Thư Viện Linh Quy
← Danh sách

Con Đường Đoạn Tận Tham Ái 15-Ái Nặng Thì Khổ Sầu

2026-03-03 00:53:09
Con Đường Đoạn Tận Tham Ái 15

Ái Nặng Thì Khổ Sầu

Thích Minh Thành

MỤC LỤC

TOC \o "1-3" \h \z \u I. Niềm vui của người tu PAGEREF _Toc141972601 \h 1

II. Hậu quả của ái lạc PAGEREF _Toc141972602 \h 6

III. Thân Hành Niệm PAGEREF _Toc141972603 \h 6

I. Niềm vui của người tu

Trước qua phần mới thì chúng ta có một câu hết sức quan trọng của Đức Thế Tôn "Này Sàriputta, ai bỏ thân này và chấp thủ thân khác; người ấy, Ta nói là có lỗi" (Tập IV.Thiên Sáu Xứ, Chương I.Tương Ưng Sáu Xứ, Phần 2. Năm Mươi Kinh Thứ Hai, IV.Phẩm Channa, IV.Channa). Như vậy trong tất cả chúng ta ở đây khi khi tưởng cái chết xảy ra với mình thì mình còn mong muốn rằng đời sau mình sanh ra như thế nào không? Nếu mình muốn đời sau tôi sẽ như thế này, thế này thì Đức Thế Tôn nói người đó có lỗi. Tại sao vậy? Vì mình còn yêu thích luân hồi, mình còn tham muốn đối với luân hồi, mình còn ái lạc và chấp thủ đối với năm uẩn cho nên khi bỏ thân này là mình chấp thủ thân khác liền.

Còn giáo pháp Đức Phật là cứu cánh, tức là sanh đã tận, không còn trở lui trạng thái này nữa, trạng thái này tức là trạng thái tham ái và chấp thủ đối với năm uẩn. Trạng thái mình yêu thích cái sắc thân này, yêu thích cái hoàn cảnh xung quanh, yêu thích những cảm giác, những cái nghĩ tưởng và nhận thức. Hiện tại bây giờ chúng ta đang ở trong trạng thái này là trạng thái yêu thích dục ái, vô minh đối với năm thủ uẩn.

Cho nên mình tu tập cho đến lúc nào mà mình hoàn toàn nhàm chán đối với tất cả các sắc. Thắng liệt, thô tế, nội ngoại, xa gần, quá khứ sắc, hiện tại sắc, vị lai tất cả các sắc phải quán nó là vô thường, khổ, vô ngã. Phải quán để nhàm chán, từ bỏ, chấm dứt. Thọ, tưởng, hành, thức cũng như vậy. Đó là mình đi đến chỗ giải thoát khỏi năm uẩn chứ không phải giải thoát khỏi cái nào hết.

“Một thời, Thế Tôn bộ hành giữa các người Kosala, cùng với đại chúng Tỳ kheo đi đến một làng Bà-la-môn tên là Icchànangalam. Tại đấy, Thế Tôn trú ở Icchànangalam, trong khóm rừng Icchànangalam.

Rồi các Bà-la-môn gia chủ ở Icchànangalam, sau khi đêm ấy đã mãn, cầm theo rất nhiều đồ ăn loại cứng và loại mềm, đi đến khóm rừng Icchànangalam, sau khi đến, đứng ở ngoài cổng vào, và lớn tiếng làm huyên náo.

Lúc bấy giờ, Tôn giả Nàgita là thị giả của Thế Tôn. Rồi Thế Tôn bảo Tôn già Nàgita: - Này Nàgita, những ai đã đến, và làm ồn ào như những hàng cá với đống cá lớn ?

- Các người ấy, bạch Thế Tôn, là các Ba-la-môn gia chủ ở Icchànangalam, đang đứng ở ngoài cổng vào, đem theo rất nhiều đồ ăn loại cứng và loại mềm cho Thế Tôn và chúng Tăng.

Bạch Thế Tôn, nay Thế Tôn hãy chấp nhận! Thiện Thệ hãy chấp nhận! Ví như trời mưa nặng hạt, và nước mưa được chảy tùy theo chiều dốc. Cũng vậy, bạch Thế Tôn, nay Thế Tôn sẽ đi đến chỗ nào, tại chỗ ấy các Bà-la-môn gia chủ ở thị trấn và ở quốc độ họ cũng sẽ đi đến, với tâm hướng về cúng đường. Vì cớ sao ? Bạch Thế Tôn, do vì giới hạnh và trí tuệ của Thế Tôn.

- Này Nàgita, Ta không có liên hệ gì với danh vọng, và danh vọng không có liên hệ gì với Ta. Này Nàgita, những ai tìm được không có khó khăn, tìm được không có mệt nhọc, tìm được không có phí sức, tìm được an ổn lạc, viễn ly lạc, an tịnh lạc, chánh giác lạc, mà Ta đã tìm được không có khó khăn, tìm được không phí sức. Hãy để họ thọ hưởng lạc như phân ấy, thụy miên lạc, lợi dưỡng, cung kính, danh văn lạc.”

(Tăng Chi Bộ Kinh, Chương V.Năm Pháp, III.Phẩm Năm Phần, X.Tôn Giả Nàgita).

Ta không có liên hệ gì với danh vọng, và danh vọng không có liên hệ gì với Ta. Chính điểm này mình phải thấy đây là tấm gương, đây là mô, đây là phạm, đây là mẫu mực, đây là khuôn phép cho người xuất gia. Người xuất gia phải học điểm này của Đức Thế Tôn. Bây giờ mình đi vô tu rồi mình không nghĩ tìm cầu thánh pháp đoạn trừ khổ đau tham, sân, si, bản ngã mà mình nghĩ vô để học trường nào để được bằng nào để được làm ngành gì và làm cho mọi người biết mình thì cái đó hoàn toàn trái ngược với con đường của Đức Thế Tôn.

Cho nên ở đây Đức Thế Tôn quở trách và đuổi những người đó đi, không nhận nhưng mấy vị này năn nỉ. Cho nên mình đọc trong kinh mình mới thấy sự từ nghiêm của Đức Phật. Chứ không phải nói Đức Phật từ bi là muốn lại làm cái gì làm. Lầm! Lại mà ồn ào, buông lung phóng dật là Đức Phật không tiếp. Chính vua Ba-tư-nặc xuống tới là phải đi chân đất vô, tới hương thất của Phật là gõ cửa hoặc khảy móng tay. Vua hay dân hay gì cũng vậy, chứ không phải giàu có hay người có địa vị lại mà đổi khác, điều đó là không phải.

Cho nên lại mà ồn ào, có những trường hợp 500 người lại cúng dường ồn ào Phật nói thị giả đuổi đi. Tỳ kheo cũng vậy, 500 vị tỳ kheo là đệ tử ngài Xá-Lợi-Phất, Mục Kiền Liên dẫn về mà ồn ào là đuổi đi, Phật không muốn gặp. Thành ra trong kinh Nikāya còn nói Bậc Thế Tôn giống như sư tử thích sống một mình, khó gần. Quý huynh đệ đọc sẽ thấy. Người buông lung phóng dật không có chánh niệm mà thấy dung nghi của Phật là sợ, kính. Giờ mình đừng nói đâu xa, mình nói gần nhất thôi, giờ mình vô gặp Hoà Thượng Trúc Lâm hay cố Hoà Thượng Vạn Đức thì mình có dám ăn to nói lớn không? Cái quy đức của Đức Thế Tôn cỡ nào nữa? Hơn cả vạn lần.

Cho nên mình học kĩ pháp và luật của tạng kinh này là thấy tuyệt vời lắm. Bây giờ mình làm sai nhiều lắm mà sai không biết mình sai rồi còn tưởng mình hay là rất nguy hiểm. Cho nên ở trong chùa, trong tùng lâm, trong đạo tràng, trong già lam, trong tu viện là phải trang nghiêm và thanh tịnh. Ngày nào cũng đọc thiền môn nghiêm tịnh, hải chúng an hoà nhưng chỉ có đọc cái miệng. Không cần đợi nhắc mà tất cả mọi người tu sĩ phải biết được bổn phận, phải biết được cái oai nghi, cái phép tắc, cái giới hạnh, cái học pháp của người xuất gia. Người xuất gia là gì? Là sáu căn tịch tịnh.

Cái này hết sức là quan trọng, mình phải tập mà tập luyện mấy chục năm chứ không phải chuyện đơn giản. Còn người không muốn học, không muốn tu thì miễn bàn, không nói tới. Cho nên mình thấy có những người vô chùa 10-15-20 năm mà tư cách đôi khi còn thua một người cư sĩ. Đây là thảm hoạ! Đại bại! Thất bại lớn. Cái phong thái, dung nghi, giới hạnh, cái này quan trọng, vỏ ngoài của phạm hạnh còn không có nói gì đến lõi cây. Đó là vỏ ngoài của phạm hạnh. Cái này thật sự phải đào luyện, phải thực tập, đây là những bài tập của mình. Nhiều khi mình thấy mà đau lòng, không có phong cách của người xuất gia.

Cho nên người xuất gia Đức Thế Tôn nói là phải an ổn lạc, viễn ly lạc, an tịnh lạc, chánh giác lạc. Đây là 4 niềm vui đặc biệt của bậc hiền thánh, mình phải thực tập và quán chiếu những niềm vui này. An ổn lạc, chữ an là yên, chỉ cần nhìn vô một phong thái bình yên, cái dáng ngồi bình yên, đi đứng, nói cười bình yên. Cho nên mình nhớ trong luật nói cho ông này cơm, cho ông kia canh là bị phạt, chỉ lung tung, lang tang hết. Cho nên bình thường mình có thực tập, mình có rèn luyện, có phòng hộ bảo vệ tâm của mình, Tỳ kheo là phòng hộ mắt, phòng hộ tai, phòng hộ mũi, phòng hộ lưỡi, phòng hộ thân, phòng hộ ý, phòng hộ tất cả để chấm dứt được hết thảy khổ đau.

Bình thường mà mình nhiếp niệm, mình phòng hộ, mình bảo vệ thì khi có chuyện đến lúc đó mình với có chánh niệm tỉnh giác. Nhiều khi thấy thương mình lắm, chuyện có một chút xíu thôi mà chạy như chạy giặc rần rần từ trên xuống dưới, do không phá được cái trạo cử, trạo hối, một trong năm truyền cái và mình không vào được sơ thiền.

Cái sự lăng xăng của thân và sự lăng xăng của tâm, nó không yên, miệng không yên, ý hành không yên, cái tưởng không yên rồi làm sao mình nhiếp phục được những cái gọi là thâm sâu ở bên trong. Những cái dục lậu, hữu lâu, vô minh lậu nó thâm sâu và vi tế cùng cực, nó nhỏ nhiệm, tinh ranh, nó gian xảo, thì làm sao mình nhìn ra được.

Cái hình tướng mắt, tai mình còn không quản lý được thì cái vô tướng mà thâm sâu, thâm cung bí sử ở sâu thẳm trong các cái thọ, trong cảm giác của mình xuống nhiều lớp lắm và trong đó hoàn toàn là vô minh, tham ái và chấp thủ nó điều khiển hết ngũ uẩn của mình thì mình sao phát hiện nổi, cho nên mình phải tập quản lý mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý của mình. Phải tập quản lý, kiểm soát. Cho nên mình không có tập cái này rồi nếu Đức Thế Tôn còn ở đây thì mình cũng bị đuổi chứ không có dễ gặp đâu.

Như vậy an ổn lạc, viễn ly lạc, cái niềm vui đó rời xa, ở một mình, xuất gia là phải ở một mình, còn ở một cách vui thích và hoan hỉ đó gọi là vui thích viễn ly lạc. Quý huynh đệ nào muốn nghe thì lên Youtube nghe bài độc cư và khổ hạnh của Đức Phật là Minh Thành giảng về ý nghĩa của viễn ly độc cư. Người tu khi ở một mình phải cảm nhận được sự an lạc, sự an tịnh, sự hỉ lạc. An tịnh lạc, chánh giác lạc, "niềm vui an tịnh nó đặc biệt vô cùng, nó kì diệu vô cùng".

Một mình ngồi ở trên khóm trúc, ở bên tảng đá, ở dưới gốc cây đi kinh hành một mình bên ven rừng, bờ suối, niềm vui nó tịch tịnh, an tịnh. Người xuất gia phải được những niềm vui đó chứ không phải rần rần pháp hội tổ chức liên miên, đó là không phải, đó không phải là chuyện của mình. Chánh giác lạc là niềm vui của chánh giác, tức là niềm vui của sự thấy biết chính xác, thấy biết đúng như thật. Mình thấy biết đúng như thật rồi mình có niềm vui.

Bốn niềm vui này Đức Phật nói Ta tìm được không có khó khăn, không có phí sức, không có mệt nhọc. Cho nên bất cứ lúc nào ngài cũng có niềm vui này hết. Còn mình đi viễn ly ở một mình thì lúc đó vui nổi không? Phải tắt điện thoại, không được lên mạng, không được tiếp xúc với ai ở một mình. Vậy mình vui nổi không? Cho nên mình hơi khó khăn, là mệt nhọc, là phí sức. Còn Đức Thế Tôn, bậc thánh giả được bốn niềm vui này không khó khăn, không mệt nhọc, không phí sức.

Cho nên ngài muốn vô sơ thiền là vô sơ thiền còn mình muốn vô sơ thiền là vô ngủ không, ban ngày còn có ngủ thiền chứ đừng nói ban đêm. Cho nên mình mới thấy được điều đó. Tập oai nghi của người tu là hay lắm, tuyệt vời lắm, đó là bậc an tịnh, trầm mặt. Trong Tăng Chi Bộ Kinh Đức Phật nói hãy dán tâm vào tịch mặc, ở trong cái tịch mặc đó các ông sẽ thấy được sự tập khởi của năm uẩn, và sự chấm dứt của năm uẩn. Dán tâm vào tịch mặc có nhiều chỗ dịch là thiền tịnh. Thiền tịnh ở đây không phải là thiền tông hoặc tịnh độ mà thiền tịnh là sự yên tịnh thiền định. Ở yên tịnh để mà thiền định.

Bây giờ hãy để họ thụ hưởng lạc như phân, lạc thuỳ miên, lợi dưỡng, cung kính, danh văn. Người đời chạy theo những cái vui, ngủ nghĩ, những cái vui lợi dưỡng, tiếng tăm, được cung kính…. Những cái lạc đó Đức Phật nói như phân, cho nên hưởng lạc để ngủ thì giống như phân. Lo gì, mai mốt sẽ ngủ giấc ngủ ngàn thu, xuống mồ ngủ hay lên bàn thờ ngủ chờ đến lúc đó rồi ngủ.

II. Hậu quả của ái lạc

“Này Nàgita, với ai ăn, uống, nhai, nếm, thời đại tiện, tiểu tiện, là kết quả tất nhiên cho người ấy. Với ai nặng nề về ái lạc, thời sự biến hoại, đổi khác, sầu bi khổ ưu não khởi lên. Đấy là kết quả tất nhiên cho người ấy”

(Tăng Chi Bộ Kinh, Chương V.Năm Pháp, III.Phẩm Năm Phần, X.Tôn Giả Nàgita).

Mấy cái này nó hay quá. Ăn, uống, nhai, nếm, đại tiểu tiểu tiện thì là kết quả tất nhiên. Mình có ăn vô thì phải có trả ra.

Người nặng nề về ái lạc là người ưa thích cái này, cái nọ, cái kia. Ưa thích năm trần, năm dục trưởng dưỡng. Mình ưa thích sắc, thanh, hương, vị, súc. Ưa thích những cái sắc đẹp, những cái vật chất, những cái âm thanh, những cái mùi vị, những sự xúc chạm, thì những cái đó khi biến hoại thành những cái khác thì sầu, bi, khổ, ưu, não khởi lên. Đó là kết quả tất nhiên cho người ấy.

III. Thân Hành Niệm

Cho nên quý huynh đệ mới thấy tại sao đức Phật nói mình phải quán chiếu thấu cái sắc uẩn. Tại vì mình ái lạc cái sắc uẩn, mà sắc uẩn là cái biến hoại, đổi khác, vô thường. Mà khi nó biến hoại, đổi khác, vô thường thì sầu bi, khổ, ưu, não nó khởi lên. Mà mình muốn đi đến chỗ không sầu, chấm dứt khổ thì Đức Phật kêu mình phải nhìn thấu bản chất của sắc uẩn để mình đừng ái lạc nó nữa, đừng yêu thích, đam mê nó nữa. Cho nên phá cái sắc uẩn này là cả một công trình, không phải chuyện giỡn chơi đâu.

Đức Phật dạy mình sáu khía cạnh của Thân Hành Niệm là niệm hơi thở, niệm oai nghi, niệm hành động, niệm ba mươi hai thể trược, niệm tứ đại và chín giai đoạn của một tử thi. Phải thực hành đầy đủ sáu khía cạnh này thì mình mới phá nổi cái sắc uẩn, nếu thiếu là không phá nổi. Còn ba cái hết sức là quan trọng mà chúng ta để sót nên mình tu không có kết quả. Ba cái đó là Quán Chiếu Tứ Đại, Quán Chiếu Ba Mươi Hai Thể Trược, Quán Chiếu Chín Giai Đoạn Của Một Tử Thi.

Cái này phải nằm lòng, phải lão luyện, phải thuần thục, điêu luyện thì mình mới phá nổi cái chấp về sắc uẩn, mình mới phá được chữ thủ trong sắc thủ uẩn. Cho nên cái sắc uẩn mình phá hoài phá không được, mình từ bỏ hoài mình từ bỏ không được. Tại vì mình đâu có quán chiếu tứ đại, ba mươi hai thể trượt, chín giai đoạn của một tử thi. Các vị Tỳ kheo thời Đức Phật là ngày nào cũng quán bất tịnh, ngày nào cũng quán chiếu.

Mọi người về nghe kỹ trong Trưởng Lão Tăng Kệ, Trưởng Lão Ni Kệ thì những bậc chứng thánh quả đại đa số là quán chín giai đoạn của một tử thi và ba mươi hai thể trượt, pháp quán này phá tung bản ngã hết, tại vì sở dĩ cái cảm giác, những cái tưởng, những cái suy nghĩ nhận thức chạy vòng vòng sắc uẩn, sở dĩ nó ái lạc đi ra không được là nó chạy xung quanh sắc uẩn. Với tham là tham sắc đẹp, tham ăn ngon, tham xe đẹp thì mấy cái đó toàn sắc uẩn. Mình không phá được sắc uẩn thì thọ, tưởng, hành cũng không thể nào phá được.

Trong Tương Ưng Bộ Kinh phần Thiên Uẩn thì Đức Phật nói khi mình bám chặt vào sắc uẩn thì mình cho cái này là cái nhà của mình rồi thì thức nó có chỗ an trú cho nên nó không đi ra sắc uẩn được, nó ở trong đó luôn. Mình nói ở đây là chùa của tôi, hay đây là nhà của tôi thì mình ở trong đó luôn, mình đâu có đi ra được. Có một người mà nhận đây là nhà của tôi thì đi đâu họ cũng muốn trở về nhà thôi, "về nhà mình tự đo hơn, thoải mái hơn", vì họ quen cảm giác ở đó rồi. Cũng vậy, một khi mình nhận sắc uẩn, tứ đại này là mình, là thân tôi, là của tôi, là tự ngã của tôi thì thức có chỗ an trú, có chỗ an lập, nó có căn cứ địa, không đi ra được.

Cho nên thọ an trú vô, tưởng, thành an trú vô. Cho nên mình ngồi suy nghĩ một hồi thì có một bóng mờ mờ hiện ra, cái bóng nhìn thấy ghét hiện ra. Thì bóng mờ đó thân kiến, khi mình nghĩ về mình thì trong đầu mình cái tưởng uẩn hiện ra cái bóng mờ mờ thì cái đó là thân kiến. Tại mình nghĩ tôi là cái đó, cái hình bóng lờ mờ đó, cái răng sún hay khểnh đó là tôi, ốm, cao hay mập là tôi thì đó là kiến chấp về thân. Còn những cái này thì sanh tử dài dài, địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh còn rơi rớt lia lịa, còn lòng vòng trong ngũ thú, sáu nẻo luân hồi không ra được. Cho nên sự quán chiếu ba mươi hai thể trượt, tứ đại, chín giai đoạn của một tử thi là đánh vỡ thân kiến, đánh tan và nhìn thấy bản chất của nó là tứ đại. Nó là tan rã, nó là vô thường, nó là tan nát.

Này các Tỳ kheo thân này do bốn đại tác thành, do cho cha mẹ sanh, do cơm cháo nuôi dưỡng, vô thường, tan hoại, tan nát, các ông hãy nhàm chán cái thân này.

Ngày nào mình cũng quán hoài như vậy, mình quán cái ung nhọt, mình quán cái bộ xương, mình quán cái đống thịt bầy nhầy, người bị tai nạn giao thông là bị cán văng hai con mắt ra, văng cái đầu ra. Cách đây 5-7 năm Minh Thành đi dạy thì nhìn thấy cô ấy bị cán mà văng một đống ra, bầy nhầy trước mặt mình. Thì lúc đó nó là tứ đại thôi. Đất, nước, gió, lửa nó kết hợp mà rệu rã là nó phân huỷ. Có những trường hợp bi phân xác thì chân chỗ này, cổ chỗ kia, mỗi chỗ một khúc thì cái nào là mình, cái nào là của tôi.

Nó là tứ đại thôi, là một món vật chất nhưng do sự chấp thủ của thọ, tưởng, hành, thức, cái cảm giác ở trong cái thân, rồi những hình bóng, suy nghĩ, cái nhận thức trong này bám vô cái thân này, đây là tôi, là của tôi, đây là tự ngã của tôi. Là cái thọ, tưởng, hành, thức nó ở trong đây hoài mà mất cái này là đi kiếm cái khác. Đi kiếm cái khác thì do nghiệp thiện hay bất thiện nó đẩy đi, như vậy thì nó vô đủ thứ loại thân hết mà không biết, vô trong đó rồi nó cũng nhận cái đó là mình.

Mình nghĩ những con giòi hay những con chó, những con giun hay những con kiến, con trùng thì nó cũng có đực, có cái, có trống, có mái, thì nó cũng quan hệ tình dục nó cũng sung sướng cái cảm giác giống như con người. Thì như vậy nó cứ bị buộc hoài trong cái thân nó đi ra không được, thì đời sau sanh ra nó cũng làm cũng con đó để đi tìm nữa, con giòi ăn trong đống phân nói "ngon quá, thơn quá, món này đặc biệt quá".

Hồi xưa ở dưới quê, mình đi cây cầu ra hồ thì dưới đó có cá, mình rớt xuống thì nó nhảy lung tung lên, có bữa thì mình đi xuống mà một đống giòi bò lúc nhúc. Ở dưới đó ăn nó ăn thì ngon lắm, thơm lắm. Hiện tại mình ăn hằng ngày là mình dục, ái, nam nữ y hệt như vậy. Chư thiên, các bậc hiền thánh nhìn thấy giống như vậy mà mình yêu thích, thích thú, khoang khoái và sống chết với cái này. Đó là do vô minh, mình không thấy được sắc này là tứ đại, do tứ đại tạo thành. Từ vô minh này thì cái thọ, cái cảm giác, suy nghĩ, nhận thức nó bám chặt vô sắc đi ra không được cho nên thức an trú vào trong sắc uẩn.

Giống như con người mình "nhà của tôi đây" rồi thì đi đâu cũng trở về nhà, đi ra chỗ khác không được. Cũng vậy với thọ, tưởng, hành, thức này đi xung quanh hoài. Có người nặng quá thì có những trường hợp, cô vợ chết rồi 6 tháng, 1-2 năm mà ông chồng cứ nằm ôm xác chết đó, không phải thời nay mới có mà thời xưa, thời Đức Thế Tôn cũng có ông vua mà bà hoàng hậu chết thì ông vua ở hoài như vậy ôm xác hoàng hậu khóc, không có lâm triều gì hết. Đó là mình nói cái sắc uẩn này bị dính mắc, nó bị ái. Đó là sắc uẩn ở ngoài, đến tự thể sắc uẩn của nó thì càng khủng khiếp hơn nữa.

Yêu cái sắc bên ngoài khổ như vậy đó. Có những người tự tử chết vì sắc. Ở chùa Bửu Liên có một nhà cốt, có anh chàng với cô này yêu nhau mà hai gia đình không cho, chê anh chàng này nghèo, không đối xứng với gia đình cô này giàu có, kinh thường anh chàng. Gia đình cô gái không đồng ý rồi cuối hai người này buộc cục đá vào chân nhảy xuống sông chết. Mới có hơn 20 tuổi thôi, cô gái khoảng 20 còn chàng trai đó khoảng 22. Nó khủng khiếp đến như vậy. Một khi cái thọ, tưởng, hành, thức chấp thủ vô rồi là không nhả ra được.

Có một vụ án kinh động ở Sài Gòn, cậu này thương cô này, 2 người quen nhau mấy năm, cuối cùng gia đình thấy cậu này không nghề, không có tương lai, không có cân xứng rồi cách ly. Cậu này nổi cái tâm là giết hết 5-6 người trong nhà. Người ta đưa lên cái hình trước khi yêu, một hình đang yêu và một sau khi yêu. Tức là đang yêu thì nhìn mặt cô cậu này đẹp lắm tới chừng sau khi bị cấm cản đưa lên cái mặt máu không vì nó chém chết.

Sau khi yêu là máu không, đỏ hết. Đó là sự nguy hại của dục, sự nguy hại của sắc, sự nguy hại của ái, mình phải quán chiếu thâm sâu vô. Mới vừa rồi cũng có một vụ án nữa, hai vợ chồng anh này có mấy đứa con nhỏ. Người chồng mới 26 tuổi, đi khám ra bệnh ung thư phổi, cô này nuôi con rồi quen với một cậu thanh niên mà cậu này nhỏ hơn cô mấy tuổi. Sau đó cậu này muốn bỏ cô này cô này không đồng ý, ông này tức quá cãi nhau rồi lây dao đâm cô này chết. Bà nội nuôi 2 đứa nhỏ, một đứa 7 tuổi, một đứa 3 tuổi. Cảnh đau thương lắm, mở lên cầm nước mắt không được, khổ lắm.

Đó là sự nguy hại dục và ái, sự nguy hại của sắc. Mình phải quán chiếu thâm sâu những vụ án, những tinh tức đó là kinh tạng Nikāya sống của thế kỉ 21. Đó là sự thật, nó trơ trơ trước mắt mình hằng ngày mà mình cứ tưởng đi tu là đẹp lắm, mình cứ mơ nhào vô kiếm ăn, nhào vô kiếm chút cháo, ai ngờ cháo không thấy mà toàn là láo, chẳng những láo mà còn ngáo mà thêm chữ đá là rồi xong, ngáo đá. Leo lên nóc nhà quăng đứa con mới 1 tuổi xuống đất, bây giờ là khủng khiếp lắm. Có thể giết mẹ nó luôn, thậm chí là hãm hiếp mẹ nó luôn. Khủng khiếp! Bây giờ nó kinh hoàng lắm vì thuốc vô người rồi là điên loạn hết. Mới vừa rồi vụ án tai nạn giao thông ở Đà Lạt, cán chết ba bốn người mà công an đến là nó ngồi ca hát.

Cho nên mình mới thấy năm giới của Đức Phật là tuyệt diệu. Đức Phật thấy trước 3000 năm, mà thời đó không sử dụng những chất say sưa, say mê, điên đảo. Bây giờ ngày càng phát triển những chất gây mê, say, thổi bong bóng cười là cười luôn. Có những cô ngoài Hà Nội thổi vào là cười hoài rồi khùng, ngáo đần luôn. Khoẻ mạnh, tỉnh táo không chịu mà đi tìm những cái say mê điên đảo. Đây là khổ!

Cho nên cái sắc uẩn này nói 3000 năm vẫn chưa chết, nó còn khổ dài dài cho đến khi nào mà mình còn nhận sắc uẩn này là tôi, là của tôi, là tự ngã của tôi thì cho đến khi ấy còn sầu, còn bi, còn khổ, còn não, còn đấm ngực, còn bức tóc, còn đi đến chỗ chết và gần như là chết. Cho đến khi đó còn nước mắt lăng dài trên má, cho đến khi đó vẫn còn cái cảnh mà mẹ khóc, vợ khóc chồng, anh khóc em. Còn những cảnh chia ly tử biệt, sát hại, giết hại, tàn hại, tàn sát. Đó là thảm hoạ của sắc uẩn, thảm hoạ của lòng tham dục, tham ái, chấp thủ, đam mê, ích kỉ, cống cao ngã mạn, tật đố, ganh tị ở trong sắc uẩn này.

Thấy cái chuông đang đẹp vậy chứ rớt xuống bể chuông cầm lên là đánh không còn nghe gì hết. Không có cái gì hết nhưng tưởng là đẹp và hấp dẫn. Tưởng nó là khả lạc, khả ái, khả hỉ hấp dẫn liên hệ đến dục. Tưởng rồi khổ. Cho nên dùng sáu phương pháp quán niệm để đánh mạnh vô sáu khía cạnh của sắc uẩn mình mới phá được cái nhìn sai lệch của sắc uẩn này. Ngày nào của quán chiếu hết, ngày nào cũng quán hết, ngày nào cũng dành ra một tiếng để quá bất tịnh, quán thân thể mình chết, niệm tử. Ngồi đó để chứng kiến mình làm đám ma cho mình mỗi ngày.

Không đợi ai tụng niệm, hộ niệm hết, không đợi ai làm đám ma cho mình mà mỗi ngày mình làm đám ma cho mình. Mình phải nhìn thấy thân thể mình nằm dài, chết để gỡ ra, tháo ra sự vô minh cùng cực tột độ đối với sắc uẩn này. Hở một chút thôi, một ánh mắt thôi, một nụ cười thôi, một hành động thôi mà bỏ ăn, bỏ ngủ, giận 3 tháng. Đó là tập đế, khổ chưa? Người nào liếc mình là mình quán xe cán văng hai con mắt ra còn liếc được không? Quán mạnh, quán sâu, quán như vậy mới phá tung hết tham, sân, si, bản ngã, vô minh. Quán thật sâu, quán thật mạnh, đập tan hết ái lạc đối với sắc uẩn này.

Tu cái này tuyệt vời lắm. Mình tu đến mức độ người ta bưng đồ gì của mình là mình cũng bình thường. Đồ đó chỉ là sắc uẩn, tu đến mức độ đã vậy đó. Đồ của mình trước mắt mình mà họ bưng, họ lấy là kệ, bố thí cho họ, tu đến mức độ như vậy. Thậm chí trong bài kinh Cây Cưa trong Trung Bộ Kinh Đức Phật nói còn sâu hơn nữa, giả sử như có người cầm cây cưa, cưa thịt của ông mà ông khởi lên sân hận thì không đúng pháp, quán cho đến thâm sâu thì có thể xả ly được thân tứ đại luôn, đó là các bậc A-la-hán.

Có một vị Tỳ kheo chứng thánh quả A-la-hán, mấy thằng ăn trộm bị rượt chạy tới ngài rồi nó quăng đồ vô ngài, ngài ngồi bình thường như vậy rồi thằng ăn trộm chạy mất. Mấy người rượt ăn trộm chạy tới nói vị này ăn cắp đồ rồi bắt đem về điều tra thì ngài nói "ta không làm điều đó, mấy ông muốn làm gì thì làm, thật sự là ta không có ăn cắp".

Ngài ngồi bình thường như vậy, bất động tâm giải thoát. Gặp mình là nhảy lên, tăng xông lên, cãi nhau 1 lúc đứt thanh quản. Còn các ngài là nhìn thấy được cái bản chất. Cho nên các huynh đệ niệm rồi tụng hoài, cầu cái này, cầu cái kia thì không đúng, cái đó là ở bên ngoài. Mình phải nhìn lại thân tâm của mình để tháo gỡ cái vô minh chấp thủ, tham ái, cái nặng nhất là không nhìn thấy đây là tứ đại. Nhìn thấy được rồi là tuyệt vời lắm, nó khoẻ, an lạc lắm. Ai muốn giành cái gì thì giành, ai muốn giật cái gì thì giật, ai muốn chiếm phần hơn thì kệ, có ai ở đây đâu, ở đây toàn là bộ xương thôi. Mình quán tới cái đó là tâm mình tự nhiên lắng dịu xuống, mà nó lắng như vậy thì trí của mình tỏ sáng.

Phải luôn luôn thực hành Thân Hành Niệm. Sáu phương pháp nãy giờ nói chỉ mới một phần mà phá được sắc uẩn. Thực hành cái đó Đức Thế Tôn nói sau khi Như Lai diệt độ, Tỳ kheo nào thực hành Tứ Niệm Xứ thì Tỳ kheo đó là tối thượng trong hàng đệ tử của ta. Nếu vị ấy tha thiết trong sự học hỏi, hành trì cho nên người nào thực hành Thân Hành Niệm thì người đó đã gõ cánh cửa bất tử. Người nào thực hiện cái đó là người đó đang đứng để gõ cánh cửa bất tử của Niết-bàn Đức Thế Tôn nói như vậy. Nói rất nhiều lần, quý huynh đệ có thể mở bài kinh để nghe. Thành ra sáu phương diện niệm thân này mình phải lão thông, lão luyện, nhuần nhuyễn, phải điêu luyện trong sáu pháp quán này.

“Ai sống chuyên chú tâm về tướng bất tịnh thời sẽ nhàm chán đối với tịnh tướng được an trú. Đây là kết quả tất nhiên cho người ấy”

(Tăng Chi Bộ Kinh, Chương V.Năm Pháp, III.Phẩm Năm Phần, X.Tôn Giả Nàgita).

Người nào chuyên chú tâm quán bất tịnh thì mình sẽ an trú nơi sự nhàm chán đối với tịnh tướng. Tức là mình giữ hình ảnh bộ xương hoài, đống thịt hoài, đống tro tàn hoài, nhìn ai mình cũng thấy như vậy, không có cái gì hết. Mình an trú được cái đó để giảm tham, sân, si, thậm chí là nó không khởi, nó nhẹ nhàng, nó dập tắt được ba ngọn lửa.

“Ai sống tùy quán vô thường trong sáu xúc xứ, thời sự nhàm chán đối với xúc được an trú. Đấy là kết quả tất nhiên cho người ấy. Ai sống tùy quán sanh diệt đối với năm thủ uẩn, thời sự nhàm chán đối với chấp thủ được an trú. Đấy là kết quả tất nhiên cho người ấy”

(Tăng Chi Bộ Kinh, Chương V.Năm Pháp, III.Phẩm Năm Phần, X.Tôn Giả Nàgita).

Những câu này sâu sắc lắm. Cho nên mình chuyên chú tâm mình vào tướng bất tịnh thì sẽ an trú vô sự nhàm chán đối với các tịnh tướng. Tức là mình nhìn thấy cái gì đẹp đi nữa mình cũng nhàm chán, không thấy cái gì đẹp có thể hấp dẫn được mình, không có cái gì có thể quyến rũ được mình. Tại mình luôn luôn quán bất tịnh tướng cho nên tất cả các tịnh tướng mình đều nhàm chán hết. Mình thấy chính mình là bộ xương, thấy chính mình là chết, thấy chính mình là gì đâu mà chạy theo mấy cái đó. Mình quán cho nhuần nhiễn nhìn ai cũng thấy bộ xương.

Có vị Tỳ kheo trên đường khất thực thì có cô mặc đồ đẹp, là mĩ nhân thời đó đi ngang qua, vì cô này đang giận gia đình chồng nên bỏ đi. Cô này đi ngang qua chỗ vị Tỳ kheo rồi nhìn thấy tướng xuất gia tu thì cô ấy cười hở răng một cách khiếm nhã, ngay lúc đó vị Tỳ kheo mới lấy chủ đề 32 thể trược của hàm răng rồi quán thâm sâu vào là chứng quả A-la-hán ngay tại chỗ đó.

Khủng khiếp như vậy, những vị Tỳ kheo thời Đức Phật là quán chủ đề này thâm sâu lắm cho nên lúc đó chứng quả A-la-hán. Một lúc sau gia đình đi tìm cô gái thì hỏi ngài có thấy cô gái ấy không thì "ta không thấy cô gái nào mà ta chỉ thấy hai cái xương hàm, đưa mấy cái răng ra", ngài chứng quả A-la-hán ngay tại chỗ đó. Cái sức thiền quán của các vị là thâm sâu lắm, suốt ngày đi khất thực về nghe pháp rồi quán chiếu liên tục, thiền định không gián đoạn.

Còn giờ mình bây giờ một ngày là mình bao nhiêu chuyện, nhiều chuyện không? Chuyện nhiều hay là nhiều chuyện? Cả hai luôn hả? Đủ thứ chuyện mà toàn là chuyện phù phiếm, thế sự, thế vật, thế lợi. Phải bỏ được ba cái thế đó. Thế sự, thế vật, thế lợi là những việc của thế gian, là những vật chất của thế gian, là những lợi dưỡng của thế gian. Bỏ hết, không có cái gì đáng hết.

Thiệt tình, khổ quá đi! tội quá đi! Cư sĩ người ta đem tiền lẻ, đem bao thơ về cúng, cái đó người ta bỏ đi rồi mà mình đi đam mê vào đó là sao? Giống như là nước mũi của người ta hỉ ra như vậy đó, mình lượm mấy cái đó mà mình khoang khoái thích thú, đó là điều đáng xấu hổ. Mình phải cảm thấy nhục nhã, không có cái gì đáng ham muốn trong cái đồ cúng dường đó hết. Đức Phật dạy mình trong chương Lợi Đắc Cung Kính nó khủng khiếp lắm. Đức Phật nói những cái cung kính lợi dưỡng cúng dường là sét đánh, nó là mũi nhọn, nó là kẻ giết người. Không có vui thích gì mấy cái bao thư đó hết.

Trong khi mình nhận, người ta đảnh lễ, cúng dường là không có vui thích gì hết. Phải quán chiếu, phải quay lại nhìn cảm thọ của mình, diệt cái bản ngã bên trong thì đó mới là người tu chân chánh. Còn nếu người ta lạy mà mình ngồi mình thấy mình là thầy, đây là cô là chết rồi. Khi họ lạy mình, hay dâng cúng, hay khi nhận bao thơ, hay nhận tất cả sự đảnh lễ của mọi người mình phải quay lại nhìn cảm giác ở trong thân của mình.

Coi cảm giác lúc đó nó thế nào? Nếu mà nó khởi lên cái bản ngã, khởi lên khoang khoái, thích thú, bản ngã mình phải diệt nó liền, mình nói "đây là vô thường, đây là thọ, là tưởng, là thức, là vô thường. Đây là đống thịt thối, bộ xương có cái gì mà cho ta đây là cao hay, là giỏi, là hơn người". Dẹp tất cả những suy nghĩ đó, đánh tan những cái đó để cho nó thể vô trí vô ngã, để cho nó khiêm nhường, khiêm hạ, khiêm cung. Để cho nó chắp tay trả lễ người ta, không được ngồi yên đó cho người ta lạy, phải chắp tay trả lễ. Đó là sự tu tập, sự quán chiếu.

Cho nên Minh Thành mong quý huynh đệ phải nắm thật kĩ, đọc kĩ bài kinh Thân Hành Niệm. Đọc thuộc lòng là càng hay, trên núi là Minh Thành bắt học thuộc hết. Buổi khuya là lạy tạng kinh Nikāya là thuộc lòng hết, từ tập sự xuất gia cho đến xuất gia là đọc thuộc lòng rồi lạy. Thành ra quý báu lắm, thời này mình gặp được chánh pháp này, mình có được cái pháp hành như vậy thì quý huynh đệ phải cố gắng, để không thôi uổng. Một chuyến đi của mình, một chuyến đi xa, một chuyến đi mà mình bỏ hết tất cả rồi khi trở về không có gì hết mà trở thành kẻ mắc nợ, cái đó là đau đớn lắm. Phải thành tựu, tối thiểu phải Nhập lưu, thành tựu chánh tri kiến là tối thiểu, tối đa ở trong đời này phải đoạn tận tất cả các lậu hoặc, không còn trở lui trạng thái này nữa. Phải đặt mục tiêu, chí hướng như vậy mới là con cưng của Đức Thế Tôn.

./.