Năm Triền Cái 1 - Nguy Hại Của 5 Triền Cái
5 TRIỀN CÁI
PHẦN 1
NGUY HẠI CỦA NĂM TRIỀN CÁI
THÍCH MINH THÀNH
Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật. Kính thưa đại chúng, hôm nay chúng ta bước qua chuyên đề hết sức quan trọng trong tinh thần của tạng kinh Nikāya. Từ lời dạy gốc của Đức Phật, toàn bộ công trình tu học của người xuất gia không ra khỏi 4 chữ diệt tận nhiễm ô. Muốn diệt tận ô nhiễm thì điều đầu tiên là mình phải biết ô nhiễm ở đâu, ô nhiễm như thế nào. Muốn biết ô nhiễm ở đâu, ô nhiễm như thế nào thì mình phải luôn thường trực mọi lúc mọi nơi quay trở lại phát hiện, phát giác ra ô nhiễm. Vì thói quen của con người chúng ta là buông lung phóng dật, sự thả lỏng các căn, không thu nhiếp lại cho nên mình không thấy được các pháp sanh khởi, an trú, vận hành, nó chi phối, áp đảo, tác động trong thân tâm như thế nào, mình đều không thấy không biết. Chính vì sự không thấy, không biết nên mình hành xử theo chiều của vô minh, tham ái, chấp thủ, bản ngã, hơn thua, cống cao ngã mạn, tật đố, ganh tỵ, khen mình chê người. Tất cả những pháp nhiễm đã tràn ngập thân tâm mà mình không thấy không biết. Sự không thấy không biết gọi là vô văn phàm phu. Còn đa văn thánh đệ tử là người luôn thường trực chánh niệm tỉnh giác để soi rọi lại thân tâm chính mình. Thành ra điều quan trọng đầu tiên là phải thường trực nhìn lại, thứ 2 là phát hiện ra ô nhiễm, thứ 3 là tẩy sạch những cái ô nhiễm đó bằng những phương pháp rất hiệu nghiệm. Bốn thánh quả trong đạo Phật có thể ví dụ như người bị mù, căn nhà của họ 2-30 năm không được dọn dẹp, dơ bẩn rất nhiều, những người mù đó không thấy được rác bẩn. Người này được bác sĩ giỏi, trị cho sáng mắt ra thì cái đầu tiên họ nhìn thấy trong căn nhà chính mình là rác bẩn, những cấu nhiễm không dọn trong mấy chục năm. Cho nên bậc thánh trí thứ nhất Tu-đà-hoàn là người nhìn thấy được nhiễm ô trong nội tâm của mình, khi đã thấy được thì người này nhất định sẽ dọn dẹp, tẩy rửa và người này sẽ đi đến chỗ sạch sẽ. Như vậy thấy rác là thánh quả thứ nhất, dọn rác là thánh quả thứ 2. Sau khi dọn rồi, còn lại những cái rác vi tế mà mình chùi rửa được là thánh quả thứ 3. Cuối cùng là sạch sẽ hoàn toàn, thanh tịnh triệt để là thánh quả thứ 4, cũng là đại công cáo thành. Theo tinh thần được Đức Phật dạy thì chúng ta thấy rằng cả đời sống xuất gia của mình công cuộc tu hành rất đơn giản. Nghĩa là lúc nào cũng quay lại nhìn trong nội tâm, nhìn trong sắc; thọ; tưởng; hành; thức để phát hiện được tham sân si, mạn, nghi, bản ngã, khen mình chê người, hơn thua phải quấy, danh lợi… Thấy được những cái này rồi dùng những phương pháp tẩy sạch nó là thành công.
Sở dĩ chúng ta học 5 triền cái là do đây phần rác thô nhất của nội tâm. Nếu mình không tẩy được 5 cái này ở một trình độ nhất định thì mình không thể nào vào tâm an tịnh. Triền là trói cột, buộc ràng. Cái là che đậy. Năm cái này trói buộc tâm mình, che đậy tâm mình. Nếu 5 cái này còn tồn tại mãnh liệt trong tâm thì không thể nào mình đi vào được tâm yên tịnh. Không vào tâm yên tịnh thì sự tư duy quán chiếu của mình không thành tựu. Khi kiểm tra lại thì 5 cái này còn đầy rẫy, như vậy sự tu tập của mình chưa đi tới đâu.
Năm triền cái là sự chứa nhóm bất thiện pháp. Bất thiện là ác. Năm thứ này là một đống bất thiện pháp, là một đống ác pháp.
Nói đến một đống bất thiện, này các Tỳ-kheo, nói một cách chơn chánh là nói đến năm triền cái. Thật vậy, này các Tỳ-kheo, toàn bộ đống bất thiện tức là năm triền cái. Thế nào là năm?
Dục tham triền cái, sân triền cái, hôn trầm thụy miên triền cái, trạo hối triền cái, nghi triền cái.
Nói đến một đống bất thiện, này các Tỳ-kheo, nói một cách chơn chánh là nói đến năm triền cái. Thật vậy, này các Tỳ-kheo, toàn bộ đống bất tiện này, này các Tỳ-kheo, tức là năm triền cái (Tăng Chi Bộ kinh, Chương V. Năm Pháp, VI. Phẩm Triền Cái, bài Đống).
Hiện tại mình đang ngồi đây mà không khí bên ngoài cứ rần rần thì đây là trạo hối triền cái. Trạo là trạo cử. Hối là hối hận, hối tiếc. Dục tham trói cột, che đậy tâm mình giống như trong bài kinh Dây Thằng được Đức Phật ví dụ con chó cột quanh cột trụ, không thể đi ra khỏi cây cột ấy.
Ví như, này các Tỳ-kheo, có con chó bị dây thằng trói chặt vào một cây cột hay cột trụ vững chắc, chạy vòng theo, chạy tròn xung quanh cây cột ấy hay cột trụ ấy (Tương Ưng Bộ, Tập III. Thiên Uẩn, Chương I. Tương Ưng Uẩn, V. Phẩm Hoa, VII. Dây Thằng)
Dục tham triền cái là cái tâm mình đi lẩn quẩn trong dục tham, không thể ra khỏi dục tham được. Hằng ngày mở mắt ra nghĩ sáng ăn gì, trưa chiều ăn gì, đói thì bị thúc giục, mình thích món đó là ái, muốn ăn thêm nữa là tham. Ngoài ra còn tham đi chơi, tham tiền, sâu sắc hơn nữa là tham dục ái… bao nhiêu những thứ tham. Bây giờ mình cứ lòng vòng trong cái tham đó thì gọi là triền, chính vì bị triền như vậy cho nên cái tâm bị che đậy, không phát sáng được. Giống như mặt trăng bị mây đen che phủ không sáng ra ánh sáng.
Sân triền cái cũng vậy. Khi mình giận một ai thì cảm giác, hình bóng, suy nghĩ cứ lòng vòng về người đó. Như vậy gọi là sân triền cái.
Hôn trầm thùy miên là buồn ngủ, đờ đẫn, mơ màng, 2 con mắt cứ sụp xuống. Cái tâm mình cứ lòng vòng trong sự uể oải, lờ mờ đó không ra khỏi nó được. Bị trói cột và bị che đậy trong đó. Khi bị trói cột, che đậy thì pháp âm không đi vào tâm, hoặc cái pháp mình đang thực tập trên bồ đoàn, trên thiền đường không hiện rõ ra. Ví dụ ngồi thiền thì mất hơi thở, không thấy cảm giác toàn thân mà cứ lòng vòng trong hôn trầm thùy miên, thì gọi là triền cái, bị buộc chặt và che đậy trong đó.
Trạo hối là lăng xăng, cứ giao động, lao xao không yên tịnh được. Thiền sư GoenKa mở khóa thiền 10 ngày, trong 10 ngày đó tuyệt đối không được nói chuyện. Khóa thiền đó được mở khắp thế giới, hoàn toàn miễn phí, tu tập hết khóa tu thì ai muốn đóng góp tiền, công đức như thế nào thì tùy tâm. Khi ghi danh với quy định như vậy thì rất tốt cho mình, một khi không nói chuyện thì các pháp trong nội tâm hiện ra mình sẽ thấy rõ hơn. Khi tham sân khởi lên hay thọ; tưởng; hành hiện lên mình đều thấy rất rõ, nếu đánh đuổi được 5 triền cái này thì công cuộc tu hành của mình mới tiến bộ.
Nghi triền cái là sự nghi ngờ, là mình không quyết liệt trong đường tu hay trong cái pháp, trong sự học không được tiến vững bước.
Này các Tỳ-kheo có năm cấu uế này đối với vàng, sắt, đồng, thiếc, chì, bạc. Do những cấu uế ấy, vàng bị uế nhiễm, không có nhu nhuyến, không có kham nhậm, không có chói sáng, dễ bị bể vụn (pabhangu), và không chân chánh chịu sử dụng. Cũng vậy, này các Tỳ-kheo, có năm cấu uế này của tâm, chính những cấu uế ấy khiến tâm bị uế nhiễm, không có nhu nhuyến, không có kham nhậm, không có chói sáng, dễ bị bể vụn, không chân chánh được định tĩnh để đoạn diệt các lậu hoặc (Tương Ưng Bộ, Tập V. Thiên Đại Phẩm, Chương II. Tương Ưng Giác Chi, IV. Phẩm Triền Cái, bài Cấu Uế 1).
Sở dĩ vàng không được mềm mại, không có kham nhậm, tức là nó không thể làm ra món đồ theo ý mình, không chói sáng, dễ bị bể vụn là do nó bị pha tạp, bị lẫn lộn những cấu uế, tạp chất của sắt, đồng, thiếc, chì và bạc. Cho nên nó không dễ sử dụng. Cái tâm bị 5 thứ này xâm chiếm, chi phối làm cho ô uế thì cái tâm sẽ không được định tĩnh. Tại sao tâm không định tĩnh? Nếu mình có tham muốn, yêu thích, nhất là về chuyện tình cảm thì cái tâm không được yên. Những hình bóng, suy nghĩ, cảm giác hiện khởi trở lại thì cái tâm bị giao động. Nếu mình giận một ai đó thì hơi thở có yên không, có định được không? Trạo cữ là ngồi một chút là lắc qua lắc lại, nghe tiếng gì cũng quay qua nhìn. Nghi là sự nghi ngờ. Hôn trầm là bị buồn ngủ. Những cái này làm tâm không định tĩnh, đã không định tĩnh thì không thể đoạn diệt các lậu hoặc.
Tác hại của 5 triền cái này như thế nào? Nó ảnh hưởng đến sự tu học như thế nào? Những điều này rất quan trọng, nhiều khi nói những điều cao siêu nhưng những cái làm chướng ngại cho tâm thì lại không thấy không biết. Nếu có suy nghĩ khi tâm khởi lên tham dục hay sân hận thì mình chỉ ghi nhận, không chống trả, chế ngự, không chiến đấu vì sẽ gặp phiền não thì đây là nhận định sai lầm, không đúng với chánh pháp của Đức Phật. Nếu trộm vào chùa lấy thùng phước sương hay ăn cắp đồ thì mình chạy tới giành lại, đánh trả hay ngồi yên nhìn nó lấy? Cho nên quan điểm không chiến đấu, chế ngự lại bất thiện pháp khi nó khởi lên là sai, không có đúng. Nếu mình quan niệm như vậy thì không có sự tu chứng, tu như vậy là tu theo cách thụ động, khi có vấn đề xảy ra thì không phải chỉ ghi nhận vấn đề rồi để đó là xong chuyện. Không phải mọi chuyện trên thế gian này chỉ là biết rồi để đó, không phải như vậy, biết rồi là phải làm. Cách đây 20 năm, khi Minh Thành nhập thất tại Quan Âm Phật Đài tại Vũng Tàu. Vào khoảng 12h30 Minh Thành đang nằm nghỉ trưa trên võng thì bất chợt nghe ầm ầm trên mái nhà. Lúc đầu nghe cũng không để ý, lúc sau nghe âm thanh vọng càng nhiều thì mở mắt ra xem thì thấy con rắn dài hơn 1,5m. Lúc sau Minh Thành hỏi thì mới biết đó là rắn rồng. Minh Thành nghĩ "thôi kệ nó, mình ngủ cứ ngủ vì nó đâu làm gì tới mình" nhưng lâu lâu cũng hé mắt ra nhìn xem nó còn trên mái không hay nó đi rồi. Tuy là mình không có tâm muốn hại nó nhưng vẫn có tâm phòng thủ vì sợ nó hại mình, cho đến khi nào con rắn đi ra khỏi thất thì mình mới ngủ yên. Đó nói theo kiểu người tu hành, không sát hại nó chứ bình thường là người ta dùng cây gậy bắt hay giết nó, hoặc ít nhất cũng phải đuổi nó đi, hay là mình cũng dùng cây tạo tiếng động để nó bò đi xa chứ mình không thể chỉ biết con rắn ở đó rồi ghi nhận nó ở đó là xong. Hay mình đang ngủ mà có con rết dài 3-4cm bò đến, mình thấy nó rồi ghi nhận có nó đang kế bên hông mình là xong hay sao? Rồi tiếp tục nằm ngủ? Cho nên khi nói rằng việc tu học mà chỉ ghi nhận khi những cái xấu ác hiện khởi lên là sai, không đúng chánh pháp, vậy mà bây giờ ở các nước Phật giáo nguyên thủy lại phổ biến rất nhiều. Minh Thành đã qua 8 trường Thiền của Thái Lan, Miến Điện đều thấy như vậy. Thành ra việc ghi nhận chỉ là bước ban đầu, ngoài ra còn phải dùng Như lý tác ý và quán chiếu để đánh đuổi nó, đây là việc tu tích cực. Phải tiếp nhận những cái thấy biết chân chánh của Đức Phật từ những vị giáo thọ sư truyền đạt cho mình.
Có huynh đệ nói chỉ có bậc thánh mới diệt trừ được 5 triền cái này, nói như vậy là mình đã đóng sập cánh cửa chứng ngộ của chính mình. Vì đâu có thánh? Từ phàm mới có thánh, nếu mình nói chỉ có bậc thánh mà bậc thánh đó ở đâu ra? Cho nên ngài Milarepa khi chuẩn bị viên tịch, nhập Niết-bàn thì các đệ tử mới nói bạch tôn sư, ngài là đấng nào, là vị nào mà xuống cõi này để giáo hóa cho chúng con. Nghe như vậy thì Milarepa quở trách: Các ông chớ có suy nghĩ như vậy, các ông suy nghĩ như vậy là chê bai, hủy nhục ta. Tại sao ngài chứng thành thánh Tăng, chứng thành thánh quả? Có 2 yếu tố cực kì quan trọng mà giờ mình lại xem thường, đó là sợ hãi nghiệp quả. Lúc trước mình giải thích chung chung từ tàm quý là hổ thẹn, như vậy là không có đủ. Tàm là hổ thẹn, quý là sợ hãi, cho nên mới có từ vô sở quý, là không còn sợ gì nữa. Từ này chỉ các bậc thánh đã chứng vô ngã. Ngài Milarepa nói rằng: Ta đã dùng quyền thuật để giết hại ông bà, cô chú bác xóm làng, mấy chục mạng người chết. Ở Tây Tạng Phật giáo phát triển rất hưng thịnh, cho nên những kiến thức căn bản về Phật giáo được dạy từ nhỏ cho trẻ. Chính vì vậy ngài biết rằng với nghiệp sát sanh này, dù chỉ giết 1 người còn phải đọa địa ngục, huống chi ngài giết mấy chục người, lại còn là bà con cô bác của mình. Trong quyển Con Người Siêu Việt viết về cuộc đời của ngài Milarepa thì trong đó ngài nói rằng do ta biết rằng với nghiệp quả này ta nhất định sẽ đọa địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh nên ta sợ hãi, hoảng sợ. Nếu ta không tu, không cầu cái pháp giải thoát thì nhất định ta sẽ đọa địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh. Vì thế từ cái sợ hãi đó mới tạo thành cái động lực mạnh mẽ, quyết liệt để ngài tầm cầu con đường giải thoát. Từ cái nhận thức được nghiệp quả mới sanh ra sự sợ hãi, từ cái sợ hãi đó mới tạo thành động lực mãnh liệt thúc đẩy để ngài tìm cầu giáo pháp giải thoát, và cuối cùng ngài thành tựu. Nếu bây giờ mới sanh ra là thánh nhân thì còn nói gì nữa. Ngài nói ta là một con người tầm thường tạo ra bao nhiêu thứ nghiệp, là tên xấu xa, là tên tội đồ hung ác. Từ chỗ đó ta biến thành một bậc thánh Tăng giác ngộ, một bậc đại đạo sư. Như thế mới là con người siêu việt, chứ nếu ta là thánh nhân ở cõi nào xuống đây giáo hóa thì còn gì là siêu việt? Nhưng mà là thánh nhân đi nữa nhưng là thánh nhân từ đâu ra nếu không từ phàm nhân? Đây là chỗ hết sức quan trọng, nếu có những tư tưởng vị đó là thị hiện, vị đó là ứng hiện thì những suy nghĩ đó vô tình mình đã phỉ báng các ngài. Cho nên:
Này các Tỳ-kheo, ta cố gắng như sau: "Ta sẵn sàng, dầu chỉ còn da, gân và xương, dầu thịt và máu trên thân bị khô héo, mong rằng sẽ có tinh tấn kiên trì để chứng đắc những gì chưa chứng đắc, nhờ sức mạnh của người, nhờ tinh tấn của người, nhờ cần dõng của người. Ta nhờ không phóng dật, chứng được Chánh Giác. Nhờ không phóng dật, chứng được Vô thượng an ổn khỏi các khổ ách (Tăng Chi Bộ kinh, Chương Hai Pháp, I. Phẩm Hình Phạt, bài Hai Loại Tội).
Những điểm này Minh Thành muốn chấn chỉnh lại để mọi người thành tựu được cái thấy biết chân xác về giáo pháp cũng như trong sự tu học.
Có năm chướng ngại triền cái này, này các Tỳ-kheo, bao phủ tâm, làm yếu ớt trí tuệ ( Tăng Chi Bộ, 5. Chương Năm Pháp, VI. Phẩm Triền Cái, bài Ngăn Chặn). Mà trí huệ yếu kém như vậy thì để chứng ngộ được pháp Thượng nhân, tri kiến thù thắng xứng đáng bậc Thánh; sự kiện này không xảy ra.
Ví như, này các Tỳ-kheo, một con sông chảy, từ núi xuống, chảy thật xa, dòng chảy nhanh cuốn trôi mọi vật. Rồi có người lấy cày mở hai bên bờ sông. Như vậy, này các Tỳ-kheo, dòng sông ấy ở chặng giữa bị trở ngại, tràn rộng, bị chuyển hướng, không còn chảy ra xa, không còn chảy nhanh, không cuốn trôi mọi vật.
Cũng vậy, này các Tỳ-kheo, Tỳ-kheo ấy không đoạn tận năm chướng ngại triền cái này bao phủ tâm, làm yếu ớt trí tuệ, không có sức mạnh và trí tuệ yếu kém, sẽ biết được lợi ích của mình, hay sẽ biết lợi ích của người, hay có thể biết lợi ích của cả hai, sẽ chứng ngộ được pháp thượng nhân, trí kiến thù thắng, xứng đáng bậc Thánh; sự kiện này không xảy ra.
Dòng sông chảy mạnh như vậy thì làm sao có thể dùng cây cuốc nhỏ để dòng nước chảy ngược dòng? Điều này không thể xảy ra.
Vị Tỳ-kheo ấy, sau khi đoạn tận năm chướng ngại triền cái này bao phủ tâm, làm yếu ớt trí tuệ, có sức mạnh và có trí tuệ, sẽ biết được lợi ích của mình, hay sẽ biết lợi ích của người, hay sẽ biết được lợi ích của cả hai, sẽ chứng ngộ được pháp thượng nhân, tri kiến thù thắng, xứng đáng bậc Thánh; sự kiện này có xảy ra.
Này các Tỳ-kheo, một con sông chảy từ núi xuống, chảy thật xa, dòng nước chảy nhanh, cuốn trôi mọi vật. Có người chận đóng lại các cửa miệng hai bên bờ sông. Như vậy, này các Tỳ-kheo, dòng sông ấy ở chặng giữa không bị trở ngại, không có chảy tràn, không bị chuyển hướng, chảy được thật xa, dòng nước chảy nhanh, cuốn trôi mọi vật.
Cũng vậy, này các Tỳ-kheo, Tỳ-kheo ấy sau khi đoạn tận năm chướng ngại triền cái này bao phủ tâm, làm yếu ớt trí tuệ, có sức mạnh, có trí tuệ, sẽ biết được lợi ích của mình, hay sẽ biết được lợi ích của người, hay có thể biết lợi ích của cả hai, sẽ chứng ngộ được pháp thượng nhân, tri kiến thù thắng, xứng đáng bậc Thánh; sự kiện này có xảy ra (Tăng Chi Bộ, 5. Chương Năm Pháp, VI. Phẩm Triền Cái, bài Ngăn Chặn).
Đức Phật đưa ra những hình ảnh này để mình thấy rằng phải đoạn tận 5 triền cái thì mới thành tựu được tri kiến thù thắng của bậc thánh. Người nào bị 5 triền cái chi phối thì không thể an trú vào sơ thiền, cũng như gặp chướng ngại trong thánh đạo, thánh quả. Hình ảnh ấn tượng nhất là 5 ví dụ của Đức Phật.
Bà-la-môn Sangàrava đi đến Thế Tôn. Ngồi xuống một bên, Bà-la-môn Sangàrava thưa với Thế Tôn:
Do nhân gì, do duyên gì, thưa Tôn giả Gotama, có khi các chú thuật học thuộc lòng lâu ngày (đọc tụng) lại không thể nhớ lên được, còn nói gì các chú thuật không được học thuộc lòng? Do nhân gì, do duyên gì, thưa Tôn giả Gotama, có khi các chú thuật không học thuộc lòng lâu ngày (đọc tụng) lại nhớ lên được, còn nói gì các chú thuật đã được học thuộc lòng! (Tăng Chi Bộ, 5. Chương Năm Pháp, XX. Phẩm Bà-La-Môn, bài Bà-La-Môn Sangarava)
Ý của vị Bà-la-môn này nói có những chú thuật học thuộc rồi nhưng bị quên, còn có những chú thuật không học thuộc nhưng lại nhớ. Khi Đức Phật nghe vậy đã nói:
Này Bà-la-môn, khi trú với tâm bị dục tham xâm chiếm, bị dục tham chi phối, và không như thật biết rõ sự xuất ly khỏi dục tham đã khởi lên; trong khi ấy, người ấy không như thật biết và thấy lợi ích của mình, trong khi ấy, người ấy không như thật biết và thấy lợi ích của người; trong khi ấy, không như thật biết và thấy lợi ích cả hai, cho nên các chú thuật được học thuộc lòng lâu ngày lại không thể nhớ lên được, còn nói gì các chú thuật không được học thuộc lòng!
Ví như, này Bà-la-môn, một bát nước trộn lẫn với thuốc nhuộm gôm lặc, hay màu đỏ tía, hay màu xanh hay màu vàng và ở đây, một người có mắt muốn ngắm nghía bóng mặt của mình, không có thể như thật biết được, thấy được. Cũng vậy, này Bà-la-môn, trong khi trú với tâm bị dục tham xâm chiếm, bị dục tham chi phối, không như thật rõ biết sự xuất ly khỏi dục tham đã khởi lên; trong khi ấy, người ấy không như thật biết và thấy lợi ích của mình; trong khi ấy, không như thật biết và thấy lợi ích của người; trong khi ấy, không như thật biết và thấy được lợi ích của cả hai, cho nên các chú thuật được học thuộc lòng lâu ngày lại không nhớ lên được, còn nói gì các chú thuật không được học thuộc lòng!
Như vậy cái tâm tham giống như nước bị pha màu, bị nhuộm, bị trộn màu. Do bị nhuộm màu cho nên người đó muốn xem bóng mình trong đó cũng không thể thấy rõ. Giống như ly trà sữa đủ thứ màu sắc trong đó, đục ngầu thì làm sao thấy rõ mình trong đó. Cái tâm tham của mình về tiền thì có màu tham tiền, nếu tham sắc thì bị pha màu của sắc, nếu tham xe, nhà cửa, đất đai thì đó cũng là cái tâm bị trộn màu. Chính vì cái tâm bị lẫn lộn như vậy nên không thể nhớ được pháp. Cho nên ngài Ananda rất tuyệt vời, ngài có thể truyền trì pháp tạng là khi nghe pháp ngài không bị 5 triền cái chi phối. Đây là chỗ tuyệt diệu, tâm của ngài giống như bát nước trong suốt, nhìn vào phản chiếu thấy rõ gương mặt. Vì thế những ví dụ của Đức Phật rất tuyệt vời, đây là ví dụ của bậc Chánh Đẳng Giác. Khi ngồi thiền nếu mình có tham một vật gì đó, hay thương ai đó thì lúc đó tâm mình bị pha màu nên giao động.
Đức Phật ví dụ cái tâm bị sân xâm chiếm giống như một bát nước được lửa đun sôi, sôi lên sùng sục, sôi lên cuồn cuộn. Ở đây, một người có mắt muốn ngắm nghía bóng mặt của mình, không thể như thật biết và thấy được. Cũng vậy, này Bà-la-môn, trong khi trú với tâm bị sân xâm chiếm...cho nên các chú thuật được học thuộc lòng lâu ngày lại không nhớ lên được, còn nói gì các chú thuật không được học thuộc lòng! Khi xưa dùng bát nhưng bây giờ nói dễ hiểu là nồi nước sôi, nước trong đó không bị lẫn màu nhưng sôi sùng sục thì cũng không thể thấy được bóng mình trong đó khi ngắm nhìn. Nước sôi như vậy thì nắp nồi bị động chuyển, nước tràn ra miệng nồi. Khi tâm mình sân lên thì cũng giống vậy, trong tâm thúc đẩy những cái tâm hại, tâm sân hiện ra, những cái tâm bực bội, tức tối tràn lên mặt thì làm sao vào thiền, làm sao vào định? Cho nên khi giận một ai thì không vui sướng gì, người chịu thiệt thòi trước tiên là người giận, mình nắm cục lửa than thì nó đã bốc cháy trong tay mình trước rồi mình quăng cục lửa đó cho ai thì tiếp theo người đó sẽ bị cháy. Như vậy ngay thời điểm mình giận ai đó thì cái nguy hiểm, cái thiệt thòi là mình gánh đầu tiên. Với một cái tâm như nồi nước đang sôi dữ dội như vậy thì không thể đi đến chỗ phẳng lặng, không thể đi đến chỗ an định, trong suốt để mình thấy rõ bóng hình chính mình trong đó.
Cái tâm hôn trầm thùy miên như một bát nước bị rong rêu che phủ. Ở đây, một người có mắt muốn ngắm nghía khuôn mặt của mình, không thể như thật biết và thấy được. Cũng vậy, này Bà-la-môn, trong khi trú với tâm bị hôn trầm thụy miên xâm chiếm... còn nói gì các chú thuật không được học thuộc lòng! Ngồi ở đâu cũng lờ đờ buồn ngủ, gục đầu nằm dài cũng giống như rong rêu, bèo bao phủ thì làm sao mình thấy trong đó có gì? Như vậy cái tâm bị bao phủ, yếu ớt trí huệ, chướng ngại thánh đạo, thánh quả.
Năm triền cái này, này các Tỳ-kheo, tác thành si ám, tác thành không mắt, tác thành vô trí, đoạn diệt trí tuệ, dự phần vào tổn hại, không đưa đến Niết-bàn (Tương Ưng Bộ, Tập V. Thiên Đại Phẩm, Chương II. Tương Ưng Giác Chi, IV. Phẩm Triền Cái, bài Triền Cái). Một cái hồ bị lục bình, bèo dạt, rong rêu bao phủ như vậy thì mặt trời, mặt trăng, sao cũng không thể soi sáng được bên trong hồ đó, một cái tâm hôn trầm thùy miên cũng giống như vậy.
Một cái tâm trạo hối sẽ như một bát nước bị gió thổi, dao động, chấn động, nổi sóng. Ở đây, một người có mắt muốn ngắm nghía khuôn mặt của mình, không thể như thật biết được và thấy được. Cũng vậy, này Bà-la-môn, trong khi trú với tâm bị trạo hối xâm chiếm... còn nói gì các chú thuật không được học thuộc lòng! (Tăng Chi Bộ, 5. Chương Năm Pháp, XX. Phẩm Bà-La-Môn, bài Bà-La-Môn Sangarava). Lấy một hòn sỏi thảy xuống mặt hồ phẳng lặng thì mặt hồ gợn sóng lao xao như vậy, huống chi gió thổi liên tục thì làm sao mặt hồ yên tịnh được. Với một cái tâm không định tĩnh, cái thân không thể ngồi yên thì cũng giống như mặt hồ bị gió thổi. Miệng và thân yên tịnh được cũng là cả một vấn đề có gắng nỗ lực chiến đấu chứ không phải chỉ ghi nhận để đó. Dục tham nổi lên rồi mình ghi nhận để yên thì hết tham hay sao? Quán bất tịnh liên tục mà tham dục vẫn còn hừng hực, vẫn còn nóng bỏng, khao khát thì chỉ ghi nhận để yên thì làm sao dập tắt được nó? Mình phải tinh tường, tinh anh trong sự tu chứ không đơn giản như mình nghĩ.
Cái tâm nghi hoặc giống như một bát nước bị khuấy động, khuấy đục, khuấy bùn, đặt trong bóng tối. Ở đây, một người có mắt muốn ngắm nghía khuôn mặt của mình, không thể như thật biết được và thấy được. Ở đây thêm một điều nữa là không những bát nước bị khoáy động mà còn có bùn trong đó, lại còn để trong bóng tối thì làm sao thấy được mặt mình trong đó?
./.
PHẦN 1
NGUY HẠI CỦA NĂM TRIỀN CÁI
THÍCH MINH THÀNH
Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật. Kính thưa đại chúng, hôm nay chúng ta bước qua chuyên đề hết sức quan trọng trong tinh thần của tạng kinh Nikāya. Từ lời dạy gốc của Đức Phật, toàn bộ công trình tu học của người xuất gia không ra khỏi 4 chữ diệt tận nhiễm ô. Muốn diệt tận ô nhiễm thì điều đầu tiên là mình phải biết ô nhiễm ở đâu, ô nhiễm như thế nào. Muốn biết ô nhiễm ở đâu, ô nhiễm như thế nào thì mình phải luôn thường trực mọi lúc mọi nơi quay trở lại phát hiện, phát giác ra ô nhiễm. Vì thói quen của con người chúng ta là buông lung phóng dật, sự thả lỏng các căn, không thu nhiếp lại cho nên mình không thấy được các pháp sanh khởi, an trú, vận hành, nó chi phối, áp đảo, tác động trong thân tâm như thế nào, mình đều không thấy không biết. Chính vì sự không thấy, không biết nên mình hành xử theo chiều của vô minh, tham ái, chấp thủ, bản ngã, hơn thua, cống cao ngã mạn, tật đố, ganh tỵ, khen mình chê người. Tất cả những pháp nhiễm đã tràn ngập thân tâm mà mình không thấy không biết. Sự không thấy không biết gọi là vô văn phàm phu. Còn đa văn thánh đệ tử là người luôn thường trực chánh niệm tỉnh giác để soi rọi lại thân tâm chính mình. Thành ra điều quan trọng đầu tiên là phải thường trực nhìn lại, thứ 2 là phát hiện ra ô nhiễm, thứ 3 là tẩy sạch những cái ô nhiễm đó bằng những phương pháp rất hiệu nghiệm. Bốn thánh quả trong đạo Phật có thể ví dụ như người bị mù, căn nhà của họ 2-30 năm không được dọn dẹp, dơ bẩn rất nhiều, những người mù đó không thấy được rác bẩn. Người này được bác sĩ giỏi, trị cho sáng mắt ra thì cái đầu tiên họ nhìn thấy trong căn nhà chính mình là rác bẩn, những cấu nhiễm không dọn trong mấy chục năm. Cho nên bậc thánh trí thứ nhất Tu-đà-hoàn là người nhìn thấy được nhiễm ô trong nội tâm của mình, khi đã thấy được thì người này nhất định sẽ dọn dẹp, tẩy rửa và người này sẽ đi đến chỗ sạch sẽ. Như vậy thấy rác là thánh quả thứ nhất, dọn rác là thánh quả thứ 2. Sau khi dọn rồi, còn lại những cái rác vi tế mà mình chùi rửa được là thánh quả thứ 3. Cuối cùng là sạch sẽ hoàn toàn, thanh tịnh triệt để là thánh quả thứ 4, cũng là đại công cáo thành. Theo tinh thần được Đức Phật dạy thì chúng ta thấy rằng cả đời sống xuất gia của mình công cuộc tu hành rất đơn giản. Nghĩa là lúc nào cũng quay lại nhìn trong nội tâm, nhìn trong sắc; thọ; tưởng; hành; thức để phát hiện được tham sân si, mạn, nghi, bản ngã, khen mình chê người, hơn thua phải quấy, danh lợi… Thấy được những cái này rồi dùng những phương pháp tẩy sạch nó là thành công.
Sở dĩ chúng ta học 5 triền cái là do đây phần rác thô nhất của nội tâm. Nếu mình không tẩy được 5 cái này ở một trình độ nhất định thì mình không thể nào vào tâm an tịnh. Triền là trói cột, buộc ràng. Cái là che đậy. Năm cái này trói buộc tâm mình, che đậy tâm mình. Nếu 5 cái này còn tồn tại mãnh liệt trong tâm thì không thể nào mình đi vào được tâm yên tịnh. Không vào tâm yên tịnh thì sự tư duy quán chiếu của mình không thành tựu. Khi kiểm tra lại thì 5 cái này còn đầy rẫy, như vậy sự tu tập của mình chưa đi tới đâu.
Năm triền cái là sự chứa nhóm bất thiện pháp. Bất thiện là ác. Năm thứ này là một đống bất thiện pháp, là một đống ác pháp.
Nói đến một đống bất thiện, này các Tỳ-kheo, nói một cách chơn chánh là nói đến năm triền cái. Thật vậy, này các Tỳ-kheo, toàn bộ đống bất thiện tức là năm triền cái. Thế nào là năm?
Dục tham triền cái, sân triền cái, hôn trầm thụy miên triền cái, trạo hối triền cái, nghi triền cái.
Nói đến một đống bất thiện, này các Tỳ-kheo, nói một cách chơn chánh là nói đến năm triền cái. Thật vậy, này các Tỳ-kheo, toàn bộ đống bất tiện này, này các Tỳ-kheo, tức là năm triền cái (Tăng Chi Bộ kinh, Chương V. Năm Pháp, VI. Phẩm Triền Cái, bài Đống).
Hiện tại mình đang ngồi đây mà không khí bên ngoài cứ rần rần thì đây là trạo hối triền cái. Trạo là trạo cử. Hối là hối hận, hối tiếc. Dục tham trói cột, che đậy tâm mình giống như trong bài kinh Dây Thằng được Đức Phật ví dụ con chó cột quanh cột trụ, không thể đi ra khỏi cây cột ấy.
Ví như, này các Tỳ-kheo, có con chó bị dây thằng trói chặt vào một cây cột hay cột trụ vững chắc, chạy vòng theo, chạy tròn xung quanh cây cột ấy hay cột trụ ấy (Tương Ưng Bộ, Tập III. Thiên Uẩn, Chương I. Tương Ưng Uẩn, V. Phẩm Hoa, VII. Dây Thằng)
Dục tham triền cái là cái tâm mình đi lẩn quẩn trong dục tham, không thể ra khỏi dục tham được. Hằng ngày mở mắt ra nghĩ sáng ăn gì, trưa chiều ăn gì, đói thì bị thúc giục, mình thích món đó là ái, muốn ăn thêm nữa là tham. Ngoài ra còn tham đi chơi, tham tiền, sâu sắc hơn nữa là tham dục ái… bao nhiêu những thứ tham. Bây giờ mình cứ lòng vòng trong cái tham đó thì gọi là triền, chính vì bị triền như vậy cho nên cái tâm bị che đậy, không phát sáng được. Giống như mặt trăng bị mây đen che phủ không sáng ra ánh sáng.
Sân triền cái cũng vậy. Khi mình giận một ai thì cảm giác, hình bóng, suy nghĩ cứ lòng vòng về người đó. Như vậy gọi là sân triền cái.
Hôn trầm thùy miên là buồn ngủ, đờ đẫn, mơ màng, 2 con mắt cứ sụp xuống. Cái tâm mình cứ lòng vòng trong sự uể oải, lờ mờ đó không ra khỏi nó được. Bị trói cột và bị che đậy trong đó. Khi bị trói cột, che đậy thì pháp âm không đi vào tâm, hoặc cái pháp mình đang thực tập trên bồ đoàn, trên thiền đường không hiện rõ ra. Ví dụ ngồi thiền thì mất hơi thở, không thấy cảm giác toàn thân mà cứ lòng vòng trong hôn trầm thùy miên, thì gọi là triền cái, bị buộc chặt và che đậy trong đó.
Trạo hối là lăng xăng, cứ giao động, lao xao không yên tịnh được. Thiền sư GoenKa mở khóa thiền 10 ngày, trong 10 ngày đó tuyệt đối không được nói chuyện. Khóa thiền đó được mở khắp thế giới, hoàn toàn miễn phí, tu tập hết khóa tu thì ai muốn đóng góp tiền, công đức như thế nào thì tùy tâm. Khi ghi danh với quy định như vậy thì rất tốt cho mình, một khi không nói chuyện thì các pháp trong nội tâm hiện ra mình sẽ thấy rõ hơn. Khi tham sân khởi lên hay thọ; tưởng; hành hiện lên mình đều thấy rất rõ, nếu đánh đuổi được 5 triền cái này thì công cuộc tu hành của mình mới tiến bộ.
Nghi triền cái là sự nghi ngờ, là mình không quyết liệt trong đường tu hay trong cái pháp, trong sự học không được tiến vững bước.
Này các Tỳ-kheo có năm cấu uế này đối với vàng, sắt, đồng, thiếc, chì, bạc. Do những cấu uế ấy, vàng bị uế nhiễm, không có nhu nhuyến, không có kham nhậm, không có chói sáng, dễ bị bể vụn (pabhangu), và không chân chánh chịu sử dụng. Cũng vậy, này các Tỳ-kheo, có năm cấu uế này của tâm, chính những cấu uế ấy khiến tâm bị uế nhiễm, không có nhu nhuyến, không có kham nhậm, không có chói sáng, dễ bị bể vụn, không chân chánh được định tĩnh để đoạn diệt các lậu hoặc (Tương Ưng Bộ, Tập V. Thiên Đại Phẩm, Chương II. Tương Ưng Giác Chi, IV. Phẩm Triền Cái, bài Cấu Uế 1).
Sở dĩ vàng không được mềm mại, không có kham nhậm, tức là nó không thể làm ra món đồ theo ý mình, không chói sáng, dễ bị bể vụn là do nó bị pha tạp, bị lẫn lộn những cấu uế, tạp chất của sắt, đồng, thiếc, chì và bạc. Cho nên nó không dễ sử dụng. Cái tâm bị 5 thứ này xâm chiếm, chi phối làm cho ô uế thì cái tâm sẽ không được định tĩnh. Tại sao tâm không định tĩnh? Nếu mình có tham muốn, yêu thích, nhất là về chuyện tình cảm thì cái tâm không được yên. Những hình bóng, suy nghĩ, cảm giác hiện khởi trở lại thì cái tâm bị giao động. Nếu mình giận một ai đó thì hơi thở có yên không, có định được không? Trạo cữ là ngồi một chút là lắc qua lắc lại, nghe tiếng gì cũng quay qua nhìn. Nghi là sự nghi ngờ. Hôn trầm là bị buồn ngủ. Những cái này làm tâm không định tĩnh, đã không định tĩnh thì không thể đoạn diệt các lậu hoặc.
Tác hại của 5 triền cái này như thế nào? Nó ảnh hưởng đến sự tu học như thế nào? Những điều này rất quan trọng, nhiều khi nói những điều cao siêu nhưng những cái làm chướng ngại cho tâm thì lại không thấy không biết. Nếu có suy nghĩ khi tâm khởi lên tham dục hay sân hận thì mình chỉ ghi nhận, không chống trả, chế ngự, không chiến đấu vì sẽ gặp phiền não thì đây là nhận định sai lầm, không đúng với chánh pháp của Đức Phật. Nếu trộm vào chùa lấy thùng phước sương hay ăn cắp đồ thì mình chạy tới giành lại, đánh trả hay ngồi yên nhìn nó lấy? Cho nên quan điểm không chiến đấu, chế ngự lại bất thiện pháp khi nó khởi lên là sai, không có đúng. Nếu mình quan niệm như vậy thì không có sự tu chứng, tu như vậy là tu theo cách thụ động, khi có vấn đề xảy ra thì không phải chỉ ghi nhận vấn đề rồi để đó là xong chuyện. Không phải mọi chuyện trên thế gian này chỉ là biết rồi để đó, không phải như vậy, biết rồi là phải làm. Cách đây 20 năm, khi Minh Thành nhập thất tại Quan Âm Phật Đài tại Vũng Tàu. Vào khoảng 12h30 Minh Thành đang nằm nghỉ trưa trên võng thì bất chợt nghe ầm ầm trên mái nhà. Lúc đầu nghe cũng không để ý, lúc sau nghe âm thanh vọng càng nhiều thì mở mắt ra xem thì thấy con rắn dài hơn 1,5m. Lúc sau Minh Thành hỏi thì mới biết đó là rắn rồng. Minh Thành nghĩ "thôi kệ nó, mình ngủ cứ ngủ vì nó đâu làm gì tới mình" nhưng lâu lâu cũng hé mắt ra nhìn xem nó còn trên mái không hay nó đi rồi. Tuy là mình không có tâm muốn hại nó nhưng vẫn có tâm phòng thủ vì sợ nó hại mình, cho đến khi nào con rắn đi ra khỏi thất thì mình mới ngủ yên. Đó nói theo kiểu người tu hành, không sát hại nó chứ bình thường là người ta dùng cây gậy bắt hay giết nó, hoặc ít nhất cũng phải đuổi nó đi, hay là mình cũng dùng cây tạo tiếng động để nó bò đi xa chứ mình không thể chỉ biết con rắn ở đó rồi ghi nhận nó ở đó là xong. Hay mình đang ngủ mà có con rết dài 3-4cm bò đến, mình thấy nó rồi ghi nhận có nó đang kế bên hông mình là xong hay sao? Rồi tiếp tục nằm ngủ? Cho nên khi nói rằng việc tu học mà chỉ ghi nhận khi những cái xấu ác hiện khởi lên là sai, không đúng chánh pháp, vậy mà bây giờ ở các nước Phật giáo nguyên thủy lại phổ biến rất nhiều. Minh Thành đã qua 8 trường Thiền của Thái Lan, Miến Điện đều thấy như vậy. Thành ra việc ghi nhận chỉ là bước ban đầu, ngoài ra còn phải dùng Như lý tác ý và quán chiếu để đánh đuổi nó, đây là việc tu tích cực. Phải tiếp nhận những cái thấy biết chân chánh của Đức Phật từ những vị giáo thọ sư truyền đạt cho mình.
Có huynh đệ nói chỉ có bậc thánh mới diệt trừ được 5 triền cái này, nói như vậy là mình đã đóng sập cánh cửa chứng ngộ của chính mình. Vì đâu có thánh? Từ phàm mới có thánh, nếu mình nói chỉ có bậc thánh mà bậc thánh đó ở đâu ra? Cho nên ngài Milarepa khi chuẩn bị viên tịch, nhập Niết-bàn thì các đệ tử mới nói bạch tôn sư, ngài là đấng nào, là vị nào mà xuống cõi này để giáo hóa cho chúng con. Nghe như vậy thì Milarepa quở trách: Các ông chớ có suy nghĩ như vậy, các ông suy nghĩ như vậy là chê bai, hủy nhục ta. Tại sao ngài chứng thành thánh Tăng, chứng thành thánh quả? Có 2 yếu tố cực kì quan trọng mà giờ mình lại xem thường, đó là sợ hãi nghiệp quả. Lúc trước mình giải thích chung chung từ tàm quý là hổ thẹn, như vậy là không có đủ. Tàm là hổ thẹn, quý là sợ hãi, cho nên mới có từ vô sở quý, là không còn sợ gì nữa. Từ này chỉ các bậc thánh đã chứng vô ngã. Ngài Milarepa nói rằng: Ta đã dùng quyền thuật để giết hại ông bà, cô chú bác xóm làng, mấy chục mạng người chết. Ở Tây Tạng Phật giáo phát triển rất hưng thịnh, cho nên những kiến thức căn bản về Phật giáo được dạy từ nhỏ cho trẻ. Chính vì vậy ngài biết rằng với nghiệp sát sanh này, dù chỉ giết 1 người còn phải đọa địa ngục, huống chi ngài giết mấy chục người, lại còn là bà con cô bác của mình. Trong quyển Con Người Siêu Việt viết về cuộc đời của ngài Milarepa thì trong đó ngài nói rằng do ta biết rằng với nghiệp quả này ta nhất định sẽ đọa địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh nên ta sợ hãi, hoảng sợ. Nếu ta không tu, không cầu cái pháp giải thoát thì nhất định ta sẽ đọa địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh. Vì thế từ cái sợ hãi đó mới tạo thành cái động lực mạnh mẽ, quyết liệt để ngài tầm cầu con đường giải thoát. Từ cái nhận thức được nghiệp quả mới sanh ra sự sợ hãi, từ cái sợ hãi đó mới tạo thành động lực mãnh liệt thúc đẩy để ngài tìm cầu giáo pháp giải thoát, và cuối cùng ngài thành tựu. Nếu bây giờ mới sanh ra là thánh nhân thì còn nói gì nữa. Ngài nói ta là một con người tầm thường tạo ra bao nhiêu thứ nghiệp, là tên xấu xa, là tên tội đồ hung ác. Từ chỗ đó ta biến thành một bậc thánh Tăng giác ngộ, một bậc đại đạo sư. Như thế mới là con người siêu việt, chứ nếu ta là thánh nhân ở cõi nào xuống đây giáo hóa thì còn gì là siêu việt? Nhưng mà là thánh nhân đi nữa nhưng là thánh nhân từ đâu ra nếu không từ phàm nhân? Đây là chỗ hết sức quan trọng, nếu có những tư tưởng vị đó là thị hiện, vị đó là ứng hiện thì những suy nghĩ đó vô tình mình đã phỉ báng các ngài. Cho nên:
Này các Tỳ-kheo, ta cố gắng như sau: "Ta sẵn sàng, dầu chỉ còn da, gân và xương, dầu thịt và máu trên thân bị khô héo, mong rằng sẽ có tinh tấn kiên trì để chứng đắc những gì chưa chứng đắc, nhờ sức mạnh của người, nhờ tinh tấn của người, nhờ cần dõng của người. Ta nhờ không phóng dật, chứng được Chánh Giác. Nhờ không phóng dật, chứng được Vô thượng an ổn khỏi các khổ ách (Tăng Chi Bộ kinh, Chương Hai Pháp, I. Phẩm Hình Phạt, bài Hai Loại Tội).
Những điểm này Minh Thành muốn chấn chỉnh lại để mọi người thành tựu được cái thấy biết chân xác về giáo pháp cũng như trong sự tu học.
Có năm chướng ngại triền cái này, này các Tỳ-kheo, bao phủ tâm, làm yếu ớt trí tuệ ( Tăng Chi Bộ, 5. Chương Năm Pháp, VI. Phẩm Triền Cái, bài Ngăn Chặn). Mà trí huệ yếu kém như vậy thì để chứng ngộ được pháp Thượng nhân, tri kiến thù thắng xứng đáng bậc Thánh; sự kiện này không xảy ra.
Ví như, này các Tỳ-kheo, một con sông chảy, từ núi xuống, chảy thật xa, dòng chảy nhanh cuốn trôi mọi vật. Rồi có người lấy cày mở hai bên bờ sông. Như vậy, này các Tỳ-kheo, dòng sông ấy ở chặng giữa bị trở ngại, tràn rộng, bị chuyển hướng, không còn chảy ra xa, không còn chảy nhanh, không cuốn trôi mọi vật.
Cũng vậy, này các Tỳ-kheo, Tỳ-kheo ấy không đoạn tận năm chướng ngại triền cái này bao phủ tâm, làm yếu ớt trí tuệ, không có sức mạnh và trí tuệ yếu kém, sẽ biết được lợi ích của mình, hay sẽ biết lợi ích của người, hay có thể biết lợi ích của cả hai, sẽ chứng ngộ được pháp thượng nhân, trí kiến thù thắng, xứng đáng bậc Thánh; sự kiện này không xảy ra.
Dòng sông chảy mạnh như vậy thì làm sao có thể dùng cây cuốc nhỏ để dòng nước chảy ngược dòng? Điều này không thể xảy ra.
Vị Tỳ-kheo ấy, sau khi đoạn tận năm chướng ngại triền cái này bao phủ tâm, làm yếu ớt trí tuệ, có sức mạnh và có trí tuệ, sẽ biết được lợi ích của mình, hay sẽ biết lợi ích của người, hay sẽ biết được lợi ích của cả hai, sẽ chứng ngộ được pháp thượng nhân, tri kiến thù thắng, xứng đáng bậc Thánh; sự kiện này có xảy ra.
Này các Tỳ-kheo, một con sông chảy từ núi xuống, chảy thật xa, dòng nước chảy nhanh, cuốn trôi mọi vật. Có người chận đóng lại các cửa miệng hai bên bờ sông. Như vậy, này các Tỳ-kheo, dòng sông ấy ở chặng giữa không bị trở ngại, không có chảy tràn, không bị chuyển hướng, chảy được thật xa, dòng nước chảy nhanh, cuốn trôi mọi vật.
Cũng vậy, này các Tỳ-kheo, Tỳ-kheo ấy sau khi đoạn tận năm chướng ngại triền cái này bao phủ tâm, làm yếu ớt trí tuệ, có sức mạnh, có trí tuệ, sẽ biết được lợi ích của mình, hay sẽ biết được lợi ích của người, hay có thể biết lợi ích của cả hai, sẽ chứng ngộ được pháp thượng nhân, tri kiến thù thắng, xứng đáng bậc Thánh; sự kiện này có xảy ra (Tăng Chi Bộ, 5. Chương Năm Pháp, VI. Phẩm Triền Cái, bài Ngăn Chặn).
Đức Phật đưa ra những hình ảnh này để mình thấy rằng phải đoạn tận 5 triền cái thì mới thành tựu được tri kiến thù thắng của bậc thánh. Người nào bị 5 triền cái chi phối thì không thể an trú vào sơ thiền, cũng như gặp chướng ngại trong thánh đạo, thánh quả. Hình ảnh ấn tượng nhất là 5 ví dụ của Đức Phật.
Bà-la-môn Sangàrava đi đến Thế Tôn. Ngồi xuống một bên, Bà-la-môn Sangàrava thưa với Thế Tôn:
Do nhân gì, do duyên gì, thưa Tôn giả Gotama, có khi các chú thuật học thuộc lòng lâu ngày (đọc tụng) lại không thể nhớ lên được, còn nói gì các chú thuật không được học thuộc lòng? Do nhân gì, do duyên gì, thưa Tôn giả Gotama, có khi các chú thuật không học thuộc lòng lâu ngày (đọc tụng) lại nhớ lên được, còn nói gì các chú thuật đã được học thuộc lòng! (Tăng Chi Bộ, 5. Chương Năm Pháp, XX. Phẩm Bà-La-Môn, bài Bà-La-Môn Sangarava)
Ý của vị Bà-la-môn này nói có những chú thuật học thuộc rồi nhưng bị quên, còn có những chú thuật không học thuộc nhưng lại nhớ. Khi Đức Phật nghe vậy đã nói:
Này Bà-la-môn, khi trú với tâm bị dục tham xâm chiếm, bị dục tham chi phối, và không như thật biết rõ sự xuất ly khỏi dục tham đã khởi lên; trong khi ấy, người ấy không như thật biết và thấy lợi ích của mình, trong khi ấy, người ấy không như thật biết và thấy lợi ích của người; trong khi ấy, không như thật biết và thấy lợi ích cả hai, cho nên các chú thuật được học thuộc lòng lâu ngày lại không thể nhớ lên được, còn nói gì các chú thuật không được học thuộc lòng!
Ví như, này Bà-la-môn, một bát nước trộn lẫn với thuốc nhuộm gôm lặc, hay màu đỏ tía, hay màu xanh hay màu vàng và ở đây, một người có mắt muốn ngắm nghía bóng mặt của mình, không có thể như thật biết được, thấy được. Cũng vậy, này Bà-la-môn, trong khi trú với tâm bị dục tham xâm chiếm, bị dục tham chi phối, không như thật rõ biết sự xuất ly khỏi dục tham đã khởi lên; trong khi ấy, người ấy không như thật biết và thấy lợi ích của mình; trong khi ấy, không như thật biết và thấy lợi ích của người; trong khi ấy, không như thật biết và thấy được lợi ích của cả hai, cho nên các chú thuật được học thuộc lòng lâu ngày lại không nhớ lên được, còn nói gì các chú thuật không được học thuộc lòng!
Như vậy cái tâm tham giống như nước bị pha màu, bị nhuộm, bị trộn màu. Do bị nhuộm màu cho nên người đó muốn xem bóng mình trong đó cũng không thể thấy rõ. Giống như ly trà sữa đủ thứ màu sắc trong đó, đục ngầu thì làm sao thấy rõ mình trong đó. Cái tâm tham của mình về tiền thì có màu tham tiền, nếu tham sắc thì bị pha màu của sắc, nếu tham xe, nhà cửa, đất đai thì đó cũng là cái tâm bị trộn màu. Chính vì cái tâm bị lẫn lộn như vậy nên không thể nhớ được pháp. Cho nên ngài Ananda rất tuyệt vời, ngài có thể truyền trì pháp tạng là khi nghe pháp ngài không bị 5 triền cái chi phối. Đây là chỗ tuyệt diệu, tâm của ngài giống như bát nước trong suốt, nhìn vào phản chiếu thấy rõ gương mặt. Vì thế những ví dụ của Đức Phật rất tuyệt vời, đây là ví dụ của bậc Chánh Đẳng Giác. Khi ngồi thiền nếu mình có tham một vật gì đó, hay thương ai đó thì lúc đó tâm mình bị pha màu nên giao động.
Đức Phật ví dụ cái tâm bị sân xâm chiếm giống như một bát nước được lửa đun sôi, sôi lên sùng sục, sôi lên cuồn cuộn. Ở đây, một người có mắt muốn ngắm nghía bóng mặt của mình, không thể như thật biết và thấy được. Cũng vậy, này Bà-la-môn, trong khi trú với tâm bị sân xâm chiếm...cho nên các chú thuật được học thuộc lòng lâu ngày lại không nhớ lên được, còn nói gì các chú thuật không được học thuộc lòng! Khi xưa dùng bát nhưng bây giờ nói dễ hiểu là nồi nước sôi, nước trong đó không bị lẫn màu nhưng sôi sùng sục thì cũng không thể thấy được bóng mình trong đó khi ngắm nhìn. Nước sôi như vậy thì nắp nồi bị động chuyển, nước tràn ra miệng nồi. Khi tâm mình sân lên thì cũng giống vậy, trong tâm thúc đẩy những cái tâm hại, tâm sân hiện ra, những cái tâm bực bội, tức tối tràn lên mặt thì làm sao vào thiền, làm sao vào định? Cho nên khi giận một ai thì không vui sướng gì, người chịu thiệt thòi trước tiên là người giận, mình nắm cục lửa than thì nó đã bốc cháy trong tay mình trước rồi mình quăng cục lửa đó cho ai thì tiếp theo người đó sẽ bị cháy. Như vậy ngay thời điểm mình giận ai đó thì cái nguy hiểm, cái thiệt thòi là mình gánh đầu tiên. Với một cái tâm như nồi nước đang sôi dữ dội như vậy thì không thể đi đến chỗ phẳng lặng, không thể đi đến chỗ an định, trong suốt để mình thấy rõ bóng hình chính mình trong đó.
Cái tâm hôn trầm thùy miên như một bát nước bị rong rêu che phủ. Ở đây, một người có mắt muốn ngắm nghía khuôn mặt của mình, không thể như thật biết và thấy được. Cũng vậy, này Bà-la-môn, trong khi trú với tâm bị hôn trầm thụy miên xâm chiếm... còn nói gì các chú thuật không được học thuộc lòng! Ngồi ở đâu cũng lờ đờ buồn ngủ, gục đầu nằm dài cũng giống như rong rêu, bèo bao phủ thì làm sao mình thấy trong đó có gì? Như vậy cái tâm bị bao phủ, yếu ớt trí huệ, chướng ngại thánh đạo, thánh quả.
Năm triền cái này, này các Tỳ-kheo, tác thành si ám, tác thành không mắt, tác thành vô trí, đoạn diệt trí tuệ, dự phần vào tổn hại, không đưa đến Niết-bàn (Tương Ưng Bộ, Tập V. Thiên Đại Phẩm, Chương II. Tương Ưng Giác Chi, IV. Phẩm Triền Cái, bài Triền Cái). Một cái hồ bị lục bình, bèo dạt, rong rêu bao phủ như vậy thì mặt trời, mặt trăng, sao cũng không thể soi sáng được bên trong hồ đó, một cái tâm hôn trầm thùy miên cũng giống như vậy.
Một cái tâm trạo hối sẽ như một bát nước bị gió thổi, dao động, chấn động, nổi sóng. Ở đây, một người có mắt muốn ngắm nghía khuôn mặt của mình, không thể như thật biết được và thấy được. Cũng vậy, này Bà-la-môn, trong khi trú với tâm bị trạo hối xâm chiếm... còn nói gì các chú thuật không được học thuộc lòng! (Tăng Chi Bộ, 5. Chương Năm Pháp, XX. Phẩm Bà-La-Môn, bài Bà-La-Môn Sangarava). Lấy một hòn sỏi thảy xuống mặt hồ phẳng lặng thì mặt hồ gợn sóng lao xao như vậy, huống chi gió thổi liên tục thì làm sao mặt hồ yên tịnh được. Với một cái tâm không định tĩnh, cái thân không thể ngồi yên thì cũng giống như mặt hồ bị gió thổi. Miệng và thân yên tịnh được cũng là cả một vấn đề có gắng nỗ lực chiến đấu chứ không phải chỉ ghi nhận để đó. Dục tham nổi lên rồi mình ghi nhận để yên thì hết tham hay sao? Quán bất tịnh liên tục mà tham dục vẫn còn hừng hực, vẫn còn nóng bỏng, khao khát thì chỉ ghi nhận để yên thì làm sao dập tắt được nó? Mình phải tinh tường, tinh anh trong sự tu chứ không đơn giản như mình nghĩ.
Cái tâm nghi hoặc giống như một bát nước bị khuấy động, khuấy đục, khuấy bùn, đặt trong bóng tối. Ở đây, một người có mắt muốn ngắm nghía khuôn mặt của mình, không thể như thật biết được và thấy được. Ở đây thêm một điều nữa là không những bát nước bị khoáy động mà còn có bùn trong đó, lại còn để trong bóng tối thì làm sao thấy được mặt mình trong đó?
./.