Thư Viện Linh Quy
← Danh sách

Cùng Nhau Nhắc Nhở Xuất Gia 1 - Khó Nói Và Không Biết Sợ

2026-03-03 00:53:08
CÙNG NHAU NHẮC NHỞ XUẤT GIA 1

KHÓ NÓI VÀ KHÔNG BIẾT SỢ

-Thích Minh Thành-

Ngày đăng 29 tháng 10 năm 2018

Mục Lục

TOC \o "1-3" \h \z \u I. Chia sẻ cảm nhận về tăng đoàn thời nay: PAGEREF _Toc57623921 \h 1

II. Khoảng cách giữa ác và thiện pháp: PAGEREF _Toc57623922 \h 6

I. Chia sẻ cảm nhận về tăng đoàn thời nay:

Xin mời đại chúng phát biểu cảm nhận của mình khi xem đoạn clip vừa rồi.

A Di Đà Phật! Kính bạch thầy Giác Thọ cùng toàn thể đại chúng. Vừa qua con đã xem video clip này, với bản thân con, nếu thật sự nhìn thấy vào trong đó và quán chiếu thật sâu thì chúng ta phải ly tham được, còn nếu xem mà chỉ để vui cho biết thôi, mà không để tâm trong đó thì cũng giống như mổ bụng con heo con bò vậy thôi. Đó là cảm nhận khi con xem được. Chúng ta thật sự xem được quán chiếu này, cái thân này cũng do tứ đại hòa hợp mà thành, chúng ta hiểu được như vậy thì mình không còn tham nữa. Nếu không còn tham thì chỉ cần bước đó thôi thì ngay cả trời đất đạ, tu mới có an lạc được, sống phải có ký ức. Con phát biểu cảm nghĩ của con như vậy. A Di Đà Phật.

Trong Tương Ưng Bộ Kinh, chương Kassapa – Ngài Ca-Diếp, khi Minh Thành nhập thất và Minh Thành nghe đến đoạn này cảm thấy rất xót xa và cảm thấy rằng mình cần phải học tập và chia sẻ.

“1) Tại Ràajagaha, Veluvana.

2) Tôn giả Kassapa đi đến Thế Tôn...

3) Thế Tôn nói với Tôn giả Mahà Kassapa đang ngồi một bên:

- Này Kassapa, hãy giáo giới Tỷ-kheo! Này Kassapa, hãy nói pháp thoại cho các Tỷ-kheo! Này Kassapa, Ta hoặc Ông phải giáo giới các Tỷ-kheo! Ông hoặc Ta phải nói pháp thoại cho các Tỷ-kheo!

4) Bạch Thế Tôn, khó nói là chúng Tỷ-kheo hiện tại. Họ ở trong tình trạng khó nói với họ. Họ không kham nhẫn. Họ không kính trọng lời giáo giới Bạch Thế Tôn, ở đây, con thấy Tỷ-kheo Bhanda, đệ tử của Ananda, và Tỷ-kheo Abhinjika, đệ tử của Anuruddha, hai vị ấy nói với nhau: "Hãy đến, này Tỷ-kheo, ai sẽ nói nhiều hơn? Ai sẽ nói tốt đẹp hơn? Ai sẽ nói dài hơn?".

5) Rồi Thế Tôn gọi một Tỷ-kheo:

- Hãy đến, này Tỷ-kheo! Hãy nhân danh Ta nói với Tỷ-kheo Bhanda, đệ tử của Ananda, và Tỷ-kheo Abhinjika, đệ tử của Anuruddha: "Bậc Đạo Sư gọi chư Tôn giả ".

6) Thưa vâng, bạch Thế Tôn.

Tỷ-kheo ấy vâng đáp Thế Tôn, đi đến các Tỷ-kheo kia; sau khi đến, nói với họ:

- Bậc Đạo Sư gọi chư Tôn giả.

7) Thưa vâng, Hiền giả.

Các Tỷ-kheo kia vâng đáp Tỷ-kheo ấy, đi đến Thế Tôn; sau khi đến đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên.

8) Thế Tôn nói với các Tỷ-kheo ấy đang ngồi một bên:

- Có thật chăng, này các Tỷ-kheo, các Ông nói với nhau như sau: "Hãy đến, này Tỷ-kheo, ai là người sẽ nói nhiều hơn? Ai là người sẽ nói tốt đẹp hơn? Ai là người sẽ nói dài hơn."

- Thưa vâng, Bạch Thế Tôn.

9) Này các Tỷ-kheo, các Ông có biết là Ta đã thuyết pháp như vầy: "Hãy đến, này các Tỷ-kheo, hãy cùng nhau nói như sau: Hãy đến, này Tỷ-kheo, ai là người sẽ nói nhiều hơn? Ai là người sẽ nói tốt đẹp hơn? Ai là người sẽ nói dài hơn chăng?”

- Thưa không, bạch Thế Tôn.

10) Này các Tỷ-kheo, nếu các Ông được biết là Ta không có giảng như vậy, thời vì sao, này các Người ngu kia, do biết cái gì, thấy cái gì, các Ông đã xuất gia trong Pháp và Luật khéo giảng này, các Ông lại nói với nhau: "Hãy đến, này Tỷ-kheo, ai sẽ là người nói nhiều hơn? Ai sẽ là người nói tốt đẹp hơn? Ai sẽ là người nói dài hơn?" như vậy?

11) Rồi các Tỷ-kheo ấy cúi đầu đảnh lễ chân Thế Tôn và bạch Thế Tôn:

- Bạch Thế Tôn, chúng con đã phạm tội, ngu đần như vậy, si mê như vậy, bất thiện như vậy; vì rằng chúng con đã xuất gia trong Pháp và Luật khéo nói như vậy, chúng con lại nói với nhau: "Hãy đến, này Tỷ-kheo, ai sẽ là người nói nhiều hơn? Ai sẽ là người nói tốt đẹp hơn? Ai sẽ là người nói dài hơn?". Bạch Thế Tôn, mong Thế Tôn chấp nhận tội lỗi ấy của chúng con là tội lỗi, để chúng con ngăn ngừa trong tương lai.

12) Thật sự, này các Tỷ-kheo, các Ông đã phạm tội, ngu đần như vậy, si mê như vậy, bất thiện như vậy! Vì rằng các Ông đã xuất gia trong Pháp và Luật khéo nói này, các Ông đã nói với nhau: "Hãy đến, này Tỷ- kheo, ai sẽ là người nói nhiều hơn? Ai sẽ là người nói tốt đẹp hơn? Ai sẽ là người nói dài hơn?". Và vì rằng, này các Tỷ-kheo, các Ông đã thấy tội lỗi là tội lỗi, như pháp sám hối, chúng ta chấp nhận tội lỗi ấy cho các Ông!

13) Này các Tỷ-kheo, như vậy luật của bậc Thánh được tăng trưởng, khi nào có người sau khi thấy tội lỗi là tội lỗi, như pháp sám hối để ngăn ngừa trong tương lai!”

(Tương Ưng Bộ Kinh – Tập II. Thiên Nhân Duyên, Chương V. Tương Ưng Kassapa, Bài kinh Giáo Giới)

Khi Minh Thành trong thất, khi nghe bài kinh này Minh Thành cảm thấy rất xúc động, rưng nước mắt và bây giờ cũng giống vậy.

Chính bậc thủ lĩnh của tăng chúng thời Đức Phật – Ngài Maha Kassapa - Ngài còn than câu này thì huống chi thời ma pháp bây giờ. Chúng ta sẽ đọc nguyên câu văn:

“Bạch Thế Tôn, khó nói là chúng Tỷ-kheo hiện tại. Họ ở trong tình trạng khó nói với họ. Họ không kham nhẫn. Họ không kính trọng lời giáo giới”

Trong khi Đức Phật dạy người xuất gia chúng ta là dễ nói, kham nhẫn, lắng nghe thành đức hạnh, nết hạnh đẹp của người xuất gia. Người xuất gia phải là người lắng nghe, dễ nói, chịu khó và chấp nhận học pháp, có sự tôn trọng, cung kính với những bậc đáng kính, đó là đặc chất của người xuất gia. Bây giờ tìm rất khó, xin thưa các huynh đệ tìm rất là khó. Đây cũng là nỗi ưu tư khi Minh Thành đi thăm viếng các bậc Tôn Đức, các ngài đều có chung một nỗi niềm như vậy.

Thật sự trong cuộc đời xuất gia của Minh Thành chỉ mong có một người đệ tử nói pháp thôi, không mong nhiều vì giờ tìm không ra. Như bây giờ có mấy trăm người như vậy nhưng không có người thật, người chân tu thật học, tìm rất khó. Và mình chiêm nghiệm thì đau lòng lắm, thấy xót xa cho chính mình và xót xa cho các vị đồng phạm hạnh. Mình nhìn hình ảnh của tăng ni bây giờ, Phật tử.

Chính ông Bùi Hữu Dược cũng tâm sự là mất niềm tin, uy tín đối với người Phật tử rất nhiều, sa sút phẩm chất đạo đức của người tu. Khi Minh Thành trên núi, từ trên núi đi ra đường lộ, đi ra trường mà có một câu làm Minh Thành rất ấn tượng nên mỗi khi đi ngang Minh Thành đều nhìn: “Thầy ra thầy, trò ra trò, trường ra trường, lớp ra lớp.”

Chỉ bấy nhiêu đó còn làm chưa được thì nói chi những chuyện cao siêu? Nên trong lớp này Minh Thành không muốn nói những pháp rất thâm sâu, chỉ muốn nói những điều thực tế nhất để làm món quà cho các huynh đệ khi bước ra khỏi trường này rồi, huynh đệ về sống với người ta thì người ta thương, chỉ bấy nhiêu đó thôi. Đối xử với Phật tử được người ta kính trọng. Ít nhất mình làm một người tu là đúng nghĩa một người tu, thật sự là một Tỳ-kheo, bấy nhiêu đó là đã khó lắm rồi, làm sao có thể nói được các pháp thâm sâu, xuất thế trong khi thế gian mình còn làm chưa được.

Nên khi nghe Ngài Ca-diếp nói như vậy làm mình nghe cảm thấy rã rời. Và điều khó cho mình là vì mình quen, lúc trước Minh Thành cũng từng vậy, nhưng bây giờ mình học thì mới nhìn ra. Mình quen tìm đạo lý rất thâm sâu, cao siêu mà sau khi đọc trong kinh Nikāya rồi thì Minh Thành mới thấy rất thực tế, thiết thực. Đức Phật dạy mình phải biết xấu hổ đối với những điều sai trái, sợ hãi đối với tộc lễ, hai đặc tính, yếu tố quyết định một con người chân chánh – Đức Phật gọi là chân nhân trong tạng Kinh Nikāya là gì? Nhớ ơn và biết ơn. Có hai yếu tố này mới thành một con người thật là người. Nếu không có hai yếu tố này thì Đức Phật nói không phải là con người thật sự là người. Vì những người là ân nhân của mình mà mình không biết ân nhân của mình.

Còn bây giờ huynh đệ nhìn xem trên báo chí, tin tức làm mình sợ, nhiều khi không dám đọc, thấy rõ đạo đức bị sụp đổ, thật sự rất là nguy hiểm. Huynh đệ thấy chỉ một ánh đèn soi theo thôi cũng xảy ra án mạng, hay tiếng còi xe, tiếng hát khi karaoke, lời khen chê, hay là say rồi xảy ra thương tích. Có những chuyện mình đọc thôi mà không tin được nhưng đó là sự thật. Đó là những hồi chuông báo động rất lớn, là sự xuống cấp về tình nghĩa, về đạo đức, về lễ giáo đã xuống cấp trầm trọng. Nhưng từ ngoài dẫn vô bên trong rồi người tu sĩ của mình cũng bắt đầu, đi đến chỗ sa đọa, rất là nguy hiểm, trong khi người tu sĩ mình là mẫu, là mực, là mô, là phạm.

Một khi mình sa đọa thì xã hội này không còn chỗ nào để nương tựa tinh thần nữa, chính vì thế sẽ đi đến chỗ diệt vong, ba pháp quy y, năm giới đi đến chỗ diệt vong thì tuổi thọ của con người, tham, sân, si sẽ phát triển đến cực độ, sẽ nhấn chìm thế giới sẽ đi vào bóng đen của tội lỗi, nên khi suy nghĩ mình quán chiếu về điều này nên mình cảm thấy rất sợ, khiếp sợ. Thật sự là giờ người tu của mình không dám nói, ngay cả ở ngay trong chùa mà không nói là mình thương, mình không có giận mà mình thương, mình rất là đau lòng. Có những chuyện Minh Thành không nói hay nói rất ít để quý vị hiểu nhiều. Vì vậy, các huynh đệ hãy học được những điều căn bản nhất của một người tu, hãy làm được phần Giới Học của tạng kinh Nikāya.

Hãy sống thật bình thường, hãy nhìn lại xem mình có biết xấu hổ không, đối với những sai trái của mình? Mình có biết sợ hãi khi mình phạm giới không? Nếu như mình thành tựu trí tàm quý sâu sắc thì đó là sơ quả tu đào hoàn – vị này luôn luôn nhìn thấy tội lỗi, ô trượt, cấu nhiễm, vô minh, tham ái, chấp ngã, vị này cảm thấy rất nhục nhã, xấu hổ, tức là vị này đã thành tựu được trí huệ. Còn đối với người phàm phu là họ luôn thấy họ cao, trở trên trời, thấy họ hơn người, cao hơn người ta, nên khi ai đụng tới thì họ tung chưởng, quăng lựu đạn. Khiếp đảm cho cái tham, sân, si của con người, sợ hãi cho bản ngã của chúng sanh và đau lòng cho sự chấp thủ trong đêm đen bóng tối. Chúng ta phải là những người phải liễu tri, thắng tri, tuệ tri điều đó, tức là phải biết rõ một cách sâu sắc, thấu đáu và triệt để, nếu mình không biết cái đó thì không ai biết được.

II. Khoảng cách giữa ác và thiện pháp:

Nên cũng trong chương Tương Ưng Ca - Diếp này có phần biết sợ hãi:

“Bạch Thế Tôn, với ai không có lòng tin đối với thiện pháp, không có biết thẹn đối với thiện pháp, không có biết sợ đối với thiện pháp, không có tinh tấn đối với thiện pháp, không có trí tuệ đối với thiện pháp; đối với người ấy, dầu là đêm hay là ngày, chờ đợi là sự tổn giảm đối với các thiện pháp, không phải là sự tăng trưởng!

Ví như mặt trăng, bạch Thế Tôn, trong thời kỳ tối trời, dầu là đêm hay là ngày, hình sắc tổn giảm dần, hình tròn tổn giảm dần, ánh sáng tổn giảm dần, đường quỹ đạo nó đi tổn giảm dần.

Cũng vậy, bạch Thế Tôn, đối với ai không có lòng tin đối với thiện pháp, không có biết thẹn đối với thiện pháp, không biết sợ đối với thiện pháp, không có tinh tấn đối với thiện pháp, không có trí tuệ đối với thiện pháp; với người ấy, dầu là đêm hay là ngày, chờ đợi là sự tổn giảm đối với các thiện pháp, không phải là sự tăng trưởng!

– Người không có lòng tin, bạch Thế Tôn, tức có nghĩa là tổn giảm.

– Người không biết thẹn, bạch Thế Tôn, tức có nghĩa là tổn giảm.

– Người không biết sợ, bạch Thế Tôn, tức có nghĩa là tổn giảm.

– Người lười biếng, bạch Thế Tôn, tức có nghĩa là tổn giảm

– Người ác trí tuệ, bạch Thế Tôn, tức có nghĩa là tổn giảm.

– Người phẫn nộ... Người sân hận, bạch Thế Tôn, tức có nghĩa là tổn giảm.

– Nếu vị Tỷ-kheo không có giáo giới, bạch Thế Tôn, tức có nghĩa là tổn giảm

Với ai, bạch Thế Tôn, có lòng tin đối với thiện pháp, có biết thẹn đối với thiện pháp, có biết sợ đối với thiện pháp, có tinh tấn đối với thiện pháp, có trí tuệ đối với thiện pháp; với vị ấy, dầu là đêm hay là ngày, chờ đợi sự tăng trưởng đối với thiện pháp, không phải sự tổn giảm.

9) Ví như mặt trăng, bạch Thế Tôn, trong thời kỳ sáng trời, dầu là đêm hay là ngày, hình sắc tăng trưởng dần, hình tròn tăng trưởng dần, ánh sáng tăng trưởng dần, quỹ đạo nó đi tăng trưởng dần. Cũng vậy, bạch Thế Tôn, với ai có lòng tin đối với thiện pháp, có biết thẹn...có biết sợ... có tinh tấn... có trí tuệ đối với thiện pháp; với vị ấy, dầu là đêm hay là ngày, chờ đợi là sự tăng trưởng đối với thiện pháp, không phải là tổn giảm.

– Người có lòng tin, bạch Thế Tôn, tức có nghĩa là không tổn giảm.

– Người có biết thẹn, bạch Thế Tôn, tức có nghĩa là không tổn giảm.

– Người có biết sợ, bạch Thế Tôn, tức có nghĩa là không tổn giảm.

– Người tinh cần, bạch Thế Tôn, tức có nghĩa là không tổn giảm.

– Người không phẫn nộ, bạch Thế Tôn, tức có nghĩa là không tổn giảm.

– Người không sân hận, bạch Thế Tôn, tức có nghĩa là không tổn giảm.

– Có những Tỷ-kheo giáo giới, bạch Thế Tôn, tức có nghĩa là không tổn giảm.

11) Lành thay, lành thay, này Kassapa! Với ai, này Kassapa, không có lòng tin đối với thiện pháp... không có biết thẹn... không có biết sợ... không có tinh tấn... không có trí tuệ đối với thiện pháp; với người ấy, dầu là đêm hay là ngày, chờ đợi là sự tổn giảm trong thiện pháp, không phải là tăng trưởng

12) Ví như mặt trăng, này Kassapa, trong thời kỳ tối trời, dầu là đêm hay là ngày, hình sắc tổn giảm dần, hình tròn tổn giảm dần, ánh sáng tổn giảm dần, quỹ đạo nó đi tổn giảm dần. Cũng vậy, này Kassapa, với ai không có lòng tin đối với thiện pháp, không có biết thẹn... không có biết sợ... không có tinh tấn... không có trí tuệ đối với thiện pháp; với người ấy, dầu là đêm hay ngày, chờ đợi là sự tổn giảm đối với thiện pháp, không phải là sự tăng trưởng.

13) Người không có lòng tin, này Kassapa, tức có nghĩa là tổn giảm. Người không biết thẹn... Người không biết sợ... Người biếng nhác... Người ác trí tuệ... Người phẫn nộ... Người sân hận, này Kassapa, tức có nghĩa là tổn giảm. Không có Tỷ-kheo giáo giới, này Kassapa, tức có nghĩa là tổn giảm.”

(Tương Ưng Bộ Kinh – Tập II. Thiên Nhân Duyên, Chương V. Tương Ưng Kassapa, Bài kinh Giáo Giới)

Người không biết sợ các pháp, không biết sợ tội lỗi, sự sai trái. Ví dụ như những trường hợp thầy chùa lại giành giựt, đó là ác pháp đã sanh rồi, hay như tu sĩ lại đi lừa đảo, đó là những cái mình thấy rùng rợn hơn nữa, hủ lậu, nó sanh ra trong các khe pháp và luật, hay người xuất gia lại đi làm nghề kinh doanh mua bán, bỏ hết thời gian độc cư thiền tịnh, tịnh chỉ nội tâm. Mình thấy sợ hãi¸tránh xa những chuyện đó.

Huynh đệ thấy người tu ngồi thông thường thì có mấy người đến để bàn luận về Chánh Pháp? Thật sự rất ít. Nhiều khi Minh Thành phải ngồi gồng mình chịu đựng, người ta không khéo léo như mình, chỉ tới bái biệt rồi mình tránh. Nhưng trong tạng kinh Nikāya Đức Phật đã nói những câu chuyện gì, đề tài mà mình sẽ học.

Đức Phật nói người xuất gia khi gặp nhau có hai trượt: nói năng đúng như Chánh Pháp và im lặng của bậc Thánh.

Nói năng đúng như Chánh pháp là nói những đề tài về giới, định, tuệ, tri kiến giải thoát, tri kiến, đó là đề tài ít dục, ly tham, viễn ly, những đề tài từ bỏ, chấm dứt, đoạn tuyệt, tịch tịnh, thắng trí, giác ngộ, Niết-bàn, những đề tài lìa chỗ huyên náo, tăng thượng tâm học, giới học, tuệ học… “Những đề tài đó khi nói các ông không nói ngang, không mệt nhọc được rất lợi lạc, lợi ích.”

Còn bây giờ mình nói các đề tài về giới, định, huệ, giải thoát thì rất khó khăn, mệt nhọc vì mình không có nhiễm gì được nhiều đâu, không hướng tới nó được đâu, khi mình kêu lên pháp đàm thì mình thấy khó khăn, còn nói về đời thì coi như thoải mái nói mãi không hết.

Đó là giới học, pháp học, mình ứng dụng rồi mới thấy nó lợi lạc vô cùng, rồi mình sẽ biết được cái nào thiện pháp, cái nào bất thiện pháp. Nên giờ mình nói cao siêu bát nhã, trên tâm Phật, tâm bồ đề, Niết-bàn nhưng thật sự mình chưa phân biệt được ác pháp và thiện pháp.

“Này các Tỳ-kheo, rất xa, giống như bờ biển bên này bờ biển bên kia. Này các Tỳ-kheo, rất xa, giống như hướng mặt trời mọc và hướng mặt trời lặn. Này các Tỳ-kheo, rất xa, giống như trời và đất.”

Cộng tất cả các xa này nữa, xa nhiều hơn nữa, xa nhiều nhiều hơn nữa là sự xa vời của thiện pháp và bất thiện pháp. Hiện tại trong mỗi ngày, chỉ là đến trường như vầy thôi, mình xem lại mình đang ở trong thiện pháp hay bất thiện pháp? Vì thật sự một ngày mình ở trong thiện pháp không có bao nhiêu, đó là sự thật, nhưng mình nói là “Không nghĩ thiện, không nghĩ ác, cái gì là…20:40 nghe cho oai.” Mình thích ăn to nói lớn, tại sao phải phù hợp với bản ngã vì vậy mình học các điều đó xét ra không có lợi ích bao nhiêu mà còn có hại. Minh Thành đã ở trong tất cả các trường phái của các người nam, thiền – tịnh – giáo- luật Minh Thành đều vào đó học và dạy trong đó, Minh Thành đều đã trải qua hết. Chỉ vừa vào thiền viện mấy tháng, có anh tới bắn đại bác với mình là đã tu được hai chục năm thì mình chỉ có thể chào “Mô Phật” rồi bước đi. Hay khi vừa qua trường ở Miến Điện, Minh Thành vừa qua gặp một sư còn nhỏ xíu, và ông ấy “bắn lựu đạn” làm Minh Thành văng mất xác luôn!

Như vậy huynh đệ nghĩ đem bản ngã như vậy thì làm sao học đạo? Nếu mỗi ngày lên lớp Minh Thành lạy với huynh đệ ba lạy là được, thậm chí khi Minh Thành cầu pháp thì có thể lễ như người cư sĩ vẫn được. Nên trước khi mình học pháp thì mình phải học cung kính trước.

Nơi thiền đường ở Linh Quy Pháp Ấn, trước khi bước vào cổng thì Minh Thành để bảng là “Trang nghiêm, tôn trọng, cung kính, biết ơn”, học bấy nhiêu đó trước, khoan nói gì khác. Trang nghiêm là việc đi đứng, ăn nói của mình phải ra dáng của một người xuất gia. Tôn trọng là biết tôn trọng đại chúng, tự giác tôn trọng người. Cung kính đối với tất cả và biết ơn những người có ơn với mình. Việc này rất quan trọng, mình xem hàng ngày mình thường làm. Nên khi thi đối với Minh Thành không là gì hết, mỗi giờ mình học là mình quyết định.

Khi học kinh Nikāya này chỉ ra được những cái trước giờ ở trong người mình mà mình lại không thấy, vạch trần, lột mặt nạ hay như lúc này lột cả sọ ra để cho mình thấy, phơi bày những thứ bị che kín, đó là giáo pháp của Đức Thế Tôn. Tại sao mình càng học lại trở thành càng khó nói trong khi ngày mình mới vào chùa mình rất hiền lành, rất dễ thương? Mình tự về hỏi tại sao trong lúc thiền định, đó là sự thoái đọa của người xuất gia, thoái đọa là lùi lại và rơi xuống, không tiến lên mà lại lùi rồi rơi xuống. Đây là chỗ cay đắng và đau đớn nhất.

Mình tu nhưng không biết trong pháp và luật mình đã lùi lại và rơi xuống. Tại sao? Phải chăng sự tu học của mình không chính xác nên kết quả mới như vậy? Phải luôn hỏi tại sao rồi mình sẽ tìm ra được. Và khi mình thấy được nguyên nhân của nó rồi, mình chỉnh thì từ từ sẽ vào đường ray và sẽ đi tới mà không bị rơi hay bị lui xuống nữa, để mình được thành công.

Nên bài kinh hôm trước mình học vẫn còn sót lại những câu rất quan trọng, các câu này mình phải lưu tâm. Mình đã học bài trước Đức Thế Tôn đã giảng cho vị mẫu của Tam Nghi:

“Những pháp nào đưa tới ly tham, không đưa đến tham dục, đó là pháp, là luật, là lời dạy của bậc đạo sư. Những pháp nào rời khỏi sự trói cột...

… Không đưa đến tích tập, tích là tích tụ, tập là nhóm họp, tích tập ở hiện tại và tương lai, đưa đến chỗ không tích tập.”

Mình cần chiêm nghiệm sâu sắc. Pháp nào đưa đến sự không tích tập thì pháp đó là luật, là lời dạy của Thế Tôn, không tích tập, gom góp, tích tụ, tích lũy thì đó mới là pháp của Như Lai. Giờ mình xét lại xem chính bản thân Minh Thành nhìn thấy nhưng trong đời tu của mình mà tu không khéo thì rất là nguy hiểm.

Hay khi huynh đệ nghĩ, nhà lá sụp xệ chỉ có thể che được mấy tấm tôn, hay tốt hơn là một nhà tường. Mình đi vào xuất gia thì mình cố gắng nỗ lực tu tập, mình học hỏi, thiền định và quán chiếu rồi cuối cùng mình xây được một ngôi chùa có khi to gấp mười lần cái nhà. Nhưng khi mình xây chùa là bình thường, đó là thiện pháp, có ý kiến mình xây chùa, xây tháp, tạo tượng, đúc chuông có là thiện pháp không? Đó là thiện pháp nhưng cũng là bất thiện pháp. Chỗ này quan trọng vì trong kinh Nikāya Đức Phật có nói: Nếu như có đổ vật nào, trú xứ nào, con người nào, quốc độ nào mà ở trong đó ác pháp tăng trưởng, thiện pháp giảm thiểu thì không nên ở trong đó. Nếu như món đồ nào, con người nào, trú xứ nào, quốc độ nào mà ở trong đó ác pháp giảm thiểu, thiện pháp tăng trưởng thì nơi đó nên ở, nên tiếp cận, món đồ nên sử dụng.

Nếu như tăng bất thiện pháp tức là tăng thêm tham, sân, si, chấp thủ thì dừng nên sử dụng, tiếp cận. Vậy nên huynh đệ nên thấy Phật học không có nói phải đi chùa, dựng tháp như vậy thì lấy việc này làm chuẩn thì chính xác. Vì nếu như mình xem chùa lớn gấp mười lần nhà này là “Chùa của tôi, tôi là trụ trì!” thì đó là bất thiện pháp. Và sự bất thiện pháp này sẽ đưa tới sự tham chấp mà không đưa đến ly tham, đưa đến thể vượt tức là sự trói cột mà không đưa đến sự giải thoát, đưa đến sự tích tập mà không đưa đến chỗ không tích tập, đưa đến sự nhiều dục mà không đưa đến sự ít dục, đưa đến sự không biết đủ chứ không đưa đến sự biết đủ, đưa đến chỗ hội tụ mà không đưa đến chỗ nhàn tịnh.

Việc này rất khó, nhất là khi lên chức trụ trì, đừng nói là một hay hai bà chùa hay chỉ là một tịnh thất thôi thì nói rằng “Đi không được, không có ai coi hết!” hay nhiều khi thương mấy cây kiểng hay thương chó hay mèo đi không được. Nên khi tu đúng theo tinh thần kinh tạng Nikāya phải rất sát sao, nhỏ nhiễm, sâu sắc và tinh vi, không giống như nói chung chung thông thường mà là khi mở ra thì pháp nào ra pháp đấy.

Nên có một vị đi đến hỏi Đức Phật:

Thế nào mà Thế Tôn nói pháp của Ngài là thiết thực, hiện tại, đến mà thấy có hiệu quả tức thời, đưa đến sự hướng thượng, để cho người trí tịnh mà hiểu. Tại sao Ngài nói pháp của Ngài thiết thực hiện tại, có hiệu quả tức thì?

Đức Phật đáp rằng:

Trong nội tâm của ông có tham, dục, sân hận, si mê ông có biết không?

Dạ biết!

Biết chính là thiết thực hiện tại! Và giờ ông nhiếp phục được tham đó thì ông có giảm khổ không? Những người xung quanh có giảm khổ không?

Dạ có!

Vậy đó chính là thiết thực hiện tại!

Mọi thứ rất thiết thực rõ ràng mà tại sao mình không chịu làm mà mình đi tìm ở đâu nữa, đi tìm gì nữa? Đó là nội tâm của mình thì mình đi hỏi ai, hỏi thiền sư nào? Sư thì chỉ chỉ mình kỹ thuật thôi, thật ra trong tạng kinh đã có hết. Nhưng quan trọng là vấn đề mình chịu có nhìn lại hay không, cái bản ngã mình đang hoạt động hay là mình nhập cuộc thì mình càng không biết về si mê chấp ngã.

Rồi lại một cảm giác sung sướng sanh ra mà mình không biết đây là cảm giác sung sướng, cái khổ sanh ra cảm giác khó chịu bực bội sinh ra, mình không biết là đang có khổ thọ, mình không biết cảm thọ nào là vô thường, không nên đấm trước, ràng buộc, các cảm thọ này không phải là đối tượng để hoan hỉ. Nếu cảm thọ này là sướng và nói “Tôi đang sướng!” là mình nhập một với cảm thọ, cho cảm thọ đó là mình, cảm thọ này là của tôi thì như vậy. Như vậy mình tiếp tục sống trong bóng tối của si mê.

Để thành tựu về trí thấy biết về năm uẩn thì nó đòi hỏi sự nỗ lực, công phu rất nhiều, không phải chuyện đơn giản. Lúc nào cũng phải nhìn lại cảm giác của mình hết, xem mình có yêu thích cảm giác khoan khoái. Mình phải chống sự cảm giác khó chịu để mình không sa đà, không bị nhấn chìm trong cảm giác đơ đơ – bất khổ bất lạc thọ, cảm giác đều đều. Nên ở Linh Quy Pháp Ấn Minh Thành có cho các huynh đệ phá cả cái đều đều đó, có đêm ngồi thiền tới 11 giờ đêm luôn, vì mình muốn phá cảm giác này, không đều đều là mình khó chịu, mình muốn nó phải như vậy hoài thôi, đó là mình bị chấp thường nên khi các huynh đệ xem qua đoạn clip vừa rồi chính là thời khóa hằng ngày của Linh Quy Pháp Ấn, ngày nào cũng phải coi trước khi ngồi thiền. Mỗi ngày trên đó tu mười hai tiếng, tu và học kinh Nikāya.

Minh Thành cũng mong nhân duyên đầy đủ, mình có thể mở khóa tu cho người xuất gia, những người nào muốn tu thì về tu học, mong rằng chỗ đó sẽ trở thành rừng thiền, để những người không có cơ hội đi Miến Điện hay Thái Lan không nhất thiết phải ra nước ngoài mà ở ngay trong nước mình cũng có rừng thiền để tu và có một khóa tu đầy đủ, viên mãn theo đúng tinh thần của Đức Phật dạy.