Thư Viện Linh Quy
← Danh sách

Công Đức Tâm Từ - Khóa Tu NIKAYA Lần 2 Hải Dương

2026-03-03 00:53:09
KHÓA TU NIKĀYA LẦN 2 HẢI DƯƠNG

KINH NIKĀYA GIẢNG GIẢI – CÔNG ĐỨC TÂM TỪ

Thích Minh Thành

Đảnh lễ Đức Thế Tôn, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác.

Chúng ta sẽ nghe Đức Phật nói về bài kinh Mặt trời trong Tăng Chi Bộ kinh, tập III. Khi đó Thế Tôn ở tại rừng Ambapàli của Vesàlì, ngài gọi các Tỳ-kheo và nói:

"Tại đấy, Thế Tôn gọi các Tỳ-kheo: "Này các Tỳ-kheo". "Thưa vâng, bạch Thế Tôn". Các Tỳ-kheo ấy vâng đáp Thế Tôn. Thế Tôn nói như sau:

- Này các Tỳ-kheo, các hành là vô thường". (Tăng Chi Bộ, chương VII - Bảy Pháp, VII. Ðại Phẩm, (II) Mặt Trời)

Mọi sự hiện hữu, mọi sự vận hành, mọi sự vật, mọi tướng mạo, mọi hình thể, cảm giác và nghĩ tưởng, năm uẩn là vô thường.

"Này các Tỳ-kheo, các hành là không có kiên cố. Này các Tỳ-kheo, các hành là không an ổn". (Tăng Chi Bộ, chương VII - Bảy Pháp, VII. Ðại Phẩm, (II) Mặt Trời)

Mọi hình thái, mọi sự vật đều là bấp bênh, bất trắc, biến đổi và tan hoại, đều là không kiên cố, đều là bất an.

"Cho đến như vậy, này các Tỳ-kheo, là vừa đủ để nhàm chán, là vừa đủ để ly tham, là vừa đủ để giải thoát đối với tất cả hành". (Tăng Chi Bộ, chương VII - Bảy Pháp, VII. Đại Phẩm, (II) Mặt Trời)

Vì tính chất vô thường, vì tính chất không kiên cố, vì tính chất bất an cho nên đáng để chúng ta nhàm chán, thật là đáng để chúng ta ly tham, không tham muốn đối với chúng nó nữa, vừa đủ để ly tham, vừa đủ để giải thoát khỏi tất cả, mọi sự vật đều là vô thường, không kiên cố, bất an.

 "Núi chúa Sineru, này các Tỳ-kheo, dài 84 ngàn do tuần, rộng 84 ngàn do tuần, chìm xuống biển lớn 84 ngàn do tuần, nổi lên trên biển lớn 84 ngàn do tuần. Này các Tỳ-kheo, rồi có thời, nhiều năm, nhiều trăm năm, nhiều ngàn năm, nhiều trăm ngàn năm, trời không mưa. Khi không có mưa, các loài chủng tử, các loài thực vật, các rừng rậm dược thảo đều khô héo cằn cỗi không có tồn tại. Như vậy, này các Tỳ-kheo, các hành là vô thường. Này các Tỳ-kheo, các hành là không có kiên cố. Này các Tỳ-kheo, các hành là không an ổn. Cho đến như vậy, này các Tỳ-kheo, là vừa đủ để nhàm chán, là vừa đủ để ly tham, là vừa đủ để giải thoát đối với tất cả các cành. Này các Tỳ-kheo, rồi có thời, sau một thời gian rất dài, mặt trời thứ hai hiện ra". (Tăng Chi Bộ, chương VII - Bảy Pháp, VII. Đại Phẩm, (II) Mặt Trời)

Một do tuần dài 18km, cùng một lúc hai Mặt Trời xuất hiện, một thời gian dài sau này thế giới sẽ đi đến chỗ biến hoại, đi đến sự tan hoại.

 "Này các Tỳ-kheo, khi mặt trời thứ hai có mặt, thời tất cả sông nhỏ, ao nhỏ khô cạn, khô kiệt, không có tồn tại, như vậy, này các Tỳ-kheo, các hành là vô thường... là vừa đủ để giải thoát đối với tất cả các hành. Này các Tỳ-kheo, rồi có một thời, sau một thời gian rất dài, mặt trời thứ ba hiện ra.

Này các Tỳ-kheo, khi mặt trời thứ ba có mặt, thời các sông lớn như sông Hằng, sống Yamunà, Aciravatì, Sarabhù, Mahì, các con sông ấy bị khô cạn, bị khô kiệt, không có tồn tại.

Này các Tỳ-kheo, khi mặt trời thứ tư hiện ra, thời các biển hồ lớn, từ đấy các sông lớn chảy ra, ví như Anotattà, Sìhapapàtà, Rathakàrà, Kannamunda, Kunàlà, Chaddantà, Mandàkinì, các biển hồ ấy bị khô cạn, bị khô kiệt, không có tồn tại.  Như vậy, này các Tỳ-kheo, các hành là vô thường... là vừa đủ để giải thoát đối với tất cả các hành. Này các Tỳ-kheo, rồi có một thời, sau một thời gian rất dài, mặt trời thứ năm hiện ra.

 Này các Tỳ-kheo, khi mặt trời thứ năm hiện ra, thời nước các biển lớn rút lui một trăm do tuần, nước các biển lớn rút lui hai trăm do tuần, các nước biển lớn rút lui ba trăm do tuần... Nước các biển lớn rút lui bảy trăm do tuần; nước các biển lớn dừng lại sâu đến bảy cây sàla, sáu cây sàla, năm cây sàla, bốn cây sàla, ba cây sàla, hai cây sàla, chỉ một cây sàla. Nước các biển lớn dừng lại, sâu đến bảy đầu người, sâu đến sáu đầu người, năm đầu người, bốn đầu người, ba đầu người, hai đầu người, một đầu người, nửa đầu người. Nước các biển lớn dừng lại, sâu chỉ đến eo lưng của người, chỉ đến đầu gối của người, chỉ đến mắt cá của người". (Tăng Chi Bộ, chương VII - Bảy Pháp, VII. Đại Phẩm, (II) Mặt Trời)

Khi năm Mặt Trời cùng xuất hiện thì nước biển rút xuống chỉ còn đến mắt cá chân của người, lúc đó là kiếp hoại của thế giới.

"Ví như này các Tỳ-kheo, vào mùa thu khi trời mưa hạt lớn, chỗ này chỗ khác, trong các dấu chân của các con bò cái, có những vũng nước nhỏ đọng lại. Cũng vậy, này các Tỳ-kheo, chỉ còn những vũng nước nhỏ trong dấu chân các con bò cái là nước của biển lớn còn lại, chỗ này chỗ kia. Này các Tỳ-kheo, khi mặt trời thứ năm hiện ra, nước biển lớn chỉ bằng độ ngón tay.

 Này các Tỳ-kheo, khi mặt trời thứ sáu hiện ra, thời đất lớn này và núi chứa Sineru, sanh khói lên, thổi khói lên, phun khói lên". (Tăng Chi Bộ, chương VII - Bảy Pháp, VII. Đại Phẩm, (II) Mặt Trời)

Khi Mặt Trời thứ sáu xuất hiện thì các núi lửa bắt đầu hoạt động.

"Ví như, này các Tỳ-kheo, các lò của người thợ gốm mới đốt lửa lên, sanh khói lên, phun khói lên. Cũng vậy, này các Tỳ-kheo, khi mặt trời thứ sáu hiện ra, thời đất lớn này và núi chứa Sineru sanh khói lên, thổi khói lên, phun khói lên.

Này các Tỳ-kheo, khi mặt trời thứ bảy hiện ra, trái đất lớn này và núi chứa Sineru bốc cháy, rực cháy, trở thành một màn lửa. Và khi quả đất lớn này và núi chúa Sineru cháy đỏ lên, cháy rực lên ngọn lửa do gió thổi bốc cao đến Phạm thiên giới. Các chóp ngọn của núi Sineru, cao đến một, hai, ba, bốn, năm trăm do tuần, khi bị cháy đỏ lên, cháy rực lên, bị cả khối lửa to lớn phá hoại và chinh phục, liền sụp đổ xuống. Sau khi quả đất lớn và núi Sineru bị cháy đỏ lên, cháy rực lên, không tìm thấy tro và lọ đen. Ví như, này các Tỳ-kheo, khi bơ và dầu được cháy đỏ, được cháy rực lên, không tìm thấy tro và lọ đen. Cũng vậy, này các Tỳ-kheo, khi quả đất lớn này và núi chứa Sineru bị cháy đỏ lên, cháy rực lên, không tìm thấy tro và lọ đen. Như vậy, này các Tỳ-kheo, các hành là vô thường. Này các Tỳ-kheo, các hành là không kiên cố. Này các Tỳ-kheo, các hành là không an ổn". (Tăng Chi Bộ, chương VII - Bảy Pháp, VII. Đại Phẩm, (II) Mặt Trời)

Mọi sự vật là không kiên cố, là bất an.

"Cho đến như vậy, này các Tỳ-kheo, là vừa đủ để nhàm chán, là vừa đủ để ly tham, là vừa đủ để giải thoát đối với tất cả hành. Ở đây, này các Tỳ-kheo, ai là người có thể nghĩ rằng, ai là người có thể tin rằng: "Quả đất này và núi chứa Sineru sẽ bị đốt cháy, sẽ bị hủy hoại, sẽ không còn tồn tại nữa", trừ những người đã được chứng kiến". (Tăng Chi Bộ, chương VII - Bảy Pháp, VII. Đại Phẩm, (II) Mặt Trời)

 Trí tuệ thiên nhãn của Đức Phật đã chứng kiến nhiều lần sự hình thành, biến đổi và hoại diệt của vô số hành tinh. Đức Phật nói điều này rất khó tin, không ai có thể suy nghĩ được nhưng đây là sự chứng ngộ của Đức Phật, thiên nhãn minh của Đức Phật đã nhìn thấy bảy Mặt Trời cùng xuất hiện. Chúng ta đang chứng kiến những khu rừng bị tàn phá một cách khủng khiếp, khí hậu biến đổi ngày càng khắc nghiệt, gió không còn đều hòa, mưa không còn thuận nữa. Trong chùa chúng ta thường phục nguyện "mưa thuận gió hòa, phong đều vũ thuận quốc thái dân an", thời gian đầu nghe câu này cảm thấy rất bình thường nhưng hiện tại chúng ta đã bắt đầu thấy giá trị của câu nói này, mưa gió, lũ lụt đều làm biến đổi tất cả những gì bình thường, an lạc. Vừa rồi chúng ta đã đi từ thiện ở miền Trung đến ba lần và khi trải tâm từ đến miền Trung thì những hình ảnh quý vị đã nghe, đã thấy, đã chứng kiến và những hình ảnh được xem trên màn hình hiện ra trước mắt, ngay cả người dân ở đó cũng không thể tưởng tượng được tình huống như vậy xảy đến với mình, tất cả bảy tỉnh miền Trung đều bị nhấn chìm trong mưa bão, lũ lụt làm chết hàng trăm ngàn người, nhà tan cửa nát, sanh ly tử biệt. Chúng ta đã thấy hình ảnh một cụ già năm ngày mới ăn được cơm, ông ăn cơm chan nước mắt có lẫn đau khổ và hạnh phúc. Hạnh phúc vì đến năm ngày ông mới được ăn cơm, mừng được một chút nhưng cái khổ khi nhớ đến năm ngày trời phải chịu đựng cơn đói rét run rẩy, hiện tại đang chịu đựng và sắp tới sẽ chịu đựng nên nước mắt của ông chan với cơm. Hình ảnh thứ hai là một em bé bốn năm tuổi lội nước nhận quà từ thiện mà không có áo phao, không có một thứ gì bảo hộ trên người. Đó chỉ là một vài hình ảnh thôi, ngoài kia còn biết bao cảnh khổ hơn nữa nhưng không được ghi hình, nếu chúng ta rơi vào tình cảnh ấy thì như thế nào? Tất cả mọi người trên thế giới này đều phải chịu sự biến hoại, sự biến diệt của vô thường, huống hồ chi là dịch bệnh, hơn năm mươi triệu người đã nhiễm bệnh, hàng triệu người đã tử vong. Thế giới trong những ngày đại dịch dường như trống rỗng, trống không, trống trơn, những thành phố lớn nhất trên hành tinh này trở nên trống vắng. Lời Đức Phật nói thế giới này là trống không, ngay khi nó đang tồn tại thì thế giới đã trống không chứ không cần đợi đến đại dịch xảy ra, sự sanh diệt, sự biến hoại, sự vô thường, bất an, đầy hiểm họa, nguy nan đang rình rập chúng ta. Trên thân thể chúng ta bất cứ chỗ nào cũng có thể bị bệnh, sanh ra những chứng bệnh nan y. Trên mặt đất này chỗ nào cũng có thể xảy ra sóng thần, thiên tai, cướp giật, trộm cắp, chết chóc, hiểm họa. Thật là bất an, thật là không kiên cố, thật là cực kì biến đổi nhưng trong tâm chúng ta có thường nhớ điều này không hay vẫn nghĩ mình sẽ như vầy hoài, còn lâu mới bệnh, biết bao giờ mới chết, đó là những suy nghĩ phàm tình, thường tình, mê tình, vọng tình, vô minh. Những ngày tu này là những ngày rất quý báu để chúng ta được nghe lại Thánh chuông vang lên đại hồng chung của chánh giác, chánh trí, chánh niệm, chánh kiến, chánh tư duy khởi động lại trong thân tâm chúng ta, thắp sáng lên để chúng ta thức tỉnh. Chúng ta ghi khắc, nhớ thật sâu sắc trí huệ sự thật, đừng bao giờ quên vì quên là chúng ta sẽ chạy theo những sự thúc giục, những sự tham muốn, những sự sân hận, thị phi, ganh tị, đố kị, hơn thua, ích kỉ, cống cao ngã mạn, cộc cằn, gắt gỏng… chỉ để làm cho mình khổ và người khổ mà thôi. Chúng ta phải nhớ ngoài kia còn biết bao người đang đau khổ, chúng ta phải biết tận dụng sức khỏe, thời gian, tâm trí, tận dụng sự thấy và hiểu biết tu tập Chánh pháp này, đừng để lãng phí thời gian vì chúng ta ngồi đây đã bước qua hàng năm, hàng sáu, hàng bảy mươi tuổi, quỹ thời gian còn lại được bao lâu không ai biết hết trước một thế giới đầy vô thường và biến động, đổi thay này. Chính vì vậy chúng ta nghe bài kinh bảy Mặt Trời này sẽ làm chúng ta thức tỉnh, suy tư để chúng ta quán chiếu, nghiền ngẫm, tư duy và tu tập. Chúng ta đừng nhìn thấy những sắc uẩn đó rồi cho rằng nó sẽ như vậy hoài, bất cứ lúc nào cũng có thể sụp đổ và tấm thân này bất cứ lúc nào cũng có thể ngã xuống và bất động. Những người nhiễm dịch bệnh đang đi trên đường thì bất ngờ đổ gục xuống và chết lập tức, đang làm việc trên bàn thì gục xuống rồi qua đời, đang ngồi với bạn bè nói cười vui vẻ rồi ngã xuống và chết. Chúng ta tự hỏi rằng chẳng lẽ cuộc đời này sanh ra rồi làm việc, vui chơi và chết hay sao? Chúng ta phải thực hành Thánh đạo, Thánh trí cho nên Đức Phật kể rằng sự biến hoại của thế giới, của Trái Đất này đều nằm trong bốn quy luật, con người là sanh – già – bệnh – chết còn Trái Đất này là thành – trụ – hoại – không, nghĩa là được hình thành, tồn tại một thời gian rồi biến đổi để hoại diệt, cuối cùng trở thành không. Thế giới chúng ta đang đi đến giai đoạn bắt đầu hoại, lũ lụt không chỉ diễn ra ở nước mình mà trước đó là Trung Quốc, Philippines, Mỹ… như vậy là hàng loạt quốc gia bị bão lũ, dịch bệnh cũng như vậy, hiện tại đã hơn hai trăm nước có dịch. Chúng ta có tưởng tượng được rằng chỉ cần một tiếng ho thôi đã làm mọi người sợ hãi, kinh khiếp không? Chỉ cần một tiếng ho đã làm cho người khác ăn không ngon ngủ không yên, bất an và sợ hãi không? Đức Thế Tôn nói thân này là nơi chứa nhóm bệnh hoạn, là vô thường, là mong manh, dễ tan vỡ, từ đó để mình thấy rằng tấm thân này, căn nhà này, đời sống này thật chẳng khác gì giọt sương trên đầu ngọn cỏ, khi Mặt Trời lên chúng sẽ tan biến.

"Ví như, này Bà-la-môn, giọt sương trên đầu ngọn cỏ, khi mặt trời mọc, mau chóng biến mất, không tồn tại lâu dài. Cũng vậy, này Bà-la-môn, như giọt sương là đời sống loài Người, nhỏ bé, không đáng kể, nhiều khổ đau, nhiều ưu não". (Tăng Chi Bộ, chương VII – Bảy Pháp, VII. Đại Phẩm, (X) Araka)

Hãy tinh tấn, hãy làm các việc lành, hãy tu tập các công đức vì đời sống này thật nhỏ bé, ngắn ngủi, nhiều khổ đau và ưu não. Hãy nhận thức, giác ngộ được điều này để tinh tấn nỗ lực tu tập, làm mọi công đức phước lành để sau này không phải hối hận ăn năn. Thuở xưa có vị đạo sĩ Sunetta có hàng trăm đệ tử, vị đạo sĩ này thuyết pháp cho các đệ tử để về cộng trú với chư Thiên ở phạm Thiên giới, vị đạo sĩ này chuyên tu tập bảy năm tâm từ, vị này dạy cho rất nhiều đệ tử và các đệ tử có thể sanh lên cõi trời nhưng vị này không tu theo Chánh pháp của Đức Phật, chỉ là một vị tu ở đạo khác nhưng ly dục.

"Thuở xưa, này các Tỳ-kheo, có Ðạo Sư Sunetta thuộc ngoại đạo, được ly tham trong các dục. Này các Tỳ-kheo, Ðạo Sư Sunetta có hàng trăm người đệ tử. Ðao Sư Sunetta thuyết pháp cho các đệ tử về cọng trú với chư Thiên ở Phạm thiên giới. Và tất cả những ai nắm hiểu một cách hoàn toàn trọn vẹn lời thuyết dạy của Sunetta, về cọng trú với chư Thiên ở Phạm thiên giới, khi thân hoại mạng chung, họ được sanh lên thiện thú Phạm thiên giới. 

Rồi này các Tỳ-kheo, Ðạo Sư Sunetta suy nghĩ như sau: "Thật không xứng đáng cho ta trong đời sau lại có một sanh thú giống như sanh thú của các đệ tử. Vậy ta hãy tu tập tối thượng từ bi". Rồi này các Tỳ-kheo, bậc Ðạo sư Sunetta trong bảy năm tu tập từ tâm. Sau khi tu tập từ tâm bảy năm, trong bảy năm thành kiếp hoại kiếp, vị ấy không trở lui lại thế giới này. Trong kiếp thành của thế giới, này các Tỳ-kheo, vị ấy đi đến thế giới của Abhassara (Quang Âm thiên). Trong kiếp hoại của thế giới, vị ấy được sanh trong Phạm cung trống không. Tại đấy này các Tỳ-kheo, vị ấy là Phạm thiên, Đại Phạm thiên, bậc chiến thắng, bậc vô năng, bậc biến tri, bậc tự tại". (Tăng Chi Bộ, chương VII - Bảy Pháp, VII. Đại Phẩm, (II) Mặt Trời)

Vị này chỉ tu tâm từ có bảy năm thôi mà trở thành Ngọc Hoàng thượng đế. Đức Phật nói rất nhiều bài kinh về tâm từ, tu tập tâm từ chỉ trong một thời gian vắt sữa bò thì phước đức còn vượt hơn người bố thí cơm từ sáng đến tối hết nồi cơm này đến nồi cơm khác.

"Có ai dầu chỉ trong một khoảnh khắc vắt sữa bò, tu tập từ tâm, và có ai dầu chỉ trong một khoảnh khắc búng ngón tay, tu tập tưởng vô thường, bố thí này quả lớn hơn bố thí kia". (Tăng Chi Bộ, chương IX - Chín Pháp, II. Phẩm Tiếng Rống Con Sư Tử, (X) Velàma)

Điều này cho mọi người thấy mỗi pháp đều có công năng tác dụng riêng chứ không phải mình chỉ trải tâm từ mà không bố thí. Đức Phật dạy rất nhiều pháp tu, khi bố thí sẽ được cái quả phước báo về tài sản vật chất nhưng tu tập tâm từ sẽ được sanh lên thế giới của chư Thiên, nếu chưa chứng nhập trí tuệ vô thường, khổ, vô ngã, chưa muốn chấm dứt sanh tử thì người tu tâm từ sẽ sanh lên cõi trời để hưởng phước. Trong đoạn kinh trên nói đến bảy năm thành kiếp hoại kiếp, bảy kiếp thành hoại ở đây không phải là mình chết đi sống lại bảy lần mà là bảy lần thành hoại của Trái Đất, tu tập tâm từ chỉ có bảy năm nhưng hưởng phước đến bảy lần Trái Đất này hình thành rồi hoại diệt, qua bảy lần Trái Đất thành hoại vị này không có ở thế gian mà sanh lên Quang Âm Thiên, sau đó lên "Phạm thiên, Đại Phạm thiên, bậc chiến thắng, bậc vô năng, bậc biến tri, bậc tự tại".

"Ba mươi sáu lần, này các Tỳ-kheo, vị ấy là Thiên chủ Sakka". (Tăng Chi Bộ, chương VII - Bảy Pháp, VII. Đại Phẩm, (II) Mặt Trời)

Tức là làm vua trời ba mươi sáu lần. Ở những cõi trời cao cấp thì một trăm năm ở thế gian chỉ là một ngày đêm ở cõi trời ba mươi ba, thậm chí có những cõi trời đến mấy trăm năm, vậy mà vị này làm vua đến ba mươi sáu lần.

"Năm mươi năm của một đời người, này các Tỳ-kheo, bằng một đêm một ngày của chư Thiên Bốn thiên vương. Ba mươi đêm của đêm ấy làm thành một tháng, mười hai tháng của tháng ấy làm thành một năm. Năm mươi năm chư Thiên của năm ấy làm thành thọ mạng của chư Thiên Bốn thiên vương.

Một trăm năm của một đời người, này các Tỳ-kheo, bằng một đêm một ngày của chư Thiên cõi trời Ba mươi ba. Ba mươi đêm của đêm ấy làm thành một tháng, mười hai tháng của tháng ấy làm thành một năm. Một ngàn năm chư Thiên của năm ấy làm thành thọ mạng của chư Thiên cõi trời Ba mươi ba.

Mười sáu trăm năm của một đời người, này các Tỳ-kheo, bằng một đêm một ngày của chư Thiên cõi trời Tha hóa Tự tại. Ba mươi đêm của đêm ấy làm thành một tháng, mười hai tháng của tháng ấy làm thành một năm. Mười sáu ngàn năm chư Thiên của năm ấy làm thành thọ mạng của chư Thiên cõi trời Tha hóa Tự tại". (Tăng Chi Bộ kinh, chương VIII - Tám Pháp, V. Phẩm Ngày Trai Giới, (II) Ngày Trai Giới)

Minh Thành muốn mọi người trú trong tâm từ suốt cả ngày, trải tâm từ cho tự thân mình và cho chúng sanh khổ đau. Trái Đất này hình thành rồi hoại diệt phải trải qua một quãng thời gian dài đằng đẵng không thể tính được bằng con số, vậy mà qua bảy lần Trái Đất thành hoại vị này không ở thế giới của con người mà được sanh lên các tầng trời cao cấp và được làm vua trời ba mươi sáu lần.

"Nhiều lần bảy lần, vị ấy là vị Chuyển luân Thánh vương theo Chánh pháp, là vị pháp vương, bậc chiến thắng bốn phương, đạt được sự thanh bình cho quốc độ, đầy đủ bảy món báu. Vị ấy có hơn một ngàn người con trai, là những bậc anh hùng, dũng mãnh, đánh tan địch quân. Và vị ấy chiến thắng quả đất này xa cho đến hải biên, trị vì quả đất này không dùng trượng, không dùng dao, đúng với Chánh pháp. Này các Tỳ-kheo, Đạo sư Sunetta ấy, dầu cho thọ mạng lâu dài như vậy, sống lâu dài như vậy, nhưng không được thoát khỏi sanh, già, chết, sầu bi, khổ, ưu não. Ta nói rằng vị ấy chưa giải thoát khỏi khổ. Vì cớ sao? Vì rằng vị ấy chưa giác ngộ, chưa thể nhập bốn pháp. Thế nào là bốn?

Này các Tỳ-kheo, vì không giác ngộ, không thể nhập Thánh giới; vì không giác ngộ, không thể nhập Thánh định; vì không giác ngộ, không thể chấp Thánh trí tuệ, vì không giác ngộ, không thể nhập Thánh giải thoát. Này các Tỳ-kheo, sự kiện là như sau: Khi Thánh giới được giác ngộ, được thể nhập; khi Thánh trí tuệ được giác ngộ, được thể nhập; khi Thánh giải thoát được giác ngộ, được thể nhập, cắt đứt là hữu ái; sợi dây đưa đến sanh hữu được đoạn tận, nay không có tái sanh.

Thế Tôn nói như vậy. Bậc Thiện Thệ nói xong, bậc Đạo Sư lại nói thêm:

Vô thượng giới và định,

Trí tuệ và giải thoát,

Gotama danh tiếng,

Giác ngộ những pháp này.

Đức Phật với thắng trí,

Thuyết pháp cho Tỳ-kheo,

Bậc Đạo sư đoạn khổ,

Bậc Pháp nhãn tịch tịnh". (Tăng Chi Bộ, chương VII - Bảy Pháp, VII. Đại Phẩm, (II) Mặt Trời)

Nhiều lần bảy lần nghĩa là số bảy nhưng được nhân lên nhiều lần. Vị thầy Sunetta này rất nhiều lần được làm Chuyển luân Thánh vương theo Chánh Pháp, tức là sau khi hưởng hết phước của Thiên chủ, làm Ngọc Hoàng thượng đế ở cõi trời thì vị này xuống nhân gian làm Chuyển luân Thánh vương. Chuyển luân Thánh vương là vị này "chiến thắng bốn phương, đạt được sự thanh bình cho quốc độ, đầy đủ bảy món báu, trị vì quả đất này không dùng trượng, không dùng dao, đúng với Chánh pháp". Không dùng súng ống, đạn dược để trị vì mà dùng công đức, từ tâm, nhân hậu, nhân ái, dùng đức trị quốc nên người ta kính trọng đức độ, đạo hạnh, trí tuệ nên họ quy phục và vị này cai trị toàn cầu nên gọi là Chuyển luân Thánh vương. Mọi người có thể tưởng tượng được một người quản lý, cai trị toàn thế giới nhưng không dùng dao gậy, gươm giáo, đao trượng, thay vào đó người này dùng đức độ, tài năng, từ tâm, nhân nghĩa, như vậy mới gọi là bậc Chuyển luân Thánh vương, tức là vua Thánh, đây là bậc Thánh của thế gian còn bậc Thánh của Đức Phật là Thánh xuất thế gian cho nên không phải bậc Thánh nào cũng giống nhau, Khổng Tử cũng được tôn làm Thánh nhân nhưng đây là Thánh nhân của thế gian dạy đạo làm người, nhân nghĩa, học vấn, tri thức hoặc là Thánh Quan Công là chánh nghĩa. Bậc Thánh trong đạo Phật là ra khỏi ngũ uẩn, diệt tận tham sân si, chứng nhập Niết-bàn, đó là Thánh xuất thế gian, Thánh của Đức Phật là Thánh trung chi vương tức là vua của tất cả bậc Thánh, là chỉ cho Đức Phật. Đức Phật là bậc cao tột trong tất cả các bậc Thánh, là bậc tối thượng, tối tôn, không có người ngang bằng, không có người so sánh, không có người ngang hàng, đó là bậc đã vượt ra hết tất cả sắc; thọ; tưởng; hành; thức, diệt tận tham sân si, vô minh và bản ngã, là bậc đã thành tựu trí tuệ bất động tâm giải thoát, nói ra để chúng ta thấy được sự thâm sâu và rộng lớn của Đức Thế Tôn cho nên có nhiều Phật tử quy y Tam Bảo đến chết cũng không thế biết được thật sự Đức Phật là người như thế nào, phải thành tựu chánh kiến mới biết được thật sự Đức Phật là ai. Ngài không phải là bức tượng trên bàn, đó chỉ là biểu tượng để mình tưởng nhớ thôi, ngài là người đã vượt ra hết tất cả ngũ uẩn, không còn một chút tham ái nào đối với ngũ uẩn, còn mình thì đang bị ngũ uẩn làm cho khổ, thấy là tham thích, nghe tiếng gì là bực bội, sân hận cho nên mình cứ lòng vòng trong sắc; thọ; tưởng; hành; thức trong khi Phật là người nhìn xuyên thấu chúng và đã đi ra khỏi nó, tất cả sắc; thọ; tưởng; hành; thức đều không có gì làm cho ngài dao động, ngài hoàn toàn đại định bất động gọi là tâm an tịnh bất động giải thoát. Đức Thế Tôn của chúng ta cao thượng như thế đó, chúng ta là con của Phật thì chúng ta phải như thế nào? Phải cố gắng, phải thường xuyên tác ý, nghe pháp, thiền định tu tập. Cho nên chỉ tu tập bảy năm tâm từ thôi đã ba mươi sáu lần làm vua trời, nhiều lần làm Chuyển luân Thánh vương, cả một kiếp hoại được ở cung trời Phạm thiên, ở trên trời là vua trời, xuống đất trở thành vua Thánh nhưng đây vẫn không phải là Chánh Pháp của Đức Phật mà đã được đạt được phước báo vô lượng như vậy. Tâm từ này là từ vô lượng tâm nhưng vẫn chưa xuất ly ngũ uẩn, vẫn còn là ngoại đạo ly dục, tức là người này lìa dục không còn say đắm trong dục và tu phạm hạnh thanh tịnh. Cuối cùng Đức Phật kết luận vị thầy Sunetta này "dầu cho thọ mạng lâu dài như vậy, sống lâu dài như vậy, nhưng không được thoát khỏi sanh, già, chết, sầu bi, khổ, ưu não". Vì chư Thiên khi đã hết phước cũng phải bị đọa và thường hay bị rơi vào địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh nếu không phải là Đa văn Thánh đệ tử thiên. Các vị chư Thiên chia làm hai loại, thứ nhất là phàm phu Thiên và thứ hai là Thánh đệ tử Thiên, các bậc chư Thiên làm Thánh không còn bị đọa xuống nhân gian nữa chỉ từ cõi trời lên chứng nhập Niết-bàn, còn các vị chư Thiên không biết Chánh pháp khi hưởng phước lại bị mê trong sự hưởng phước đó, khi hết phước sẽ bị đọa. Nói trong thế gian để dễ hiểu, một đứa trẻ sanh ra đã có gia tài lớn thì mọi người có nghĩ rằng đứa trẻ đó chịu đi tu không? Có chịu đi xuất gia không? Rất khó khăn, nó bị những thứ sắc chất, dục lạc đó đoanh vây, bao bọc. Chư Thiên cũng như vậy, nếu không thành tựu chánh kiến, không thực hành Chánh pháp thì khi hưởng phước sẽ bị đam mê, say đắm trong phước báo, bị bao phủ trong phước báo. Nếu mình có gia tài cả tỷ đô la thì có chịu vào chùa tu tập không hay ở nhà để hưởng vì 'không hưởng thì chết đi hưởng không kịp'. Hoặc là mình đang ở vị trí rất cao như đệ nhất phu nhân thì có chịu đến chùa tu tập không? Vô cùng khó khăn vì bị phước báo che đậy, cho nên mình phải cảm ơn sự tương đối của mình, không phải thiếu ăn cũng không quá giàu có, chỉ vừa đủ để tu tập, nhờ vậy mình mới nghe pháp, mới thể nhập trí tuệ chứ mình giàu có, sung sướng, quyền uy, đầy đủ tất cả mọi thứ là mình bị đam mê, dính mắc, ràng buộc không thể tu được. Quá sung sướng có thể làm hư một con người, những cậu ấm cô chiêu ỷ lại cha mẹ giàu có rồi ăn chơi hưởng thụ và cuối cùng là sa đọa chính vì vậy cái phước để hỗ trợ tu tập sẽ rất quý báu, còn cái phước chỉ nhằm đam mê chứ không biết tu tập trí huệ thì cái phước đó có hại. Vì thế tất cả sự tu hành của mình đều hướng về giác ngộ, hướng về chánh tri kiến, hướng về sự thấy biết đúng đắn chân chánh, Thánh tri kiến, hướng về Thánh đạo, Chánh đạo, tất cả những việc làm phước mình đều phải hồi hướng về việc thành tựu chánh tri kiến, thành tựu sự thấy biết đúng đắn về thân tâm, về cuộc đời này.

Dù rằng được hưởng phước báo to lớn như vậy nhưng vị này vẫn không thoát khỏi khổ đau vì vị này chưa thể nhập, chưa giác ngộ bốn phần:

Không thể nhập, không giác ngộ giới luật của bậc Thánh.

Không thể nhập, không giác ngộ chánh định của bậc Thánh.

Không thể nhập, không giác ngộ trí tuệ của bậc Thánh.

Không thể nhập, không giác ngộ giải thoát của bậc Thánh.

Ở đây chúng ta đang tu học giới – định – tuệ của bậc Thánh, giải thoát khỏi dục tham ái, sân hận, si mê, vô minh, bản ngã. Nhờ sự giữ giới, nhờ sự tu tập thiền định trong bốn thiền, nhờ sự tu tập Thánh trí huệ của chánh tri kiến, của quán thân – thọ – tâm – pháp, của ba mươi hai thể trược, bốn đại và chín giai đoạn của một tử thi, nhờ nghe nhiều, nhờ thực tập quán chiếu, thẩm thấu, thể nhập, chứng nhập thì mới giúp mình cắt đứt được hữu ái, "sợi dây đưa đến sanh hữu được đoạn tận", điều này rất thâm sâu và vi diệu. Hữu ái là sự ưa thích hiện hữu trong năm uẩn, nếu còn ưa thích trong này thì nhất định phải còn ở trong này nhưng mình biết chọn cái thiện, cái lành để tu thì ở trong này nhưng được cái thân tương đối tốt, được bình an, còn không biết tu tập thiện pháp, công đức sẽ ở trong cái thân của kiến, gián, chuột, rắn rết hoặc vào những cái thân cô hồn vất vơ vất vưởng, ma trơ, quỷ đói hoặc những cái thân ở trong địa ngục phải kêu gào thảm thiết, thống khổ. Do mình có phước lành, thiện pháp nên mình mới được như ngày nay cho nên nếu chưa vượt ra khỏi năm uẩn thì cần chọn những thiện pháp, pháp lành công đức, nghĩ lành, làm lành, nói lời lành. Quý vị có nhằm chiêm bao thì chọn ác mộng hay chọn mộng đẹp, mộng lành? Nằm chiêm bao mà mơ thấy lọt hố, cọp vồ, bị tai nạn giao thông vẫn có cảm thọ, vẫn đau khổ, kêu gào, vẫn sợ hãi. Cũng vậy, ở trong ngũ uẩn này là ở trong mộng, đối với các bậc Thánh mình là người ở trong mộng, cái thấy, cái nghe, cái cảm xúc của mình đều ở trong sự ảo tưởng, nếu chưa tỉnh mộng thì phải chọn mộng lành, mộng thiện, còn nếu thật sự muốn tỉnh mộng thì không chỉ dừng lại ở cái thiện mà còn phải tu tập Thánh trí huệ, không còn chấp cái thiện nữa, làm tốt, làm có công lao nhưng không chấp vào nó vì nó vô ngã, trống rỗng, vô thường. Cho nên vị đạo sư này vẫn chưa được giải thoát vì vẫn chưa thành tựu thánh định, thánh giới, thánh giải thoát, thánh tuệ, như vậy sự tu tập giới – định – tuệ này đưa đến cắt đứt hữu ái, không còn ưa thích, khoan khoái trong ngũ uẩn nữa và sợi dây đưa đến sanh hữu được đoạn tận, tức là cái để sanh ra sự hiện hữu được chấm dứt, không còn tái sanh nữa, chứng nhập Niết-bàn, xuất ly ngũ uẩn, đó là cảnh giới tối cao mà Đức Phật muốn tất cả chúng sanh đều chứng nhập.

Ta khơi dậy trong ta tình thương và từ tâm. Ta có rất nhiều tình thương nên hãy khơi dậy suối nguồn đó để tuôn trào, thương cho chính mình, thương cái tham sân si, bản ngã đã hành hạ, làm cho mình khổ. Thương mình thì phải bớt giận, phải nhiếp phục tham dục, bản ngã, si mê, vô minh sau đó mới đến thương người. Thương người là mình thấy người ta cũng bị tham sân si, vô minh và bản ngã làm khổ giống như mình đã từng khổ. Người ta khổ mà không biết lại cứ nghĩ là vui, vô minh cứ tưởng là minh, đó mới là đại vô minh. Ngày xưa mình không thấy ngũ uẩn cũng vô minh, si mê, mù lòa, còn giờ mình đã thấy ngũ uẩn nên bắt đầu thấy khổ, thấy vô thường, vô ngã thì nhìn trở lại mới thấy thương những người đó nên cần bao dung, độ lượng, chia sẻ tình thương. Khi chuẩn bị cãi nhau thì phải trải tâm từ, thương cơn giận của mình, thương mình và thương người, tất cả chúng ta là nạn nhân của cơn giận, cơn bực tức, bực dọc. Hãy làm cho tâm đó lắng dịu, mát mẻ, yên tịnh, hãy làm cho tâm đó được cảm thông, tha thứ, hãy làm cho cái tâm đó được an tịnh, chan hòa, thắm đượm, lan tỏa bằng sự quán chiếu tâm từ. Cần thực tập trải tâm từ để mình trào dâng cảm giác thương yêu, thương xót, cảm thông dào dạt để mình nuôi dưỡng và tưới tẩm, tăng trưởng và phát triển tâm từ được rộng lớn, viên mãn thì mình sẽ thấy hương vị ngọt ngào, tâm được bình an, mát mẻ.

Khóa tu của chúng ta là khóa tu tâm từ ngọt ngào, tình thương mát dịu trong suốt cả ngày, quý vị an trú trong tâm từ cả ngày và phải thấy được giá trị quý báu của tâm từ để nỗ lực thực hành. Từ tâm giải thoát nghĩa là giải thoát khỏi tâm sân, khi tu tập tâm từ sẽ thoát ra được tâm sân, Đức Phật nói phải tu tập tâm từ cho sung mãn chứ không phải tu cho có, hoặc đợi nhắc nhở mới tu mà ngày nào cũng phải tu cho sung mãn, làm thành cỗ xe, thành căn cứ địa, được liên tục an trú, tích tập. Việc đi từ thiện cũng là hành động của tâm từ, không những tu tâm từ trong cái tưởng, suy nghĩ, cảm thọ mà phải nói thành lời, phải làm thành hành động của thân, phải có đầy đủ thân hành, khẩu hành, ý hành chứ không phải chỉ ngồi tưởng hoặc chỉ nói trên miệng mà thân cũng phải làm.

"Này các Tỳ-kheo, từ tâm giải thoát được thực hành, được tu tập, được làm cho sung mãn, được tác thành cỗ xe, được tác thành căn cứ địa, được tiếp tục an trú, được tích tập, được khéo khởi sự thời được chờ đợi là mười một lợi ích. Thế nào là mười một?

Ngủ an lạc, thức an lạc, không ác mộng, được loài người ái mộ, được phi nhân ái mộ, chư Thiên bảo hộ, không bị lửa, thuốc độc, kiếm xúc chạm, tâm được định mau chóng, sắc mặt trong sáng, mệnh chung không hôn ám; nếu chưa thể nhập thượng pháp (A-la-hán quả); được sanh lên Phạm thiên giới". (Tăng Chi Bộ, chương XI - Mười Một Pháp, II. Phẩm Tùy Niệm, (V) Từ)

Khi tu tập tâm từ có mười một lợi ích: Ngủ và thức đều được an lạc. Không có ác mộng. Không những được mọi người mà cả những chúng sanh không phải người cũng ái mộ, thương yêu, phi nhân là những chúng sanh không phải loài người, có rất nhiều dạng phi nhân, có khi là cô hồn, ngạ quỷ, những người bà con quyến thuộc chưa siêu thoát và cả những người xa lạ cũng đọc được tâm từ của mình, những gì mình suy nghĩ, hình bóng, cảm giác trong tâm thì phi nhân đều đọc được hết và chư Thiên đều thấy được. Được chư Thiên bảo hộ, người tâm từ đi đến đâu cũng lan tỏa cảm giác mát dịu, thanh lương, ngọt ngào cho nên được chư Thiên, phi nhân đến gia hộ, ái mộ, quý kính vì thế từ sáng giờ mình tu tâm từ cũng có rất nhiều chúng sanh khác cùng đến tu với mình, mình tu tập như vậy thì cả người lẫn không phải người đều được lợi ích gọi là tồn vong lưỡng lợi, tồn là những người đang sinh tồn, vong là những người đã mất đều được lợi lạc. Không bị lửa, thuốc độc, kiếm xúc chạm, những sự nguy hiểm, thuốc độc không hại mình được do tu tập tâm từ. Tâm được định mau chóng, lúc nào tâm mình cũng ngọt ngào, mát dịu cho nên vào định sẽ dễ dàng, còn tâm sân hận không bao giờ vào định được. Sắc mặt trong sáng, gương mặt của người tu tâm từ được trong sáng, tươi sáng, tươi đẹp. Mệnh chung không hôn ám, khi mạng chung được tỉnh táo, không bị hôn mê, hôn ám. Nếu chưa thể nhập thượng pháp (A-la-hán quả); được sanh lên Phạm thiên giới, nếu chưa chứng nhập quả vị A-la-hán thì vị này cũng được sanh lên thế giới của phạm thiên, tức là viên mãn được tâm từ sẽ làm vua trời, chủ của tất cả công đức là công đức chi vương, chúa tể của tất cả công đức là từ tâm, lòng bi mẫn, đó là suối nguồn của tất cả thiện pháp, phước báo.

"Này các Tỳ-kheo, từ tâm giải thoát được thực hành, được tu tập, được làm cho sung mãn, được tác thành cỗ xe, được tác thành căn cứ địa, được tiếp tục an trú, được tích tập, được khéo khởi sự thời được chờ đợi là mười một lợi ích". (Tăng Chi Bộ, chương XI - Mười Một Pháp, II. Phẩm Tùy Niệm, (V) Từ)

Mọi người hãy tu tập tâm từ, an trú tâm từ, thực hành tâm từ, phát triển tâm từ, viên mãn tâm từ.

./.