Nghiệp & Quả Báo 11 - Kinh Thiên Sứ 2
Nikāya Giảng Giải
Nghiệp Và Quả Báo 11 – Kinh Thiên Sứ (2)
Thích Minh Thành
Ngày 21 tháng 10 năm 2022
MỤC LỤC
TOC \o "1-3" \h \z \u I. Quán vô thường PAGEREF _Toc120621261 \h 1
II. Khuyến tấn tu tập PAGEREF _Toc120621262 \h 5
III. Chánh niệm tỉnh giác – trú xả PAGEREF _Toc120621263 \h 11
I. Quán vô thường
Kính bạch chư tôn hiền đức, kính thưa tất cả các Phật tử hiền trí nam nữ. Hôm nay chúng ta tiếp tục bài kinh “Thiên Sứ”, Đức Phật nói chúng ta biết về 5 Thiên sứ. Thứ nhất là sự sanh ra, thứ hai là sự già nua, thứ ba là bệnh tật, thứ tư là ác nghiệp, thứ năm là chết, thứ sáu tức là gặp Diêm Vương. Chúng ta chiêm nghiệm thật kỹ năm Thiên sứ này, nên Thiên sứ này là 5 đề tài quán chiếu rất là quan trọng. Thông thường trên thế gian “sanh hỷ, tử bi”, chúng ta hay mừng, chúc mừng sinh nhật cho nhau: “Sinh nhật vui vẻ”, chúng ta ca những bài hát chúc mừng sinh nhật bằng nhiều thứ tiếng. Và khi ngày người thân nhắm mắt qua đời chúng ta đau khổ, khóc than, nhưng ở trong trí tuệ Đức phật không phải vậy.
Chúng ta nhìn là thường thường nhìn vào kết quả của sự việc, còn Thánh trí của Đức Phật nhìn vào cái nhân từ đâu mà nó sanh ra cái quả. Cho nên Đức Thế Tôn nói rằng: “Sanh là khổ. Vì có sanh cho nên mới đi đến sự tàn lụi, vì có sanh cho nên mới dẫn đến sự bại hoại, vì có sanh nên dẫn đến sự tan rã, vì có sanh cho nên mới đưa đến chỗ diệt tận”. Cho nên Thế Tôn nói rằng: “Sự sanh ra là khổ”. Vì cái thấy biết này, hoàn toàn ngược lại với sự thấy biết của phàm phu. Sự xuất sanh, sự xuất hiện, sự có mặt của thân xác này, là sự có mặt của ốm đau, bệnh tật, lo lắng, buồn phiền, sợ hãi, bất an, khổ, sầu, tai họa. Sự xuất hiện, sự hiện hữu, sự có mặt của hình hài này, là sự có mặt của già, bệnh, chết, sầu, bi, khổ, ưu, não.
Cho nên để mà Đức Phật nhìn ra cho chúng ta, soi ra cho chúng ta thấy gốc rễ của sự khổ đau chính là tái sanh. Nhưng mà chúng sanh vì vô minh, vì không thấy, không biết, không nhìn ra được cái cội rễ, gốc rễ, nguyên do, căn nguyên của vấn đề cho nên chúng ta lại lấy cái khổ làm vui. Các bậc Thánh không có ưa sanh, không có thích sanh, không có muốn sanh, các Ngài tu để đạt tới chỗ vô sanh. “Vô” là không có sanh nữa. Không còn sanh ra những cái thân máu, mũ, răng, ruột, phèo, phổi, tóc, lông, móng, da, thịt, gân, xương bẩn thỉu. Không còn sanh ra những cái thân mà chứa đầy những thứ không có sạch sẽ, không còn sanh ra những cái thân 32 thể trượt. Khi mà nó sanh ra từ chỗ nhơ nhóp, bẩn thỉu nhất của con người, và khi nó chết đi thì nó trải qua bao nhiêu giai đoạn? Chín giai đoạn khủng khiếp và kinh hãi, không ai chịu nổi hết.
Dù là người yêu thương nhất của chúng ta, cũng phải lẹ lẹ gói “mình gói chiếu lẹ lẹ, bỏ vô hòm lẹ lẹ, quấn bao, bọc lại, bao lại”. Hay là đưa đi ra nghĩa trang, nghĩa địa lẹ lẹ, đưa đi vô lò thiêu. Không ai có thể chịu nổi, đó gọi là “Cứu cánh bất tịnh”. Tức là sự nhơ nhớp tột cùng của thân này, trong một cái chung cuộc, kết cuộc đau thương, bi thảm nhất của kiếp sống con người. Sinh ra từ chỗ nhơ nhóp, chết đi thì càng cực kỳ khủng khiếp sự của nhơ nhớp. Thì đương nhiên trong khoảng giữa đó phải là nhơ nhớp bất tịnh. Nó sanh ra từ chỗ nhơ nhớp, thì làm sao nó sạch sẽ được? Nó từ cái bất tịnh sinh ra, thì làm sao nó tịnh được. Nó từ cái bẩn thiểu, tanh hôi, xú uế nó hình thành, thì làm sao nó thanh tịnh, kim cương, trong sạch được.
Nhưng vì vô minh che đậy, vì tham ái trói buộc, mà chúng ta đam mê cái nhơ nhớp, yêu thích cái bất tịnh, đảo điên với những cái uế nhiễm. Suốt cuộc đời, suốt ngày, suốt tháng, suốt năm vụn vén trong một đống như nhơ nhớp, bẩn thỉu, tanh hôi. Ưỡn ngực, hất mặt, ta đây, vênh váo với một cái tấm thân đầy dãy phân và nước tiểu. Đó là sự mê lầm của chúng sanh, đó là sự vô minh của hữu tình, là sự dại khờ của một cái bản ngã ngu muội. Cho nên ở đây Đức Thế Tôn vạch trần, phơi bày cho chúng ta thấy 5 đề mục quán chiếu vĩ đại của kiếp người. Sự có mặt là thiên sứ thứ nhất. Chúng ta thấy không? Một đứa trẻ mà đã vừa lọt lòng mẹ là nó kêu tiếng gì? Người mẹ phải chịu đựng 9 tháng 10 ngày đó đau khổ như thế nào?
Rồi cả một đời sống từ khi có mặt, cho đến lúc nhắm mắt. Khi nó sanh ra thì là hai bàn tay trắng, và khi tàn hơi rồi thì trắng hai bàn tay xui xuống. Còn trong khoảng giữa thì nắm cái này, bắt cái kia, chụp cái nọ, dành cái này, giật cái kia. Đó là đời sống của vô minh, của si ám, của chúng sanh, của hữu tình, của sự chấp thủ trong tứ đại, ngũ uẩn này. Chúng ta thấy không? Khi sanh ra là hai bàn tay trắng, cộng với tiếng khóc. Và khi chết đi là xui xuống trắng hai bàn tay, cộng với những dòng nước mắt tuôn chảy. Khi sanh ra và lúc chết đi có giống nhau không? Khi sinh ra là cũng nước mắt, cũng hai bàn tay trắng. Và khi chết đi, tàn hơi cũng hai bàn tay trắng và cùng với nước mắt. Cho nên hồi sáng này chúng ta thiền quán về bộ xương, thiền quán về sự nguy hiểm và tác hại của sắc pháp, sắc uẩn và hình hài.
Các vị trình pháp khi ta còn con nít, thì nó tiểu, nó vãi, còn biết la lên. Nhưng đến khi già, nằm một chỗ, ỉa trây đái dầm trong đống phân và nước tiểu của chính mình. Mà không có nói nên lời được, không còn khả năng để mở miệng nữa. Tức là các phong đại, những bộ phận, những cơ thể, những điều kiện để cho phong đại nó phát huy không còn. Nói không được, nâng người lên không được, ngồi dậy không được, tay chân không có cử động được đúng theo ý của mình, vậy thì nó còn thua cái lúc mà còn con nít nữa. Chúng ta có thấy một bi kịch của kiếp người không? Chúng ta có thấy xót xa của đời sống này không? Chúng ta có thao thức, có trăn trở, có ưu tư rằng: “Sau này mình kết thúc sự sống này như thế nào không?”
Chúng ta có biết lo lắng không? Hay là chúng ta cứ mãi mê tham cái này, muốn cái kia, giận cái nọ, sân si cái khác. Cứ mải miết đam mê trong hơn thua, giành giật, đấu đá, gom góp, tích lũy trong những tài sản vô thường, hư ảo đó và chúng ta sống trong lãng quên. Đừng nói chi những người trẻ, mà những người già lên cả hàng 70 tuổi rồi, và thậm chí là bệnh gần chết rồi, ung thư là giai đoạn gần cuối rồi, nhưng mà nói chết người ta cũng không tin. Thật sự là hết sức là vô minh, mình hết sức là dại khờ, hết sức là trẻ thơ, hết sức là ấu trĩ. Bất thình lình tai nạn tới, bệnh hoạn tới, chết chóc tới, lúc đó mình hoảng loạn, kinh hoàng. Tại vì mình có cái gì chuẩn bị đâu? Mình có chuẩn bị đâu, mình có sửa soạn đâu, mình có nhớ đâu, đó là sự đau khổ của chúng sanh trên khắp hành tinh này.
Đó là sự lãng quên, sự thất niệm, đó là một sự hướng ngoại, nhìn ai đau, ai chết, ai bệnh gì đó là chuyện của người ta, “mình dễ gì mình bệnh, mình dễ gì mình chết, biết khi nào mình chết”. Tâm chất sanh là một tâm hướng ngoại, cho nên đây là 5 chủ đề vĩ đại bậc mà Chánh Đẳng Chánh Giác dùng từ gọi là Thiên sứ, sứ giả của trời. Cho nên người tu chúng ta hết sức là phải ưu tư, đừng nghĩ rằng tu là khỏe, khỏi làm gì hết, đó là tu vô minh đó. Đời tu của chúng ta phải hết sức là ưu tư, hết sức là khắc khoải trong lòng, hết sức là thao thức, bâng khuâng, lo lắng và sợ hãi. Vì sao vậy? Thứ nhất là chúng ta đang mang cái thân này, một cái thân đầy bệnh tật, đầy hiểm nguy, đầy tai họa, đầy bất tịnh. Thứ hai là chúng ta lo lắng cho tới sự suy nhược, suy lão, suy hao, suy kiệt, suy tàn của sắc uẩn, sắc pháp này. Chúng ta thấy không?
Mình trình pháp khi ngồi thiền đó, mình còn sức, minh mẫn, tuổi còn khỏe như vậy, mà khi một cơn buồn ngủ nó xâm chiếm là mình không có chiến thắng nổi, chứ đừng nói gì cao siêu hết. Mà giờ ngồi thiền là giờ mình đã đem toàn tâm, toàn lực để mình ở xung trận mình ra cái trận chiến tâm linh. Mà một cơn hôn trầm, cơn buồn ngủ nó tới thôi là đạp mình một cái một. Thì chúng ta nghĩ cái sức của chúng ta làm được cái gì? Với một cơn buồn ngủ mà mình còn không chiến thắng nổi, thì mình làm được cái gì, mình tu được cái gì? Phải ưu tư trong sự tu của mình, phải tăng thượng trong sự tu, phải hướng thượng trong sự tu. Hôm trước chúng ta học rồi: “Sách tâm, trì tâm là phải dùng cái roi thật là mạnh quất con ngựa, cho nó nhảy dựng lên, nó phi nước đại”.
Chúng ta thấy không? Rõ ràng là mình ở trên bồ đoàn đó, mình ở trước Phật, Pháp, Tăng mình nói: “Mình lên ngồi thiền”, nhưng chỉ còn một cơn hôn trầm, buồn ngủ nó tới thôi là nó dập mình, nhấn chìm liền. Thì đừng nói chi mà tai nạn đó đến bất thân lên xảy ra bất thình lình tai nạn, bất thình lình bệnh, người ta chửi, sạt nghiệp, nhà tan, cửa nát, phá sản, đột quỵ, lên tăng xong, tai biến, xe đụng mình gãy giò gãy chân nằm một chỗ bán thân bất toại, thì lúc đó làm sao? Mình lấy gì mình chống đối? Đạo lực, niệm lực, định lực, tuệ lực của mình đâu? Cho nên người tu là một tầm nhìn “nhìn xa trông rộng”, đợi tới bị tai nạn rồi còn gì nữa, đợi tới nằm liệt giường liệt chiếu, đợi tới chết thì còn tu cái gì nữa.
II. Khuyến tấn tu tập
Chúng ta nhớ thái tử Tất- Đạt-Đa đi tu năm bao nhiêu tuổi? Ngài chứng đắc đạo quả năm bao nhiêu tuổi? Là lúc tuổi cường thịnh nhất của kiếp người, sung mãn sinh lực, trí lực, tâm lực, thì lúc đó Ngài mới đắc đạo, thành đạo. Bây giờ mình già nua, cúp bình thiếc rồi, vô tu mà còn không cố gắng nữa. Mình còn buông lung phóng dật, còn tự cho mình cái quyền là: “Tôi già rồi, tôi yếu rồi, tôi nghiệp nặng, tội nghiệp chướng nặng lắm”, vậy thì còn tu cái gì nữa. Mình có những suy nghĩ như vậy thì làm sao tu? Có ông già 70 mấy 80 tuổi rồi, ông đi lại xin Đức Phật tu. Thế Tôn mới nói: “Ta nói cho các Tỳ-kheo trẻ tuổi những pháp hành. Còn ông già cúp bình thiếc rồi, bây giờ ta nói cái gì?” (Chê ổng già). Ổng trả lời: “Bạch Thế Tôn, con già nhưng mà con đem hết tâm lực, trí lực, nguyện lực”.
Đức Phật thuyết pháp cho ông nghe. Ông tu một thời gian quyết lực, mà coi bằng là quyết tử luôn, chứng đắc A-la-hán. Bảy tám chục tuổi mới đi xuất gia. Một cái tâm lực như vậy đó “thân con già mà tâm con không già, sức còn yếu mà cái trí, cái lực của con mạnh”. Cho nên là chúng ta tu học phải có tinh thần ở trong Tứ Chánh cần, hùng lực, mãnh hổ lực, tinh tấn lực, oai hùng lực, sư tử lực, voi báo lực, tôn dương sư dương, sức mạnh của đại bàng kim sí điểu. Phải dùng cái sức mạnh đó để tu, phải tác ý cái mạnh mẽ đó thường xuyên: “Không có một cái gì ngăn trở trên bước tiến Thánh đạo, Thánh quả của mình”. Như vậy đó, mình mới tiến bộ mạnh lớn trong cái tăng thượng Thánh pháp, Thánh trí huệ, Thánh đạo.
Chúng ta bị bao nhiêu cái thứ này, còn chưa kể cái tham sân si nó hành hạ chúng ta, mới có kể tới một chút cái sanh, cái già với cái bệnh thôi. Đây Đức Thế Tôn nói là: “Ác nghiệp là thiên sứ thứ tư”. Chúng ta nhìn thấy rồi đó, hồi sáng nay từ hơn nửa vòng trái đất bay về đây để mà tu, lên tới nơi rồi, bước vào trong thiền đường rồi, mà tu không được. Nghiệp chướng chúng ta thấy dữ dội không? Những cái nghiệp nó sẽ ngăn trở, chặn đứng bước tiến của mình. Chúng ta đừng có nghĩ rằng: “Tối nay con nghe pháp, ngày mai con cũng nghe pháp”, đừng có suy nghĩ như vậy, vì chưa chắc. Suy nghĩ như vậy là không có thành tựu Chánh kiến, mình chỉ biết ngay bây giờ, ở ngay bây giờ là vậy thôi, còn cái phút sau những gì xảy ra là chúng ta không thể nào biết được, chứ đừng nói chị là qua đêm sau.
Như vậy gọi là vô thường, nhớ như vậy, tin như vậy, hiểu như vậy, thấy như vậy, biết như vậy, mới gọi là tin pháp. Mình chưa có tin như vậy là mình chưa có tin pháp, chưa có niềm tin pháp. Mình còn nghĩ rằng: “Ngày mai mình sẽ còn ngồi ngay đây, ngày mốt mình đi xuống núi, ngày kia mình sẽ làm như vậy vậy”, mình còn cho rằng cái đó là chắc chắn, là mình chưa có tin pháp, mình chưa có thành tựu tịnh tính bất động đối với pháp. Mình: “Ờ bây giờ ngồi đây mình biết ngay chỗ này, còn chuyện một chút nữa là mình không biết. Có thể mình đi ra mình trượt chân, mình đập đầu”, mình có cái ý nghĩ như vậy mới gọi là tin pháp, mới gọi là niệm pháp, mới gọi là tin cái vô thường, tin cái biến hoại.
Còn mình cứ nghĩ mình như vậy, bữa sau mình cũng vậy, tháng sau mình cũng vậy, năm sao mình cũng vậy, ba năm sau mình cũng vậy. Cho nên người ta nói làm sao? “Sinh niên bất mãn bách, thường hoài thiên tuế ưu”. Người sống không đầy 100 tuổi, nhưng mà thường mang một mối lo ngàn tuổi. Sống không tới 100, nhưng mà lo là lo 1000. Đừng nói 1000, “hoàng thượng là vạn tuế vạn tuế” luôn, là 1 vạn luôn, 10.000. Tất cả chỉ là ảo tưởng của vô minh, của bản ngã, của si ám. Chúng ta phải tin cho được, chỉ có khoảng khắc hiện giờ mình biết như vậy nè. Nhưng mà trong này cái gì mình cũng không biết hết, ở trong này nó đang diễn biến cái gì mình còn không biết. Những người chung quanh mình, trong gia đình, cùng chung xí nghiệp mình hay đang cùng chung đạo tràng, người ta đang suy nghĩ cái gì mình cũng không biết.
“Có thể ngày mai là mình té ghế, cái ghế mình ngồi không còn nữa, có thể mình vô tù”. Chúng ta thấy không? Biết bao nhiêu người chức vụ lớn lao vô tù hết trơn rồi đó. Chủ tịch hội đồng quản trị không, chứ không phải dạng thường à, tích tắc đây thôi, còng hai cái tay. Đó là cái đề tài thiền quán của nghiệp, quả dị thục của nghiệp, trái nghiệp nó chín. Cho nên chúng ta nhớ lại, cô đơn và cay đắng, lẻ loi có một mình thôi, khi mà cái nghiệp nó đòi, nó đeo rồi chúng ta sẽ lãnh lấy những cái hậu quả của nghiệp. Như hồi sáng quý vị trình pháp: “Cha con đau ốm như vậy, mẹ con ung thư như vậy. Con muốn thay thế một chút xíu cái đau đớn đó cho mẹ con mà không được”. Chúng ta có nghe cái câu này không? Chúng ta còn nhớ không?
Và ngày hôm qua có cô Phật tử quỳ ở ngoài bụi trúc mà kể cuộc đời của mình, lúc đó là con đang thiền quán Nikāya thế kỷ 21 này, đó chính là kinh Nikāya hiện tại. Khổ Thánh đế, khổ Thánh trí ngay trong giây phút hiện tại. Bây giờ vợ chồng thương yêu với nhau biết bao nhiêu, cha con máu thịt mà, mẹ con là nấm ruột cắt ra mà, nhưng mà khi người kia tai nạn, người kia bệnh hoạn, người kia đối diện với cái chết thì mình chịu thế với nhau được không? Mình có chịu cái đau đớn của cha mình, thế cho cha mình bớt đau hay là đừng có đau, mình chịu cơn đau đó, chịu thế được không? Như vậy mới nói: “Tất cả đều là chúng sanh, không ai là người thân của mình, chỉ có vô minh, nghiệp và nhân quả”. Tại vì tới cái lúc đó rồi là không có cha con, mẹ con, anh chị em gì hết, nghiệp ai nấy lãnh, không có một người nào thay thế cho một người nào được hết.
Thương là mình nhắc nhở, mình kiềm lại, mình hướng dẫn, mình khuyến khích để cho người đó tu tập, làm các việc công đức. Thì thương là vậy thôi, giúp là giúp vậy thôi, chứ làm sao mà mình tu dùm người đó, nhận diện ngũ uẩn cho người đó được. Mình chỉ cách nhận diện ngũ uẩn, nếu người đó nhận diện ngũ uẩn, thì người đó thấy được tham, sân, si là khổ, thì người đó tự nhiếp phục, chế ngự cái khổ đó, thì người đó bớt khổ, đi đến chấm dứt khổ. Chứ làm sao mà mình làm cho người kia hết khổ, sao mà mình diệt tham, sân, si dùm người kia được? Đâu có được. Dạ con thưa Ni Sư, hai người huynh đệ ngồi kế bên đó, mà Ni Sư này ăn Ni Sư kia có no không?
Huỳnh đệ với nhau, ngồi sát bên luôn, bát giống nhau luôn, múc đồ ăn giống hệt luôn, cùng chung một nồi cơm, một nồi canh, một nồi đồ kho luôn, mà người này ăn thì người kia đâu có no được. Bây giờ con ví dụ thêm một cái nữa, người kia bị tào tháo rượt, người này đi thế giùm có được không ạ? Không có nói gì xa vời hết trơn á. Vậy thì “ông tu ông đắc, bà tu bà đắc, bất tu bất đắc”. Vậy mà tối ngày cứ đi cầu xin hoài, tu không chịu lo tu, chỉ cho các phương pháp nhận diện ngũ uẩn rồi không chịu quay về nhìn các cảm thọ, tưởng, hành, mà cứ hướng ra. Rồi xong: “Thầy ơi con khổ quá giờ sao thầy, cứu con”. Vậy cứu được không? Phật cũng còn không cứu được nữa chứ đừng nói chi là thầy.
Mà chỉ rồi, cái phương pháp nhiếp phục, chế ngự cảm thọ, tu tâm hiền, tâm từ, trải tình thương, không chịu. Cứ sân si mà bây giờ kêu cứu là cứu cái gì, giúp là giúp cái gì, độ là độ cái gì. Cho nên mình phải nhớ các ác nghiệp khủng khiếp lắm, cái nghiệp nó ác, nó độc lắm. Ngoài cái sanh, già, bệnh, chết, thì nghiệp nó ghê gớm. Sanh, già, bệnh, chết, là nó ở trên thân tứ đại thôi, nó ở trên cái phần vật chất, phần hình thể, thân xác, tứ đại. Nó là thuộc về một phần ở phía bên ngoài, mình nhìn mình thấy được. Nhưng mà cái nghiệp nó quân tập trong thọ, tưởng, hành, thức. Nhất là nó ở trong cảm thọ, mà chúng ta muốn bây giờ nhận diện được cái nghiệp, thì chúng ta phải nhận diện được cảm thọ, cái nghiệp nó nằm trong cảm thọ mà.
Bây giờ người này hở cái giận, hở cái bực, hở sân si lên, thì nói: “Cái tính tôi hay nóng lắm, tôi hay nổi nóng lắm”, thì cái nổi nóng đó nó nằm ở đâu? Nằm ở cảm thọ. Mà bây giờ mình không biết cảm thọ, cho rằng: “Tôi hay nóng, tôi hay sân, tôi hay giận, cái nghiệp tôi nặng lắm”. Vậy rồi tới chừng nào mà mình nhiếp phục, chế ngự để mình làm cho cảm thọ mình được ngọt ngào, dễ chịu, tới chừng nào nếu như mình không biết nó nằm ở trong cảm thọ. Mình không biết hang ổ, không biết xào huyệt, không biết căn cứ địa của nó thì làm sao mà mình nhiếp phục, chế ngự, diệt tận nó được. Một ngày chúng ta có nhớ thọ nhiều không ạ? Đừng có nói con là ngày nào cũng uống sữa ông Thọ là chết nữa (cười).
Có nhớ ông Thọ không? Mấy cô Phật tử, mấy ông, mấy bà nè, có nhớ ông Thọ không? Im ru hết trơn vậy? Không phải Phước, Lộc, Thọ đâu, không phải sữa bò ông Thọ đâu, mà là cảm thọ. Phải nhớ tu tập cái cảm thọ và nhận diện được cái cảm thọ, phải làm cho cái cảm thọ nó mát dịu, nó dễ chịu, nó ngọt ngào, rộng lớn, yêu thương, từ tâm. Thì chỉ có cái đó mới trị được, diệt được nghiệp. Chúng ta thấy tầm quan trọng của tâm từ, tâm hiền chưa ạ? Thấy rõ bao nhiêu phần trăm? Mình không biết cảm thọ, rồi mình không biết phân loại cảm thọ và mình không biết trong cảm thọ gì nó có cái gì ở trỏng. Có cái gì ở trong cảm thọ dễ chịu? Có tham. Trong cảnh thọ khó chịu có sân, trong cảm thọ không dễ chịu không khó chịu có si. Mà mình không có biết thì làm sao mình có những phương pháp mình điều trị? Làm sao mình có những cách thức để mà mình xoa dịu, chuyển hóa và tu tập nó.
Cho nên cái ác nghiệp này là khủng khiếp lắm, mình cẩn thận từng suy nghĩ, từng lời nói, từng hành động của mình, cẩn thận từng chút, từng chút một. Chúng ta thấy chiếc máy bay, chỉ cần nó hư một con ốc, con vít nhỏ thôi là thì sao ạ? Chết vài trăm người thôi. Hư một con ốc vít nhỏ bằng đầu ngón tay út thôi, có thể 500 mạng người chết. Như vậy để chúng ta thấy, chúng ta càng tu nó càng sâu sắc, nó càng tinh tế, càng nhỏ nhiệm. Mà người nhìn được cái nhỏ nhiệm, sâu sắc, thì cái sự tu của mình nó mới tiến bộ. Chứ không phải mình tu cao, là mình không còn biết gì tới những cái chuyện nhỏ nhặt đó nữa hết. Càng tu cao càng thấy lo sợ, sợ hãi trong các lỗi nhỏ nhặt, sợ hãi trong suy nghĩ của mình, sợ hãi trong hình bóng trong tâm của mình: “Những hình bóng đó là ác bất thiện pháp”, sợ hãi trong cảm giác của mình: “Sao mình tu mà mình lại có cảm giác này?”
“Thấy người ta khổ mà dửng dưng à, thấy người ta khổ mà mình còn cười”, như vậy là ác bất thiện pháp. Thành ra mình càng tu sâu sắc là mình càng cảnh giác, soi chiếu từng suy nghĩ, từng cảm giác, từng hình bóng trong tâm. Vậy là để làm cái gì? Ngăn chặn tất cả các ác nghiệp. Tu nó miên mật đến cái mức mà nó không có một con muỗi vo ve, đến một lỗ nhỏ nào mà có thể con kiến nó bò hay con muỗi nó chui vô. Bây giờ mình đem một cái du thuyền nó lớn như vậy là cả hàng tỷ đô la, mà chỉ cần một có 1 cái lỗ nhỏ xíu thôi (bự mình mới sợ, bự bằng cái chuông mình mới sợ, chứ nhỏ xíu vậy thôi) nó nằm dưới đáy thuyền thì được không? “Là sao mà lắc đầu?”. Nhỏ chút xíu bằng đầu móng tay út thôi cũng không được nữa. Vậy cho chúng ta mới biết rằng, chút xíu đó nó có thể nhấn cả một chiếc thuyền 10.000 người.
Thì chính vì những cái chút xíu và nhiều cái chút xíu nữa thì nó thành lớn, cho nên chúng ta mới sanh tử, luân hồi vô lượng, vô biên kiếp ngồi đây nè. Chúng ta xem thường những cái chút xíu đó, chúng ta bỏ qua, chúng ta cẩu thả, chúng ta khinh thường với những cái chút xíu đó. Như ví dụ ở trên, nó có một chút vậy thôi, mà nó nhấm chìm du thuyền mấy ngàn người. Mà chúng ta nhiều cái chút xíu như vậy, thì chúng ta chết chìm, chết nổi vô lượng, vô biên kiếp trong biển sanh tử, khổ đau là đúng rồi. Đó là đúng, như vậy mới gọi là lậu hoặc, những cảm thọ, những suy nghĩ, những suy tưởng trong tâm nó qua mặt mình hết. Ý là mình đã biết nhận diện ngũ uẩn rồi, đã được hướng dẫn, được chỉ cách nhận diện, chỉ cách tác ý rồi mà nó qua mặt mình vù vù, chứ đừng nói chi mà không chỉ, không biết thì còn nói gì nữa. Phải không?
Mình biết nó có luôn, mà mình nói: “Thôi kệ, cái này không sao, có chút xíu à nó không có chìm đâu”. Thì nó có chìm luôn không ạ? “Lắc đầu là không có hả?” Chìm không? Có đắm luôn không? Thì thuyền chìm luôn. Lên ngồi thiền mà thiền chìm, thiền lủng, thiền chìm luôn. Đó chính là những cái ý nghĩ, những cảm xúc, những hình bóng trong tâm, cũng như là cái nhận thức của vô minh, nhận thức của tham ái, của chấp thủ, của những cái biết theo thuần tình. Người này quan tâm mình nhiều thì mình thương, người kia mình thấy không hợp cái ghét à, là như vậy thôi, sống với cái tình thức của phàm phu, chứ không có sống với cái trí tuệ của bậc Thánh mình được truyền trao.
Thành ra là tự mình phải đọc, lắng nghe thọ, tưởng, hành, thức thật kỹ. Nghe rồi dẫn chúng đến hiền tâm, từ tâm, ly tâm, xả tâm. Người đó thương hay ghét mình, đẹp hay xấu, đồ ăn ngon hay dở, tiếp xúc xong rồi mình xả tâm. Chánh niệm tỉnh giác, trú xả, không có để cái món ngon đó nó ám ảnh, không có để cho cảnh đẹp đó làm cho mình phải say đắm, mà Chánh niệm tỉnh giác, trú xả. Bậc Đa văn Thánh đệ tử là: “Khi mắt thấy sắc, tai nghe tiếng, mũi ngửi mùi, lưỡi nếm vị, thân xúc chạm, ý nhận biết các pháp. Thọ, tưởng, hành bên trong Chánh niệm tỉnh giác. Dù cho cái đó là đáng yêu, không đáng yêu hay là thường thường, đều là Chánh niệm tỉnh giác, trú xả”. Tức là sống với cái xả tâm. Tại vì sao xả? Vì nó vô thường, nó sanh diệt, nó tan hoại.
III. Chánh niệm tỉnh giác – trú xả
Thành ra mình trú xả, mình không có trú vào cái tâm buông xả, buông bỏ, thì mình bị dính mắc. Mà mình bị dính mắc thì mình sẽ bị sầu, bi, khổ, ưu não. Dù cho dính mắc cái đó là cái tốt, nếu mình không khéo mình cũng sầu, bi, khổ, ưu não. Như bây giờ con nói thí dụ, mình sáng quét sân, trưa quét sân, chiều quét sân, tối quét sân, hễ rảnh là ra quét hoài như vậy. Rồi có người lỡ người ta đi đôi dép sình, họ đi vào, họ đạp lên một cái dấu bự dài. Nếu mình không có tu tập cái tâm xả thì lúc đó sao ạ? “Sân”. Sân đó nó có cho mình cái quyền là đúng, là phải không? “Gật đầu là có hả?” Sân là không có cái sân nào đúng hết trơn, sân là sai. Bây giờ nói lại 5 lần “sân là sai”, “giận là sai”, “giận là ngu”, “giận là vô minh”, “giận là lú”, nhất trí không?
Như vậy mà không nhớ nữa là thôi đó, đọc mấy chục lần vậy mà không nhớ không có cái sân sân nào đúng hết trơn. Như vậy, tuy là mình quét thường như vậy, nhưng mà mình không có trú tâm xả, cho nên mình chấp thủ vào việc làm hiện tại của mình, thì mình sẽ khổ đau. Tại sao mình không suy nghĩ: “Tội nghiệp người này quá, họ không có biết”, hay là “chắc họ bận rộn, họ bị cái gì đó hay là họ trong rừng mới ra (đại khái họ đi bị sình, mà mang cái ủng nên chắc ở trong rừng mới ra)”, hoặc là “tội nghiệp, thương” hoặc là “đây là có một cơ hội cho mình quét cái này, lau luôn chứ không phải quét. Bình thường quét chỗ này, nay phải rửa mới được. Đây có cơ hội cho mình làm phước” được không?
Mình chuyển đổi suy nghĩ đó thôi thì tâm mình bình an, tâm mình hoan hỉ, không có sân mà lại hoan hỉ. Mình thấy có cơ hội để làm phước, mình nhiếp phục luôn cái sân, nhiếp phục, chế ngự luôn cái bản ngã. Mình dẹp luôn cái công lao của mình “bất cư công”, không có cư trú trong công lao của mình. Thì cái việc đó mới là “thiện pháp vô vi.” Đó là việc thiện cao toàn, làm tất cả việc thiện là đưa đến cái tâm thanh tịnh, từ bỏ tham, sân, si. Chứ không phải làm việc thiện để mà kể công, để mà cư công, để mà khoe công, để mà cần cái bằng khen, cái vỗ tay. Rồi không vỗ tay cái buồn “không làm nữa đâu, làm không ai vỗ tay khen hết trơn. Vỗ tay nhiều thì mới làm nhiều, không vỗ tay thì không làm, vỗ tay mới hào hứng lên, còn không vỗ tay ngồi im ru buồn, chắc buồn ngủ”, phải không? Không phải như vậy.
Thành ra là Chánh niệm tỉnh giác, trú xả là một đề mục tu tập tuyệt đối quan trọng của chúng ta, chúng ta không tu cái này chúng ta khổ. Địa chỉ thường trú của Quảng Tuệ ở đâu? “19 Tôn Đản, Thanh Sơn, Phan Rang” Ngồi xuống đi. Địa chỉ thường trú Hiền Tuyết ở đâu? “Tâm”, “Cho một tràng pháo tay đi”. Con đã nói cái này không biết bao nhiêu lần rồi, địa chỉ của người tu, địa chỉ thường trú là tâm xả. Giờ này còn lên Tôn Đản, Phan Rang đồ hả? Địa chỉ thường trú của người tu chúng ta là phải trú trong tâm xả, đó là căn nhà của người tu. Dù cho có thấy cái gì, có nghe cái gì, có làm cái gì xong là mình trở về cái tâm xả. Đừng có để cho cái thấy, cái nghe, cái làm đó nó xâm chiếm thân tâm của mình. Nếu mà con để cho mấy cái ở ngoài nó chiếm thân tâm nhiều thì làm sao con tu học, làm sao con chia sẻ pháp cho chúng ta được.
Một ngày không biết bao nhiêu công việc, không biết bao nhiêu người khách, nếu mà không trú cái tâm xả thì làm sao mình tu được, làm sao mình an trú trong pháp được, làm sao nhìn ra các sự thật. Xả ở đây là xả các ác và bất thiện pháp và chúng ta sẽ nắm giữ các thiện pháp, nhớ cho kỹ cái này. Trong bốn chi phần tinh cần thì cái cuối cùng là gì? Là hộ trì các thiện pháp, nắm giữ các thiện pháp mà mình có được. Thí dụ như cái tâm hiền đó mà mình bỏ ra, là mình thành hung dữ rồi. Nói: “Thầy ơi sao con trú xả mà tâm hiền con bỏ luôn, con trở thành hung dữ”, là trật lất. Chúng ta thấy chưa? Một chút xíu thôi mà phải thiện xảo trong sự tu tập. Khi nói xả là xả cái gì? Chứ không phải xả là bỏ hết trơn, khỏi tụng kinh, khỏi ngồi thiền, khỏi quán gì hết trơn, “xả mà, xả luôn”, buông tay cho nó lăn xuống núi luôn là không phải.
Xả là xả các ác và bất thiện pháp, những cảm giác, những nghĩ tưởng, suy tư, dục tầm, sân tầm, hại tầm. Những suy nghĩ về tham dục, những suy nghĩ về tức giận, sân si, những suy nghĩ về hại người, hơn thua, thì những cái đó mình xả. Nhưng mà những cái suy nghĩ mà vô thường, khổ, không vô ngã, những cái suy nghĩ đưa đến sự nhất hướng nhàm chán ly tham, đoạn diệt, an tịnh, thắng trí, chứng ngộ, Niết-bàn, thì những cái suy nghĩ này phải nắm chặt đừng cho nó rớt ra. Phải nắm giữ không bao giờ cho nó rớt mất, thành ra chúng ta học không có kỹ thì chúng ta xả là chúng ta xả hết trơn luôn, xả không còn đồng bạc đi về xe nữa.
Cũng như ở bên chỗ đánh bài bên Mỹ ở Las Vegas đó, người ta nói với con: “Thầy ơi ở đây lạ lắm thầy có biết không?” Con hỏi: “Lạ sao?” Người này trả lời: “Ở đây cúng chùa không có thắp nhang, mà cúng tiền bự, tiền chẵn không à”. Tại vì vô những chỗ đánh bài nó đâu có thắp nhang, cúng tiền chẵn không à, cúng một cái tán gia bại sản luôn. Đi về là không còn tiền về xe luôn, sạch bách hết trơn đâu có tiền mua vé máy bay đi, rồi còn thiếu nợ nữa, xả kiểu đó đó. Thành ra chúng ta phải biết xả tham, sân, si, vô minh và các ác bất thiện pháp. Mình phải thủ, phải hộ trì các thiện pháp, tâm hiền, tâm từ. Những cái pháp quán chiếu của mình, chín pháp an trú tâm của tôn giả Xá-Lợi-Phất mình được học, “từ, bi, hỷ, xả”, 4 tâm vô lượng là mình phải giữ, Chánh niệm tỉnh giác là phải giữ, cảm thọ hiền thiện, ngọt ngào, dễ chịu, từ tâm rộng lớn là phải giữ.
Quản Tuệ biết đường về nhà không? Biết đường về nhà chưa? Từ đây tới chết không được quên địa chỉ thường trú nha, nhớ chưa? Địa chỉ thường trú là cái gì? “Dạ tâm xả”. Đề tài thiền quán cuối, Thiên sứ thứ năm đó là chết. Còn tiếp theo là Đức Phật nói về các cảnh giới của địa ngục, hình phạt trong địa ngục, thì những cái này buổi sau chúng ta sẽ tìm hiểu. Hôm nay là chúng ta triển khai 5 Thiên sứ này thành 5 chủ đề thiền quán, để chúng ta chiêm nghiệm thật là kỹ. “Sanh, già, bệnh, ác nghiệp và chết”. Làm thế nào để chúng ta sống một đời sống ý nghĩa, giá trị, lợi ích thật sự của một người tu. Đừng có quên 5 chủ đề: “Sự sanh, già nua, bệnh tật, kết quả của ác nghiệp và cuối cùng là cái chết”. Đừng có buông lung phóng dật, cố gắng làm các điều thiện như lời của Diêm La Vương - Diêm Vương nói đó: “Hãy làm điều thiện về thân, mịêng, ý, đừng có buông lung phóng dật”.
(Lời dẫn của Phật tử)
“Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật
Về về Phật nghĩa nhân đều trọn vẹn,
Về với pháp sống đời không hổ thẹn,
Về với tâm đốt đèn ngộ tuệ giác.
Kính bạch trên thượng tọa, trong khoảng thời gian vừa qua, tuy không ngắn cũng không thật quá dài, nhưng vừa đủ cho đạo tràng chúng con thấm nhuần muôn pháp. Thượng tọa đã cho con chân lý tuyệt vời, đã giúp cho chúng con vững bước xa rời khổ đau. Qua bài giảng hôm nay của thượng tọa, đã chỉ dạy cho con về những pháp quán. Và chúng con thành tâm khắc ghi và lấy đó làm pháp hành, để cho bước đường học đạo của chúng con được gần sự giải thoát hơn. Với ân đức ấy chúng con thành tâm kính lễ Ngài. Và cuối lời chúng con kính chúc Ngài thân khỏe, tâm an và thành tựu sở nguyện, thành tựu pháp hành. Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật. Chúng con thay mặt ban tổ chức, kính chúc toàn thể nam nữ Phật tử luôn luôn tâm Bồ đề kiên cố với ba ngôi Tam Bảo. Và luôn luôn pháp học, pháp hành đều được thành tựu. Và đây để được công đức viên mãn, chúng con thành tâm cung thỉnh thượng tọa niệm hồi hướng. Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.”
Nghiệp Và Quả Báo 11 – Kinh Thiên Sứ (2)
Thích Minh Thành
Ngày 21 tháng 10 năm 2022
MỤC LỤC
TOC \o "1-3" \h \z \u I. Quán vô thường PAGEREF _Toc120621261 \h 1
II. Khuyến tấn tu tập PAGEREF _Toc120621262 \h 5
III. Chánh niệm tỉnh giác – trú xả PAGEREF _Toc120621263 \h 11
I. Quán vô thường
Kính bạch chư tôn hiền đức, kính thưa tất cả các Phật tử hiền trí nam nữ. Hôm nay chúng ta tiếp tục bài kinh “Thiên Sứ”, Đức Phật nói chúng ta biết về 5 Thiên sứ. Thứ nhất là sự sanh ra, thứ hai là sự già nua, thứ ba là bệnh tật, thứ tư là ác nghiệp, thứ năm là chết, thứ sáu tức là gặp Diêm Vương. Chúng ta chiêm nghiệm thật kỹ năm Thiên sứ này, nên Thiên sứ này là 5 đề tài quán chiếu rất là quan trọng. Thông thường trên thế gian “sanh hỷ, tử bi”, chúng ta hay mừng, chúc mừng sinh nhật cho nhau: “Sinh nhật vui vẻ”, chúng ta ca những bài hát chúc mừng sinh nhật bằng nhiều thứ tiếng. Và khi ngày người thân nhắm mắt qua đời chúng ta đau khổ, khóc than, nhưng ở trong trí tuệ Đức phật không phải vậy.
Chúng ta nhìn là thường thường nhìn vào kết quả của sự việc, còn Thánh trí của Đức Phật nhìn vào cái nhân từ đâu mà nó sanh ra cái quả. Cho nên Đức Thế Tôn nói rằng: “Sanh là khổ. Vì có sanh cho nên mới đi đến sự tàn lụi, vì có sanh cho nên mới dẫn đến sự bại hoại, vì có sanh nên dẫn đến sự tan rã, vì có sanh cho nên mới đưa đến chỗ diệt tận”. Cho nên Thế Tôn nói rằng: “Sự sanh ra là khổ”. Vì cái thấy biết này, hoàn toàn ngược lại với sự thấy biết của phàm phu. Sự xuất sanh, sự xuất hiện, sự có mặt của thân xác này, là sự có mặt của ốm đau, bệnh tật, lo lắng, buồn phiền, sợ hãi, bất an, khổ, sầu, tai họa. Sự xuất hiện, sự hiện hữu, sự có mặt của hình hài này, là sự có mặt của già, bệnh, chết, sầu, bi, khổ, ưu, não.
Cho nên để mà Đức Phật nhìn ra cho chúng ta, soi ra cho chúng ta thấy gốc rễ của sự khổ đau chính là tái sanh. Nhưng mà chúng sanh vì vô minh, vì không thấy, không biết, không nhìn ra được cái cội rễ, gốc rễ, nguyên do, căn nguyên của vấn đề cho nên chúng ta lại lấy cái khổ làm vui. Các bậc Thánh không có ưa sanh, không có thích sanh, không có muốn sanh, các Ngài tu để đạt tới chỗ vô sanh. “Vô” là không có sanh nữa. Không còn sanh ra những cái thân máu, mũ, răng, ruột, phèo, phổi, tóc, lông, móng, da, thịt, gân, xương bẩn thỉu. Không còn sanh ra những cái thân mà chứa đầy những thứ không có sạch sẽ, không còn sanh ra những cái thân 32 thể trượt. Khi mà nó sanh ra từ chỗ nhơ nhóp, bẩn thỉu nhất của con người, và khi nó chết đi thì nó trải qua bao nhiêu giai đoạn? Chín giai đoạn khủng khiếp và kinh hãi, không ai chịu nổi hết.
Dù là người yêu thương nhất của chúng ta, cũng phải lẹ lẹ gói “mình gói chiếu lẹ lẹ, bỏ vô hòm lẹ lẹ, quấn bao, bọc lại, bao lại”. Hay là đưa đi ra nghĩa trang, nghĩa địa lẹ lẹ, đưa đi vô lò thiêu. Không ai có thể chịu nổi, đó gọi là “Cứu cánh bất tịnh”. Tức là sự nhơ nhớp tột cùng của thân này, trong một cái chung cuộc, kết cuộc đau thương, bi thảm nhất của kiếp sống con người. Sinh ra từ chỗ nhơ nhóp, chết đi thì càng cực kỳ khủng khiếp sự của nhơ nhớp. Thì đương nhiên trong khoảng giữa đó phải là nhơ nhớp bất tịnh. Nó sanh ra từ chỗ nhơ nhớp, thì làm sao nó sạch sẽ được? Nó từ cái bất tịnh sinh ra, thì làm sao nó tịnh được. Nó từ cái bẩn thiểu, tanh hôi, xú uế nó hình thành, thì làm sao nó thanh tịnh, kim cương, trong sạch được.
Nhưng vì vô minh che đậy, vì tham ái trói buộc, mà chúng ta đam mê cái nhơ nhớp, yêu thích cái bất tịnh, đảo điên với những cái uế nhiễm. Suốt cuộc đời, suốt ngày, suốt tháng, suốt năm vụn vén trong một đống như nhơ nhớp, bẩn thỉu, tanh hôi. Ưỡn ngực, hất mặt, ta đây, vênh váo với một cái tấm thân đầy dãy phân và nước tiểu. Đó là sự mê lầm của chúng sanh, đó là sự vô minh của hữu tình, là sự dại khờ của một cái bản ngã ngu muội. Cho nên ở đây Đức Thế Tôn vạch trần, phơi bày cho chúng ta thấy 5 đề mục quán chiếu vĩ đại của kiếp người. Sự có mặt là thiên sứ thứ nhất. Chúng ta thấy không? Một đứa trẻ mà đã vừa lọt lòng mẹ là nó kêu tiếng gì? Người mẹ phải chịu đựng 9 tháng 10 ngày đó đau khổ như thế nào?
Rồi cả một đời sống từ khi có mặt, cho đến lúc nhắm mắt. Khi nó sanh ra thì là hai bàn tay trắng, và khi tàn hơi rồi thì trắng hai bàn tay xui xuống. Còn trong khoảng giữa thì nắm cái này, bắt cái kia, chụp cái nọ, dành cái này, giật cái kia. Đó là đời sống của vô minh, của si ám, của chúng sanh, của hữu tình, của sự chấp thủ trong tứ đại, ngũ uẩn này. Chúng ta thấy không? Khi sanh ra là hai bàn tay trắng, cộng với tiếng khóc. Và khi chết đi là xui xuống trắng hai bàn tay, cộng với những dòng nước mắt tuôn chảy. Khi sanh ra và lúc chết đi có giống nhau không? Khi sinh ra là cũng nước mắt, cũng hai bàn tay trắng. Và khi chết đi, tàn hơi cũng hai bàn tay trắng và cùng với nước mắt. Cho nên hồi sáng này chúng ta thiền quán về bộ xương, thiền quán về sự nguy hiểm và tác hại của sắc pháp, sắc uẩn và hình hài.
Các vị trình pháp khi ta còn con nít, thì nó tiểu, nó vãi, còn biết la lên. Nhưng đến khi già, nằm một chỗ, ỉa trây đái dầm trong đống phân và nước tiểu của chính mình. Mà không có nói nên lời được, không còn khả năng để mở miệng nữa. Tức là các phong đại, những bộ phận, những cơ thể, những điều kiện để cho phong đại nó phát huy không còn. Nói không được, nâng người lên không được, ngồi dậy không được, tay chân không có cử động được đúng theo ý của mình, vậy thì nó còn thua cái lúc mà còn con nít nữa. Chúng ta có thấy một bi kịch của kiếp người không? Chúng ta có thấy xót xa của đời sống này không? Chúng ta có thao thức, có trăn trở, có ưu tư rằng: “Sau này mình kết thúc sự sống này như thế nào không?”
Chúng ta có biết lo lắng không? Hay là chúng ta cứ mãi mê tham cái này, muốn cái kia, giận cái nọ, sân si cái khác. Cứ mải miết đam mê trong hơn thua, giành giật, đấu đá, gom góp, tích lũy trong những tài sản vô thường, hư ảo đó và chúng ta sống trong lãng quên. Đừng nói chi những người trẻ, mà những người già lên cả hàng 70 tuổi rồi, và thậm chí là bệnh gần chết rồi, ung thư là giai đoạn gần cuối rồi, nhưng mà nói chết người ta cũng không tin. Thật sự là hết sức là vô minh, mình hết sức là dại khờ, hết sức là trẻ thơ, hết sức là ấu trĩ. Bất thình lình tai nạn tới, bệnh hoạn tới, chết chóc tới, lúc đó mình hoảng loạn, kinh hoàng. Tại vì mình có cái gì chuẩn bị đâu? Mình có chuẩn bị đâu, mình có sửa soạn đâu, mình có nhớ đâu, đó là sự đau khổ của chúng sanh trên khắp hành tinh này.
Đó là sự lãng quên, sự thất niệm, đó là một sự hướng ngoại, nhìn ai đau, ai chết, ai bệnh gì đó là chuyện của người ta, “mình dễ gì mình bệnh, mình dễ gì mình chết, biết khi nào mình chết”. Tâm chất sanh là một tâm hướng ngoại, cho nên đây là 5 chủ đề vĩ đại bậc mà Chánh Đẳng Chánh Giác dùng từ gọi là Thiên sứ, sứ giả của trời. Cho nên người tu chúng ta hết sức là phải ưu tư, đừng nghĩ rằng tu là khỏe, khỏi làm gì hết, đó là tu vô minh đó. Đời tu của chúng ta phải hết sức là ưu tư, hết sức là khắc khoải trong lòng, hết sức là thao thức, bâng khuâng, lo lắng và sợ hãi. Vì sao vậy? Thứ nhất là chúng ta đang mang cái thân này, một cái thân đầy bệnh tật, đầy hiểm nguy, đầy tai họa, đầy bất tịnh. Thứ hai là chúng ta lo lắng cho tới sự suy nhược, suy lão, suy hao, suy kiệt, suy tàn của sắc uẩn, sắc pháp này. Chúng ta thấy không?
Mình trình pháp khi ngồi thiền đó, mình còn sức, minh mẫn, tuổi còn khỏe như vậy, mà khi một cơn buồn ngủ nó xâm chiếm là mình không có chiến thắng nổi, chứ đừng nói gì cao siêu hết. Mà giờ ngồi thiền là giờ mình đã đem toàn tâm, toàn lực để mình ở xung trận mình ra cái trận chiến tâm linh. Mà một cơn hôn trầm, cơn buồn ngủ nó tới thôi là đạp mình một cái một. Thì chúng ta nghĩ cái sức của chúng ta làm được cái gì? Với một cơn buồn ngủ mà mình còn không chiến thắng nổi, thì mình làm được cái gì, mình tu được cái gì? Phải ưu tư trong sự tu của mình, phải tăng thượng trong sự tu, phải hướng thượng trong sự tu. Hôm trước chúng ta học rồi: “Sách tâm, trì tâm là phải dùng cái roi thật là mạnh quất con ngựa, cho nó nhảy dựng lên, nó phi nước đại”.
Chúng ta thấy không? Rõ ràng là mình ở trên bồ đoàn đó, mình ở trước Phật, Pháp, Tăng mình nói: “Mình lên ngồi thiền”, nhưng chỉ còn một cơn hôn trầm, buồn ngủ nó tới thôi là nó dập mình, nhấn chìm liền. Thì đừng nói chi mà tai nạn đó đến bất thân lên xảy ra bất thình lình tai nạn, bất thình lình bệnh, người ta chửi, sạt nghiệp, nhà tan, cửa nát, phá sản, đột quỵ, lên tăng xong, tai biến, xe đụng mình gãy giò gãy chân nằm một chỗ bán thân bất toại, thì lúc đó làm sao? Mình lấy gì mình chống đối? Đạo lực, niệm lực, định lực, tuệ lực của mình đâu? Cho nên người tu là một tầm nhìn “nhìn xa trông rộng”, đợi tới bị tai nạn rồi còn gì nữa, đợi tới nằm liệt giường liệt chiếu, đợi tới chết thì còn tu cái gì nữa.
II. Khuyến tấn tu tập
Chúng ta nhớ thái tử Tất- Đạt-Đa đi tu năm bao nhiêu tuổi? Ngài chứng đắc đạo quả năm bao nhiêu tuổi? Là lúc tuổi cường thịnh nhất của kiếp người, sung mãn sinh lực, trí lực, tâm lực, thì lúc đó Ngài mới đắc đạo, thành đạo. Bây giờ mình già nua, cúp bình thiếc rồi, vô tu mà còn không cố gắng nữa. Mình còn buông lung phóng dật, còn tự cho mình cái quyền là: “Tôi già rồi, tôi yếu rồi, tôi nghiệp nặng, tội nghiệp chướng nặng lắm”, vậy thì còn tu cái gì nữa. Mình có những suy nghĩ như vậy thì làm sao tu? Có ông già 70 mấy 80 tuổi rồi, ông đi lại xin Đức Phật tu. Thế Tôn mới nói: “Ta nói cho các Tỳ-kheo trẻ tuổi những pháp hành. Còn ông già cúp bình thiếc rồi, bây giờ ta nói cái gì?” (Chê ổng già). Ổng trả lời: “Bạch Thế Tôn, con già nhưng mà con đem hết tâm lực, trí lực, nguyện lực”.
Đức Phật thuyết pháp cho ông nghe. Ông tu một thời gian quyết lực, mà coi bằng là quyết tử luôn, chứng đắc A-la-hán. Bảy tám chục tuổi mới đi xuất gia. Một cái tâm lực như vậy đó “thân con già mà tâm con không già, sức còn yếu mà cái trí, cái lực của con mạnh”. Cho nên là chúng ta tu học phải có tinh thần ở trong Tứ Chánh cần, hùng lực, mãnh hổ lực, tinh tấn lực, oai hùng lực, sư tử lực, voi báo lực, tôn dương sư dương, sức mạnh của đại bàng kim sí điểu. Phải dùng cái sức mạnh đó để tu, phải tác ý cái mạnh mẽ đó thường xuyên: “Không có một cái gì ngăn trở trên bước tiến Thánh đạo, Thánh quả của mình”. Như vậy đó, mình mới tiến bộ mạnh lớn trong cái tăng thượng Thánh pháp, Thánh trí huệ, Thánh đạo.
Chúng ta bị bao nhiêu cái thứ này, còn chưa kể cái tham sân si nó hành hạ chúng ta, mới có kể tới một chút cái sanh, cái già với cái bệnh thôi. Đây Đức Thế Tôn nói là: “Ác nghiệp là thiên sứ thứ tư”. Chúng ta nhìn thấy rồi đó, hồi sáng nay từ hơn nửa vòng trái đất bay về đây để mà tu, lên tới nơi rồi, bước vào trong thiền đường rồi, mà tu không được. Nghiệp chướng chúng ta thấy dữ dội không? Những cái nghiệp nó sẽ ngăn trở, chặn đứng bước tiến của mình. Chúng ta đừng có nghĩ rằng: “Tối nay con nghe pháp, ngày mai con cũng nghe pháp”, đừng có suy nghĩ như vậy, vì chưa chắc. Suy nghĩ như vậy là không có thành tựu Chánh kiến, mình chỉ biết ngay bây giờ, ở ngay bây giờ là vậy thôi, còn cái phút sau những gì xảy ra là chúng ta không thể nào biết được, chứ đừng nói chị là qua đêm sau.
Như vậy gọi là vô thường, nhớ như vậy, tin như vậy, hiểu như vậy, thấy như vậy, biết như vậy, mới gọi là tin pháp. Mình chưa có tin như vậy là mình chưa có tin pháp, chưa có niềm tin pháp. Mình còn nghĩ rằng: “Ngày mai mình sẽ còn ngồi ngay đây, ngày mốt mình đi xuống núi, ngày kia mình sẽ làm như vậy vậy”, mình còn cho rằng cái đó là chắc chắn, là mình chưa có tin pháp, mình chưa có thành tựu tịnh tính bất động đối với pháp. Mình: “Ờ bây giờ ngồi đây mình biết ngay chỗ này, còn chuyện một chút nữa là mình không biết. Có thể mình đi ra mình trượt chân, mình đập đầu”, mình có cái ý nghĩ như vậy mới gọi là tin pháp, mới gọi là niệm pháp, mới gọi là tin cái vô thường, tin cái biến hoại.
Còn mình cứ nghĩ mình như vậy, bữa sau mình cũng vậy, tháng sau mình cũng vậy, năm sao mình cũng vậy, ba năm sau mình cũng vậy. Cho nên người ta nói làm sao? “Sinh niên bất mãn bách, thường hoài thiên tuế ưu”. Người sống không đầy 100 tuổi, nhưng mà thường mang một mối lo ngàn tuổi. Sống không tới 100, nhưng mà lo là lo 1000. Đừng nói 1000, “hoàng thượng là vạn tuế vạn tuế” luôn, là 1 vạn luôn, 10.000. Tất cả chỉ là ảo tưởng của vô minh, của bản ngã, của si ám. Chúng ta phải tin cho được, chỉ có khoảng khắc hiện giờ mình biết như vậy nè. Nhưng mà trong này cái gì mình cũng không biết hết, ở trong này nó đang diễn biến cái gì mình còn không biết. Những người chung quanh mình, trong gia đình, cùng chung xí nghiệp mình hay đang cùng chung đạo tràng, người ta đang suy nghĩ cái gì mình cũng không biết.
“Có thể ngày mai là mình té ghế, cái ghế mình ngồi không còn nữa, có thể mình vô tù”. Chúng ta thấy không? Biết bao nhiêu người chức vụ lớn lao vô tù hết trơn rồi đó. Chủ tịch hội đồng quản trị không, chứ không phải dạng thường à, tích tắc đây thôi, còng hai cái tay. Đó là cái đề tài thiền quán của nghiệp, quả dị thục của nghiệp, trái nghiệp nó chín. Cho nên chúng ta nhớ lại, cô đơn và cay đắng, lẻ loi có một mình thôi, khi mà cái nghiệp nó đòi, nó đeo rồi chúng ta sẽ lãnh lấy những cái hậu quả của nghiệp. Như hồi sáng quý vị trình pháp: “Cha con đau ốm như vậy, mẹ con ung thư như vậy. Con muốn thay thế một chút xíu cái đau đớn đó cho mẹ con mà không được”. Chúng ta có nghe cái câu này không? Chúng ta còn nhớ không?
Và ngày hôm qua có cô Phật tử quỳ ở ngoài bụi trúc mà kể cuộc đời của mình, lúc đó là con đang thiền quán Nikāya thế kỷ 21 này, đó chính là kinh Nikāya hiện tại. Khổ Thánh đế, khổ Thánh trí ngay trong giây phút hiện tại. Bây giờ vợ chồng thương yêu với nhau biết bao nhiêu, cha con máu thịt mà, mẹ con là nấm ruột cắt ra mà, nhưng mà khi người kia tai nạn, người kia bệnh hoạn, người kia đối diện với cái chết thì mình chịu thế với nhau được không? Mình có chịu cái đau đớn của cha mình, thế cho cha mình bớt đau hay là đừng có đau, mình chịu cơn đau đó, chịu thế được không? Như vậy mới nói: “Tất cả đều là chúng sanh, không ai là người thân của mình, chỉ có vô minh, nghiệp và nhân quả”. Tại vì tới cái lúc đó rồi là không có cha con, mẹ con, anh chị em gì hết, nghiệp ai nấy lãnh, không có một người nào thay thế cho một người nào được hết.
Thương là mình nhắc nhở, mình kiềm lại, mình hướng dẫn, mình khuyến khích để cho người đó tu tập, làm các việc công đức. Thì thương là vậy thôi, giúp là giúp vậy thôi, chứ làm sao mà mình tu dùm người đó, nhận diện ngũ uẩn cho người đó được. Mình chỉ cách nhận diện ngũ uẩn, nếu người đó nhận diện ngũ uẩn, thì người đó thấy được tham, sân, si là khổ, thì người đó tự nhiếp phục, chế ngự cái khổ đó, thì người đó bớt khổ, đi đến chấm dứt khổ. Chứ làm sao mà mình làm cho người kia hết khổ, sao mà mình diệt tham, sân, si dùm người kia được? Đâu có được. Dạ con thưa Ni Sư, hai người huynh đệ ngồi kế bên đó, mà Ni Sư này ăn Ni Sư kia có no không?
Huỳnh đệ với nhau, ngồi sát bên luôn, bát giống nhau luôn, múc đồ ăn giống hệt luôn, cùng chung một nồi cơm, một nồi canh, một nồi đồ kho luôn, mà người này ăn thì người kia đâu có no được. Bây giờ con ví dụ thêm một cái nữa, người kia bị tào tháo rượt, người này đi thế giùm có được không ạ? Không có nói gì xa vời hết trơn á. Vậy thì “ông tu ông đắc, bà tu bà đắc, bất tu bất đắc”. Vậy mà tối ngày cứ đi cầu xin hoài, tu không chịu lo tu, chỉ cho các phương pháp nhận diện ngũ uẩn rồi không chịu quay về nhìn các cảm thọ, tưởng, hành, mà cứ hướng ra. Rồi xong: “Thầy ơi con khổ quá giờ sao thầy, cứu con”. Vậy cứu được không? Phật cũng còn không cứu được nữa chứ đừng nói chi là thầy.
Mà chỉ rồi, cái phương pháp nhiếp phục, chế ngự cảm thọ, tu tâm hiền, tâm từ, trải tình thương, không chịu. Cứ sân si mà bây giờ kêu cứu là cứu cái gì, giúp là giúp cái gì, độ là độ cái gì. Cho nên mình phải nhớ các ác nghiệp khủng khiếp lắm, cái nghiệp nó ác, nó độc lắm. Ngoài cái sanh, già, bệnh, chết, thì nghiệp nó ghê gớm. Sanh, già, bệnh, chết, là nó ở trên thân tứ đại thôi, nó ở trên cái phần vật chất, phần hình thể, thân xác, tứ đại. Nó là thuộc về một phần ở phía bên ngoài, mình nhìn mình thấy được. Nhưng mà cái nghiệp nó quân tập trong thọ, tưởng, hành, thức. Nhất là nó ở trong cảm thọ, mà chúng ta muốn bây giờ nhận diện được cái nghiệp, thì chúng ta phải nhận diện được cảm thọ, cái nghiệp nó nằm trong cảm thọ mà.
Bây giờ người này hở cái giận, hở cái bực, hở sân si lên, thì nói: “Cái tính tôi hay nóng lắm, tôi hay nổi nóng lắm”, thì cái nổi nóng đó nó nằm ở đâu? Nằm ở cảm thọ. Mà bây giờ mình không biết cảm thọ, cho rằng: “Tôi hay nóng, tôi hay sân, tôi hay giận, cái nghiệp tôi nặng lắm”. Vậy rồi tới chừng nào mà mình nhiếp phục, chế ngự để mình làm cho cảm thọ mình được ngọt ngào, dễ chịu, tới chừng nào nếu như mình không biết nó nằm ở trong cảm thọ. Mình không biết hang ổ, không biết xào huyệt, không biết căn cứ địa của nó thì làm sao mà mình nhiếp phục, chế ngự, diệt tận nó được. Một ngày chúng ta có nhớ thọ nhiều không ạ? Đừng có nói con là ngày nào cũng uống sữa ông Thọ là chết nữa (cười).
Có nhớ ông Thọ không? Mấy cô Phật tử, mấy ông, mấy bà nè, có nhớ ông Thọ không? Im ru hết trơn vậy? Không phải Phước, Lộc, Thọ đâu, không phải sữa bò ông Thọ đâu, mà là cảm thọ. Phải nhớ tu tập cái cảm thọ và nhận diện được cái cảm thọ, phải làm cho cái cảm thọ nó mát dịu, nó dễ chịu, nó ngọt ngào, rộng lớn, yêu thương, từ tâm. Thì chỉ có cái đó mới trị được, diệt được nghiệp. Chúng ta thấy tầm quan trọng của tâm từ, tâm hiền chưa ạ? Thấy rõ bao nhiêu phần trăm? Mình không biết cảm thọ, rồi mình không biết phân loại cảm thọ và mình không biết trong cảm thọ gì nó có cái gì ở trỏng. Có cái gì ở trong cảm thọ dễ chịu? Có tham. Trong cảnh thọ khó chịu có sân, trong cảm thọ không dễ chịu không khó chịu có si. Mà mình không có biết thì làm sao mình có những phương pháp mình điều trị? Làm sao mình có những cách thức để mà mình xoa dịu, chuyển hóa và tu tập nó.
Cho nên cái ác nghiệp này là khủng khiếp lắm, mình cẩn thận từng suy nghĩ, từng lời nói, từng hành động của mình, cẩn thận từng chút, từng chút một. Chúng ta thấy chiếc máy bay, chỉ cần nó hư một con ốc, con vít nhỏ thôi là thì sao ạ? Chết vài trăm người thôi. Hư một con ốc vít nhỏ bằng đầu ngón tay út thôi, có thể 500 mạng người chết. Như vậy để chúng ta thấy, chúng ta càng tu nó càng sâu sắc, nó càng tinh tế, càng nhỏ nhiệm. Mà người nhìn được cái nhỏ nhiệm, sâu sắc, thì cái sự tu của mình nó mới tiến bộ. Chứ không phải mình tu cao, là mình không còn biết gì tới những cái chuyện nhỏ nhặt đó nữa hết. Càng tu cao càng thấy lo sợ, sợ hãi trong các lỗi nhỏ nhặt, sợ hãi trong suy nghĩ của mình, sợ hãi trong hình bóng trong tâm của mình: “Những hình bóng đó là ác bất thiện pháp”, sợ hãi trong cảm giác của mình: “Sao mình tu mà mình lại có cảm giác này?”
“Thấy người ta khổ mà dửng dưng à, thấy người ta khổ mà mình còn cười”, như vậy là ác bất thiện pháp. Thành ra mình càng tu sâu sắc là mình càng cảnh giác, soi chiếu từng suy nghĩ, từng cảm giác, từng hình bóng trong tâm. Vậy là để làm cái gì? Ngăn chặn tất cả các ác nghiệp. Tu nó miên mật đến cái mức mà nó không có một con muỗi vo ve, đến một lỗ nhỏ nào mà có thể con kiến nó bò hay con muỗi nó chui vô. Bây giờ mình đem một cái du thuyền nó lớn như vậy là cả hàng tỷ đô la, mà chỉ cần một có 1 cái lỗ nhỏ xíu thôi (bự mình mới sợ, bự bằng cái chuông mình mới sợ, chứ nhỏ xíu vậy thôi) nó nằm dưới đáy thuyền thì được không? “Là sao mà lắc đầu?”. Nhỏ chút xíu bằng đầu móng tay út thôi cũng không được nữa. Vậy cho chúng ta mới biết rằng, chút xíu đó nó có thể nhấn cả một chiếc thuyền 10.000 người.
Thì chính vì những cái chút xíu và nhiều cái chút xíu nữa thì nó thành lớn, cho nên chúng ta mới sanh tử, luân hồi vô lượng, vô biên kiếp ngồi đây nè. Chúng ta xem thường những cái chút xíu đó, chúng ta bỏ qua, chúng ta cẩu thả, chúng ta khinh thường với những cái chút xíu đó. Như ví dụ ở trên, nó có một chút vậy thôi, mà nó nhấm chìm du thuyền mấy ngàn người. Mà chúng ta nhiều cái chút xíu như vậy, thì chúng ta chết chìm, chết nổi vô lượng, vô biên kiếp trong biển sanh tử, khổ đau là đúng rồi. Đó là đúng, như vậy mới gọi là lậu hoặc, những cảm thọ, những suy nghĩ, những suy tưởng trong tâm nó qua mặt mình hết. Ý là mình đã biết nhận diện ngũ uẩn rồi, đã được hướng dẫn, được chỉ cách nhận diện, chỉ cách tác ý rồi mà nó qua mặt mình vù vù, chứ đừng nói chi mà không chỉ, không biết thì còn nói gì nữa. Phải không?
Mình biết nó có luôn, mà mình nói: “Thôi kệ, cái này không sao, có chút xíu à nó không có chìm đâu”. Thì nó có chìm luôn không ạ? “Lắc đầu là không có hả?” Chìm không? Có đắm luôn không? Thì thuyền chìm luôn. Lên ngồi thiền mà thiền chìm, thiền lủng, thiền chìm luôn. Đó chính là những cái ý nghĩ, những cảm xúc, những hình bóng trong tâm, cũng như là cái nhận thức của vô minh, nhận thức của tham ái, của chấp thủ, của những cái biết theo thuần tình. Người này quan tâm mình nhiều thì mình thương, người kia mình thấy không hợp cái ghét à, là như vậy thôi, sống với cái tình thức của phàm phu, chứ không có sống với cái trí tuệ của bậc Thánh mình được truyền trao.
Thành ra là tự mình phải đọc, lắng nghe thọ, tưởng, hành, thức thật kỹ. Nghe rồi dẫn chúng đến hiền tâm, từ tâm, ly tâm, xả tâm. Người đó thương hay ghét mình, đẹp hay xấu, đồ ăn ngon hay dở, tiếp xúc xong rồi mình xả tâm. Chánh niệm tỉnh giác, trú xả, không có để cái món ngon đó nó ám ảnh, không có để cho cảnh đẹp đó làm cho mình phải say đắm, mà Chánh niệm tỉnh giác, trú xả. Bậc Đa văn Thánh đệ tử là: “Khi mắt thấy sắc, tai nghe tiếng, mũi ngửi mùi, lưỡi nếm vị, thân xúc chạm, ý nhận biết các pháp. Thọ, tưởng, hành bên trong Chánh niệm tỉnh giác. Dù cho cái đó là đáng yêu, không đáng yêu hay là thường thường, đều là Chánh niệm tỉnh giác, trú xả”. Tức là sống với cái xả tâm. Tại vì sao xả? Vì nó vô thường, nó sanh diệt, nó tan hoại.
III. Chánh niệm tỉnh giác – trú xả
Thành ra mình trú xả, mình không có trú vào cái tâm buông xả, buông bỏ, thì mình bị dính mắc. Mà mình bị dính mắc thì mình sẽ bị sầu, bi, khổ, ưu não. Dù cho dính mắc cái đó là cái tốt, nếu mình không khéo mình cũng sầu, bi, khổ, ưu não. Như bây giờ con nói thí dụ, mình sáng quét sân, trưa quét sân, chiều quét sân, tối quét sân, hễ rảnh là ra quét hoài như vậy. Rồi có người lỡ người ta đi đôi dép sình, họ đi vào, họ đạp lên một cái dấu bự dài. Nếu mình không có tu tập cái tâm xả thì lúc đó sao ạ? “Sân”. Sân đó nó có cho mình cái quyền là đúng, là phải không? “Gật đầu là có hả?” Sân là không có cái sân nào đúng hết trơn, sân là sai. Bây giờ nói lại 5 lần “sân là sai”, “giận là sai”, “giận là ngu”, “giận là vô minh”, “giận là lú”, nhất trí không?
Như vậy mà không nhớ nữa là thôi đó, đọc mấy chục lần vậy mà không nhớ không có cái sân sân nào đúng hết trơn. Như vậy, tuy là mình quét thường như vậy, nhưng mà mình không có trú tâm xả, cho nên mình chấp thủ vào việc làm hiện tại của mình, thì mình sẽ khổ đau. Tại sao mình không suy nghĩ: “Tội nghiệp người này quá, họ không có biết”, hay là “chắc họ bận rộn, họ bị cái gì đó hay là họ trong rừng mới ra (đại khái họ đi bị sình, mà mang cái ủng nên chắc ở trong rừng mới ra)”, hoặc là “tội nghiệp, thương” hoặc là “đây là có một cơ hội cho mình quét cái này, lau luôn chứ không phải quét. Bình thường quét chỗ này, nay phải rửa mới được. Đây có cơ hội cho mình làm phước” được không?
Mình chuyển đổi suy nghĩ đó thôi thì tâm mình bình an, tâm mình hoan hỉ, không có sân mà lại hoan hỉ. Mình thấy có cơ hội để làm phước, mình nhiếp phục luôn cái sân, nhiếp phục, chế ngự luôn cái bản ngã. Mình dẹp luôn cái công lao của mình “bất cư công”, không có cư trú trong công lao của mình. Thì cái việc đó mới là “thiện pháp vô vi.” Đó là việc thiện cao toàn, làm tất cả việc thiện là đưa đến cái tâm thanh tịnh, từ bỏ tham, sân, si. Chứ không phải làm việc thiện để mà kể công, để mà cư công, để mà khoe công, để mà cần cái bằng khen, cái vỗ tay. Rồi không vỗ tay cái buồn “không làm nữa đâu, làm không ai vỗ tay khen hết trơn. Vỗ tay nhiều thì mới làm nhiều, không vỗ tay thì không làm, vỗ tay mới hào hứng lên, còn không vỗ tay ngồi im ru buồn, chắc buồn ngủ”, phải không? Không phải như vậy.
Thành ra là Chánh niệm tỉnh giác, trú xả là một đề mục tu tập tuyệt đối quan trọng của chúng ta, chúng ta không tu cái này chúng ta khổ. Địa chỉ thường trú của Quảng Tuệ ở đâu? “19 Tôn Đản, Thanh Sơn, Phan Rang” Ngồi xuống đi. Địa chỉ thường trú Hiền Tuyết ở đâu? “Tâm”, “Cho một tràng pháo tay đi”. Con đã nói cái này không biết bao nhiêu lần rồi, địa chỉ của người tu, địa chỉ thường trú là tâm xả. Giờ này còn lên Tôn Đản, Phan Rang đồ hả? Địa chỉ thường trú của người tu chúng ta là phải trú trong tâm xả, đó là căn nhà của người tu. Dù cho có thấy cái gì, có nghe cái gì, có làm cái gì xong là mình trở về cái tâm xả. Đừng có để cho cái thấy, cái nghe, cái làm đó nó xâm chiếm thân tâm của mình. Nếu mà con để cho mấy cái ở ngoài nó chiếm thân tâm nhiều thì làm sao con tu học, làm sao con chia sẻ pháp cho chúng ta được.
Một ngày không biết bao nhiêu công việc, không biết bao nhiêu người khách, nếu mà không trú cái tâm xả thì làm sao mình tu được, làm sao mình an trú trong pháp được, làm sao nhìn ra các sự thật. Xả ở đây là xả các ác và bất thiện pháp và chúng ta sẽ nắm giữ các thiện pháp, nhớ cho kỹ cái này. Trong bốn chi phần tinh cần thì cái cuối cùng là gì? Là hộ trì các thiện pháp, nắm giữ các thiện pháp mà mình có được. Thí dụ như cái tâm hiền đó mà mình bỏ ra, là mình thành hung dữ rồi. Nói: “Thầy ơi sao con trú xả mà tâm hiền con bỏ luôn, con trở thành hung dữ”, là trật lất. Chúng ta thấy chưa? Một chút xíu thôi mà phải thiện xảo trong sự tu tập. Khi nói xả là xả cái gì? Chứ không phải xả là bỏ hết trơn, khỏi tụng kinh, khỏi ngồi thiền, khỏi quán gì hết trơn, “xả mà, xả luôn”, buông tay cho nó lăn xuống núi luôn là không phải.
Xả là xả các ác và bất thiện pháp, những cảm giác, những nghĩ tưởng, suy tư, dục tầm, sân tầm, hại tầm. Những suy nghĩ về tham dục, những suy nghĩ về tức giận, sân si, những suy nghĩ về hại người, hơn thua, thì những cái đó mình xả. Nhưng mà những cái suy nghĩ mà vô thường, khổ, không vô ngã, những cái suy nghĩ đưa đến sự nhất hướng nhàm chán ly tham, đoạn diệt, an tịnh, thắng trí, chứng ngộ, Niết-bàn, thì những cái suy nghĩ này phải nắm chặt đừng cho nó rớt ra. Phải nắm giữ không bao giờ cho nó rớt mất, thành ra chúng ta học không có kỹ thì chúng ta xả là chúng ta xả hết trơn luôn, xả không còn đồng bạc đi về xe nữa.
Cũng như ở bên chỗ đánh bài bên Mỹ ở Las Vegas đó, người ta nói với con: “Thầy ơi ở đây lạ lắm thầy có biết không?” Con hỏi: “Lạ sao?” Người này trả lời: “Ở đây cúng chùa không có thắp nhang, mà cúng tiền bự, tiền chẵn không à”. Tại vì vô những chỗ đánh bài nó đâu có thắp nhang, cúng tiền chẵn không à, cúng một cái tán gia bại sản luôn. Đi về là không còn tiền về xe luôn, sạch bách hết trơn đâu có tiền mua vé máy bay đi, rồi còn thiếu nợ nữa, xả kiểu đó đó. Thành ra chúng ta phải biết xả tham, sân, si, vô minh và các ác bất thiện pháp. Mình phải thủ, phải hộ trì các thiện pháp, tâm hiền, tâm từ. Những cái pháp quán chiếu của mình, chín pháp an trú tâm của tôn giả Xá-Lợi-Phất mình được học, “từ, bi, hỷ, xả”, 4 tâm vô lượng là mình phải giữ, Chánh niệm tỉnh giác là phải giữ, cảm thọ hiền thiện, ngọt ngào, dễ chịu, từ tâm rộng lớn là phải giữ.
Quản Tuệ biết đường về nhà không? Biết đường về nhà chưa? Từ đây tới chết không được quên địa chỉ thường trú nha, nhớ chưa? Địa chỉ thường trú là cái gì? “Dạ tâm xả”. Đề tài thiền quán cuối, Thiên sứ thứ năm đó là chết. Còn tiếp theo là Đức Phật nói về các cảnh giới của địa ngục, hình phạt trong địa ngục, thì những cái này buổi sau chúng ta sẽ tìm hiểu. Hôm nay là chúng ta triển khai 5 Thiên sứ này thành 5 chủ đề thiền quán, để chúng ta chiêm nghiệm thật là kỹ. “Sanh, già, bệnh, ác nghiệp và chết”. Làm thế nào để chúng ta sống một đời sống ý nghĩa, giá trị, lợi ích thật sự của một người tu. Đừng có quên 5 chủ đề: “Sự sanh, già nua, bệnh tật, kết quả của ác nghiệp và cuối cùng là cái chết”. Đừng có buông lung phóng dật, cố gắng làm các điều thiện như lời của Diêm La Vương - Diêm Vương nói đó: “Hãy làm điều thiện về thân, mịêng, ý, đừng có buông lung phóng dật”.
(Lời dẫn của Phật tử)
“Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật
Về về Phật nghĩa nhân đều trọn vẹn,
Về với pháp sống đời không hổ thẹn,
Về với tâm đốt đèn ngộ tuệ giác.
Kính bạch trên thượng tọa, trong khoảng thời gian vừa qua, tuy không ngắn cũng không thật quá dài, nhưng vừa đủ cho đạo tràng chúng con thấm nhuần muôn pháp. Thượng tọa đã cho con chân lý tuyệt vời, đã giúp cho chúng con vững bước xa rời khổ đau. Qua bài giảng hôm nay của thượng tọa, đã chỉ dạy cho con về những pháp quán. Và chúng con thành tâm khắc ghi và lấy đó làm pháp hành, để cho bước đường học đạo của chúng con được gần sự giải thoát hơn. Với ân đức ấy chúng con thành tâm kính lễ Ngài. Và cuối lời chúng con kính chúc Ngài thân khỏe, tâm an và thành tựu sở nguyện, thành tựu pháp hành. Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật. Chúng con thay mặt ban tổ chức, kính chúc toàn thể nam nữ Phật tử luôn luôn tâm Bồ đề kiên cố với ba ngôi Tam Bảo. Và luôn luôn pháp học, pháp hành đều được thành tựu. Và đây để được công đức viên mãn, chúng con thành tâm cung thỉnh thượng tọa niệm hồi hướng. Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.”