, có sự giải thoát, có sự đoạn trừ, có sự xả ly". (Trung Bộ Kinh, 7. Kinh Ví dụ tấm vải)
Mỗi một pháp sanh khởi lên thì mình phải có sự thấy biết và có sự tác động tâm ý đánh đuổi chứ không để yên được. Nếu sanh khởi lên sự nịnh hót, giả dối hay sanh khởi ra cảm thọ gấp gáp, vội vàng, thô tháo thì phải được cảm thọ này, đánh mất oai nghi, không điềm tĩnh, không có phong thái của người xuất gia thì phải tác ý "cảm thọ này lắng dịu, dịu xuống đi".
Mẹ nhớ niệm thầm trong tự tâm.
Niệm 'Bỏ hết đi, cảnh vô thường!'
Niệm 'Tâm lặng yên, tâm dễ chịu!'
Niệm 'Ngũ uẩn này, không phải ta'
Đây là những câu tác ý mà mình thường đọc để nhắc nhở bản thân, phải niệm những cảm thọ hơn thua, những cảm giác vội vã, những tâm ý cứng cỏi, ương ngạnh này không phải mình, không phải của mình, nó là pháp duyên sanh. Mình tác ý như vậy để từ bỏ cảm thọ này hoặc lạy sám hối tự tâm "con thấy mình thật là xấu hổ, con thấy cảm giác hơn thua, ta, tôi này thật dơ bẩn, con thấy cảm giác ngã mạn này thật nhục nhã, con thật lo lắng và sợ hãi với cảm giác kiêu mạn này. Con thật là buồn khổ vì sự cấu nhiễm này, con thấy đau lòng, xấu hổ với sự kiêu căng này, với sự hơn thua với các bậc đồng phạm hạnh, với huynh đệ, tỉ muội. Con thật là đáng hổ thẹn, thật là tủi nhục cho con, thật là xót xa cho con khi đã đi tu mà vẫn còn chất chứa những tâm niệm cấu bẩn, cấu uế, cấu nhiễm", sau đó lạy xuống nguyện từ bỏ tâm niệm này, nguyện diệt trừ cảm thọ này, nguyện thoát ra khỏi những ý niệm này, nguyện đoạn trừ, dứt bỏ những cảm giác này.
"Tại sao lại sanh khởi lên một cảm giác tham muốn, dục vọng như vầy? Con thấy thật là ghê sợ, thật là ghê tởm, thật là xấu hổ, nhục nhã và tàm quý. Nhìn lên hình tướng Đức Thế Tôn con thấy xấu hổ quá, hèn hạ quá, hạ liệt quá, con thấy mình tồi bại quá. Con thương cảm cho con, xót xa cho con. Con xin quỳ lạy Đức Thế Tôn, nguyện cho con xả bỏ những nghĩ tưởng này, những cảm giác tham dục, ái dục, dâm dục này".
Tác ý như vậy rồi quỳ lạy trong sự ràng rụa nước mắt, trong sự kinh cảm, chấn động vì xót thương, đó là sự tác ý để đoạn trừ, tác động tâm ý đúng như chân lý để từ bỏ những cấu uế, những cấu nhiễm, những ác và bất thiện pháp trong tâm ta. Khi đã nhìn thấy những thứ này thì cứ tác ý thường xuyên như vậy sẽ giảm được cấu nhiễm, cấu uế, từ từ sẽ đi đến sự trong sạch, thanh tịnh. Còn tu mà không nhận diện ngũ uẩn, không nhìn lại thân tâm, không soi rọi từng cảm thọ, từng suy nghĩ, tư tưởng, cứ hướng ra ngoài làm cái này làm cái kia, muốn hơn người khác, ai chạm vào thì sân si thì đó là tâm của người đời, không phải tâm của bậc Thánh đệ tử, không phải tâm của người tu.
Người tu là lúc nào cũng quay lại soi rọi chính mình, sau khi soi rọi sẽ thấy cấu nhiễm, sau khi thấy cấu nhiễm thì dùng sự tác động tâm ý, quán chiếu, tư duy để từ bỏ, thoát ra, xả ly, đó chính là pháp hành, là phương pháp thực hành về những lời dạy nguyên thủy, cội gốc của Đức Phật, ngài không khuyến khích mình hướng ngoại rồi làm phô trương, rình rang bên ngoài, đó chỉ là những thiện pháp giúp cho mọi người là phần phụ, còn chuyện quan trọng, chính yếu là quay trở lại tẩy rửa, thanh lọc cấu nhiễm thân tâm chúng ta. Nếu cái này chúng ta không làm thì sự nghiệp đời tu của chúng ta là con số 0, thậm chí là âm rất nhiều cho nên chúng ta cần đọc kĩ bài kinh này nhiều lần, vừa đọc bài kinh vừa nhìn vào tâm, kiểm tra, nội soi, quán sát, tư sát trong tâm để xem có cấu uế không. Thế Tôn không nói thừa hay thiếu một chữ nào cả, có thì ngài mới nói, chúng ta thì cứ lầm tưởng ngài nói cho người khác chứ không phải mình nhưng những cái này là các pháp vận hành trong ngũ uẩn.
III. Thành tựu lòng tin
Đó là phần thứ nhất, những cấu uế của tâm, sau đây chúng ta đi qua phần thứ hai là sau khi thấy được cấu uế của tâm và tác ý đoạn trừ thì vị này sẽ đạt được gì.
"Vị ấy tự nghĩ: 'Ta thành tựu lòng tin tuyệt đối đối với Thế Tôn', và chứng được nghĩa tín thọ, chứng được pháp tín thọ, chứng được hân hoan liên hệ đến pháp; từ hân hoan, hỷ sanh; từ hỷ, thân được khinh an; thân khinh an, cảm giác được lạc thọ; với lạc thọ, tâm được Thiền định". (Trung Bộ Kinh, 7. Kinh Ví dụ tấm vải)
Một người đã thấy biết ngũ uẩn, thấy biết chân xác về những cấu nhiễm của nội tâm thì người đó sẽ thành tựu tịnh tín bất động đối với Phật. Vì đến để thấy chứ không phải chỉ để nghe, chỉ để tin, người này thấy bằng con mắt tâm chính mình trong tự thân cho nên người này có được lòng tin không bao giờ lay chuyển. Thế Tôn dùng hình ảnh cột trụ vững chắc chôn sâu rất kiên định, bất động, hình ảnh thứ hai là bông gòn ở ngã tư, ngã tư gió thổi bay tứ tung đại diện cho người chỉ nghe rồi tin suông thì người đó gặp cái gì là liền bị dao động, bị lung lay, còn người này đến để thấy được nội tâm chính mình, thấy cảm giác, nghĩ tưởng, suy tư, thấy rác bẩn, cấu uế, ô nhiễm trong tâm nên người này thành tựu lòng tin tuyệt đối với Đức Phật.
"Tỳ-kheo ấy thành tựu lòng tin tuyệt đối đối với Phật: Ngài là bậc Thế Tôn, A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Ðiều Ngự Trượng Phu, Vô Thượng Sĩ, Thiên Nhân Sư, Phật, Thế Tôn.
Vị ấy thành tựu lòng tin tuyệt đối đối với Pháp: Pháp được Thế Tôn khéo thuyết giảng, thiết thực hiện tại, không có thời gian, đến để mà thấy, có khả năng hướng thượng, được người có trí chứng hiểu.
Vị ấy thành tựu lòng tin tuyệt đối đối với chúng Tăng: Diệu hạnh là chúng Tăng, đệ tử Thế Tôn; Trực hạnh là chúng Tăng, đệ tử Thế Tôn; Như lý hạnh là chúng Tăng, đệ tử Thế Tôn; Chánh hạnh là chúng Tăng, đệ tử Thế Tôn. Tức là bốn đôi tám vị. Chúng Tăng, đệ tử Thế Tôn, đáng được cung kính, đáng được tôn trọng, đáng được cúng dường, đáng được chắp tay, là phước điền vô thượng ở đời"
(Trung Bộ Kinh, 7. Kinh Ví dụ tấm vải)
Sau khi vị ấy thấy cấu nhiễm của tâm mình và có sự tác ý đoạn trừ thì vị ấy thành tựu lòng tin bất động với Phật, Pháp, Tăng. Đi đến đây mới viên mãn ba pháp quy y, Minh Thành mời quý vị đọc thêm phần đảnh lễ trí đức Như Lai trong quyển Nghi thức tu học Nikāya sẽ giải thích mười đức hiệu của ngài.
Thế Tôn là bậc được thế gian tôn kính. A-la-hán là bậc diệt tận tham, sân, si, không còn sanh tử luân hồi. Bậc Chánh Đẳng Chánh Giác là tự mình giác ngộ, thấy biết tột cùng tất cả sự thật thân tâm ngũ uẩn và thế giới, thấy tất cả góc độ, khía cạnh, phương diện về ngũ uẩn. Bậc Chánh Đẳng Giác là sự thấy biết chân chánh mọi khía cạnh, góc độ của ngũ uẩn. Minh Hạnh Túc là ngài chứng được đầy đủ tam minh. Thiện Thệ là ngài khéo vượt qua bốn bộc lưu: Dục bộc lưu, kiến bộc lưu, vô minh bộc lưu và hữu bộc lưu. Thế Gian Giải là ngài hiểu rõ, thông giải các pháp thế gian. Điều Ngự Trượng Phu là điều phục và chế ngự các bậc trượng phu ở trên đời. Vô Thượng Sĩ là thầy của trời và người, không còn ai hơn được nữa. Phật là sanh ra ở trong đời, lớn lên ở trong đời nhưng không bị đời làm ô nhiễm mà vượt ra khỏi đời, giống như hoa sen sanh ra trong nước bùn, lớn lên trong nước bùn nhưng vượt lên khỏi bùn, không bị bùn làm ô nhiễm. Như vậy vị này thành tựu lòng tin tuyệt đối với Đức Thế Tôn, thành tựu lòng tin tuyệt đối với Pháp và đối với Tăng.
Tại sao vị này thành tựu lòng tin tuyệt đối với Pháp? Vì chính người này thấy pháp bằng con mắt tâm của mình, người này thấy được ngũ uẩn, thấy được sắc; thọ; tưởng; hành; thức tập khởi và đoạn diệt, thấy được nguyên lý sanh diệt của năm thủ uẩn, tại sao nó sanh, tại sao nó diệt và nó tồn tại là do vô minh và tham ái, nó diệt tận khi nào hết vô minh và hết tham ái, con đường đưa đến sự chấm dứt nó là Bát Thánh Đạo, thấy một cách rõ ràng sự hình thành, an trú, tan hoại và chấm dứt của thân tâm, vũ trụ, thế giới, không còn nghi ngờ bất cứ một điểm nào hết, thấy bằng con mắt tâm, con mắt trí, con mắt đạo, con mắt pháp cho nên vị này thành tựu lòng tin tuyệt đối với pháp.
Thiết thực, hiện tại nghĩa là nhìn lại cảm thọ sẽ thấy mọi thứ, sướng là thấy có tham, bực mình là thấy có sân, đơ đơ là nhìn thấy có si, chạm vào là lồng lộn, sừng sộ lên, phẫn nộ lên. Đó nghĩa là đến để mà thấy, đến ở đây không phải là qua bờ bên kia, chèo xuồng qua hay bay qua mà là đến thân tâm, quay trở về thân tâm, đến là quay trở về nhận diện ngũ uẩn, đến là nhiếp phục tự thân, đến là chế ngự và đoạn tận tham, sân, si, vô minh, bản ngã, đến là nhìn lại, thấy được và tác ý đoạn trừ để đi đến chỗ diệt tận các cấu nhiễm.
Đó là thiết thực hiện tại, khi đã nhìn thấy tham, sân, si, nhìn thấy vô minh , bản ngã và mình chế ngự, nhiếp phục thì cái đó sẽ đưa mình càng ngày càng đi lên, càng vượt lên nên pháp này có khả năng hướng thượng, vì thế trong kinh thường dùng từ "thượng nhân pháp", đây là pháp của bậc thượng nhân. Thượng nhân nghĩa là người trên mà người trên ở đây là bốn đôi tám chúng hiền Thánh, Đức Thế Tôn gọi là người trên, pháp của Đức Thế Tôn gọi là thượng nhân pháp, còn vô văn phàm phu là người dưới, là hạ nhân, suốt ngày chỉ lo tham, sân, si, tham dục, bản ngã, tranh đấu, thượng nhân là người từ bỏ những thứ đó, diệt trừ, giải thoát, xả ly, thoát ra. Những cái này là phương pháp, cách thức, con đường đạo lộ, trình tự, nấc thang thì gọi là pháp của bậc thượng nhân.
Chỉ cần nhìn lại là mình biết mình thuộc về bậc thượng nhân hay hạ nhân ngay. Thấy tâm còn chạy theo dục, ái tham thì tác ý "cái đồ hạ nhân, cái đồ hèn hạ, cái đồ hạ liệt, thấp kém", khi nào thấy tâm còn hơn thua, kiêu căng, sân hận thì tác ý "mày là đồ thấp kém, tồi bại". Còn lúc nào thấy tâm từ bỏ dục, ái, tham, sân, si, bản ngã thì "ta đang đi trên con đường của thượng nhân", khi nào tâm nhàm chán những sự hơn thua, tranh đấu, những sự sân si, ta đây, ê chề, não nề, chán chê thì "mình đang đi trên con đường của thượng nhân".
Vì thế muốn đi trên con đường của thượng nhân hay hạ nhân đều do mình, suốt ngày cứ nhỏ mọn, nhỏ nhen, hơn thua từng chút một, ghim gút với nhau thì đó là hạ nhân, việc làm của kẻ ngu, tâm mình từ bỏ, vứt bỏ, quăng bỏ những thứ không đáng đó thì mình đang đi trên đạo lộ của bậc thượng nhân. Suốt ngày cứ nhìn ngó để bắt bẻ người ta, nói xấu người ta thì đó là hèn hạ, hạ liệt, thấp kém, tồi bại, ngu dại, thượng nhân là xả bỏ những thứ này.
Tà tham là những sự tham muốn tà bại, bất chánh. Phải từ bỏ những thứ đó, diệt tận, xả ly, đoạn trừ những thứ đó. Có chỗ ghi là "được người trí chứng hiểu" hoặc là "được người trí tự mình giác hiểu" nghĩa là pháp này được người trí tự mình nhận thức, tự mình giác biết thì người đó sẽ có lòng tin tuyệt đối với pháp. Diệu hạnh nghĩa là đức hạnh vi diệu, trực hạnh là đức hạnh chánh trực, Như lý Hạnh là đức hạnh đúng lý, lý là đạo lý, chân lý, giáo lý, Như lý hạnh là những hành động đúng với chân lý, đúng với Bát Chánh Đạo, Ứng lý hạnh cũng giống như vậy, Chánh hạnh là cái hạnh chân chánh, Diệu hạnh là nói những lời từ ái, hòa nhã, nhẹ nhàng.
Chỉ riêng phần Trực hạnh thôi đã là cả một vấn đề, nghĩa là khi mình đang giận mà người khác nói mình đang sân thì mình phải thành thực thừa nhận, đó chính là trực hạnh, còn mình đang giận mà người ta nói mình đang sân là mình cãi lại không có sân thì đó là không có trực hạnh. Mình cứ nghĩ là mình sống ngay thẳng nhưng thực ra trong tâm lại cong quẹo, vì mình không nhận diện năm uẩn cho nên mình không thấy sâu sắc, cái biết của mình là tưởng tri và thức tri chứ không phải tuệ tri. Tuệ tri là cái biết bằng trí tuệ khi nào mình nhận diện năm uẩn một cách thấu đáo thì lúc đó mới tuệ tri, còn chưa nhận diện được năm uẩn, chưa thấy được lậu hoặc thì mình chỉ biết bằng tưởng tri và thức tri.
Tưởng tri là biết trên tưởng tượng, suy tưởng, ảo tưởng, thức tri là biết trên nhận thức, kinh nghiệm, kiến thức theo thông thường, tuệ tri là sau khi thành tựu chánh kiến, thấy biết ngũ uẩn, thấy biết lậu hoặc, thấy được những sự tham dục, tà tham, phẫn nộ, não hại, ganh tỵ, đố kỵ, gian xảo, ngoan cố, kiêu mạn, quá mạn, buông lung phóng dật thì cái thấy đó bắt đầu khởi động cái thấy của bậc Thánh.
Mình cứ nghĩ Thánh là cái gì cao lớn, xa vời, nghe nói đến "đắc pháp nhãn tịnh" thì nghĩ rằng khủng khiếp lắm nhưng không phải vậy. Đắc pháp nhãn tịnh là thấy tâm cấu nhiễm của chính mình, thấy rõ ràng, chân xác, chính xác thì gọi là đắc pháp nhãn tịnh, con mắt tuệ được mở, con mắt pháp được mở, con mắt trí được sáng tỏ. Đó là hướng Dự Lưu cho đến Nhập Lưu Thánh quả mới thấy được nội tâm chính mình một cách chân thật, chính xác. Vì thế Trực hạnh có ý nghĩa rất sâu sắc, mỗi cái mình làm, mình nói đều chân thành, trung thực, chánh trực, thành thật thì mới là Thánh đệ tử, là đệ tử của Thế Tôn. Đa số chúng ta không tu sâu sắc, không quán chiếu kĩ lưỡng về Tứ Niệm Xứ, về nhận diện ngũ uẩn thì chúng ta sống trong giả dối rất nhiều mà mình không thấy được điều này, thậm chí có khi thấy, được người ta chỉ nhưng vì bản ngã nên mình khó chịu, giận hờn, sân lên.
Tu cái này rất thú vị vì mình sẽ đọc một cuốn kinh sống bằng con mắt tâm, mình thấy kinh Nikāya trong từng ý nghĩ, hình bóng, cảm thọ trong tâm, cái đó được gọi là đến để mà thấy. Mình thấy được cái dục vận hành ra sao, tan biến ra sao, ái cũng vậy, mình thấy bản ngã sanh khởi ra nổi loạn ra sao, mình đánh đuổi, tác ý, quán chiếu với nó. Người nào khi đi đến đó, thấy được như vậy, chiến đấu với cấu nhiễm, cấu uế như vậy thì người đó sẽ có lòng tin tuyệt đối với chánh pháp, một người nhìn thấy ngũ uẩn sâu sắc như vậy thì người này sẽ có lòng tin tịnh tín bất động đối với Phật, Pháp, Tăng. Muốn được như vậy chỉ có một cách duy nhất là thực tập nhận diện ngũ uẩn, mình phải xem lúc đang muốn hất mặt lên, ưỡn ngực ra có cảm giác ra sao, hình bóng trong tâm ra sao, suy nghĩ ra sao, sắc uẩn lúc đó ra sao, mình đều phải nhìn nhận, thấy biết được.
Từ cái thấy đúng mới có nghĩ đúng, làm đúng, sống đúng, siêng đúng, quán đúng, định đúng. Sự thực hành tương ứng, phù hợp với Bát Chánh Đạo đều nhờ cái thấy đúng dẫn dắt, từ thấy đúng mới có nghĩ đúng, nói đúng, làm đúng, sống đúng, siêng đúng và định đúng. Thấy đúng là thấy thân tâm, thế giới này chỉ là năm uẩn thôi, không có tôi và không có của tôi. Nghĩ đúng là nghĩ như thế nào để từ bỏ tham, sân, si, bản ngã. Nói đúng là nói như thế nào để không nói những lời làm khổ mình khổ người, làm hại mình hại người, không nói những lời gây chia rẽ, sân hận. Sống đúng và làm đúng, giữ gìn các giới mà mình đã thọ.
Bát Chánh Đạo trong Nikāya rất thâm sâu và rộng lớn, bao trùm khắp ba mươi bảy phẩm trợ đạo. Mới bước vào chánh kiến, thấy đúng về tự thân đã là bậc Nhập Lưu Tu-đà-hoàn, Chánh hạnh là đức hạnh chân chánh. Siêng là phải siêng đúng chứ không phải suốt ngày xây cái này, cất cái kia, làm cái nọ rồi bỏ tu, nghĩ rằng đó là chánh tinh tấn nhưng chưa phải vậy, chánh tinh tấn thật sự là quay lại nhìn vào nội tâm để thấy các cấu uế rồi tác ý diệt trừ, đoạn tận cho đến khi nào sạch hoàn toàn, không còn sót lại chút nào thì đó là chánh tinh tấn, siêng đúng việc.
Bổn phận, trách nhiệm của mình thì mình làm hết lòng nhưng trong khi làm vẫn nhìn lại nội tâm, vẫn tác ý tẩy rửa đoạn trừ các lậu hoặc thì đó là chánh tinh tấn, chứ không phải làm nhiều rồi để bản ngã sanh ra thì đó là sự thất bại, cái siêng năng đó là siêng năng hữu lậu, hữu vi, siêng năng ở trong dòng sống chết, không phải là cái siêng năng đưa đến bất tử.
Một vị đệ tử của Thế Tôn có đức hạnh vi diệu, chánh trực, với một đức hạnh như lý và chân chánh thì những vị này là bốn đôi tám vị. Bốn đức hạnh này đặt nền tảng trên chánh tri kiến, còn sự chân thật bình thường là của phàm phu không phải trong kinh đang nói đến, tất cả những cái này đều đặt nền tảng trên ngũ uẩn vô thường, khổ, vô ngã, không có tôi, của tôi rồi sau đó mới tu, cái tu đó mới là cái tu của bậc Thánh đệ tử, còn nếu không thấy ngũ uẩn, thấy có cái tôi đang tu, đang làm, đang nỗ lực tinh tấn thì đó không phải là Bát Thánh Đạo, không phải là đạo lộ của bậc Thánh, nếu đứng trên lập trường cái tôi này để suy tư, nghĩ ngợi, làm tất cả mọi thứ thì đều là của vô văn phàm phu.
Tinh thần của toàn bộ giáo pháp Nikāya đều đứng trên chánh tri kiến, nếu không có chánh tri kiến thì những cái khác đều là của phàm phu vì vậy cần nhận diện ngũ uẩn để biết đây là sắc, cảm giác là thọ, hình bóng trong tâm là tưởng, suy nghĩ là hành, nhận thức rõ biết là thức, cái này không phải là tôi, không phải của tôi, đây là năm nhóm, năm tổ hợp, năm thành phần. Khi thấy như vậy thì mình bắt đầu tu các hạnh khác nhưng phải nhắc để nhớ như vậy thường xuyên thì gọi là chánh niệm, còn quên đi chỉ thấy một cái tôi, một cái tưởng, một cái ta to lớn thì đó là mình đã lọt qua giới vực của phàm phu, vô minh, chấp ngã, thân kiến, không còn là Thánh đệ tử nữa.
Trong một ngày hai mươi bốn tiếng thì mình nhớ được mấy tiếng đây là năm tổ hợp, đây là năm thành phần? Khi ra khỏi thiền đường, ra khỏi giảng đường còn nhớ không? Thật tế chỉ cần buông ra một chút là quay trở về thói quen, tập khí, tánh tình, trừ những người nào có sự nhiệt tâm tinh cần, chánh niệm tỉnh giác cho nên Thế Tôn nói thật sự rất khó tu đối với những người buông lung, hạ liệt còn những vị bốn đôi tám vị thật sự là những vị đệ tử của Đức Phật, phải từ hướng Dự Lưu, Nhập Lưu, hướng Nhất Lai và Nhất Lai, hướng Bất Lai và Bất Lai, hướng A-la-hán và A-la-hán, tám quả vị này gọi là bốn đôi tám chúng hiền Thánh cũng gọi là đệ tử chính thức mà Đức Phật công nhận.
Nếu chưa có tâm hướng đến sự thoát ly khỏi năm uẩn, vẫn còn tham đắm, yêu thích, dính mắc, đam mê trong sắc; thọ; tưởng; hành; thức thì Thế Tôn chưa coi người này là đệ tử của ngài vì thế đệ tử của ngài phải là người có tâm thật sự hướng đến sự ly tham đối với năm thủ uẩn, có tâm hướng đến nhàm chán, từ bỏ và thoát ra khỏi năm uẩn, những vị đệ tử thấp nhất phải có tâm hướng đến như vậy, đó mới gọi là bậc Thánh đệ tử, khi đã đi vào bậc bốn đôi tám chúng thì mới được gọi là chúng Tăng.
Bây giờ cứ vào xuất gia rồi cạo tóc, đắp y rồi thì được gọi là đệ tử và có giới phẩm thì đó chỉ mới là danh từ, tên gọi thôi, còn cái thật chất bên trong là một trí tuệ nhìn thấy được tính chất vô thường, đau khổ, biến hoại, bất an, đầy nước mắt và máu của năm uẩn này, trong dòng sống chết đầy oan nghiệt và đau khổ này vị ấy nhàm chán, muốn từ bỏ, muốn thoát ra một cách mãnh liệt, tha thiết, nhiệt tâm, nóng bỏng để hướng đến điều đó hoặc là vị ấy đã xác quyết hoàn toàn thì từ đó trở lên mới tham dự vào bốn đôi tám chúng hiền Thánh của Đức Phật.
Những vị đó đáng được chắp tay, đáng được cúng dường, đáng được đảnh lễ, là ruộng phước vô thượng trên đời, vị ấy là ruộng phước vô thượng cho chư thiên và nhân loại, là những bậc tối thượng nhân, đây là những người không còn người nào khác cao hơn được nữa giữa lục đạo ngũ thú, những vị nào bước vào hàng bốn đôi tám chúng là những bậc tối thượng nhân vì hướng Dự Lưu và Nhập Lưu là chắc chắn những vị này sẽ đi đến sự đoạn tận các lậu hoặc và thành tựu Thánh quả tối cao cứu cánh phạm hạnh cho nên những vị này là thế gian chí bảo, nghĩa là báu vật của thế gian và xuất thế, là bậc thầy của chư thiên và nhân loại, những vị này ở đâu là đem lại lợi lạc rộng lớn, dài xa vô lượng cho chỗ đó.
Tâm của những vị này hướng ra khỏi ngũ uẩn còn tất cả phàm phu, chúng sanh dù có làm hình thức gì đi nữa, tu cái gì đi nữa mà không thấy năm uẩn, không thấy tính chất vô thường, khổ, vô ngã, bất an, biến hoại, đầy đau khổ của dòng sống chết này thì những vị này vẫn còn hữu ái, nghĩa là vẫn còn yêu thích sự hiện hữu trong năm uẩn, yêu thích sắc, yêu thích những hình dáng, hình tướng, hình thể của sắc, còn yêu thích sắc là còn yêu thích đau khổ. Vị này yêu thích những cảm giác, còn yêu thích cảm giác là còn yêu thích khổ đau.
Vị này còn yêu thích những hình bóng trong tâm, yêu thích những suy nghĩ là đồng nghĩa yêu thích đau khổ, yêu thích vô thường, yêu thích sự biến hoại, yêu thích sự sanh diệt, sanh tử luân hồi sống chết. Vị này yêu thích nhận thức, ham thích rõ biết trong sự si mê, trong tưởng tri, thức tri này, vọng tri, vọng giác, yêu thích cái biết để sanh ra tham, sân, si, bản ngã thì vị này yêu thích đau khổ, yêu thích phiền não. Đó là chỗ đặc thù, khác biệt, bất cộng pháp, không chung cùng giữa Đa văn Thánh đệ tử và vô văn phàm phu, duy nhất chỉ có bậc Chánh Đẳng Chánh Giác xuất thế xuất hiện mới nói ra được Thánh pháp này thôi, ngoài ra không thể có người thứ hai nói được, như vậy mới gọi là bậc vô thượng Chánh Đẳng Chánh Giác.
"Vị ấy tự nghĩ: 'Ðến giai đoạn này, đối với Ta, có sự từ bỏ, có sự diệt trừ, có sự giải thoát, có sự đoạn trừ, có sự xả ly', và chứng được nghĩa tín thọ, chứng được pháp tín thọ, chứng được hân hoan liên hệ đến pháp; từ hân hoan, hỷ sanh; từ hỷ, thân khinh an; thân khinh an, cảm giác được lạc thọ; với lạc thọ, tâm được Thiền định". (Trung Bộ Kinh, 7. Kinh Ví dụ tấm vải)
Hôm nay chúng ta tìm hiểu được hai phần. Thứ nhất là cấu nhiễm của tâm và con đường để tẩy sạch cấu nhiễm, thứ hai là khi thấy được cấu nhiễm của tâm, khi biết cách tẩy rửa thì vị này thành tựu tịnh tín bất động đối với tam bảo, viên mãn pháp quy y và vị này dự vào bốn đôi tám chúng hiền Thánh.
Kính chúc cho quý Tăng Ni sinh qua bài kinh này hãy để tâm thật nhiều vào sự thanh lọc cấu nhiễm của tâm và có được những bước tiến bộ vững chắc, tịnh tín bất động đối với tam bảo.
./.
Cấu Nhiễm Của Tâm & Cách Thanh Lọc
Kinh Ví Dụ Tấm Vải 1 - Trung Bộ I
Thích Minh Thành
MỤC LỤC
TOC \o "1-3" \h \z \u I. Yếu chỉ tu hành PAGEREF _Toc174197039 \h 1
II. Cấu uế nội tâm PAGEREF _Toc174197040 \h 2
III. Thành tựu lòng tin PAGEREF _Toc174197041 \h 9
I. Yếu chỉ tu hành
Hôm nay chúng ta học bài kinh số bảy nằm trong Trung Bộ, tập I có tên là kinh Ví dụ tấm vải. Xin thưa đại chúng là toàn bộ đạo lộ hay quá trình pháp hành của kinh tạng Nikāya không có gì khác hơn là thanh lọc cấu nhiễm của nội tâm, đây là tổng cương lĩnh của đại tạng kinh Nikāya, đó là sự thanh lọc các cấu nhiễm, rác bẩn trong tâm của chúng ta cho nên khi nắm vững được tông chỉ, cương lĩnh thì học vào kinh sẽ không thấy bất ngờ.
Thường thì trong bản kinh Đức Thế Tôn và các vị Thánh chúng nói rất nhiều về những ô nhiễm, cấu uế, rác bẩn của thân tâm chính mình và chúng sanh. Mình muốn thanh lọc, quét dọn, lau chùi, tẩy rửa tâm cấu uế này thì bước đầu tiên phải thường nhìn lại thì mới thấy chân tướng nội tâm. Những cái thấy xác thực, chính xác, thấy đúng về nội tâm chính là chánh tri kiến, vì thế bài kinh Ví dụ tấm vải này phơi bày, trình bày những cấu nhiễm của nội tâm, vạch trần, nêu rõ những pháp, những cảm thọ, những trạng thái, hành tướng của nội tâm chúng ta. Trong bài này có rất nhiều từ diễn tả sự cấu uế của nội tâm.
Chính vì sự quay lại nhìn thân thể, nhìn cảm giác, nhìn những hình bóng, cảm giác, nhận thức, suy nghĩ mà danh từ chuyên môn là nhận diện năm uẩn thì chúng ta mới phát giác, phát hiện trong tâm chúng ta lại có nhiều pháp cấu nhiễm như thế. Khi thấy như vậy thì mắt pháp bắt đầu mở, mắt tuệ bắt đầu được khai, đạo nhãn của mình bắt đầu được minh kiến, còn nếu tu mà cứ thấy mình hay, mình giỏi, mình tài, mình hơn thì đó chỉ là cái thấy của phàm phu, chưa thành tựu được chánh kiến.
Chúng ta cần nhớ kĩ cương lĩnh, yếu chỉ này thì học kinh rất dễ, không thấy lạ so với khi học những cách thức khác chỉ nói về những cái hay, cái tốt, kinh tạng Nikāya là những lời dạy gốc của Đức Phật, trong đây phơi bày chân tướng của các pháp, mà các pháp này chính là thân tâm chúng ta. Bài kinh này tuy rằng ngắn nhưng có rất nhiều vấn đề cốt lõi trong sự hành trì nên chúng ta cần học kĩ, trong đây vừa nói lên các phiền não, lậu hoặc vừa nói lên sự tịnh tín bất động, vừa nói lên cách thức để thanh lọc, vệ sinh, quét dọn, tẩy rửa nội tâm, nói lên những diệu đức, diệu hạnh, diệu trí tuệ của tam bảo.
II. Cấu uế nội tâm
Bài kinh này không có ai hỏi mà Đức Phật tự nói cho nên gọi là vô vấn tự thuyết.
"Như vầy tôi nghe.
Một thời Thế Tôn ở Savatthi (Xá-vệ), tại Jetavana (Kỳ-đà Lâm), vườn ông Anathapindika (Cấp Cô Ðộc). Lúc bấy giờ Thế Tôn gọi các Tỳ-kheo: 'Này các Tỳ-kheo'. –'Bạch Thế Tôn', các vị Tỳ-kheo ấy vâng đáp Thế Tôn. Thế Tôn nói như sau:
-- Này các Tỳ-kheo, như một tấm vải cấu uế, nhiễm bụi, một người thợ nhuộm nhúng tấm vải ấy vào thuốc nhuộm này hay thuốc nhuộm khác - hoặc xanh, hoặc vàng, hoặc đỏ, hoặc tía - vải ấy sẽ được màu nhuộm không tốt đẹp, sẽ được màu nhuộm không sạch sẽ. Vì sao vậy? Này các Tỳ-kheo, vì tấm vải không được trong sạch. Cũng vậy, này các Tỳ-kheo, cõi ác chờ đợi một tâm cấu uế.
Này các Tỳ-kheo, như một tấm vải thanh tịnh, trong sạch, một người thợ nhuộm nhúng tấm vải ấy vào thuốc nhuộm này hay thuốc nhuộm khác - hoặc xanh, hoặc vàng, hoặc đỏ, hoặc tía, vải ấy sẽ được màu nhuộm tốt đẹp, sẽ được màu nhuộm sạch sẽ. Vì sao vậy? Này các Tỳ-kheo, vì tấm vải được trong sạch. Cũng vậy, này các Tỳ-kheo, cõi thiện chờ đợi một tâm không cấu uế".
(Trung Bộ Kinh, 7. Kinh Ví dụ tấm vải)
Phần trên là Đức Phật nêu ví dụ, ở dưới là Đức Phật nói pháp. Cõi ác tức là địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh sẽ chờ đợi một tâm uế nhiễm, cấu nhiễm. Cõi thiện chính là nhân thiên, đó là cõi người có đầy đủ phước báo hoặc là Tứ Đại Thiên Vương, Tam Thập Tam Thiên, Dạ-ma Thiên, Đâu-suất Thiên, Hóa Lạc Thiên, Tha Hóa Tự Tại Thiên hoặc là lên tận Tịnh Cư Thiên của các bậc Thánh đệ tử thiên, cõi thiện này chờ đợi một cái tâm trong sạch không cấu uế.
Đức Thế Tôn dùng từ rất bình dị tâm cấu uế và tâm không cấu uế chứ ngài không nói cái gì lớn lao, hoa mỹ. Ngài chỉ nói về tâm dơ và tâm sạch, tâm dơ thì cõi ác chờ đợi, tâm sạch thì cõi thiện đợi chờ. Sau đây ngài nói về pháp:
"Và này các Tỳ-kheo, thế nào là những cấu uế của tâm? Tham dục, tà tham là cấu uế của tâm, sân là cấu uế của tâm, phẫn là cấu uế của tâm, hận là cấu uế của tâm, hư ngụy, não hại, tật đố, xan tham, man trá, khi cuống, ngoan cố, cấp tháo, quá mạn, kiêu, phóng dật là cấu uế của tâm".
(Trung Bộ Kinh, 7. Kinh Ví dụ tấm vải)
Phẫn nghĩa là phẫn nộ, là sự tức giận. Hư ngụy là giả dối, không thành thật. Não hại là những ý nghĩ, ngôn ngữ, hành vi muốn làm hại người khác, những ý nghĩ muốn hại người khác là một sự dơ bẩn của tâm. Tật đố là sự ganh tỵ, đố kỵ, thấy người ta được khen, được cúng dường, được nổi tiếng, thấy người ta tài giỏi, thành công thì trong tâm ganh ghét, không muốn nhìn, không muốn thấy, đó là sự dơ bẩn của tâm. Xan là keo kiệt, bủn xỉn, tham là tham lam, tham muốn. Man trá tức là dối trá một cách gian xảo, man trá đồng nghĩa với gian trá, gian xảo, giảo hoạt, xảo trá. Khi cuống cũng là dối nhưng là dối lừa, lừa bịp. Ngoan cố nghĩa nặng là cứng đầu cứng cổ, cố chấp, khó dạy, khó bảo, khó nói, ương ngạnh, có lỗi được các bậc trưởng thượng chỉ lỗi thì không nhận lỗi, thậm chí quay lại phản kháng, chống cự thì đó là ngoan cố, mình có bản ngã, sân hận, cố chấp, cứng cỏi, ngược lại với từ này là nhu nhuyến, đó là một tâm mềm mại dễ sử dụng, đó là tâm có tu tập, còn tâm ngoan cố là tâm không có tu tập.
Ngày xưa chưa đi sâu vào trong kinh Nikāya Minh Thành không thích đọc những cái này, tự thấy bản thân không có những thứ này mà sao trong kinh lại nói xấu dữ vậy. Nhưng bây giờ lại thấy hay vô cùng, nó thấm trong xương tủy, khi nhận diện ngũ uẩn, khi thực hành Tứ Niệm Xứ, khi nhìn lại từng ý nghĩ, suy tư, cảm thọ, từng hình bóng trong tâm thì những từ này chỉ mới là một phần ngàn so với tâm thôi. Những thứ này ở trong từng suy nghĩ, ở trong những hình bóng, nhận thức, cảm xúc của mình, vậy mà mình không thấy không biết, mình đáng thương vô cùng cho nên Đức Phật mới gọi mình là vô minh, nghĩa là không có sự sáng suốt để nhìn thấy chân tướng của nội tâm, hành tướng của nội tâm, không thấy được các hành, tức là những sự vận hành trong tâm đều không thấy.
Cấp tháo là gấp gáp, thô tháo, vội vàng, hấp tấp. Cấp giống như cấp cứu, nghĩa là gấp, tháo cũng là vội, là sự tháo động, lúc nào cũng tỏ ra nhanh, vội vàng, ăn cũng nhanh, đi cũng nhanh, thấy ai chậm chạp là khó chịu, thấy ai nói chậm là trong lòng cũng nóng lên cho nên cấp tháo là một sự cấu uế, cấu nhiễm của tâm. Quá mạn là một sự ta đây, bằng người ta nhưng lại nói hơn người ta. Kiêu nghĩa là kiêu mạn, kiêu căng, kiêu ngạo. Mỗi một từ như vậy được Đức Phật lập lại liên tục để mình nhớ, phóng dật là một sự buông lung thả lỏng các căn, không thu thúc, không bảo vệ, không gìn giữ, không thu nhiếp mà buông lơi, buông thả, buông trôi khi sáu căn tiếp xúc sáu trần, từ trong kinh gọi là "thả lỏng các căn". Tất cả những thứ đó đều là cấu uế của tâm.
Bước đầu tiên lúc nào cũng phải nhận diện ngũ uẩn, tức là nhìn nhận những cảm thọ, hình bóng, suy nghĩ trong tâm, chỉ có nhìn nhận thường xuyên mới phát hiện ra những thứ này, còn không nhìn nhận thì dù có học cũng chỉ là đọc trên từ ngữ. Khi nhận diện ngũ uẩn thì đây là thực pháp, nó đang hiện hữu thực tại, đang có mặt, đang vận hành trong tâm, trong cảm thọ, suy tư, nghĩ tưởng của chúng ta. Chúng ta nhận diện nó bằng những buổi thiền tập, bằng sự để ý vào bên trong thọ; tưởng; hành, sau đó Thế Tôn nói tiếp:
"Này các Tỳ-kheo, Tỳ-kheo nào nghĩ rằng: 'Tham dục, tà tham là cấu uế của tâm' và sau khi biết vậy, vị ấy đoạn trừ tham dục, tà tham cấu uế của tâm."
(Trung Bộ Kinh, 7. Kinh Ví dụ tấm vải)
Bước nhận diện ngũ uẩn trong kinh không nói vì tất cả chư Thánh đệ tử, chư vị Tỳ-kheo ngày xưa ai cũng phải làm. Bước đầu tiên là nhận diện năm uẩn tức là nhìn lại nội tâm, đây là bước quyết định, đó là lý do tại sao chúng ta thường xuyên được nhắc phải nhận diện ngũ uẩn vì không nhận diện là không thấy gì cả vì đang hướng ngoại, khi đã hướng ngoại thì năm dục trưởng dưỡng sẽ lôi kéo làm mình không thấy được nội tâm. Bước thứ hai là thấy được những cấu uế của tâm. Bước thứ ba sau khi thấy được thì phải tác ý "đó là sự dơ bẩn, rác bẩn, cấu nhiễm là ác, là bất thiện pháp. Đó là thứ cần chùi rửa, cần vệ sinh, cần tẩy sạch".
Nhiều khi được hướng dẫn khi thấy có tham thì biết có tham, thấy có sân thì biết có sân rồi tự nó diệt là chưa đủ mà cần phải tác ý đánh đuổi nó, những bậc nào nhìn thấy rồi nó tự tan biến là những bậc điêu luyện, thuần thục trong thiền định, thiền tuệ, các lậu hoặc của các ngài đã cạn rồi thì chỉ cần thấy là tự động nó tan biến, cũng như những người hợp ý nhau chỉ cần nhìn là hiểu ý ngay, còn không biết gì thì nhìn cũng như không. Cũng vậy, người này đã hiểu được tâm mình một cách thiện xảo, nhuần nhuyễn, khéo léo cho nên chỉ cần nhìn thấy là lậu hoặc tự tan biến, còn mình thì cái sân nổi lên là quật ngã mình, những sự buông lung phóng dật sanh khởi lên là cuốn trôi mình đi.
Chúng ta phải nhớ mình đang ở đâu để học không bị lẫn lộn thứ tự, không đốt cháy giai đoạn, bước cầu thang mà sải chân lên tận năm bậc thì vô cùng hiểm nguy cho nên sự tu của chúng ta không được thành công hoặc là thành công nhưng không đúng với Thánh đạo, Thánh quả là do không đi đúng theo trình tự đạo lộ mà Đức Thế Tôn đã chỉ dạy cho nên sau khi thấy biết các lậc hoặc, cấu uế của tâm thì phải tác ý đoạn tận.
Dục là có cảm giác thúc giục trong cảm thọ, ví dụ đang học mà trong tâm có sự thúc giục đi uống nước hoặc là đang ở trong lớp học mà có sự thúc giục mở chai nước uống, đó là mình không thấy được sự thúc giục đó vì đó là giờ tập trung tâm ý lắng tai nghe pháp, khi có sự thúc giục sanh khởi thì phải nhận diện được nó, đó chính là nhận diện cảm thọ, quán thọ trên các thọ. Đang ngồi thiền mà có sự thúc giục đi nghỉ hoặc là ngủ vì mệt mỏi, đau nhức, nếu ngồi thiền ngay trên gường là nằm xuống gọn gàng luôn.
Tham là một sự ham muốn, thường thì ham muốn đối với sắc; thanh; hương; vị; xúc. Khi có sự ham muốn đối với món đồ, cảnh sắc hoặc một con người hoặc là tiếng nhạc, âm thanh nào đó, hoặc là mùi vị, món ngon nào đó hoặc là một sự tiếp xúc nào đó thì mình phải thấy phải biết và phải xem ham muốn đó là thiện hay bất thiện. Nếu thấy nó là bất thiện, là dơ bẩn, cấu nhiễm thì phải tác ý đoạn trừ nó, không làm theo ý muốn, sự thúc giục của nó.
Mình có đồng hồ đeo tay xem giờ là được rồi nhưng lại thấy bạn có đồng hồ đẹp hơn vậy là hình bóng của đồng hồ đó chập chờn trong tâm, có suy nghĩ "nếu có đồng hồ đó đeo vào sẽ đẹp hơn", có cảm giác thích thú thì phải nhìn ra đó là cấu uế của tâm nên không đi theo ý nghĩ đó, tác ý trừ diệt nó "mình đã đi tu rồi, mái tóc còn bỏ, cha mẹ còn bỏ, lục thân quyến thuộc còn bỏ vậy mà có cái đồng hồ bỏ không được hay sao", tác ý như vậy để trừ diệt suy tưởng đó. Như vậy mới gọi là nhìn lại để thấy nội tâm có cấu uế rồi tác ý để đoạn trừ cho đến khi nào loại bỏ hoàn toàn ý nghĩ ham muốn về đồng hồ đó hay món đồ, đối tượng nào đó, cần tác động tâm ý liên tục để từ bỏ suy nghĩ đó.
"Nghĩ rằng: 'Sân là cấu uế của tâm', và sau khi biết vậy, vị ấy đoạn trừ sân, cấu uế của tâm; phẫn... hận... hư ngụy... não hại, tật đố, xan tham, man trá, khi cuống... ngoan cố... cấp tháo... mạn... quá mạn... kiêu; nghĩ rằng: 'Phóng dật là cấu uế của tâm' thì sau khi biết vậy, vị ấy đoạn trừ phóng dật, cấu uế của tâm". (Trung Bộ Kinh, 7. Kinh Ví dụ tấm vải)
Khi nhìn lại tâm thấy có một cảm giác khó chịu, bực bội, giận hờn thì mình phải tác ý "đây là vết nhơ của tâm, đây là vết bẩn của tâm, đây là cấu uế của tâm. Cái này cần phải từ bỏ, cái này cần phải tẩy sạch, chấm dứt, đoạn tận". Cảm thọ sân hận này làm dơ tâm giống như tấm vải bị nhuộm màu thì tấm vải sẽ không đẹp, mỗi một cảm thọ, mỗi một suy nghĩ, hình bóng sanh khởi lên mình phải nhìn nhận, thấy rõ, tác động tâm ý đánh đuổi, nhiếp phục, đoạn tận và trừ diệt.
Ví dụ sanh khởi lên suy nghĩ muốn làm cho người ta khổ (não hại), muốn nói một câu nào đó cho hả giận, mình phải thấy ý nghĩ này là cấu uế của tâm, ý nghĩ này là thấp hèn, hèn hạ, hạ liệt, là phàm phu, khi mình mang hình tướng người tu đầu tròn, áo vuông, đắp y mà giờ mình lại có ý nghĩ muốn làm người ta đau đớn, khổ sở thì ý nghĩ này không phù hợp, cần diệt tận, trừ sạch, không để cho nó tồn tại trong tâm.
"Ðến giai đoạn này, đối với vị ấy có sự từ bỏ, có sự diệt trừ, có sự giải thoát, có sự đoạn trừ, có sự xả ly". (Trung Bộ Kinh, 7. Kinh Ví dụ tấm vải)
Mỗi một pháp sanh khởi lên thì mình phải có sự thấy biết và có sự tác động tâm ý đánh đuổi chứ không để yên được. Nếu sanh khởi lên sự nịnh hót, giả dối hay sanh khởi ra cảm thọ gấp gáp, vội vàng, thô tháo thì phải được cảm thọ này, đánh mất oai nghi, không điềm tĩnh, không có phong thái của người xuất gia thì phải tác ý "cảm thọ này lắng dịu, dịu xuống đi".
Mẹ nhớ niệm thầm trong tự tâm.
Niệm 'Bỏ hết đi, cảnh vô thường!'
Niệm 'Tâm lặng yên, tâm dễ chịu!'
Niệm 'Ngũ uẩn này, không phải ta'
Đây là những câu tác ý mà mình thường đọc để nhắc nhở bản thân, phải niệm những cảm thọ hơn thua, những cảm giác vội vã, những tâm ý cứng cỏi, ương ngạnh này không phải mình, không phải của mình, nó là pháp duyên sanh. Mình tác ý như vậy để từ bỏ cảm thọ này hoặc lạy sám hối tự tâm "con thấy mình thật là xấu hổ, con thấy cảm giác hơn thua, ta, tôi này thật dơ bẩn, con thấy cảm giác ngã mạn này thật nhục nhã, con thật lo lắng và sợ hãi với cảm giác kiêu mạn này. Con thật là buồn khổ vì sự cấu nhiễm này, con thấy đau lòng, xấu hổ với sự kiêu căng này, với sự hơn thua với các bậc đồng phạm hạnh, với huynh đệ, tỉ muội. Con thật là đáng hổ thẹn, thật là tủi nhục cho con, thật là xót xa cho con khi đã đi tu mà vẫn còn chất chứa những tâm niệm cấu bẩn, cấu uế, cấu nhiễm", sau đó lạy xuống nguyện từ bỏ tâm niệm này, nguyện diệt trừ cảm thọ này, nguyện thoát ra khỏi những ý niệm này, nguyện đoạn trừ, dứt bỏ những cảm giác này.
"Tại sao lại sanh khởi lên một cảm giác tham muốn, dục vọng như vầy? Con thấy thật là ghê sợ, thật là ghê tởm, thật là xấu hổ, nhục nhã và tàm quý. Nhìn lên hình tướng Đức Thế Tôn con thấy xấu hổ quá, hèn hạ quá, hạ liệt quá, con thấy mình tồi bại quá. Con thương cảm cho con, xót xa cho con. Con xin quỳ lạy Đức Thế Tôn, nguyện cho con xả bỏ những nghĩ tưởng này, những cảm giác tham dục, ái dục, dâm dục này".
Tác ý như vậy rồi quỳ lạy trong sự ràng rụa nước mắt, trong sự kinh cảm, chấn động vì xót thương, đó là sự tác ý để đoạn trừ, tác động tâm ý đúng như chân lý để từ bỏ những cấu uế, những cấu nhiễm, những ác và bất thiện pháp trong tâm ta. Khi đã nhìn thấy những thứ này thì cứ tác ý thường xuyên như vậy sẽ giảm được cấu nhiễm, cấu uế, từ từ sẽ đi đến sự trong sạch, thanh tịnh. Còn tu mà không nhận diện ngũ uẩn, không nhìn lại thân tâm, không soi rọi từng cảm thọ, từng suy nghĩ, tư tưởng, cứ hướng ra ngoài làm cái này làm cái kia, muốn hơn người khác, ai chạm vào thì sân si thì đó là tâm của người đời, không phải tâm của bậc Thánh đệ tử, không phải tâm của người tu.
Người tu là lúc nào cũng quay lại soi rọi chính mình, sau khi soi rọi sẽ thấy cấu nhiễm, sau khi thấy cấu nhiễm thì dùng sự tác động tâm ý, quán chiếu, tư duy để từ bỏ, thoát ra, xả ly, đó chính là pháp hành, là phương pháp thực hành về những lời dạy nguyên thủy, cội gốc của Đức Phật, ngài không khuyến khích mình hướng ngoại rồi làm phô trương, rình rang bên ngoài, đó chỉ là những thiện pháp giúp cho mọi người là phần phụ, còn chuyện quan trọng, chính yếu là quay trở lại tẩy rửa, thanh lọc cấu nhiễm thân tâm chúng ta. Nếu cái này chúng ta không làm thì sự nghiệp đời tu của chúng ta là con số 0, thậm chí là âm rất nhiều cho nên chúng ta cần đọc kĩ bài kinh này nhiều lần, vừa đọc bài kinh vừa nhìn vào tâm, kiểm tra, nội soi, quán sát, tư sát trong tâm để xem có cấu uế không. Thế Tôn không nói thừa hay thiếu một chữ nào cả, có thì ngài mới nói, chúng ta thì cứ lầm tưởng ngài nói cho người khác chứ không phải mình nhưng những cái này là các pháp vận hành trong ngũ uẩn.
III. Thành tựu lòng tin
Đó là phần thứ nhất, những cấu uế của tâm, sau đây chúng ta đi qua phần thứ hai là sau khi thấy được cấu uế của tâm và tác ý đoạn trừ thì vị này sẽ đạt được gì.
"Vị ấy tự nghĩ: 'Ta thành tựu lòng tin tuyệt đối đối với Thế Tôn', và chứng được nghĩa tín thọ, chứng được pháp tín thọ, chứng được hân hoan liên hệ đến pháp; từ hân hoan, hỷ sanh; từ hỷ, thân được khinh an; thân khinh an, cảm giác được lạc thọ; với lạc thọ, tâm được Thiền định". (Trung Bộ Kinh, 7. Kinh Ví dụ tấm vải)
Một người đã thấy biết ngũ uẩn, thấy biết chân xác về những cấu nhiễm của nội tâm thì người đó sẽ thành tựu tịnh tín bất động đối với Phật. Vì đến để thấy chứ không phải chỉ để nghe, chỉ để tin, người này thấy bằng con mắt tâm chính mình trong tự thân cho nên người này có được lòng tin không bao giờ lay chuyển. Thế Tôn dùng hình ảnh cột trụ vững chắc chôn sâu rất kiên định, bất động, hình ảnh thứ hai là bông gòn ở ngã tư, ngã tư gió thổi bay tứ tung đại diện cho người chỉ nghe rồi tin suông thì người đó gặp cái gì là liền bị dao động, bị lung lay, còn người này đến để thấy được nội tâm chính mình, thấy cảm giác, nghĩ tưởng, suy tư, thấy rác bẩn, cấu uế, ô nhiễm trong tâm nên người này thành tựu lòng tin tuyệt đối với Đức Phật.
"Tỳ-kheo ấy thành tựu lòng tin tuyệt đối đối với Phật: Ngài là bậc Thế Tôn, A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Ðiều Ngự Trượng Phu, Vô Thượng Sĩ, Thiên Nhân Sư, Phật, Thế Tôn.
Vị ấy thành tựu lòng tin tuyệt đối đối với Pháp: Pháp được Thế Tôn khéo thuyết giảng, thiết thực hiện tại, không có thời gian, đến để mà thấy, có khả năng hướng thượng, được người có trí chứng hiểu.
Vị ấy thành tựu lòng tin tuyệt đối đối với chúng Tăng: Diệu hạnh là chúng Tăng, đệ tử Thế Tôn; Trực hạnh là chúng Tăng, đệ tử Thế Tôn; Như lý hạnh là chúng Tăng, đệ tử Thế Tôn; Chánh hạnh là chúng Tăng, đệ tử Thế Tôn. Tức là bốn đôi tám vị. Chúng Tăng, đệ tử Thế Tôn, đáng được cung kính, đáng được tôn trọng, đáng được cúng dường, đáng được chắp tay, là phước điền vô thượng ở đời"
(Trung Bộ Kinh, 7. Kinh Ví dụ tấm vải)
Sau khi vị ấy thấy cấu nhiễm của tâm mình và có sự tác ý đoạn trừ thì vị ấy thành tựu lòng tin bất động với Phật, Pháp, Tăng. Đi đến đây mới viên mãn ba pháp quy y, Minh Thành mời quý vị đọc thêm phần đảnh lễ trí đức Như Lai trong quyển Nghi thức tu học Nikāya sẽ giải thích mười đức hiệu của ngài.
Thế Tôn là bậc được thế gian tôn kính. A-la-hán là bậc diệt tận tham, sân, si, không còn sanh tử luân hồi. Bậc Chánh Đẳng Chánh Giác là tự mình giác ngộ, thấy biết tột cùng tất cả sự thật thân tâm ngũ uẩn và thế giới, thấy tất cả góc độ, khía cạnh, phương diện về ngũ uẩn. Bậc Chánh Đẳng Giác là sự thấy biết chân chánh mọi khía cạnh, góc độ của ngũ uẩn. Minh Hạnh Túc là ngài chứng được đầy đủ tam minh. Thiện Thệ là ngài khéo vượt qua bốn bộc lưu: Dục bộc lưu, kiến bộc lưu, vô minh bộc lưu và hữu bộc lưu. Thế Gian Giải là ngài hiểu rõ, thông giải các pháp thế gian. Điều Ngự Trượng Phu là điều phục và chế ngự các bậc trượng phu ở trên đời. Vô Thượng Sĩ là thầy của trời và người, không còn ai hơn được nữa. Phật là sanh ra ở trong đời, lớn lên ở trong đời nhưng không bị đời làm ô nhiễm mà vượt ra khỏi đời, giống như hoa sen sanh ra trong nước bùn, lớn lên trong nước bùn nhưng vượt lên khỏi bùn, không bị bùn làm ô nhiễm. Như vậy vị này thành tựu lòng tin tuyệt đối với Đức Thế Tôn, thành tựu lòng tin tuyệt đối với Pháp và đối với Tăng.
Tại sao vị này thành tựu lòng tin tuyệt đối với Pháp? Vì chính người này thấy pháp bằng con mắt tâm của mình, người này thấy được ngũ uẩn, thấy được sắc; thọ; tưởng; hành; thức tập khởi và đoạn diệt, thấy được nguyên lý sanh diệt của năm thủ uẩn, tại sao nó sanh, tại sao nó diệt và nó tồn tại là do vô minh và tham ái, nó diệt tận khi nào hết vô minh và hết tham ái, con đường đưa đến sự chấm dứt nó là Bát Thánh Đạo, thấy một cách rõ ràng sự hình thành, an trú, tan hoại và chấm dứt của thân tâm, vũ trụ, thế giới, không còn nghi ngờ bất cứ một điểm nào hết, thấy bằng con mắt tâm, con mắt trí, con mắt đạo, con mắt pháp cho nên vị này thành tựu lòng tin tuyệt đối với pháp.
Thiết thực, hiện tại nghĩa là nhìn lại cảm thọ sẽ thấy mọi thứ, sướng là thấy có tham, bực mình là thấy có sân, đơ đơ là nhìn thấy có si, chạm vào là lồng lộn, sừng sộ lên, phẫn nộ lên. Đó nghĩa là đến để mà thấy, đến ở đây không phải là qua bờ bên kia, chèo xuồng qua hay bay qua mà là đến thân tâm, quay trở về thân tâm, đến là quay trở về nhận diện ngũ uẩn, đến là nhiếp phục tự thân, đến là chế ngự và đoạn tận tham, sân, si, vô minh, bản ngã, đến là nhìn lại, thấy được và tác ý đoạn trừ để đi đến chỗ diệt tận các cấu nhiễm.
Đó là thiết thực hiện tại, khi đã nhìn thấy tham, sân, si, nhìn thấy vô minh , bản ngã và mình chế ngự, nhiếp phục thì cái đó sẽ đưa mình càng ngày càng đi lên, càng vượt lên nên pháp này có khả năng hướng thượng, vì thế trong kinh thường dùng từ "thượng nhân pháp", đây là pháp của bậc thượng nhân. Thượng nhân nghĩa là người trên mà người trên ở đây là bốn đôi tám chúng hiền Thánh, Đức Thế Tôn gọi là người trên, pháp của Đức Thế Tôn gọi là thượng nhân pháp, còn vô văn phàm phu là người dưới, là hạ nhân, suốt ngày chỉ lo tham, sân, si, tham dục, bản ngã, tranh đấu, thượng nhân là người từ bỏ những thứ đó, diệt trừ, giải thoát, xả ly, thoát ra. Những cái này là phương pháp, cách thức, con đường đạo lộ, trình tự, nấc thang thì gọi là pháp của bậc thượng nhân.
Chỉ cần nhìn lại là mình biết mình thuộc về bậc thượng nhân hay hạ nhân ngay. Thấy tâm còn chạy theo dục, ái tham thì tác ý "cái đồ hạ nhân, cái đồ hèn hạ, cái đồ hạ liệt, thấp kém", khi nào thấy tâm còn hơn thua, kiêu căng, sân hận thì tác ý "mày là đồ thấp kém, tồi bại". Còn lúc nào thấy tâm từ bỏ dục, ái, tham, sân, si, bản ngã thì "ta đang đi trên con đường của thượng nhân", khi nào tâm nhàm chán những sự hơn thua, tranh đấu, những sự sân si, ta đây, ê chề, não nề, chán chê thì "mình đang đi trên con đường của thượng nhân".
Vì thế muốn đi trên con đường của thượng nhân hay hạ nhân đều do mình, suốt ngày cứ nhỏ mọn, nhỏ nhen, hơn thua từng chút một, ghim gút với nhau thì đó là hạ nhân, việc làm của kẻ ngu, tâm mình từ bỏ, vứt bỏ, quăng bỏ những thứ không đáng đó thì mình đang đi trên đạo lộ của bậc thượng nhân. Suốt ngày cứ nhìn ngó để bắt bẻ người ta, nói xấu người ta thì đó là hèn hạ, hạ liệt, thấp kém, tồi bại, ngu dại, thượng nhân là xả bỏ những thứ này.
Tà tham là những sự tham muốn tà bại, bất chánh. Phải từ bỏ những thứ đó, diệt tận, xả ly, đoạn trừ những thứ đó. Có chỗ ghi là "được người trí chứng hiểu" hoặc là "được người trí tự mình giác hiểu" nghĩa là pháp này được người trí tự mình nhận thức, tự mình giác biết thì người đó sẽ có lòng tin tuyệt đối với pháp. Diệu hạnh nghĩa là đức hạnh vi diệu, trực hạnh là đức hạnh chánh trực, Như lý Hạnh là đức hạnh đúng lý, lý là đạo lý, chân lý, giáo lý, Như lý hạnh là những hành động đúng với chân lý, đúng với Bát Chánh Đạo, Ứng lý hạnh cũng giống như vậy, Chánh hạnh là cái hạnh chân chánh, Diệu hạnh là nói những lời từ ái, hòa nhã, nhẹ nhàng.
Chỉ riêng phần Trực hạnh thôi đã là cả một vấn đề, nghĩa là khi mình đang giận mà người khác nói mình đang sân thì mình phải thành thực thừa nhận, đó chính là trực hạnh, còn mình đang giận mà người ta nói mình đang sân là mình cãi lại không có sân thì đó là không có trực hạnh. Mình cứ nghĩ là mình sống ngay thẳng nhưng thực ra trong tâm lại cong quẹo, vì mình không nhận diện năm uẩn cho nên mình không thấy sâu sắc, cái biết của mình là tưởng tri và thức tri chứ không phải tuệ tri. Tuệ tri là cái biết bằng trí tuệ khi nào mình nhận diện năm uẩn một cách thấu đáo thì lúc đó mới tuệ tri, còn chưa nhận diện được năm uẩn, chưa thấy được lậu hoặc thì mình chỉ biết bằng tưởng tri và thức tri.
Tưởng tri là biết trên tưởng tượng, suy tưởng, ảo tưởng, thức tri là biết trên nhận thức, kinh nghiệm, kiến thức theo thông thường, tuệ tri là sau khi thành tựu chánh kiến, thấy biết ngũ uẩn, thấy biết lậu hoặc, thấy được những sự tham dục, tà tham, phẫn nộ, não hại, ganh tỵ, đố kỵ, gian xảo, ngoan cố, kiêu mạn, quá mạn, buông lung phóng dật thì cái thấy đó bắt đầu khởi động cái thấy của bậc Thánh.
Mình cứ nghĩ Thánh là cái gì cao lớn, xa vời, nghe nói đến "đắc pháp nhãn tịnh" thì nghĩ rằng khủng khiếp lắm nhưng không phải vậy. Đắc pháp nhãn tịnh là thấy tâm cấu nhiễm của chính mình, thấy rõ ràng, chân xác, chính xác thì gọi là đắc pháp nhãn tịnh, con mắt tuệ được mở, con mắt pháp được mở, con mắt trí được sáng tỏ. Đó là hướng Dự Lưu cho đến Nhập Lưu Thánh quả mới thấy được nội tâm chính mình một cách chân thật, chính xác. Vì thế Trực hạnh có ý nghĩa rất sâu sắc, mỗi cái mình làm, mình nói đều chân thành, trung thực, chánh trực, thành thật thì mới là Thánh đệ tử, là đệ tử của Thế Tôn. Đa số chúng ta không tu sâu sắc, không quán chiếu kĩ lưỡng về Tứ Niệm Xứ, về nhận diện ngũ uẩn thì chúng ta sống trong giả dối rất nhiều mà mình không thấy được điều này, thậm chí có khi thấy, được người ta chỉ nhưng vì bản ngã nên mình khó chịu, giận hờn, sân lên.
Tu cái này rất thú vị vì mình sẽ đọc một cuốn kinh sống bằng con mắt tâm, mình thấy kinh Nikāya trong từng ý nghĩ, hình bóng, cảm thọ trong tâm, cái đó được gọi là đến để mà thấy. Mình thấy được cái dục vận hành ra sao, tan biến ra sao, ái cũng vậy, mình thấy bản ngã sanh khởi ra nổi loạn ra sao, mình đánh đuổi, tác ý, quán chiếu với nó. Người nào khi đi đến đó, thấy được như vậy, chiến đấu với cấu nhiễm, cấu uế như vậy thì người đó sẽ có lòng tin tuyệt đối với chánh pháp, một người nhìn thấy ngũ uẩn sâu sắc như vậy thì người này sẽ có lòng tin tịnh tín bất động đối với Phật, Pháp, Tăng. Muốn được như vậy chỉ có một cách duy nhất là thực tập nhận diện ngũ uẩn, mình phải xem lúc đang muốn hất mặt lên, ưỡn ngực ra có cảm giác ra sao, hình bóng trong tâm ra sao, suy nghĩ ra sao, sắc uẩn lúc đó ra sao, mình đều phải nhìn nhận, thấy biết được.
Từ cái thấy đúng mới có nghĩ đúng, làm đúng, sống đúng, siêng đúng, quán đúng, định đúng. Sự thực hành tương ứng, phù hợp với Bát Chánh Đạo đều nhờ cái thấy đúng dẫn dắt, từ thấy đúng mới có nghĩ đúng, nói đúng, làm đúng, sống đúng, siêng đúng và định đúng. Thấy đúng là thấy thân tâm, thế giới này chỉ là năm uẩn thôi, không có tôi và không có của tôi. Nghĩ đúng là nghĩ như thế nào để từ bỏ tham, sân, si, bản ngã. Nói đúng là nói như thế nào để không nói những lời làm khổ mình khổ người, làm hại mình hại người, không nói những lời gây chia rẽ, sân hận. Sống đúng và làm đúng, giữ gìn các giới mà mình đã thọ.
Bát Chánh Đạo trong Nikāya rất thâm sâu và rộng lớn, bao trùm khắp ba mươi bảy phẩm trợ đạo. Mới bước vào chánh kiến, thấy đúng về tự thân đã là bậc Nhập Lưu Tu-đà-hoàn, Chánh hạnh là đức hạnh chân chánh. Siêng là phải siêng đúng chứ không phải suốt ngày xây cái này, cất cái kia, làm cái nọ rồi bỏ tu, nghĩ rằng đó là chánh tinh tấn nhưng chưa phải vậy, chánh tinh tấn thật sự là quay lại nhìn vào nội tâm để thấy các cấu uế rồi tác ý diệt trừ, đoạn tận cho đến khi nào sạch hoàn toàn, không còn sót lại chút nào thì đó là chánh tinh tấn, siêng đúng việc.
Bổn phận, trách nhiệm của mình thì mình làm hết lòng nhưng trong khi làm vẫn nhìn lại nội tâm, vẫn tác ý tẩy rửa đoạn trừ các lậu hoặc thì đó là chánh tinh tấn, chứ không phải làm nhiều rồi để bản ngã sanh ra thì đó là sự thất bại, cái siêng năng đó là siêng năng hữu lậu, hữu vi, siêng năng ở trong dòng sống chết, không phải là cái siêng năng đưa đến bất tử.
Một vị đệ tử của Thế Tôn có đức hạnh vi diệu, chánh trực, với một đức hạnh như lý và chân chánh thì những vị này là bốn đôi tám vị. Bốn đức hạnh này đặt nền tảng trên chánh tri kiến, còn sự chân thật bình thường là của phàm phu không phải trong kinh đang nói đến, tất cả những cái này đều đặt nền tảng trên ngũ uẩn vô thường, khổ, vô ngã, không có tôi, của tôi rồi sau đó mới tu, cái tu đó mới là cái tu của bậc Thánh đệ tử, còn nếu không thấy ngũ uẩn, thấy có cái tôi đang tu, đang làm, đang nỗ lực tinh tấn thì đó không phải là Bát Thánh Đạo, không phải là đạo lộ của bậc Thánh, nếu đứng trên lập trường cái tôi này để suy tư, nghĩ ngợi, làm tất cả mọi thứ thì đều là của vô văn phàm phu.
Tinh thần của toàn bộ giáo pháp Nikāya đều đứng trên chánh tri kiến, nếu không có chánh tri kiến thì những cái khác đều là của phàm phu vì vậy cần nhận diện ngũ uẩn để biết đây là sắc, cảm giác là thọ, hình bóng trong tâm là tưởng, suy nghĩ là hành, nhận thức rõ biết là thức, cái này không phải là tôi, không phải của tôi, đây là năm nhóm, năm tổ hợp, năm thành phần. Khi thấy như vậy thì mình bắt đầu tu các hạnh khác nhưng phải nhắc để nhớ như vậy thường xuyên thì gọi là chánh niệm, còn quên đi chỉ thấy một cái tôi, một cái tưởng, một cái ta to lớn thì đó là mình đã lọt qua giới vực của phàm phu, vô minh, chấp ngã, thân kiến, không còn là Thánh đệ tử nữa.
Trong một ngày hai mươi bốn tiếng thì mình nhớ được mấy tiếng đây là năm tổ hợp, đây là năm thành phần? Khi ra khỏi thiền đường, ra khỏi giảng đường còn nhớ không? Thật tế chỉ cần buông ra một chút là quay trở về thói quen, tập khí, tánh tình, trừ những người nào có sự nhiệt tâm tinh cần, chánh niệm tỉnh giác cho nên Thế Tôn nói thật sự rất khó tu đối với những người buông lung, hạ liệt còn những vị bốn đôi tám vị thật sự là những vị đệ tử của Đức Phật, phải từ hướng Dự Lưu, Nhập Lưu, hướng Nhất Lai và Nhất Lai, hướng Bất Lai và Bất Lai, hướng A-la-hán và A-la-hán, tám quả vị này gọi là bốn đôi tám chúng hiền Thánh cũng gọi là đệ tử chính thức mà Đức Phật công nhận.
Nếu chưa có tâm hướng đến sự thoát ly khỏi năm uẩn, vẫn còn tham đắm, yêu thích, dính mắc, đam mê trong sắc; thọ; tưởng; hành; thức thì Thế Tôn chưa coi người này là đệ tử của ngài vì thế đệ tử của ngài phải là người có tâm thật sự hướng đến sự ly tham đối với năm thủ uẩn, có tâm hướng đến nhàm chán, từ bỏ và thoát ra khỏi năm uẩn, những vị đệ tử thấp nhất phải có tâm hướng đến như vậy, đó mới gọi là bậc Thánh đệ tử, khi đã đi vào bậc bốn đôi tám chúng thì mới được gọi là chúng Tăng.
Bây giờ cứ vào xuất gia rồi cạo tóc, đắp y rồi thì được gọi là đệ tử và có giới phẩm thì đó chỉ mới là danh từ, tên gọi thôi, còn cái thật chất bên trong là một trí tuệ nhìn thấy được tính chất vô thường, đau khổ, biến hoại, bất an, đầy nước mắt và máu của năm uẩn này, trong dòng sống chết đầy oan nghiệt và đau khổ này vị ấy nhàm chán, muốn từ bỏ, muốn thoát ra một cách mãnh liệt, tha thiết, nhiệt tâm, nóng bỏng để hướng đến điều đó hoặc là vị ấy đã xác quyết hoàn toàn thì từ đó trở lên mới tham dự vào bốn đôi tám chúng hiền Thánh của Đức Phật.
Những vị đó đáng được chắp tay, đáng được cúng dường, đáng được đảnh lễ, là ruộng phước vô thượng trên đời, vị ấy là ruộng phước vô thượng cho chư thiên và nhân loại, là những bậc tối thượng nhân, đây là những người không còn người nào khác cao hơn được nữa giữa lục đạo ngũ thú, những vị nào bước vào hàng bốn đôi tám chúng là những bậc tối thượng nhân vì hướng Dự Lưu và Nhập Lưu là chắc chắn những vị này sẽ đi đến sự đoạn tận các lậu hoặc và thành tựu Thánh quả tối cao cứu cánh phạm hạnh cho nên những vị này là thế gian chí bảo, nghĩa là báu vật của thế gian và xuất thế, là bậc thầy của chư thiên và nhân loại, những vị này ở đâu là đem lại lợi lạc rộng lớn, dài xa vô lượng cho chỗ đó.
Tâm của những vị này hướng ra khỏi ngũ uẩn còn tất cả phàm phu, chúng sanh dù có làm hình thức gì đi nữa, tu cái gì đi nữa mà không thấy năm uẩn, không thấy tính chất vô thường, khổ, vô ngã, bất an, biến hoại, đầy đau khổ của dòng sống chết này thì những vị này vẫn còn hữu ái, nghĩa là vẫn còn yêu thích sự hiện hữu trong năm uẩn, yêu thích sắc, yêu thích những hình dáng, hình tướng, hình thể của sắc, còn yêu thích sắc là còn yêu thích đau khổ. Vị này yêu thích những cảm giác, còn yêu thích cảm giác là còn yêu thích khổ đau.
Vị này còn yêu thích những hình bóng trong tâm, yêu thích những suy nghĩ là đồng nghĩa yêu thích đau khổ, yêu thích vô thường, yêu thích sự biến hoại, yêu thích sự sanh diệt, sanh tử luân hồi sống chết. Vị này yêu thích nhận thức, ham thích rõ biết trong sự si mê, trong tưởng tri, thức tri này, vọng tri, vọng giác, yêu thích cái biết để sanh ra tham, sân, si, bản ngã thì vị này yêu thích đau khổ, yêu thích phiền não. Đó là chỗ đặc thù, khác biệt, bất cộng pháp, không chung cùng giữa Đa văn Thánh đệ tử và vô văn phàm phu, duy nhất chỉ có bậc Chánh Đẳng Chánh Giác xuất thế xuất hiện mới nói ra được Thánh pháp này thôi, ngoài ra không thể có người thứ hai nói được, như vậy mới gọi là bậc vô thượng Chánh Đẳng Chánh Giác.
"Vị ấy tự nghĩ: 'Ðến giai đoạn này, đối với Ta, có sự từ bỏ, có sự diệt trừ, có sự giải thoát, có sự đoạn trừ, có sự xả ly', và chứng được nghĩa tín thọ, chứng được pháp tín thọ, chứng được hân hoan liên hệ đến pháp; từ hân hoan, hỷ sanh; từ hỷ, thân khinh an; thân khinh an, cảm giác được lạc thọ; với lạc thọ, tâm được Thiền định". (Trung Bộ Kinh, 7. Kinh Ví dụ tấm vải)
Hôm nay chúng ta tìm hiểu được hai phần. Thứ nhất là cấu nhiễm của tâm và con đường để tẩy sạch cấu nhiễm, thứ hai là khi thấy được cấu nhiễm của tâm, khi biết cách tẩy rửa thì vị này thành tựu tịnh tín bất động đối với tam bảo, viên mãn pháp quy y và vị này dự vào bốn đôi tám chúng hiền Thánh.
Kính chúc cho quý Tăng Ni sinh qua bài kinh này hãy để tâm thật nhiều vào sự thanh lọc cấu nhiễm của tâm và có được những bước tiến bộ vững chắc, tịnh tín bất động đối với tam bảo.
./.