Thư Viện Linh Quy
← Danh sách

Sơn Cư Pháp Ngữ 1 - Diệt Tận Nhiễm Ô - Thánh Đế

2026-03-03 00:53:09
KINH NIKAYA GIẢNG - GIẢI SƠN CƯ PHÁP NGỮ 1

DIỆT TẬN NHIỄM Ô - THÁNH ĐẾ

THÍCH MINH THÀNH

Cúi đầu kính lễ Đức Thế Tôn – bậc Chánh Đẳng Chánh Giác.

Công việc là để rèn luyện cái tâm mình. Công việc là để thấy rõ cái tâm mình. Công việc là để sáng tỏ cái pháp chứ không phải để mình bị cuốn vào đó. Mình mượn công việc đó, mượn cái cảnh đó, mượn những cái ngoại duyên đó để thấy rõ được chính mình, thấy rõ được những cảm giác, những suy nghĩ, thấy rõ được những cái ô nhiễm ở bên trong. Công cuộc người xuất gia là diệt tận ô nhiễm trong thân tâm, diệt tận nhiễm ô của chính mình. Nếu vì công việc mà mình khởi sân si, phiền não thì đó là mình chưa biết khéo léo để thực tập vì lúc đó mình đã quên nhận diện năm uẩn, mình quên quán chiếu, mình quên niệm – định – tuệ. Cả một cuộc đời xuất gia từ lúc vào chùa cho đến khi nhắm mắt chỉ làm một công việc duy nhất là diệt tận ô nhiễm, mình phải thường trực quay lại nhìn để phát ra những cái ô nhiễm cư trú, hoành hành, thao túng, nó ma mị, tinh ranh và những cơ cấu hoạt động của nó. Cái tưởng của mình là kẻ đại phù thủy, nó làm cho những trò ảo thuật trong tâm mình và làm cho mình lo lắng, sợ hãi, buồn phiền, ảo tưởng rồ nghĩ ngợi lung tung. Thực tế mình không có như vậy, vì vậy mình phải thường trực quay lại nhìn cho thật kĩ những cảm giác và nghĩ tưởng của mình trong từng giây, từng phút, từng thời, từng khắc và trong mọi lúc, mọi nơi, mọi thời, mọi chốn phải nhìn liên tục, thấy nó chỗ nào là ngăn chặn, đoạn giảm, làm cho nó giảm thiểu để đi đến chỗ đoạn tận. Đó là chơn chánh công phu, càng phát hiện ra nhiều ô nhiễm chừng nào là mình giỏi chừng đó vì mình thấy rõ được tâm mình, mình thành tựu được tuệ nhãn, pháp nhãn. Trước kia mình nghĩ rằng tu là làm được nhiều điều tốt cho người này người kia, xây cái này, tổ chức cái nọ nhưng thực tế mình chỉ có duy nhất một việc là diệt tận sự nhiễm ô để đi đến chỗ hoàn toàn an tịnh, bình an. Cả cái thân năm uẩn này, sắc chất tứ đại, mọi việc trong cuộc đời này có gì là thật? Tại sao lại vì nó mà mình tham dục, sân hận, si mê? Trong sự giả dối này có gì là tôi, có gì là của tôi, tôi lớn người kia nhỏ, tôi ở lâu còn người kia mới đến…? Tất cả những ý niệm đó là mạn, quá mạn, kiêu mạn do không thấy được năm uẩn. Mình phải thấy được nó là hành, những vị cao Tăng, các bậc tổ sư trăm công ngàn việc, có hàng trăm đạo tràng mà các ngài đội nón lá đi thong dong còn mình chỉ mới có một chút công việc là tối tăm mặt mũi? Cái này mình phải tập, không có đổ cho công việc mà phải quay lại nhìn nội tâm, tất cả mọi thứ đều từ nội tâm mà ra chứ không phải ở bên ngoài. Các vị cao Tăng ngày xưa ở Thái Lan, ngài Ajahn Mun đối đầu với cọp dữ trong rừng, chết đi sống lại vì đối đầu với thú dữ, có những vị Tỳ-kheo ngồi thiền ở vực thẳm. Các ngài bệnh sốt rét trong thập tử nhất sinh, các ngài ngồi thiền mà mấy ngày trời không ăn uống, ngồi 1 lần là 12 tiếng để hành cái hạnh đầu đà, 1 ngày chỉ ăn 1 bữa và ngủ dưới gốc cây trong mưa bão, lạnh ướt người bị bệnh cũng ở dưới gốc cây. Ngài tu cho đến Long Vương Đế Thích, chư thiên và tất cả các vị ở cõi trời đều xuống để thỉnh pháp và ngài nói rõ ngài chứng tới quả Bất lai và sau đó thành tựu quả A-la-hán, đọc được hết tâm tưởng của các đệ tử. Đang ngồi trong pháp hội mà đại chúng suy nghĩ cái gì là ngài đọc được rồi dạy ngay chỗ đó. Vì vậy bản thân Minh Thành rất hối tiếc vì sanh ra không gặp được các bậc thánh Tăng, ngày giờ này mình còn lẩn quẩn đến lúc này mới thấy được chánh pháp, chứ nếu mình gặp sớm từ khi mới xuất gia như các huynh đệ thì giờ này đã đi đến chỗ hoàn toàn an ổn, vô thượng thanh lương rồi. Minh Thành mong các huynh đệ từ xuất gia cho đến cư sĩ hãy ý thức sâu sắc mục tiêu và lý tưởng của người xuất gia, đừng để cho những chuyện nhỏ nhặt ảnh hưởng đến sự nghiệp vĩ đại của mình, nếu tầm nhìn của mình nhìn thẳng vào đỉnh núi để tiến bước đến đó thì những cái cây nhỏ dưới đường hay những cành lá, đất sình bùn, thậm chí là dòng suối hay hố sâu cũng không thành vấn đề, hãy bước nhẹ nhàng qua. Vì mình không nhắm thẳng đỉnh núi nên gặp sình bùn, cây chắn là không muốn đi, gặp dòng suối là không muốn lội qua. Hãy đạp đổ tất cả những chướng ngại để tiến thẳng đến mục tiêu tối thượng của người xuất gia, phải có tinh thần dũng sĩ, chiến sĩ, tinh thần quyết tử, mình đã bỏ những cái bên ngoài thì tại sao còn một chút tham sân si, bản ngã này mà mình không bỏ được? Phải quyết tâm diệt tận nó, phải làm cho bằng được, mình đã bỏ những cái khó bỏ rồi thì tại sao chỉ có một chút cảm giác này mình không bỏ được. Thành ra trong kì nhập thất này Minh Thành thấy rất vui, không muốn ra thất vì so với những kì trước rất khác, mình thấy rằng mình có niềm tin mạnh mẽ hơn nữa là cách đây có mấy mươi năm đã có những vị thành tựu thánh quả ngay trong cuộc đời của mình và ở sát ngay mình là Thái Lan, hiện tại đại chúng của mình đã thấy pháp, thành tựu chánh tri kiến. Với một sự liên tục không ngừng, nỗ lực phấn đấu để quay lại nhìn những sự nhiễm ô để diệt tận nó thì chắc chắn khi nhắm mắt ra đi sẽ phải thành công, không thể không thành công. Đức Phật dạy mình có 4 phương pháp đi đến thành công là phải phát triển cực độ tham muốn mãnh liệt để cầu chứng ngộ.

Này các Tỳ-kheo, không phải với cái hạ liệt có thể đạt được cái cao thượng. Này các Tỳ-kheo, phải với cái cao thượng mới đạt được cái cao thượng.  Ðáng được tán thán, này các Tỳ-kheo, là Phạm hạnh này với sự có mặt của bậc Ðạo Sư. Do vậy, này các Tỳ-kheo, hãy tinh tấn lên để chứng đạt những gì chưa chứng đạt, để chứng đắc những gì chưa chứng đắc, để chứng ngộ những gì chưa chứng ngộ. (Tương Ưng Bộ, Tập II. Thiên Nhân Duyên, Chương I. Tương Ưng Nhân Duyên (a), III. Phẩm Mười Lực, II. Mười Lực).

Phát huy sự mong muốn đó đến mãnh liệt, Tứ Như Ý Túc kết hợp với Tứ Chánh Cần làm thành một thể. Cái gì thiện mà chưa sanh thì làm cho nó sanh, nó đã sanh rồi thì làm cho nó tăng trưởng quảng đại, làm cho nó đi đến chỗ chí thiện cùng cực. Mình không thể an lòng với những cái thấy biết, nghe hiểu nhỏ bé này mà phải đạt tới thánh quả cùng tột, phải diệt tận hết tất cả sự ô nhiễm, không còn bất cứ một bóng dáng, một mầm móng, một vết nhỏ dơ bẩn nào trong nội tâm mình. Quyết định là phải sống chết với nó chứ không chấp nhận cho những thứ ô nhiễm đó lưu trú, tồn chỉ, làm căn cứ địa bên trong mình, "ta phải đánh mi, đánh cho tới lúc không còn một tên nào nữa. Hoàn toàn chiến thắng, đại thắng", bậc A-la-hán là những bậc sát tặc chiến thắng, phải giết chứ không được nương tay với nó. Bao nhiêu đời, bao nhiêu kiếp mình bị nó đè đầu cưỡi cổ, mình bị nó nhốt trong tù ngục, nó làm cho mình khốn khổ ngày đêm và giờ mình đã có được những pháp khí, binh khí sắc bén, mình có đầy đủ những phương tiện thiện xảo khéo léo, bao nhiêu những cách thức tu hành như 37 phẩm trợ đạo, vì vậy sau khi có cái muốn mãnh liệt thì phải nỗ lực tinh tấn, nhiệt tâm tinh cần hết sức mình, dù cho có chết cũng chấp nhận, chết trên bồ đoàn, chết trong rừng, dưới gốc cây, chết trong sự chiến đấu với bất thiện pháp. Chính cái chỗ không sợ chết mới đi đến bất tử, còn mình sợ chết thì cứ sanh sanh tử tử hoài. Phải làm cho sự tinh tấn, nhiệt thành, hăng hái, nóng bỏng được phát huy cho cùng cực, ngày nào cũng phải để củi, châm lửa vào, đốt bằng trầm hương, danh mộc, đó là hằng ngày mình nghe pháp, chiêm nghiệm, suy tư, quán chiếu, văn – tư – tu – huệ, phát huy đến cực độ sự tinh tấn, đặt trọn tấm lòng của mình vào pháp, ngày đêm suy tư pháp và niệm pháp, tư duy, tư sát, quán chiếu pháp. Nói bên ngoài là những câu kinh lời phật dạy, nói bên trong là ngũ uẩn đang vận hành, những ái, tham sân si, bản ngã, cấu bẩn, tật đố… đó là pháp. Các pháp sẽ hiện rõ khi mình ở một mình, những lúc mình ngồi trang nghiêm, tọa bồ đề tòa, ngồi trên đồ đoàn để thấy rõ nội tâm chứ không phải lên đó ngồi ngủ hoặc để tâm rong chơi, như vậy là uổng phí. Phải chấn chỉnh, rõ biết trước mặt, cảm giác toàn thân, nội tâm tỉnh giác, phải thấy rõ những cái gì nó an trú, biến diệt và phát hiện ra rắn rết, sâu bọ, ác ma trú ẩn trong nội tâm mình, phải dùng hết tất cả những vũ khí, pháp khí mà Đức Thế Tôn đã trao cho mình trong 37 phẩm trợ đạo.

Sa-môn Gotama từ bỏ sát sanh, tránh xa sát sanh, bỏ trượng, bỏ kiếm, biết tàm quý, có lòng từ, sống thương xót đến hạnh phúc của tất cả chúng sanh và loài hữu tình. - Này các Tỳ-kheo, đó là lời tán thán Như Lai của kẻ phàm phu.

Sa-môn Gotama từ bỏ lấy của không cho, tránh xa sự lấy của không cho, chỉ lấy những vật đã cho, chỉ mong những vật đã cho, tự sống thanh tịnh không có trộm cướp. - Này các Tỳ-kheo, đó là những lời tán thán Như Lai của kẻ phàm phu.

Sa-môn Gotama từ bỏ tà hạnh, tịnh tu phạm hạnh, sống giải thoát, từ bỏ dâm dục hèn hạ. Này các Tỳ-kheo, đó là những lời tán thán Như Lai của kẻ phàm phu.

Sa-môn Gotama từ bỏ nói láo, tránh xa nói láo, nói những lời chân thật, y chỉ nơi sự thật, chắc chắn, đáng tin cậy, không lừa gạt, không phản lại lời hứa đối với đời. Này các Tỳ-kheo, đó là những lời tán thán Như Lai của kẻ phàm phu.

Sa-môn Gotama từ bỏ nói hai lưỡi, tránh xa nói hai lưỡi; nghe điều gì ở chỗ này, không đi nói đến chỗ kia để sanh chia rẽ ở những người nầy; nghe điều gì ở chỗ kia, không đi nói với những người này để sanh chia rẽ ở những người kia. Như vậy Sa-môn Gotama sống hòa hợp những kẻ ly gián, tăng trưởng những kẻ đã hòa hợp, hoan hỷ trong hòa hợp, nói những lời đưa đến hòa hợp. Này các Tỳ-kheo, đó là những lời tán thán Như Lai của kẻ phàm phu.

Này các Tỳ-kheo, Sa-môn Gotama từ bỏ lời nói độc ác, tránh xa lời nói độc ác, những lời nói không lỗi lầm, đẹp tai, dễ thương, thông cảm đến tâm, tao nhã, đẹp lòng nhiều người, vui lòng nhiều người, Sa-môn Gotama nói những lời như vậy. Này các Tỳ-kheo, đó là những lời tán thán Như Lai của kẻ phàm phu.

Này các Tỳ-kheo, Sa-môn Gotama từ bỏ lời nói ỷ ngữ, tránh xa lời nói ỷ ngữ, nói đúng thời, nói những lời chân thật, nói những lời có ý nghĩa, nói những lời về Chánh pháp, nói những lời về Luật, nói những lời đáng được gìn giữ, những lời hợp thời, thuận lý, có mạch lạc hệ thống, có ích lợi. - Này các Tỳ-kheo, đó là những lời tán thán Như Lai của kẻ phàm phu.

Sa-môn Gotama không làm hại đến các hạt giống và các loại cây cỏ; Sa-môn Gotama dùng mỗi ngày một bữa, không ăn ban đêm, từ bỏ không ăn ban đêm, từ bỏ không ăn phi thời. Sa-môn Gotama từ bỏ không đi xem múa, hát, nhạc, diễn kịch. Sa-môn Gotama từ bỏ không trang sức bằng vòng hoa, hương liệu, dầu thoa và các thời trang. Sa-môn Gotama từ bỏ không dùng giường cao và giường lớn. Sa-môn Gotama từ bỏ không nhận vàng và bạc. Sa-môn Gotama từ bỏ không nhận các hạt giống. Sa-môn Gotama từ bỏ không nhận thịt sống. Sa-môn Gotama từ bỏ không nhận đàn bà, con gái. Sa-môn Gotama từ bỏ không nhận nô tỳ gái và trai. Sa-môn Gotama từ bỏ không nhận cừu và dê. Sa-môn Gotama từ bỏ không nhận gia cầm và heo. Sa-môn Gotama từ bỏ không nhận voi, bò, ngựa và ngựa cái. Sa-môn Gotama từ bỏ không nhận ruộng nương đất đai. Sa-môn Gotama từ bỏ không phái người môi giới hoặc tự mình làm môi giới. Sa-môn Gotama từ bỏ không buôn bán. Sa-môn Gotama từ bỏ các sự gian lận bằng cân, tiền bạc và đo lường. Sa-môn Gotama từ bỏ các tà hạnh, như hối lộ, gian trá, lừa đảo. Sa-môn Gotama từ bỏ không làm thương tổn, sát hại, câu thúc, bức đoạt, trộm cắp, cướp phá. - Này các Tỳ-kheo, đó là những lời tán thán Như Lai của kẻ phàm phu (Trường Bộ Kinh, 1. Kinh Phạm võng).

Này các Tỳ-kheo, lại có những pháp khác, sâu kín, khó thấu, khó chứng, tịch tịnh, mỹ diệu, vượt ngoài tầm của luận lý suông, tế nhị chỉ những người trí mới nhận hiểu. Những pháp ấy Như Lai đã tự chứng tri, giác ngộ và tuyên thuyết. Và chính những pháp ấy những ai như thật chân chánh tán thán Như Lai mới nói đến (Trường Bộ Kinh, 1. Kinh Phạm võng).

Đó là pháp tối thượng và cũng là con đường mà chúng ta đang thực hành. Tất cả cảm giác sanh khởi, an trú và chấm dứt như thế nào phải thấy rõ chứ đừng cho cảm giác đó là mình và tâm của mình. Phải quán thọ trên thọ, quán sự tập khởi của thọ, sự an trú của thọ, sự diệt tận của thọ. Từ Dục Như Ý Túc, Tâm Như Ý Túc, Tấn Như Ý Túc và phải để tâm vào cái pháp mình đang tu, mình xem đó là mạng sống, là linh hồn, là việc duy nhất quan trọng mà mình đã bỏ tất cả lục thân quyến thuộc để mình cầu cái pháp này. Phải nắm chặt chứ đừng để rơi rớt, hãy đặt hết tâm mình vào pháp, tư duy bằng cách nào nhanh nhất, mau nhất, vững chắc nhất để mình tiến tới đạo quả, thánh quả. Phải ngày đêm chiêm nghiệm chứ không cho phép buông thả các căn, phải liên tục không gián đoạn suy xét. Nấu nồi cơm mà lửa lúc cháy lúc tắt thì cơm sình hết, nấu ấm nước mà lửa lớn lửa tắt thì chừng nào nước mới sôi? Cuộc đời tu của mình từ lúc vào chùa cho đến khi nhắm mắt như nấu nồi cơm của giác ngộ, mình phải giữ cho lửa cháy liên tục, còn không thì lúc đầu nóng bỏng còn lúc sau bị nguội lạnh, mình đã thấy bao nhiêu người xung quanh mình bị rơi rớt, tu như vậy là đầu voi đuôi chuột, có thủy mà không có chung, có trước mà không có sau, trước siêng sau lười. Ngược lại phải làm cho mình mạnh mẽ lên, phải làm cho mình có đầy đủ nghị lực sức mạnh vượt tiến lên, đặt toàn tâm toàn ý vào sự nghiệp giác ngộ để ra khỏi luân hồi, phải nhìn cho thấu suốt toàn vẹn khổ uẩn này. Đây là một đống khổ, có gì vui trong này? Con mắt có thể bệnh, cái miệng có thể bệnh, lỗ tai có thể bệnh, chỗ nào cũng có thể bệnh ung thư, cái ngực cũng co thể bệnh, trong bụng bao nhiêu ruột non, ruột già, tim gan có biết bao thứ bệnh, cái chân cái tay cũng có thể bệnh, chỗ nào trong sắc uẩn này cũng là hang ổ bệnh tật. Cái thọ nào cũng bị dính mắc, cảm giác khoan khoái, thích thú, khó chịu cũng dính mắc.

Kẻ vô văn phàm phu, khi cảm giác khổ thọ về thân, thời sầu muộn, than vãn, khóc lóc, đấm ngực, đi đến bất tỉnh. Này các Tỳ-kheo, đây gọi là kẻ vô văn phàm phu không đứng lên trên vực thẳm, không đạt tới chỗ chân đứng.

Còn bậc Ða văn Thánh đệ tử, này các Tỳ-kheo, khi cảm giác khổ thọ về thân, không sầu muộn, không than vãn, không khóc lóc, không đấm ngực, không đi đến bất tỉnh. Này các Tỳ-kheo, đây gọi là bậc Ða văn Thánh đệ tử đã đứng lên trên vực thẳm, đã đạt tới chỗ chân đứng (Tương Ưng Bộ, Tập IV. Thiên Sáu Xứ, Chương II. Tương Ưng Thọ, Phần Một – Phẩm Có Kệ, 4. IV. Vực Thẳm)

 Lạc thọ, này các Tỳ-kheo, cần phải thấy là khổ. Khổ thọ cần phải thấy là mũi tên. Bất khổ bất lạc thọ cần phải thấy là vô thường.

Khi nào, này các Tỳ-kheo, Tỳ-kheo thấy được lạc thọ là khổ, thấy được khổ thọ là mũi tên, thấy được bất khổ bất lạc thọ là vô thường; thời này các Tỳ-kheo, đây gọi là Tỳ-kheo có chánh kiến, ái được đoạn tận, kiết sử được hủy hoại. Với minh kiến chơn chánh đối với ngã mạn, vị ấy đoạn tận khổ đau (Tương Ưng Bộ, Tập IV. Thiên Sáu Xứ, Chương II. Tương Ưng Thọ, Phần Một – Phẩm Có Kệ, 5. V. Cần Phải Quán Kiến)

Mỗi khi nhìn nó là thấy được 3 đặc tính là vô thường, khổ và vô ngã. Cảm giác đi bộ dưới núi lên đây lúc chiều còn không? Bây giờ đang có cảm giác gì? Phấn chấn, phấn khởi, mạnh mẽ không? Chính vì vô thường nên trong người mới khổ, bao nhiêu những cái nghĩ tưởng, suy tư, nhận thức phải biết đây là khổ, sẽ có một ngày kia nằm dài có 4 người khiêng. Khi Minh Thành quán 32 thể trược và 9 giai đoạn của một tử thi thì nước mắt ràng rụa, đúng là một sự vô nghĩa, không có giá trị gì hết, còn thua xác heo. Xác heo còn đem đi bán cho mọi người ăn, con chó làm thịt cầy, con gà còn nấu cà ri còn thân này chết rồi chỉ còn lại sự hôi hám, thối tha không một ai chịu nổi. Nếu mình không lợi dụng tấm thân này để thành tựu thánh trí, thoát ra khỏi luân hồi thì trong này là trăm đời ngàn kiếp, vạn tỷ năm cũng còn quay cuồng mãi, không có ngày thoát ra. Nếu mình không gặp chánh pháp vô thượng ly tham này, nếu không gặp chánh pháp viễn ly, nhàm chán, ly tham, từ bỏ, chấm dứt, thắng tri giác ngộ Niết-bàn này thì ngàn tỷ vô ức kiếp năm cũng không có ai chỉ cho mình con đường thoát ra khỏi luân hồi sanh tử. Cho nên phải dập đầu, đảnh lễ, cung kính, tôn trọng Phật – pháp – Tăng và bậc thiện tri thức, không được có bất cứ ý niệm nào khinh thường hay vong ơn bội nghĩa đối với bậc Đạo sư, bậc thầy đã chỉ cho mình con đường tối thượng này. Đây là con đường mà dù cho có đem hết cả xương máu, cốt tủy dập ra ngàn tỷ lần cũng không có ai chỉ cho pháp này. Toàn bộ khổ uẩn này là năm uẩn, toàn bộ nó là một đống khổ, bây giờ ăn chơi vui sướng rồi bất chợt ngã xuống hay phát hiện ra bệnh nan y, ung thư thì tất cả còn lại đều vô nghĩa.

Này các Tỳ-kheo, ai nói như sau: "Không có như thật giác ngộ Thánh đế về Khổ, không có như thật giác ngộ Thánh đế về Khổ tập, không có như thật giác ngộ Thánh đế về Khổ diệt, không có như thật giác ngộ Thánh đế về Con Ðường đưa đến Khổ diệt, ta sẽ chơn chánh đoạn tận khổ đau"; sự kiện này không xảy ra (Tương Ưng Bộ, Tập V. Thiên Đại Phẩm, Chương XII - Tương Ưng Sự Thật (a), I. Phẩm Ðịnh, IV. Phẩm Rừng Simsapà, 32.II. Cây Keo)

Nếu có bất cứ một ai như Sa-môn, Bà-la-môn, trời người mà tuyên bố rằng không thật sự giác ngộ Khổ Tập Diệt Đạo mà có thể chấm dứt khổ đau là điều này không bao giờ có thể có được.

Ví như, này các Tỳ-kheo, một người nói như sau : "Với những lá cây keo, hay lá cây palàsa (một thứ cây có bông màu đỏ thắm mọc trước lá) hay lá cây kha-lê-lặc (àmalaka), tôi sẽ làm giỏ bằng lá để đem nước lại hay làm cái quạt"; sự kiện này không xảy ra. Cũng vậy, này các Tỳ-kheo, ai nói như sau: "Không như thật giác ngộ Thánh đế về Khổ... không như thật giác ngộ Thánh đế về Con Ðường đưa đến Khổ diệt, ta sẽ chơn chánh đoạn tận khổ đau"; sự kiện này không xảy ra (Tương Ưng Bộ, Tập V. Thiên Đại Phẩm, Chương XII - Tương Ưng Sự Thật (a), I. Phẩm Ðịnh, IV. Phẩm Rừng Simsapà, 32.II. Cây Keo).

Làm sao có thể lấy lá me để làm cây quạt hay đựng nước cho người khác uống được? Không bao giờ có được điều này xảy ra. Cũng vậy, phải thành tựu Tứ Thánh Đế mới diệt tận được khổ đau này.

Ví như, này các Tỳ-kheo, có người nói như sau: "Với những lá sen hay lá pasàla hay lá màluva (một loại cây leo), tôi sẽ làm các giỏ bằng lá để đem nước lại hay làm cái quạt"; sự kiện này có xảy ra. Cũng vậy, này các Tỳ-kheo, có ai nói như sau: "Sau khi như thật chứng ngộ Thánh đế về Khổ... Thánh đế về Khổ tập... Thánh đế về Khổ diệt... sau khi như thật chứng ngộ Thánh đế về Con Ðường đưa đến Khổ diệt, ta sẽ chơn chánh đoạn tận Khổ đau"; sự kiện này có xảy ra.

Do vậy, này các Tỳ-kheo, một cố gắng cần phải làm để rõ biết: "Ðây là Khổ"... một cố gắng cần phải làm để rõ biết: "Ðây là Con Ðường đưa đến Khổ diệt" (Tương Ưng Bộ, Tập V. Thiên Đại Phẩm, Chương XII - Tương Ưng Sự Thật (a), I. Phẩm Ðịnh, IV. Phẩm Rừng Simsapà, 32.II. Cây Keo).

Thánh trí thấy được năm uẩn, thấy được cái thân vô thường, tan nát, biến hoại này, cái thân do cha mẹ sanh, do cơm cháo nuôi dưỡng, do tứ đại tác thành này là khổ thì đó là thánh trí. Còn nói ngoài miệng "con khổ" nhưng chỉ nói ngay lúc đó thôi, không phải thật sự thấy được một cách triệt để, thấu đáo. Cho nên không còn gì tuyệt vời hơn nên phải lạy Đức Thế Tôn, lạy đến chai 2 đầu gối vì không có một bậc nào có thể so sánh ngang hàng được, trong một thế giới, vũ trụ vĩ đại như vầy mà Đức Phật chỉ được con đường để thoát khỏi nó. Hãy nhìn thấy con mắt này, con mắt sản sanh ra ghèn và ly tham đối với con mắt này. Hãy nhìn cho kĩ lỗ tai này, lỗ tai sản sanh ra cứt ráy. Hãy nhìn tấm thân này rồi hãy ly tham, đừng cho con mắt này là tôi, mũi, lưỡi, thân, ý này là tôi. Nhìn cho thẩu thấm và quán chiếu liên tục, nhìn tất cả đặc tính và cảm giác, suy tưởng, nhận thức của nó, nhìn tất cả sự biến đổi trong tứ đại như lạnh nóng bất thường, nhìn hơi thở khì khò đang vào ra bây giờ, nhìn hơi ấm tê cứng đang vận hành bây giờ, nhìn cái chân đang tê nhức bây giờ, nhìn thấy được bản chất của tứ đại, trong này cái gì là mình? Không còn một trí huệ nào có thể so sánh được, phải đặt hết trái tim mình vào chánh pháp này, đặt hết khói óc vào dòng pháp này, phải đặt hết cả sinh mạng, tâm lực, tinh thần của mình vào việc học pháp và hành pháp. Một ngày kia khi mình chết đi mà còn đầy rẫy những tham sân si thì mình sẽ đi về đâu? Từ bây giờ không lơi lỏng bất kì phút giây nào, không thả lỏng các căn, không dễ vui với nó và phải bắt nó vào khuôn phép, vào niệm tuệ, phải làm cho tâm mình bừng sáng lên và xứng danh là thánh đệ tử của Đức Thế Tôn.

Đúng là một cuộc đời vô nghĩa!

Mấy chục năm sống trên thế gian này mình đã làm cái gì? Có phải là lẩn quẩn trong tham sân si không? Trong buồn thương, giận ghét, đúng sai hay dở, nhân ngã bỉ thử rồi tự làm khổ mình, làm khổ người không? Chẳng có gì hết mà chỉ lòng vòng trong đó, lặn hụp trong đó, làm nô lệ cho ái dục, làm tôi đòi cho những cái sân hận, si mê rồi cung phụng, phục dịch cho nó.

Bây giờ mình hãy tỉnh sáng lên, tỏa chiếu ra, niệm – định – tuệ. Hãy vững như cột trụ, núi đá.

Với người biết, với người thấy, này các Tỳ-kheo, Ta tuyên bố các lậu hoặc được đoạn tận, không phải với người không biết, với người không thấy. Và do biết gì, do thấy gì, này các Tỳ-kheo, các lậu hoặc được đoạn tận?

Do biết, do thấy: "Ðây là Khổ", này các Tỳ-kheo, các lậu hoặc được đoạn tận. Do biết, do thấy: "Ðây là Khổ tập"... "Ðây là Khổ diệt"... Do biết, do thấy: "Ðây là Con Ðường đưa đến Khổ diệt", các lậu hoặc được đoạn tận.

Do biết vậy, do thấy vậy, này các Tỳ-kheo, các lậu hoặc được đoạn tận. Do vậy, này các Tỳ-kheo, một cố gắng cần phải làm để rõ biết: "Ðây là Khổ"... một cố gắng cần phải làm để rõ biết: "Ðây là Con Ðường đưa đến Khổ diệt" (Tương Ưng Bộ, Tập V – Thiên Đại Phẩm, Chương XII. Tương Ưng Sự Thật (a), III. Phẩm Kotigàma, Chương 25.V. Ðoạn Tận Các Lậu Hoặc).

Với người biết và người thấy thì Phật mới tuyên bố các lậu hoặc được đoạn tận chứ không thể với người không thấy, không biết. Nhưng biết và thấy cái gì? Biết năm uẩn, thấy được sự tập khởi và diệt tận của năm uẩn, biết vị ngọt và sự nguy hại, sự hiểm nguy và tác hại của năm uẩn, biết sự xuất ly và thoát khỏi năm uẩn. Khi thấy và biết được như vậy thì mình thấy được nó là khổ, mình thấy cảm giác sanh diệt liên tục thì đó là vô thường, khổ và vô ngã. Cái tưởng vẽ liên tục.

37:48- 39:02 ví dụ

Tưởng uẩn là đại phù thủy, là ảo thuật gia trong nội tâm mình. Mình tưởng đủ thứ "bây giờ thầy hết thương mình rồi", "sư huynh không còn nhẹ nhàng như lúc trước nữa", ý hành của mình nói lung tung rồi tưởng tượng ra nhiều thứ, cho nên đây là khổ. Do thấy do biết nên các lậu hoặc được đoạn diệt chứ không phải không thấy không biết. Thấy biết đây là khổ, chữ đây là ngũ uẩn, một chữ này thôi là bao trùm toàn thế giới, một chữ đó chỉ tấm thân yêu dấu mấy chục kí lô này. Hãy nhìn bằng con mắt tuệ, hãy nhìn bằng sự tư duy thẩm thấu và quán chiếu. Sư cô Ấn Phổ cho nồi mít kho, thầy chiết qua 3 lần nồi mà kiến chết trong đó không biết bao nhiêu con, chỉ có một miếng ăn mà chết cả trăm con kiến cho nên nhiều khi cái bánh bị kiến bu là thầy để cho nó ăn luôn. Chỉ đi tìm miếng ăn mà chết hàng loạt, thậm chí là chết hàng ngàn, một ổ kiến bò ra không biết bao nhiêu con thì mình nghĩ trong loài người của mình, có hơn 7 tỷ người mà loài súc sanh, các thú vật là ngàn vạn tỷ con, không thể biết được số lượng nên mới nói thân người khó được, chánh pháp khó nghe. Thời điểm này có được bao nhiêu người được nghe chánh pháp, bao nhiêu người chấp nhận học pháp? Còn hạnh phúc nào bằng trong cuộc đời vô thường, ảo mộng, ngắn ngủi, tạm bợ này mà mình lại tìm thấy được chánh pháp bất tử? Còn hạnh phúc nào bằng trong cái tham sân si, bản ngã đó mà mình tìm thấy được đạo lộ giải thoát? Còn hạnh phúc nào bằng ở trong cái thân bất tịnh, hôi dơ, cấu nhiễm này mà mình tu đạt đến chỗ tâm thanh tịnh bất động? Đó là phúc lạc của chánh pháp, đó là bao nhiêu đời, bao nhiêu kiếp mình đã tích lũy thiện pháp, phước báu và công đức. Mình không cho mình dễ vui với công đức, phước báu đã tích tập trong quá khứ, mình phải tiến lên, phải thấy vui sướng và thú vị trong con đường này. Hiện tại có biết bao người khổ đau, rối bời trong bóng tối không thấy đường ra. Tại sao mình đã thấy con đường mà mình không chịu đi? Mình còn lưỡng lự, do dự không quyết tiến đến khi nào? Đây là Thánh Đế, là chân lý mà bậc thánh đã giác ngộ. Mình phải đội Thánh Đế trên đầu và lạy cho đến khi nước mắt tràn ra, lạy cho đến khi dâng trào niềm tôn kính cùng cực tột độ.

Những bậc A-la-hán, Chánh đẳng Chánh giác nào trong thời quá khứ, này các Tỳ-kheo, thật sự là bậc Chánh Ðẳng Giác; tất cả những vị ấy đã như thật chánh đẳng chánh giác bốn Thánh đế.

Những bậc A-la-hán, Chánh đẳng Chánh giác nào trong thời vị lai, này các Tỳ-kheo, thật sự là bậc Chánh Ðẳng Giác; tất cả những vị ấy sẽ chánh đẳng chánh giác bốn Thánh đế.

Những bậc A-la-hán, Chánh đẳng Chánh giác nào trong thời hiện tại, này các Tỳ-kheo, thật sự là bậc Chánh Ðẳng Giác; tất cả những vị ấy hiện đang chánh đẳng chánh giác bốn Thánh đế (Tương Ưng Bộ, Tập V – Thiên Đại Phẩm, Chương XII. Tương Ưng Sự Thật (a), III. Phẩm Kotigàma, 24. IV. A-La-Hán).

Không có một cái pháp nào khác thánh pháp này, thấy được bản chất tứ đại năm uẩn là một đống khổ. Từ đó ly tham, nhàm chán, xa lìa, chấm dứt, từ bỏ, không còn ưa thích trong đó nữa, không còn say mê đắm đuối bị nó ràng buộc trong đó nữa, nên đó là giải thoát.

Và này các Tỳ-kheo, thế nào là Thánh đế về Khổ? Cần phải được nói là năm thủ uẩn. Tức là sắc thủ uẩn, thọ thủ uẩn, tưởng thủ uẩn, hành thủ uẩn, thức thủ uẩn. Này các Tỳ-kheo, đây gọi là Thánh đế về Khổ (Tương Ưng Bộ, Tập V – Thiên Đại Phẩm, Chương XII. Tương Ưng Sự Thật (a), I. Phẩm Ðịnh, II. Phẩm Chuyển Pháp Luân, 13. III. Uẩn). 

Lúc trước mình giải thích khổ chung chung là bát khổ nhưng trong này Đức Phật giải thích rất rõ ràng khổ là năm thủ uẩn, tức là sự bám chặt vào sắc, cảm thọ, những nghĩ tưởng và nhận thức, sự bám chặt vào thân này và tất cả những vật chất bên ngoài. Đó gọi là khổ thánh đế, là tham ái và chấp thủ.

Và này các Tỳ-kheo, thế nào là Thánh đế về Khổ tập? Chính là ái này đưa đến tái sanh, câu hữu với hỷ tham, tìm cầu hỷ lạc chỗ này, chỗ kia. Tức là dục ái, hữu ái, phi hữu ái. Này các Tỳ-kheo, đây gọi là Thánh đế về Khổ tập (Tương Ưng Bộ, Tập V – Thiên Đại Phẩm, Chương XII. Tương Ưng Sự Thật (a), I. Phẩm Ðịnh, II. Phẩm Chuyển Pháp Luân, 13. III. Uẩn). 

Như vậy ái đưa đến tái sanh, ái với năm uẩn và cùng chung với sự ham muốn, vui thích trong đó rồi đi tìm cầu sự khoan khoái, thích thú ở chỗ này chỗ kia. Đi tìm niềm vui trong cõi dục rồi tới cõi sắc, cõi vô sắc. Sự yêu thích và bám chặt vào năm uẩn là nguyên nhân của khổ, đó là sự tập khởi của toàn bộ khổ uẩn này.

Và này các Tỳ-kheo, thế nào là Thánh đế về Khổ diệt? Chính là sự đoạn diệt, ly tham, không có dư tàn khát ái ấy, sự quăng bỏ, từ bỏ, giải thoát, không có chấp trước. Này các Tỳ-kheo, đây gọi là Thánh đế về Khổ diệt (Tương Ưng Bộ, Tập V – Thiên Đại Phẩm, Chương XII. Tương Ưng Sự Thật (a), I. Phẩm Ðịnh, II. Phẩm Chuyển Pháp Luân, 13. III. Uẩn). 

Đoạn diệt là đoạn dứt, chấm dứt không còn tham muốn một chút nào nữa. Sự yêu thích về năm uẩn đã bị chấm dứt, không còn sót một chút nào ham muốn nữa. Quăng bỏ năm uẩn, từ bỏ năm uẩn, sắc chất, những cảm giác, nghĩ tưởng và nhận thức, không chấp trước tất cả những vật chất và thân thể trong cuộc đời này. Tại sao phải từ bỏ, quăng bỏ, giải thoát? Vì nó là thứ vô thường, khổ, vô ngã, mình bám chặt vào nó thì làm sao mình không khổ? Vô thường là khổ, khổ là vô ngã, mình không muốn khổ mà mình bám vào những thứ đó thì làm sao được, bỏ nó ra thì hết khổ. Minh Thành thức dậy lúc 3h sáng, máy đọc kinh ở bên cạnh vẫn mở tới đoạn "tu, tỳ-kheo tu, niệm giác chi, trạch pháp giác chi, tinh tấn giác chi, khinh an giác chi, hỷ giác chi, niệm giác chi, định giác chi, xả giác chi. Tu giác chi mà liên hệ đến ly tham, liên hệ đến sự đoạn diệt, liên hệ đến viễn ly, hướng đến từ bỏ…" khi nghe đến đây thì Minh Thành rúng động thân tâm, sáng tỏ lên. Toàn bộ giáo pháp của Đức Phật trong 4 bộ Nikāya là làm cho mình thành tựu trí huệ về năm uẩn để mình có thể viễn ly, xa lìa, để không còn tham muốn đối với nó nữa, để chấm dứt và từ bỏ. Cho nên các bậc A-la-hán hay các bậc Bất lai khi nhắm mắt viên tịch là hoàn toàn nhàm chán và từ bỏ, vì vậy một khi ra đi là không quay trở lại nữa. Còn mình chỉ còn một chút nào thích thú là còn quay trở lại, mà còn trở lại đây là còn đảo điên, còn mang lông đội sừng. Mình phải chấm dứt hết tất cả các hành uẩn vô thường này.

Có năm tưởng này, này các Tỳ-kheo, được tu tập, được làm cho sung mãn, đưa đến quả lớn, lợi ích lớn, thể nhập vào bất tử, đưa đến cứu cánh bất tử. Thế nào là năm?

Tưởng bất tịnh,

Tưởng chết,

Tưởng nguy hại,

Tưởng ghê tởm các món ăn,

Tưởng không có hân hoan đối với tất cả thế giới.

Năm tưởng này, này các Tỳ-kheo, được tu tập, được làm cho sung mãn, đưa đến quả lớn, lợi ích lớn, thể nhập vào bất tử, đưa đến cứu cánh bất tử. (Tăng Chi Bộ, Chương V – Năm Pháp, VII. Phẩm Tưởng, (I) (61) Các Tưởng (1))

Nếu 5 pháp này thường được luân lưu, thường được liên tục để thực hành thì người tu sẽ vững chắc. Công việc sắp tới hạn là mình quýnh quáng, lăng xăng thì mình quán mình nằm chết, không để bản thân bị giao động mà hãy bình tĩnh để làm. Mình chết thì còn gì quan trọng nữa thì tự nhiên lúc đó năm uẩn được an tịnh, lắng dịu. Nếu mình cứ suy tính làm này làm nọ thì ngồi an trú vào tưởng chết thì sẽ được yên tịnh, vì khi chết rồi thì còn suy tính gì nữa. Bây giờ Minh Thành sẽ sống đời sống viễn ly, ẩn tu, sơn cư thiền tịnh, những công việc càng ngày sẽ càng làm cho đơn giản, tất cả đại chúng ở đây sẽ thừa hưởng được, không còn lâu mình sẽ sống đời sống của các bậc thánh đệ tử. Mình phải làm cho tới, mang tiếng đi tu thì phải tu cho chứng quả, mang tiếng ở núi thì phải ở cho đúng ý nghĩa ở núi. Phải quăng bỏ, từ bỏ, không chấp trước sắc này là tôi, cảm giác này là tôi, nghĩ tưởng này là tôi, đó là thánh đế về sự chấm dứt khổ đau.

Và này các Tỳ-kheo, thế nào là Thánh đế về Con Ðường đưa đến Khổ diệt? Ðây là Thánh đạo Tám ngành, tức là chánh tri kiến, chánh tư duy, chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng, chánh tinh tấn, chánh niệm, chánh định. Này các Tỳ-kheo, đây gọi là Thánh đế về Con Ðường đưa đến Khổ diệt (Tương Ưng Bộ, Tập V – Thiên Đại Phẩm, Chương XII. Tương Ưng Sự Thật (a), I. Phẩm Ðịnh, II. Phẩm Chuyển Pháp Luân, 13. III. Uẩn).

Sự thấy đúng về năm uẩn, sự tu duy, suy tư về ly tham, ly sân, ly dục tư duy, ly tham tư duy, bất hại tư duy. Chỉ nói những lời chân chánh, từ hòa. Từ bỏ những nghề tạo ra nghiệp trong sự nuôi sống gọi là chánh mạng, người xuất gia không làm những việc mê tín dị đoan. Vấn đề cúng sao giải hạn đã được báo chí nói đến rất nhiều, không khéo bị biến tướng thành những dịch vụ, thành ra phải giữ giới. Sự tinh tấn, siêng năng chân chánh và luôn luôn thực hành Tứ Niệm Xứ, gọi là chánh niệm, chánh định là Tứ Thiền.

Các pháp này, này các Tỳ-kheo, là các Thánh đế. Do vậy, này các Tỳ-kheo, một cố gắng cần phải làm để rõ biết: "Ðây là Khổ"... một cố gắng cần phải làm để rõ biết: "Ðây là Con Ðường đưa đến Khổ diệt"(Tương Ưng Bộ, Tập V – Thiên Đại Phẩm, Chương XII. Tương Ưng Sự Thật (a), I. Phẩm Ðịnh, II. Phẩm Chuyển Pháp Luân, 13. III. Uẩn).

Ngồi một bên, Tỳ-kheo ấy bạch Thế Tôn:

-- "Vô minh, vô minh", bạch Thế Tôn, được nói đến như vậy. Bạch Thế Tôn, thế nào là vô minh? Và cho đến như thế nào là đi đến vô minh (avijjàgato)?

-- Này Tỳ-kheo, chính là không rõ biết Khổ, không rõ biết Khổ tập, không rõ biết Khổ diệt, không rõ biết Con Ðường đưa đến Khổ diệt. Này Tỳ-kheo, đấy gọi là vô minh. Cho đến như vậy là đi đến vô minh "(Tương Ưng Bộ, Tập V – Thiên Đại Phẩm, Chương XII. Tương Ưng Sự Thật (a), I. Phẩm Ðịnh, II. Phẩm Chuyển Pháp Luân, 17. VII. Vô Minh).

Ngồi một bên, Tỳ-kheo ấy bạch Thế Tôn:

-- "Minh, minh", bạch Thế Tôn, được nói đến như vậy. Bạch Thế Tôn, thế nào là minh? Và cho đến như thế nào là đi đến minh?

-- Này Tỳ-kheo, chính là rõ biết Khổ, rõ biết Khổ tập, rõ biết Khổ diệt, rõ biết Con Ðường đưa đến Khổ diệt. Này Tỳ-kheo, đấy gọi là minh. Cho đến như vậy là đi đến minh"(Tương Ưng Bộ, Tập V – Thiên Đại Phẩm, Chương XII. Tương Ưng Sự Thật (a), I. Phẩm Ðịnh, II. Phẩm Chuyển Pháp Luân, 18. VIII. Minh).

Ðây là Thánh đế về Khổ, này các Tỳ-kheo, đã được Ta trình bày. Ở đây có vô lượng chữ (vannà), vô lượng văn (vyanjanà), vô lượng thi thiết (sankàsanà). Ðây là Thánh đế về Khổ"(Tương Ưng Bộ, Tập V – Thiên Đại Phẩm, Chương XII. Tương Ưng Sự Thật (a), I. Phẩm Ðịnh, II. Phẩm Chuyển Pháp Luân, 19. IX. Thi Thiết)

Bao nhiêu những lời nói của Đức Phật, bao nhiêu ngôn từ, những ví dụ, những hình ảnh Đức Phật đưa ra nhằm diễn tả bốn Thánh Đế, diễn tả con đường chấm dứt khổ và tiện tại mình đang đi con đường đó. Nhưng mình đã đi đến đâu rồi? Cái khổ của mình giảm được bao nhiêu hay mình vẫn còn chất chứa cái khổ nếu mình không thấy được mục đích.

Bốn pháp này, này các Tỳ-kheo, là như thật, không ly như thật (avitathàni), không khác như thật (Tương Ưng Bộ, Tập V – Thiên Đại Phẩm, Chương XII. Tương Ưng Sự Thật (a), I. Phẩm Ðịnh, II. Phẩm Chuyển Pháp Luân, 20. X. Như Thật).

Bốn Thánh Đế này là sự thật. Như thật là đúng với sự thật, không ly như thật là không rời sự thật và không khác với sự thật. Nó là sự thật chứ không khác hơn nữa. Các vị Như Lai quá khứ, hiện tại và vị lại, gọi là các bậc Chánh Đẳng Chánh Giác thì những vị này phải có sự thấy biết toàn diện, triệt để tất cả mọi khía cạnh, mọi sự thật, mọi đạo lý về bốn Thánh Đế, như vậy mới được gọi là bậc Chánh Đẳng Chánh Giác. Nếu không thấy đầy đủ đồng đều, trọn vẹn viên mãn về bốn sự thật này thì đó chưa phải là bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Chánh Giác. Mình tu bây giờ là phải thể nhập thánh đế, thánh đế đệ nhất nghĩa chính là cái này, tối thượng thừa là Bát Chánh Đạo, là cỗ xe tối thượng. Cái nghĩa tột cùng của Phật pháp là Tứ Thánh Đế, chấm dứt được tất cả khổ.

./.

Do không như thật thấy,

Bốn sự thật bậc Thánh,

Phải lâu ngày luân chuyển,

Trải qua nhiều đời sống.

Khi chúng được thấy rõ,

Mầm tái sanh nhổ sạch,

Gốc khổ được đoạn tận,

Nay không còn tái sanh.

(Tương Ưng Bộ, Tập V – Thiên Đại Phẩm, Chương XII. Tương Ưng Sự Thật (a), III. Phẩm Kotigàma, 21.I. Minh).

./.