Thư Viện Linh Quy
← Danh sách

Tu Tập Trí Tuệ

2026-03-03 00:53:10
“Điều thứ tư, thế nào là sức mạnh của Tỳ kheo? Đó là diệt sạch các lậu, chứng đắc vô lậu, tâm giải thoát, tuệ giải thoát. Trong đời hiện tại tự tri tự giác, tự thân tác chứng, thành tựu và an trụ biết như thật rằng, sự sinh đã dứt phạm hạnh đã vững, việc cần làm đã làm xong, không còn tái sinh nữa”.

Lậu hoặc tức là phiền não, chứng đắc vô lậu là hết sạch phiền não. Do công phu hành trì ở trên mà chúng ta đạt được tâm giải thoát tất cả mọi sự ràng buộc, tuệ giải thoát khỏi tham, sân, si, chấp ngã, phá vỡ cấu trúc của bản ngã, đập tan hết thành trì, tù ngục của vô minh.

Mỗi người đều có sẵn trí tuệ sáng suốt, nhưng từ lâu đời bị những thói quen xấu ác, tâm tham dục, tranh đấu phải quấy hơn thua đóng khung, giam cầm làm cho mọi ý nghĩ và hành động đều sai trật. Khi chúng ta quán chiếu sâu sắc về các pháp ấn như vô thường, khổ, không, vô ngã đến mức tận cùng, sẽ phá vỡ mọi ngục tù tư tưởng, khuôn khổ của vô minh chấp ngã.

Muôn vật luôn biến đổi

Vạn sự nương nhau thành

Tỉnh lặng vui bậc nhất.

Khi đã đập tan nghiệp thức trong tư tưởng của chính mình, lúc đó trí tuệ vô lậu được phát sinh. Ngay trong đời này phải tự mình rõ biết, tự thân chứng được, tự thân thành tựu an trú và biết rằng sự sinh của mình đã dứt, phạm hạnh đã thành, việc cần làm đã xong không còn thọ sinh nữa.

Một khi thấu suốt được bản chất hư dối của vạn vật và mọi tham dục phiền não đều đã sạch hết, lúc đó sẽ không còn nghiệp thức nào có thể dẫn chúng ta đi trong luân hồi nữa. Đó cũng là lúc thành tựu cứu cánh cùng cực của phạm hạnh, đạt được mục đích cuối cùng của người xuất gia và cũng là cảnh giới tối cao của phẩm chất một Tỳ kheo.

Trong kinh Tứ Niệm Xứ, đức Phật dạy rất rõ về sự thiết lập chánh niệm an trú trong mỗi ngôn ngữ, hành động, cử chỉ của mình để nhằm mục đích đem cái tâm quay trở về với giây phút hiện tại. Khi đã hoàn toàn quay trở về với giây phút hiện tại rồi thì chúng ta có thể làm chủ và kiểm soát được mọi hoạt động từ nơi ý niệm nhỏ nhiệm nằm sâu ở trong nội tâm của mình cho tới những cử chỉ động tác thô phù dễ thấy ở bên ngoài.

Quán chiếu tức dùng trí tuệ để soi rọi, xét nét về lẽ thật mà đức Phật đã chỉ dạy, cũng giống như việc dùng đèn pin hay cây đuốc để soi sáng đường đi vào buổi đêm. Nếu chưa có thể tự thắp được ngọn đuốc trí huệ thì mình phải khéo mồi lửa với ‘ngọn đuốc trí tuệ’ của đức Phật để có được ánh sáng soi đường đi tới chỗ giác ngộ giải thoát. Trong kinh Di Giáo, một bài kinh được xem như là một bản di chúc quan trọng của đức Phật cũng có ghi lại những lời nhắn nhủ tha thiết đối với các thầy Tì kheo rằng: “Các thầy hãy tự thắp đuốc lên mà đi, thắp đuốc lên với chánh pháp”. Chánh pháp là bốn nguyên lí vĩ đại bất diệt của vạn vật bao gồm Vô thường, Khổ, Không, Vô ngã.

Trong suốt quá trình của sự tu học việc hiểu rõ và thực hành giới luật oai nghi là nền móng rất quan trọng để giữ cho tâm luôn được yên định. Nếu lỡ phạm những sai lầm trong giới luật thì tâm của mình sẽ ray rứt, không thể yên định và vì vậy không thể an trụ trong giây phút hiện tại. Cho nên, việc tụng giới mỗi ngày là việc làm rất quan trọng vì vừa là nền tảng vừa là hàng rào bảo vệ tâm của mình không bị nghiêng lệch ra khỏi quỹ đạo của sự tu hành thì dần dần mới được yên tĩnh. Ngoài ra cũng cần phòng hộ sáu căn, tức là sáu cánh cửa của giác quan không để cho ‘bọn giặc’ sáu trần ở bên ngoài xâm nhập cướp mất công đức của mình. Luôn dè dặt tránh sanh tâm động niệm và luôn có sự tỉnh thức trong mọi oai nghi đi đứng, nằm ngồi hoặc lúc cười nói, im lặng… chính là sự tu tập về Giới.

Câu danh hiệu Phật hoặc luôn nhớ về hơi thở có mục đích dùng để làm dừng lại tất cả những tâm niệm lăng xăng. Chính cái tâm yên định đó mới làm cho tuệ giác của mình sáng tỏ có thể nhìn thấy rõ sự thật và đây là sự tu tập về Định.

Đồng thời, để đạt tới chỗ tận cùng triệt để của sự yên tĩnh trong nội tâm thì chúng ta cũng phải hỗ trợ thêm phần tuệ như quán xét về các pháp ấn Vô Thường, Khổ, Không, Vô Ngã. Một khi thấu rõ bản chất giả tạm vô ngã của vạn vật thì cái tâm của mình sẽ tự nhiên yên định ở trong giây phút hiện tại. Đó là cách thức tu tập về Tuệ.

Bất cứ lúc nào còn nhìn thấy mọi sự vật là có thật, còn hoài và bền chắc, đẹp đẽ thì biết rằng lúc đó tâm trí của mình vẫn còn mê muội lầm lạc. Trái lại, lúc nào nhìn thấy vạn vật từ lớn đến nhỏ luôn ở trong trạng thái biến đổi, giả danh không thật, chỉ có hình tướng tạm bợ hoặc dùng trí tuệ soi thấy rõ tất cả vạn vật đều mang tính rỗng không và chẳng có một cái nào tự tồn tại độc lập và chúng chỉ đưa đến khổ đau vì không được toại nguyện, không được vừa lòng thì ngay khi đó là có được sự tỉnh thức sáng suốt.

Một cành trúc không phải chỉ là một cái nguyên vẹn hoàn hảo mà phải bao gồm có nhiều lá và nhiều cọng nhỏ kết hợp vào với nhau mới tạo thành một cành trúc; hoặc một bông hoa cúc cũng phải do nhiều cánh hoa nhỏ xíu gắn kết lại với nhau và cộng thêm cuống hoa, nhụy hoa và phấn hoa nữa thì mới tạo thành một bông hoa hoàn chỉnh. Hơn nữa, cành trúc hay bông cúc kia được mọc ra từ cành lá; cành lá lại gắn kết với thân cây; thân cây phát triển từ rễ cây; rễ cây lại đứng vững trên mặt đất và được nuôi dưỡng bởi các hỗn hợp khoáng chất có trong tự nhiên từ đất, nước, ánh nắng và không khí; các nguyên tố đất, nước, gió, lửa ấy lại được hình thành từ vô số phân tử và nguyên tử nhỏ bé li ti mà mắt người không thể nào nhìn thấy… Việc suy xét ấy đã chứng minh được một điều rằng, bất cứ sự vật nào dù lớn hay nhỏ, thậm chí là thân tâm của chúng ta cũng đều được tạo ra từ trùng trùng duyên khởi và có sự liên quan mật thiết với nhau, mà không có một cái lõi chắc thật ở bên trong, nhưng vì trí não của con người nhỏ bé hạn hẹp và cũng vì bị vô minh che lấp cho nên họ không thể nhìn thấu được đến chỗ tận cùng bản chất giả tạm hợp thành của vạn vật.

Nếu nhìn thấy được lẽ thật vay mượn vô ngã của vạn vật, không có một tính chất nào bền vững lâu dài và tự bản thân của nó luôn mang sẵn tính chất rỗng không thì ngay chỗ đó có gì đâu mà vướng mắc hay bám chấp mà có sự tranh đấu hay cãi vả phiền muộn. Điều giác ngộ này sẽ giúp đưa chúng ta lập tức vượt thoát khỏi mọi sự ràng buộc của tất cả mọi quan niệm đối đãi như đúng hoặc sai, tốt hoặc xấu, có hoặc không… để quay trở về chỗ tĩnh lặng ngay trong giây phút hiện tại và chính ngay chỗ đó niềm hạnh phúc an lạc vĩnh hằng xuất hiện.

Ba môn học vô lậu học của đạo Phật là Giới – Định – Tuệ luôn luôn hỗ trợ lẫn nhau không có thiếu sót sẽ giúp cho người học Phật mau chóng đạt đến cảnh giới giải thoát nhiệm mầu khó nghĩ bàn ở ngay trong từng giây phút hiện tại. Cực lạc, Tịnh độ Niết bàn giải thoát hay tất cả những pháp mầu nhiệm của đạo Phật đều nằm ngay nơi khoảnh khắc hiện giờ, mà chỉ có thể chứng nghiệm được từ nơi sự tự thân nỗ lực vận dụng tu tập của mình.

Dẫu rằng trong kinh có nói, nếu người chuyên tâm thực hành niệm Phật thì khi chết sẽ được vãng sanh về Cực lạc, nhưng ít ra ở ngay nơi cuộc sống hiện tại cũng phải có được sự an lạc hạnh phúc, mà không thể có việc lúc chưa tu thì khổ ít, đến khi tu rồi thì khổ nhiều thêm. Sự thực tập trì niệm câu danh hiệu Phật theo từng hơi thở của mình “Hít vào A Di; thở ra Đà Phật” sẽ giúp chúng ta dễ dàng trở về với giây phút hiện tại và nhận chân được hạnh phúc nhiệm mầu ở ngay nơi tâm của mình.

Tuy nhiên, cũng đừng nên nghe nói rằng giây phút hiện tại thì liền chấp cho là ngay chỗ này. Tại sao? Bởi vì hiện tại không có dừng nghỉ, mà trong từng khoảnh khắc nhỏ nhiệm nó vẫn đang trôi qua. Chỉ có cái tỉnh sáng của mình ngay trong giây phút hiện tại đó mới là cái chân thật và là cái thật sự hiện tại.

‘Tỉnh’ không có nghĩa ngược đối với ngủ mà là sự không mê lầm, luôn nhìn thấy rõ được sự biến đổi của vạn vật và không bị chúng lôi kéo làm cho chìm đắm trong dòng sông cảm thọ để nhận chịu khổ đau. Do lúc nào cũng thấy được sự rỗng không của các pháp, thân này chỉ vay mượn trong từng hơi thở, trong từng li nước, chén cơm, cho nên gọi là tỉnh thức. Người có sự tỉnh thức thì luôn thấy rõ sự thật của vạn vật và không còn bất cứ tham đắm hay sân hận đối với sáu trần và nhờ đó không còn ở trong chiêm bao mê mộng nữa.

Một điểm đặc biệt nữa có công năng giúp cho người tu mau chóng trở về với giây phút hiện tại là sự thực hành tâm ít muốn và biết đủ mà đức Phật đã khuyên nhắc chúng ta cần phải khéo biết hài lòng với những cái hiện có và không mong cầu những điều vượt quá khả năng của mình. Phước báu của mình được bao nhiêu thì an hưởng bấy nhiêu, luôn cố gắng làm việc, chuyên cần học hỏi bằng chính sức của mình, luôn có tâm biết đủ và buông xả mới là những điều quan trọng trong sự tu học. Nếu người nào có thể thực hành triệt để một pháp ít muốn và biết đủ này thì liền vào được chỗ Niết bàn tịch tĩnh.

Vấn đề tiếp theo thầy muốn nhắc lại là cáicách nghĩ không chính xác cho rằng sắc thân này là tôi, là của tôi; suy nghĩ trong nội tâm “là tôi, là của tôi”; những cảm giác, tri giác, ý nghĩ, tư tưởng trong lòng mình là tôi, là của tôilà tà tư duy là ngũ thủ uẩn là nguồn gốc đau khổ.Và do nắm chặt sắc tâm, vật chất tinh thần, ngũ uần;nắm chặt ở trong cái suy nghĩ, nhận thức cho nên mình làm cái gì cũng lòng vòng ở trong cái thân và cái tâm của mình.

Phim Tây Du Ký nói cái chỗ này rõ lắm. Tôn Ngộ Không dù có thần thông bay đến cỡ nào đi nữa vẫn không bay khỏi bàn tay của Phật Tổ, nghĩa là dù cho ý thức có tinh xảo đến mức cùng tột, diệu dụng, sáng suốt.Nó ma lanh, tinh vi đến đâu chăng nữa cũng không ra được ngũ uẩn.Năm ngón tay của Phật Tổ là chỉ cho ngũ uẩn ( sắc, thọ, tưởng, hành, thức).

Tất cả những cái suy nghĩ, những cái làm của mình, cái học của mình, thậm chí cái tôi nó nằm trong năm cái này hết.Và nếu mình hạ công phu ở trong cái này dù trãi qua trăm kiếp ngàn đời mình cũng không có thấy đạo nữa. Vì mình chỉ tu trong cái ngã mà thôi. Cái đó là tà tư duy.Suy nghĩ không có chính xác, suy nghĩ sai cho nên mình nói sai, làm sai, và cái kết quả cuối cùng của nó là từ sai cho đến sai, từ lầm cho đến lầm, từ khổ cho đến khổ. Bây giờ chánh tư duy coi là chánh niệm, suy nghĩ chính xác.

Khi hiểu rõ vấn đề này thầy đọc kinh Tương Ưng Bộ thấy hay vô cùng, mỗi chữ trong đó còn quí là viên kim cương. Trong Bài kinh ….…….Phật dạy: “Này các Tỳ Kheo, ví như có người đặt bảy cái cục đất tròn bằng hột táo trên cái quả đất. Các ông nghĩ như thế nào, cái nào nhiều hơn?, bảy cục đất tròn bằng hột táo nó nhiều hay là trái đất nhiều?, chính cái này thưa Thế Tôn là nhiều hơn, tức là quả đất, ít hơn là bảy cục đất to bằng hột táo, không phải một trăm lần, không phải một ngàn lần có thể so sánh, khi so sánh quả đất với bảy cục đất tròn được đặt ở trên cái quả đất. Cũng vậy, này các Tỳ Kheo, đối với vị thánh đệ tử đã chứng được kiến cụ túc, đối với người đã chứng được minh kiến, cái này là nhiều hơn tức là khổ đã được đoạn tận, đã được diệt tận, ít hơn là khổ còn lại không phải là một trăm ngàn lần có thể sánh bằng khi so sanh cái khổ uẩn trước đã được đoạn tận đã được diệt tận. Như vậy, này các Tỳ Kheo lợi ích thay là cái pháp minh kiến, pháp hiện quán, như vậy lợi ích lớn thay là chứng đắc được pháp nhãn…”

Kiến Cụ Túc là gì? Là thấy đầy đủ, đối với người đã chứng được minh kiến, tức là thấy rõ, thấy rõ được cái sự thật vô ngã ( không có tôi và của tôi) thì đau khổ sẽ đoạn tận, nó dứt hẳn nhiều giống như là đất của quả địa cầu, đau khổ nó còn lại nó ít giống như bảy viên sỏi, bảy cái viên đất bằng mấy viên bi của những đứa con nít chơi nhà chòi. Như vậy lợi ích lớn thay là chứng đắc được pháp nhãn, pháp nhãn là con mắt thấy được chánh pháp, thấy được chánh pháp là thấy được sự thật, bản chất của thân tâm.

Tiếp theo Thế Tôn nói với Tôn giả A Nanda đang ngồi một bên: “ Này A Nanda, nếu mà có người hỏi ông, những pháp nào sự sanh khởi đã được thấy rõ, sự diệt mất được thấy rõ, trong khi tồn tại được thấy rõ, nếu được hỏi như vậy ông trả lời như thế nào, A Nan?

Ngài A-nanda bạch Thế Tôn: “ Nếu có người hỏi con như vậy con sẽ trả lời như vầy, này hiền giả ở trong sắc, sự sanh khởi được thấy rõ, sự diệt mất được thấy rõ, sự trong khi tồn tại, biến đổi được thấy rõ, ở trong cảm thọ, ở trong tư tưởng, ở trong các hành, ở trong nhận thức, sự sanh diệt được thấy rõ, sự diệt mất được thấy rõ, trong khi tồn tại sự biến đổi được thấy rõ, bạch Thế Tôn con sẽ trả lời như vậy”. Lành thay, đúng rồi A Nan, ông nói như vậy là đúng.

Như vậy cái người tu cần thấy rõ là sắc thân của chính mình.Thấy rõ sự sanh của nó, sự diệt của nó, thấy sự biến đổi của nó trong khi tồn tại, điều đó là cần thấy rõ. Thấy rõ ở đây tức là chánh kiến, chánh niệm. Thấy chân chánh, suy nghĩ chân là phải thấy rõ thân tâm. Nhớ là thấy thân tâm chớ không phải là thấy thân tâm của mình. Chỗ này là chỗ quan trọng, ở trong đó không thấy cái gì là mình và của mình, thấy được như vậy là thấy đúng, suy nghĩ như vậy là suy nghĩ chính xác. Mình xét lại thử coi có phải trong một ngày đêm những cái suy nghĩ, nhận thức của mình đều là: đây là tôi và của tôi, không?. Nếu đúng như thế là chúng ta đang sống trong si mê. Bây giờ làm sao để mình dẹp được cái suy nghĩ này? Chỉ có cách là chúng ta phải thường nghe những pháp nói về Vô Ngã và dần dần quán chiếu theo lý thuyết đó thì mới có thể đập tan tà tư duy này. Lối tu này là tu gốc của đức Phật.Do người sau nghiệpcàng ngày dày hơn, phước mỏng hơn, tuệ cạn hơn, cho nên người đi trước chỉ làm cái này làm cái kia thì họ mới thích làm. Còn nếu mới vào đạo mà mình dạy cái giáo lý này như nói:Không có tôi, không có cái của tôi, không có gì là bạn và cũng không có cái gì là của mình thì chắc người ta chịu không nổi. Cho nên, ta kêu lạy, lạy sám hối cho bớt tội.Ai làm tội, mình làm tội.Ta kêu bố thí đi đặng có phước, ai bố thí? Thì mình bố thí.Cho nên tất cả những cái đó là cái pháp phương tiện lần lần đức Phật mới đưa vô cái chỗ này. Mà cái chỗ này rất tinh vi rất sâu sắc. Chúng ta phải ra công ngay chỗ này thì từ từ sẽ hết khổ còn ra công ở những chỗ bên trên nói thì sẽ khổ hoài.

Vì khi ra công ngoài chỗ này thì, khi mình được phước mình sẽ so sánh với người khác, ít - nhiều sẽ sanh, cao – thấp sanh, phải - quấy sanh, đúng - sai sanh, tại vì còn cái tôi, cái ngã. Cho nên có những người làm rất là cực khổ mà không hành được pháp này thì sự buồn lo, phiền muộn, sầu, bi, khổ, ưu não vẫn tiếp diễn. Làm sao để đưa cái thấy, cái nghĩ này vào trong từng ý nghĩ của mình, đó gọi là chánh tư duy.

Trong pháp hành thiền tuệ có mười sáu tầng trí tuệ, với các bậc tôn đức thì quan trọng tầng trí tuệ thiền tuệ thứ 4 còn riêng bản thân thầy thì thầy thấy rằng đối với căn cơ trình độ của mình bây giờ là quan trọng tầng thứ nhất, là vén màn vô minh, phá dẹp tà kiến. Thế nào là vô minh, tà kiến? Là luôn luôn nghĩ về tôi và của tôi. Phải làm thế nào để đổi cách nghĩ sai trở thành cách nghĩ chính xác, tức là thấy không có tôi và của tôi. Đó là thành công bước thứ nhất.Cái trí thứ nhất này sẽ là nền tảng, là cơ sở để chúng ta phát triển lên. Làm sao để mỗi hành động, mỗi ý nghĩ, mỗi lời nói, mỗi cách nhìn của mình đều hướng về cái không có tôi và không có của tôi thì mình sẽ tiến bộ không thể tưởng tượng nổi. Tất cả cái phiền não, đau buồn, vấn đề bên trong chúng ta sẽ tự động rơi rụng hết. Đây là trái tim của Đức Phật, con mắt của chánh pháp, cốt tủy của tam tạng thánh giáo. Bằng không tất cả những gì mình tu, mình làm, mình học đều xoay quanh cái bản ngã rồi mình sẽ khổ đau. Bởi vì cái nghĩ rằng tôi, của tôi nó thâm căn cố đế, trăm đời ngàn kiếp rồi. Gần nhất là từ thời cha sanh mẹ đẻ đến bây giờ. Nó đã keo sơn dính rất chặt rồi. Hòa thượng Trúc Lâm có giảng một đề tài “Ngỗng Chúa Chọn Sữa”. Đây là truyền thuyết, sữa với nước hòa với nhau thì không tách ra được nhưng đắc biệt con ngỗng chúa lại tách ra được, nó chỉ lấy sữa uống thôi còn nước thì để lại. Tức là chỉ có bậc minh nhãn ( người thấy rõ được pháp) thì mới thấy được cái vọng thức và cái trí huệ, ở trong cái hỗn độn đó mà tách ra được. tức là ở trong tâm thức mình có hai cái, một cái là cái nhận thức khách quan và chính xác đó là chánh kiến hay chánh niệm mà mình đã trình bay ở trên còn cái thứ hai là cái khắn chặt vô tà kiến vô minh chấp ngã. Mà cái khắn chặt đó rất cứng chắt giống như tường đồng vách sắc cho nên tại sao mình học hoài mà cái ngã vẫn bự chần dần, phải không. Mình học nào là vô thường, vô ngã, sắc tức thị không nhưng trở ra vẫn như cũ vì học chỉ là học vậy thôi, tụng vậy thôi, nghe vậy thôi, hiểu vậy thôi chớ mình không có pháp hành. Trong đời tu chính thầy chứng kiến hồi xưa thầy cũng vậy mới gần đây thầy mới đi sâu vào cái này. Những người huynh đệ, những phật tử lâu lăm thấy rất là thương.Họ ra công mười năm hai mươi năm thậm chí ba mươi năm nhưng do ra công không chính xác nên vẫn khổ.

Chánh pháp khó nghe là cái này. Khó nghe đã đành mà khó chấp nhận và nếu có chấp nhận thì cũng càng khó khi đưa nó vào trong sinh hoạt hằng ngày để thực tập.Và cái thực tập vững chãy trong cái vô ngã càng khó cho nên thực tập thành công mới gọi là thánh nhân, chớ không phải người bình thường. Thành ra chỗ thực tập vô ngã này nó vô vi vô tác rất là khó biết vì giống như mình không có làm gì hết nhưng lại là làm rất là nhiều.Thấy như không có tạo dựng ra được gì nhưng lại là siêu tạo dựng. Tại vì từng giây từng khắc ta phá cái nghĩ sai lầm, chuyển cái nhận thức tà kiến thành chánh kiến; vô minh thành trí tuệ. Cho nên mình phải hạ thủ công phu cho bằng được. Cách nghĩ đó sẽ giúp mình thành công đại thành công, thành công vượt lên trên thành công. Cho nên làm mà không làm, nói mà không nói, không nói mà nói, tu mà không tu vì mình có thiệt đâu mà ra công nhưng lại là chân tu. Chỗ đó là chỗ tuyệt vời mà chánh kiến đã đem lại cho mình, ngoài sức tưởng tượng của mình khi thực tập cái này. Lúc đó cái trí của mình sẽ linh hoạt thiên biến vạn hóa giống như mặt hồ trong vậy, cái gì đến bên cạnh nó thì đều hiện bóng cả mà nó không là cái gì cả đó là trí huệ vô ngã. Cho nên thầy lấy ví dụ nói để huynh đệ dễ hiểu, rất nhiều người lên đây thấy cái hồ soi bóng của mình đều có ý kiến sao thầy không nuôi cá hay trồng sen hoặc xây hòn non bộ hoặc đặt tượng Quán Thế Âm. Lúc đó thầy trả lời nếu để một tượng quan âm thì chỉ có một tượng quán âm; nếu trồng sen thì chỉ có sen thôi; nếu nuôi cá thì chỉ có mấy con cá thậm chí mấy đứa nhỏ còn lên bắt còn nếu làm hòn non bộ thì ở đây có núi thật rồi thì đâu cần làm núi giả. Nếu làm cái gì thì chỉ có cái đó thôi.Còn nếu là cái hồ trong tuy thấy chẳng có gì hết nhưng lại có tất cả.Bất cứ cái gì đứng gần nó thì nó cũng rọi bóng hết.Nào là mây trời, sao trăng, cây lá.Người mặc áo xanh đứng bên nó thì nó sẽ hiện áo xanh, áo màu đen thì hiện màu đen, áo màu đỏ thì hiện màu đỏ đó là dùng cái lý vô ngã vô thường để kiến trúc. Cái lý vô thường vô ngã này được sử dụng rộng khắp, vô lượng vô biên chớ không phải học vô ngã dẫn đến chán đời không muốn làm gì hết. Nếu học vô thường mà sanh tâm có gì đâu phải làm, phải suy nghĩ cho nhọc, nghĩ vậy là không phải. Cái vô thường vô ngã này siêu viêt lắm.Như thầy hay chỉ mấy chú cái máy phun sương nhỏ này nó đang phun hơi nước, chính vì hơi nước vô thường vô ngã nên nó không có hình dáng gi hết, vì không có hình dáng nên nó có muôn vàn hình dáng.Hay như mây cũng vậy. Nó cũng vô thường vô ngã nên hôm nay mình không biết là có hay không , ngày mai hay ngày kia cũng vậy.Nếu có thì mỗi ngày mỗi khác, nó cũng có vô vàn hình dáng khác nhau. Tất cả những kiến trúc xây dựng ở Pháp Ấn này đều sử dụng lý vô thường vô ngã. Từ cái tu bên trong cho đến cái học bên ngoài cho đến cái thực hành và đường lối tu của mình cũng vậy, nó không có. Như mấy chú ở đây năm năm rồi mấy chú có nghe tiếng chuông nào giống tiếng chuông nào không.Tiếng chuông cũng biểu hiện lý vô thường.Không bao giờ có tiếng chuông trước giống y như tiếng chuông sau. Cho nên mấy chú nấu cơm phải thấy được lý vô thường vô ngã trong mỗi bữa cơm; chạy xe phải thấy được lý vô thường vô ngã trong mỗi lần chạy; trong mỗi hơi thở phải thấy được vô thương vô ngã và mỗi khi quét sân phải thấy vô thường vô ngã; mỗi chiếc lá rơi hay mỗi lần giặt áo, tắm rửa cũng phải thấy được vô thương vô ngã. Lúc nào cũng dùng tuệ quán để phá cái tà kiến vô minh để cho cái nghĩ sai thành cái nghĩ đúng. Được cái đó là được trí tầng thiền tuệ thứ nhất “ vén màng vô minh”. Cái thấy siêu việt hơn tất cả vàng bạc, tiền của trên thế gian này. Nó sẽ giúp mình thoát hết đau khổ. Hãy đầu tư vào cái đó, nghe cái đó, quán chiếu, chiêm nghiệm và thực tập cái đó rồi mình sẽ thấy được lợi ích mà nó đem đến cho mình vô cùng vô tận vô lượng vô biên bất khả tư nghì. Nó chính là chánh pháp nhãn tạng niết bàn diệu tâm, thật tướng vô tướng , vi diệu pháp môn mà Phật Thích Ca truyền cho Ma Ha Ca Diếp. Ngài Ca Diếp cũng truyền cho ngài A Nan cái pháp đó.Và Ngài A Nan cũng như chư vị tổ sư đời đời truyền nhau cái pháp đó. Một khi đã suy nghĩ chính xác, thấy được không có mình, không có cái của mình thiệt rồi đó, tự động từ từ mình thâm nhập vào thật trí.Lúc đó tự động mình không còn suy nghĩ gì nữa vì không có gì để bám nữa hết. Mà khi đã đạt được sự không còn suy nghĩ phía sau đó thì cái đó gọi là tự tánh định tự tánh huệ mà Lục Tổ hay trong các Kinh Điển lớn trình bày. Một khi mình đã thấy rõ không có mình và cái của mình thì sẽ không còn chạy tìm kiếm gì nữa.Cho nên Đức Thế Tôn nói khi đã thấy vô thường vô ngã rồi thì sẽ nhàm chán, nhàm chán rồi sẽ lìa tham, lìa tham rồi sẽ giải thoát, giải thoát rồi sẽ biết mình đã giải thoát, tri kiến giải thoát sẽ phát sanh.Những bậc A-la-hán đều như vậy hết. Không có ai đi vào nhà mà không từ cánh cửa, đó là câu nói của Khổng Tử. cho nên phải thực tập cái đó trong từng khắc từng phút từng giây, bất cứ làm cái gì hãy đem trí quán vô ngã mà soi chiếu mà hành trì.

Công năng củaTuệ

Tuệ uẩn gồm có hai chi phần chánh kiến và chánh tư duy là hiểu biết đúng sự thật về Tứ thánh đế, Ngũ uẩn và Duyên khởi. Hiểu biết mục đích của tu tập giải thoát là viễn ly tham, xa lìa sân, si và thường tư duy về xa lìa tham, sân, si ấy về Tứ thánh đế, Ngũ uẩn và Duyên khởi ấy.

Tuệ uẩn tức là nhóm tuệ gồm có hai phần là chánh kiến và chánh tư duy. Chánh kiến và chánh tư duy là hai điểm rất quan trọng trong việc dẫn đạo trong sự tu hành. Nếu không có hai yếu tố này chủ đạo hướng dẫn thì sự tu tập những yếu tố ở phía sau như: chánh mạng, chánh nghiệp… đều sai trật và chỉ là đổ công sức xuống biển. Chánh kiến phải quay về điểm gốc là thấy rõ được vô thường, khổ, không, vô ngã mới được xem là chánh kiến. Còn nhìn thấy trái ngược lại là thường còn, vui, có thật và hữu ngã đều là vô minh. Mục đích của sự tu tập xa lìa tham, sân, si là thường tư duy để thấy hiểu đúng về Bốn sự thật, Ngũ uẩn và Duyên khởi đối với vạn vật trên thế gian.

Trong ba độc là tham, sân và si thì việc phá trừ si mê là một điều khó khăn nhất. Tâm tham và sân do dễ biểu hiện và được nhìn thấy ở bên ngoài hình tướng qua sự giận đỏ mặt, quát tháo ồn ào hay thích đi mua sắm hàng hiệu, thích được khen tặng, cho nên có thể ngăn ngừa và phá trừ. Trong khi đó, tâm si mê lại ẩn tàng sâu kín, khó lòng nhận biết để trừ dẹp. Làm sao nhận biết được một người nào đó đang bị rơi vào trong si mê hoặc làm sao biết được bản thân của chúng ta có còn si mê hay không? Hầu như việc ấy là không thể, ngoại trừ căn cứ vào Tứ pháp ấn là Vô thường, Khổ, Không, Vô ngã và nếu thêm Niết bàn tịch tĩnh nữa là Ngũ pháp ấn để làm con dấu của chánh pháp mà nghiệm xét. Người không còn si mê thì trong mọi cách nhìn, lời nói hay việc làm sẽ luôn phù hợp với các Pháp ấn đó và được gọi là tỉnh giác. Ngược lại, nếu lúc nào cũng thấy là thường còn, thật có vui sướng hay mọi sự vật là thật có và nhìn thấy ‘cái Tôi’ mấy chục ký lô này quan trọng chính là đang ở trong vô minh si mê!

Người còn vô minh si mê thì khi nhìn cái bàn hay cái ghế, lọ hoa hay viên phấn sẽ thấy thật có những sự vật như thế và đặc biệt là họ luôn thấy và nghĩ bản thân này là một nhân vật quan trọng, là trung tâm của trời đất, lúc nào cũng âm thầm cho ‘Tôi là số một’! Đó là cái thấy thường còn và sự chấp ngã sâu dầy lệch lạc! Ngược lại, người đang tu tập theo chánh kiến và chánh tư duy hoặc đã đã hết vô minh si mê thì khi nhìn những sự vật xung quanh và thậm chí là thân tâm của mình sẽ thấy rằng chúng là một nhóm duyên hợp do vô số yếu tố khác không phải là chúng tạo thành. Bên trong các sự vật ấy hoàn toàn không có một cái chủ hay ‘cái Tôi’ chắc thật và thường còn mãi mãi. Duyên hợp thì có, duyên hết thì tan rã như mây trời. Cái này có là do mấy cái kia có, cái này không là vì mấy cái kia không, tương tác quan hệ qua lại không tách rời tạo thành một mạng lưới liên kết dày đặt mà đạo Phật gọi là Duyên khởi Vô ngã.

Cho nên, thường nhìn thấy, thường suy nghĩ, thường quán xét, thường soi rọi tất cả các pháp không có tính cố định hoặc mỗi sự, mỗi vật đều vô ngã như vậy là sự tu hành phá tan si mê và cũng là đại trí huệ.

GIÁO LÝ CŨNG LÀ PHƯƠNG PHÁP

BA CHUYỂN VÀ MƯỜI HAI HÀNH TƯỚNG

Đức Phật đã tâm sự về chỗ giác ngộ của Ngài. Tất cả sự thấy biết chân chánh, sự quán xét sáng suốt, trí huệ giác ngộ và sự hiểu biết đúng như thật đều phát sanh ở trong tâm của Ngài. Những điều từ trước đến nay chưa từng nghe đến, chưa từng biết đến, mà ngay lúc đó Ngài đều thấu suốt, không còn nghi ngờ.

Tri kiến phát sanh, minh sát phát sanh, tuệ giác phát sanh, hiểu biết phát sanh. Minh kiến phát sanh trong Ta về những điều mà từ trước đến nay ta chưa từng nghe đến.

Đây là sự thật tuyệt đối về khổ, khổ này phải được thông hiểu; Khổ này vừa được thông hiểu. Đây là sự thật tuyệt đối về nguồn gốc của khổ, nguồn gốc này phải được đoạn tận; Nguồn gốc này vừa được đoạn tận.

Đây là sự thật tuyệt đối về sự diệt khổ, sự diệt khổ này phải được trực nghiệm; Diệt khổ này vừa được trực nghiệm. Đây là sự thật tuyệt đối về con đường diệt khổ, con đường này phải được thực chứng; Con đường này vừa được thực chứng.

Đại ý của lời trình bày của đức Phật ở trên có thể nói gọn lại cho dễ hiểu là việc thấu rõ được khổ, đoạn trừ được nguyên nhân của khổ, chứng đắc được cảnh giới diệt khổ và tu con đường diệt khổ để chứng đắc đạo quả đó. Nói theo danh từ Phật học là tri khổ, đoạn tập, chứng diệt và tu đạo. Đồng thời cũng có thể chia giai đoạn tu tập này thành ba giai đoạn là Thị chuyển, Khuyến chuyển và Chứng chuyển. Cả ba giai đoạn này đức Phật đã rành rõ hết và trong các lời pháp của Ngài luôn hiện diện đầy đủ cả ba việc ấy. Đức Phật chuyển pháp luân giảng nói về pháp Tứ đế. Mỗi đế đều có mặt ba yếu tố thị chuyển, khuyến chuyển và chứng chuyển. Do đó, tổng cộng ba nhân với bốn thành ra mười hai, gọi là mười hai Hành.

- Thị chuyển là trình bày chỉ rõ cuộc đời là khổ và sự khổ này là một sự thật, chân lý bất diệt. Đức Phật nói rõ cuộc đời thật sự là khổ và điều này Ngài đã biết rồi, nay nói để cho tất cả chúng sanh cũng nhìn thấy được như thế!

- Khuyến chuyển là khuyên bảo phải nỗ lực tu tập hành trì. Nguyên nhân dẫn đến đau khổ là ái, thủ, hữu hay nói rõ hơn là do có tâm yêu thích, nắm chặt và tạo nghiệp, Ngài cũng đã hiểu rồi, nay chỉ bày để cho mọi người cố gắng đoạn trừ nguyên nhân để đừng khổ nữa.

- Chứng chuyển là đem việc tu tập và thành quả đạt được của bản thân để chứng minh. Đức Phật đã đoạn dứt hết tất cả nguyên nhân đưa đến khổ rồi và nay đem sự thành tựu mà Ngài đã đạt được để làm minh chứng cho chúng ta noi theo. Cảnh giới Niết bàn hạnh phúc, an lạc như vậy, giải thoát, tự tại như vậy, các vị muốn đạt được thì cố gắng thực hành con đường tu đạo mà Ngài đã nói rõ.

Này các Tỳ kheo! Khi nào sự hiểu biết nhận thức này của Ta với ba vòng chuyển và mười hai kết hợp về Bốn sự thật tuyệt đối không tinh thuần, thì Ta không thể khẳng định rằng: ‘Ta là bậc giác ngộ cứu cánh cùng cực vượt hơn tất cả mọi loài ở trong vũ trụ, chư Thiên, ma quỷ, phàm phu, tu sĩ, vua chúa, và thường dân’. Tuy nhiên, ngay khi sự hiểu biết và nhận thức này hoàn toàn thấu triệt, thì Ta mới tuyên bố: ‘Ta là bậc tuệ giác, tri kiến phát sanh khởi lên ở trong Ta. Sự giải thoát đã xảy ra đây là kiếp sống cuối cùng không còn phải tái sanh nữa!’

Chỉ khi nào tri kiến phát sanh rõ ràng ở trong nội tâm và hoàn toàn thấu triệt về sự thật này, đức Phật mới tuyên bố rằng Ngài đã chứng được giác ngộ cứu cánh. Còn như ngày nào sự thật này vẫn chưa được thấu suốt tận cùng triệt để, đức Phật vẫn không tuyên bố rằng Ngài đã đạt giác ngộ cứu cánh.

VỪA LÀ GIÁO LÝ VỪA LÀ PHƯƠNG PHÁP

Giáo lývĩ đại

Do có tầm quan trọng đối với sự tu tập giác ngộ như vậy, cho nên Tứ thánh đế có thể xem như vừa là giáo lý vừa là phương pháp tu tập thực tiễn. Tứ thánh đế chính là phương pháp nhận thức lẽ thật cuộc đời để sống và tu tập của tất cả mọi người. Khổ thánh đế là kết quả khổ đau biểu hiện của nghiệp nhân ở trong quá khứ, nghiệp nhân đó là gì? Tham ái, chấp thủ hay còn gọi là vô minh.

Thế nào là vô minh? Xem cái thân này là thật, chấp vào cái Tôi là quan trọng, ‘số 1’, mình là hay giỏi, bất cứ làm gì, nói gì hay nghĩ gì đều có ‘cái mình’ ở trong đó đều là vô minh điên đảo. Thế nào là tham ái? Là sự yêu thích nắm giữ, ràng buộc lưu luyến, bịn rịn không nỡ lìa xa là tham ái cuồng si. Nói đơn giản là vô minh và tham ái là nguyên nhân, là nguồn gốc của tất cả khổ đau. Từ vô minh sanh ra tham ái; do tham ái tưới tẩm cho vô minh, cứ như vậy cái này sanh cái kia sanh, cái kia sanh phụ trợ cho cái nọ. Cái này sanh nên cái nọ sanh, cứ thế mà phát triển sanh khởi cho đến trùng trùng, cho nên đau khổ là vô tận.

Khổ diệt thánh đế là kết quả đoạn trừ đau khổ do nghiệp nhân; là công phu tu tập Ba mươi bảy phẩm trợ đạo. Cảnh giới chấm dứt đau khổ đó là kết quả đoạn trừ nghiệp nhân.Nghiệp nhân này là Khổ diệt đạo thánh đế!

Kết quả đoạn trừ là do sự tu tập Ba mươi bảy phẩm trợ đạo gồm: Tứ niệm xứ, Tứ chánh cần, Tứ như ý túc, Ngũ căn, Ngũ lực, Thất bồ đề phần và Bát thánh đạo. Quan trọng nhất là chúng ta nắm vững ba thứ giới, định, huệ thì tất cả đều có đầy đủ. Tu tập Ba mươi bảy phẩm trợ đạo là nghiệp nhân và cũng là con đường tận diệt mọi đau khổ. Những sự lễ lạy, cầu xin hay đọc tụng, ghi nhớ nhiều kinh điển không thể giúp chúng ta hết khổ. Muốn chấm dứt đau khổ dứt khoát phải phá trừ vô minh, dẹp sạch tham ái. Người tu học theo Phật cần nhớ kỹ điểm mấu chốt, nguyên nhân gây ra mọi đau khổ chính là vô minh và tham ái. Tất cả mọi việc làm đều phải hướng trọng tâm vào việc đoạn trừ hai thứ đó. Một khi vô minh và tham ái không còn, khổ sầu tự nhiên dứt hết. Tu học như thế mới gọi là sự tu học đúng theo chánh pháp. Đây là chánh kiến mà mọi người tu cần nắm vững để giúp cho bản thân và người khác.

Phương phápvĩ đại

Tứ đế xuất hiện như là một phương pháp phân tích các hiện tượng tâm lý để vượt qua chúng. Tương tự, có thể phân tích các hiện tượng tâm lý tốt để duy trì hay phát triển. Ví dụ như một người phát khởi tâm sân và phương pháp chuyển hóa. Ở lãnh vực y học cũng thế! Bệnh phát sanh là ý nghĩa của Khổ đế; Nguyên nhân sanh ra bệnh là ý nghĩa của Tập đế; Loại trừ nguyên nhân ấy thì bệnh lành là ý nghĩa của Diệt đế; Dùng thuốc hay chế thuốc để đối trị là ý nghĩa của Đạo đế.

Những điều mấu chốt này cũng được đức Phật nhắc đến rất rõ qua bài kinh Lương Y thuộc bộ kinh A-hàm. Khi ngã bệnh thì trước cần phải tìm ra nguyên nhân từ đâu sanh ra bệnh? Khi đã biết được nguyên do và căn bệnh rồi thì mới bắt đầu dùng phương cách hay loại thuốc mà chữa trị cho hết bệnh. Thật ra, Tứ thánh đế luôn có mặt trong cuộc sống hằng ngày, nhưng do vì chúng ta không để ý hoặc không biết, cho nên khi nghe nhắc đến thì cảm thấy như là một việc lạ lẫm. Chúng ta cùng nhìn xét một vài ví dụ thực tế cho dễ hiểu như sau.

Giống như có người đi ngoài trời nắng nóng bức cảm thấy khó chịu vì mồ hôi nhễ nhại và thân nhiệt tăng cao. Người ấy bèn đi vào trong nhà tắm xối nước và bước ngay vào phòng có gắn quạt máy hay máy lạnh. Một lúc sau, người ấy cảm thấy thân thể nặng nề đau nhức khó chịu, sổ mũi, nhức đầu. Bấy giờ, người ấy đã bị nước và gió thâm nhập vào nội tạng gây ra bệnh cảm. Khi đi đến bác sĩ khám bệnh, trước tiên ông ta dò hỏi về cách ăn uống và sinh hoạt của người ấy để tìm ra nguyên nhân sanh bệnh. Sau khi đã rõ biết nguồn gốc căn bệnh rồi, vị bác sĩ mới bắt đầu bắt mạch, kê đơn thuốc, tiêm chích hoặc cạo gió, giác hơi hoặc xông hơi để trị bệnh cảm. Khi mọi thứ gió độc và nước được thoát hết ra ngoài thì thân thể của người ấy trở lại khỏe mạnh bình thường.

Bị bệnh cảm nắng hoặc nước là Khổ thánh đế; Xác định được nguyên nhân gây ra bệnh cảm là do đi nắng mà tắm liền và ở trong phòng máy lạnh hay ngồi trước quạt máy là Khổ tập thánh đế; Đưa ra phương pháp để chữa trị đúng bệnh như chích thuốc, uống thuốc hay xông hơi, cạo gió… là Khổ đạo thánh đế; Khi bệnh cảm chấm dứt, thân thể khỏe mạnh bình thường là Khổ diệt thánh đế.

Hoặc như chúng ta được ấp trên giao phó cho một công việc quan trọng và phải hoàn thành trong một thời gian nhất định. Tuy nhiên, khi đến ngày báo cáo quá trình làm việc thì công việc vẫn chưa xong hoặc là dù đã xong nhưng còn thiếu sót. Do đó, chúng ta bị cấp trên quở trách nặng nề vì làm ảnh hưởng đến việc chung. Do hỗ thẹn và ăn năn, chúng ta tự xét lại quá trình làm việc và cách thức cũng như tinh thần làm việc thì thấy do mê vui chơi với bạn bè, ham xem phim ảnh, nghe nhạc và có tâm lơ là đối với công việc cho nên mới xảy ra hậu quả như thế! Sau khi biết được nguyên nhân đưa đến sai lầm rồi, chúng ta bắt đầu đề ra phương thức điều chỉnh và luyện tập làm việc đúng theo thời gian biểu. Từ đó về sau, mọi việc làm trở nên tốt đẹp hơn và uy tín đối với cấp trên cũng được nâng cao.

Công việc dang dở hoặc không hoàn chỉnh và bị cấp trên quở trách nặng nề là Khổ thánh đế; Hỗ thẹn, ăn năn tìm xét lại cách thức làm việc chểnh mảng, ham chơi và tinh thần làm việc lơ là là Khổ tập thánh đế; Vạch ra phương thức điều chỉnh làm việc và sinh hoạt hợp lý theo đúng thời gian biểu là Khổ đạo thánh đế; Công việc trở nên tốt đẹp và làm tăng uy tín đối với cấp trên là Khổ diệt thánh đế.

Từ những ví dụ này, chúng ta suy rộng ra các sinh hoạt cũng như công việc khác trong đời sống hằng ngày sẽ thấy rất rõ một điều là Tứ thánh đế rất gần gũi và thực tế, không phải là điều gì xa lạ! Do đó nói rằng Tứ thánh đế vừa là giáo lý chỉ dạy cho mọi người hiểu rõ cội nguồn đau khổ và cũng vừa là phương pháp thực hành để giải thoát mọi đau khổ.

Ở trong tâm có rất nhiều thứ phiền não, sầu, bi khổ, ưu não… nói gọn hơn trong hai chữ ‘tham ưu’, tức là tham muốn và lo buồn. Trong tất cả mọi đau khổ thì nặng nề nhất vẫn là đau khổ do có tâm vô minh tham ái, yêu thích ràng buộc với con người và sự vật. Chính sự thật dẫn đến mọi đau khổ ở trên cõi đời đó là Khổ tập thánh đế. Chỉ khi chịu khó dừng tâm lại và quán xét về điều này thật kỹ, chúng ta mới thấy rõ mối hiểm họa to lớn do nó gây ra. Nếu chỉ trông cậy vào hiểu biết trên văn tự hoặc chỉ kiểm xét sơ sài thì chẳng thể nào thấy được guồng máy làm phát sinh ra đau khổ này. Mỗi ngày đều ứng dụng Tứ thánh đế và tìm ra được phương pháp thích hợp để đối trị tham ái là Đạo thánh đế. Cho dù có nhiều phương pháp, nhưng cốt lõi vẫn không đi ra ngoài ba Pháp ấn: Vô thường, Khổ, Không và Vô ngã.

Làm sao trị được tâm tham? Không nên nghĩ rằng là tham muốn đến tận cùng sẽ cảm thấy ngán ngẫm và hết còn mong muốn nữa! Điều sai lầm của ý nghĩ đó là cho dù có chán ngán mọi thứ, nhưng rồi chuyện cũ sẽ tái diễn khi đã hết chán ngán. Bởi vì chán là một pháp hữu vi có sanh ắt sẽ có diệt. Hơn nữa, tâm chúng sanh phàm phu thì chẳng bao giờ biết đủ. Chẳng hạn, như chúng ta rất thích ăn bún riêu. Hôm nay được mọi người nấu đãi ăn bún riêu một bữa thật no say. Sau khi ăn xong, chúng ta cảm thấy ngán đối với món ăn đó và từ hẹn với lòng từ nay về sau sẽ không ăn nữa. Tuy nhiên chỉ nữa tháng hoặc vài ba tháng sau lại tiếp tục thèm ăn bún riêu nữa! Tâm tham dục của chúng ta luôn lẫy lừng và không bao giờ cảm thấy đầy đủ. Dù dùng mọi thứ trên đời để sửa trị nó cũng không được, bởi vì ‘Càng uống nước biển để đã khát lại càng khát thêm!’. Ngoại trừ hai thứ có thể sửa trị tận gốc đó là giới luật và sự tu tập quán xét về chân lý vô thường, khổ, không, vô ngã. Tất cả mọi tâm niệm vô minh phiền não hay tham muốn sẽ tan vỡ khi chúng ta biết quay trở về với sự tu niệm Tứ thánh đế hay nói cụ thể hơn là thấy được vô thường, khổ, không, vô ngã. Đạo đế chính là phương thuốc hữu hiệu và quan trọng dùng để trị bệnh tham ái cho tất cả chúng ta. Người có trí huệ là người biết xoay lại nhìn rõ nội tâm của mình để tìm phương thuốc điều trị cho đến khi hết bệnh tham ái chấp ngã và trở thành con người khỏe mạnh hoàn toàn, tức là đạt đến chỗ Kim cang bất hoại thân. Sau đó, họ sẽ đem những phương thuốc cùng với kinh nghiệm chữa bệnh ấy mà cứu giúp chia sẻ cho mọi người cũng được thoát khỏi bệnh. Ngược lại, không biết nguồn cội căn bệnh, không tìm ra được phương thuốc trị bệnh cũng như không tự điều trị cho mình mà mong muốn chữa khỏi bệnh cho mọi người thì coi chừng họ sẽ bị chúng ta truyền nhiễm và bệnh càng nặng hơn!

ỨNG DỤNG TỨ THÁNH ÐẾ VÀO ÐỜI SỐNG XÃ HỘI

Cho nên, việc học Tứ thánh đế không chỉ đơn thuần là hiểu biết phương pháp mà còn là giúp cho chúng ta ứng dụng tu tập vào đời sống xã hội thực tế để làm giảm bớt cho đến tận diệt mọi khổ đau phiền não. Trong kinh Nhất Thiết Lậu Hoặc, đức Phật có trình bày bảy phương pháp dùng để đối trị phiền não lậu hoặc. Trong đó, tiêu biểu nhất là phương pháp ứng dụng đúng giáo lý Tứ thánh đế này. Nếu mình bị phiền não khổ đau do các suy nghĩ lệch lạc, không đúng, không lành đem lại, thì ta phải áp dụng chánh tư duy và chánh kiến để loại trừ.

Bảy cách đoạn trừ phiền não hay là những phương thuốc trị bệnh tham ái chấp ngã mà đức Phật đã chỉ rất rõ ở trong bài kinh Nhất Thiết Lậu Hoặc giúp cho chúng ta có được cách thức thiết thực để hóa giải và diệt trừ phiền não. Chẳng hạn như khi bị phiền não khổ đau do suy nghĩ lệch lạc, không đúng với chân lý, chúng ta phải áp dụng chánh tư duy, chánh kiến để đối trị. Ví dụ, một vì thầy vì lòng thương xót muốn chỉ dạy cho các học trò nhiều điều tốt đẹp và rèn luyện họ trở thành người hữu ích cho xã hội hoặc trở thành ‘thạch trụ tùng lâm’ mà có những lời nói thật lòng hoặc có những thái độ quở trách rầy la. Tuy nhiên, những người học trò chỉ nhìn thấy vị thầy của mình một sự khắc nghiệt, chua chát luôn muốn dạy đời… Từ những ý nghĩ như thế đã làm tâm của họ phát sanh phiền não cấu uế và mọi sự hờn giận. Họ không hề biết được rằng trong hình tướng dữ dằn phùng mang trợn mắt le lưỡi của Tiêu Diện Đại sĩ là lòng đại từ đại bi lân mẫn của Bồ tát Quán Thế Âm. Tuy nhiên, về sau họ được vị thầy giải thích hoặc học được pháp Tứ thánh đế có chánh kiến, chánh tư duy thì mọi việc nặng nề lúc trước hóa ra nhẹ tênh. Sự hiểu biết đúng đắn càng giúp họ càng yêu quý vị thầy hơn nữa. Như vậy, mọi nhận thức sai lầm, hiểu biết lệch lạc, thành kiến đều đưa đến phiền não cho chúng sanh và chánh kiến, chánh tư duy đóng một vai trò quan trọng trong việc tháo gỡ những thấy biết sai lệch.

Chánh kiến và chánh tư duy áp dụng hữu hiệu nhất ở trong trường hợp này. Chánh kiến, chánh tư duy còn giúp ta tìm ra được thái độ, phương cách ứng xử trước những khổ đau trở ngại. Nếu ta bị khổ vì nóng hoặc lạnh thì hẳn phải tìm áo ấm, áo mát hay chỗ thích nghi. Ngoài ra, chánh kiến, chánh tư duy cũng còn giúp chúng ta có được thái độ, phương cách ứng xử trước những khổ đau trở ngại. Nhờ có chánh từ duy mà dù đang ở trong cảnh khổ, chúng ta cũng không cảm thấy khổ!

Trong khi chúng ta có phước báo di chuyển trên những xe hơi sang trọng có máy điều hòa, thì ngoài đường lộ dưới cái nắng nóng trưa hè như muốn thiêu đốt những người công nhân tay bưng những thùng nhựa đường được nấu chảy nóng hừng hực để trải nhựa từng đoạn đường; hoặc là được ngồi trong nhà mát mẻ trong khi những người buôn gánh bán bưng ở dọc vỉa hè phải chịu cái cảnh mưa dầm rét lạnh giữa phố xá vắng người mong tìm một chén cơm lót dạ. Vậy mà chúng ta cứ than vãn là mệt, nóng nực hoặc đường xá khó đi, phải chờ đợi lâu… mà không thấy được cái khổ của những người kia còn gấp mấy lần! Nếu khi ấy chúng ta vận dụng được chánh kiến thì sẽ thấy những cái khổ của mình đâu bằng những người kia. Nếu một chút khổ nhỏ mà không thể chịu được thì thân tâm sẽ trở nên nhu nhược, yếu hèn thì làm sao chịu được những nỗi khổ lớn hơn? Phải rèn luyện chịu đựng khổ để không còn khổ nữa. Người xưa nói: “Bất ngật khổ trung khổ, nan vi nhân thượng nhân”, không chịu được khổ ở trong khổ thì làm sao làm được người ở trên người?

Hơn nữa, do có chánh kiến soi rọi, chúng ta quán chiếu trên thế gian này còn có vô số nỗi khổ mà người khác vì vô minh mê lầm tạo nghiệp phải gánh chịu như nỗi khổ giam cầm của người bị tù đày; nỗi khổ của người đói rách không có cơm ăn áo mặc; nỗi khổ của người bị bệnh tâm thần ăn bậy nói bạ; nỗi khổ của người bị bỏ rơi trong các viện dưỡng lão, cô nhi viện không người thân thuộc quan tâm chăm sóc; nỗi khổ của những đứa trẻ bán hủ tiếu gõ hay bán vé số không được đến trường mà phải lặn lội tìm kế mưu sinh; nỗi khổ của người bị bán thân bất toại nằm liệt một chỗ lở loét khắp người; nỗi khổ của những người muốn sống nhưng phải bị chết yểu… Ngoài ra, còn có những nỗi khổ ăn nuốt lẫn nhau giữa các sinh vật ở trong cõi súc sanh hoặc nỗi thống khổ của loài Ngạ quỷ chịu đói khát và lửa cháy đốt thân, ngàn năm không hề nghe được một tiếng nước; hoặc là nỗi thống khổ cưa hai nấu dầu, ôm cột đồng lửa đỏ, nằm giường sắt ở trong các tầng Địa ngục.

Hiện tại chúng ta được an ổn ngồi nghe chánh pháp là phước báo vô cùng to lớn mà không phải chỉ tu tập trong một đời mà có được. Đem điều đó mà so với những nỗi thống khổ đã kể ở trên thì sao việc ngồi trang nghiêm không nói chuyện hay nhúc nhích thì không thể gọi là khổ được. Do có sự thấy biết chân chán về nỗi khổ như vậy, tự nhiên chúng ta không còn cảm thấy khổ nữa, mà trái lại có được niềm an vui hạnh phúc vô bờ. Đồng thời, do hiểu được khổ chúng ta càng cảm thông với những điều kém may mắn của mọi người và muốn nỗ lực tu hành để giải thoát cho chính mình và làm lợi ích cho muôn loài. Như vậy, việc thấy biết chân chánh giữ vai trò rất quan trọng trong sự tu hành. Chư Phật Tổ khuyên chúng ta tu học là để trau dồi cái thấy biết chân chánh này. Thiếu vắng điều đó, dù chúng ta đi đến đâu cũng cảm thấy ưu khổ, gặp người nào cũng bị sầu muộn và làm việc gì cũng đều trắc trở khó khăn. Ngược lại, có chánh kiến thì đi đến bất cứ nơi đâu cũng đều có an lạc hạnh phúc.

Nếu ta bị khổ vì bị nạn trâu dữ, ngựa dữ, chó dữ .v.v.… hay là sợ hãi vì hố sâu, vực thẳm thì bấy giờ biện pháp đối phó hữu hiệu là tránh mặt chúng, xa lánh chúng.

Trong kinh A-hàm, đức Phật ví dụ nếu gặp người say xỉn, điên khùng, chó dữ, trâu dữ, ngựa dữ, những con thú dữ hoặc là người dữ thì lúc đó biện pháp tốt nhất là tránh xa. Mau chóng tránh xa sẽ không có phiền não, ngược lại thấy những điều ấy mà cứ lao thẳng tới lập tức xảy ra chuyện không vui. Phương pháp đó gọi là tránh né đoạn trừ phiền não!

Đối với các tâm niệm sân hận, ham muốn, tổn hại thì ta phải cấp thời bám sát chúng để trừ khử; Ta phải phủ nhận chối bỏ không cho các tâm niệm ấy khởi lên. Trường hợp này ta không áp dụng biện pháp tránh né được!

Đây là phương pháp thứ hai gọi là phương pháp đoạn trừ phiền não. Đối với những sự vật hay con người ở bên ngoài, chúng ta có thể tránh né, nhưng khi nội tâm của mình nổi sân hận, thù ghét thì phải làm thế nào? Phải kịp thời theo dõi nhìn kỹ nó để tìm phương pháp đoạn trừ, chấm dứt nó. Nếu không làm dứt khoát và có phương pháp thì chúng ta vô tình nuôi dưỡng tâm sân hận, thù ghét càng thêm lớn. Đó là một việc làm dại dột và đầy nguy hiểm! Trong kinh Di Giáo, đức Thế Tôn có ví dụ những tâm niệm sân hận, thù ghét, tham dục, hơn thua đố kỵ, tranh đấu phải quấy, hơn thua… giống tựa như con rắn độc nằm ẩn ở trong nhà khiến cho mọi người chẳng thể ngủ yên. Ngài nói rằng: “Con rắn độc phiền não đang ngủ trong tâm, như con trăn dữ đang ngủ trong nhà. Hãy dùng cái móc sắt trì giới mà sớm trừ bỏ đi. Con rắn ấy trừ được rồi, mới có thể ngủ yên được. Chưa trừ được rắn ấy mà vẫn ngủ là không biết tự hổ thẹn”. Do đó, cần phải mau gấp tìm cách đoạn trừ chúng ra khỏi căn nhà tâm của mình thì lúc ấy mới có thể an ổn ngủ nghỉ.

Trong một dịp nhập thất ở Quan Âm Phật đài tại thành phố Vũng Tàu để chuyên tu. Một hôm trong lúc đang nằm nghỉ trưa, vị Tăng nọ chợt nghe tiếng động lớn rầm rầm trên nóc nhà. Lúc đầu, vị Tăng cứ mặc kệ tiếng động và cứ nhắm mắt hít thở để chuẩn bị vào giấc ngủ. Tuy nhiên, tiếng động ấy càng ngày càng lớn và gần hơn đã khiến vị Tăng mở mắt và nhìn thấy một con rắn Rồng dài khoảng một thước rưỡi đang bò trên trần nhà. Tuy đã biết đó là con rắn độc, nhưng vị Tăng nghĩ mặc kệ cho nó bò đi, miễn là đừng đụng chạm vào nó là không có việc gì. Tuy nhiên, dù có cố gắng phớt lờ sự xuất hiện của con rắn và cố gắng vỗ giấc ngủ, nhưng trong lòng vị Tăng cứ ái ngại và hồi hộp không yên. Nằm hít thở niệm Phật mà không sao ngủ yên, cứ lâu lâu mở mắt nhìn xem con rắn đã đi chưa? Nhiều lần thấp thỏm như vậy và ý thức được sự nguy hiểm khi con rắn con ở trong nhà, vị Tăng phải đứng dậy dùng gậy xua đuổi con rắn bò ra ngoài đi mất. Lúc ấy, vị Tăng mới cảm thấy an ổn quay trở vào nhà và ngủ ngon.

Tuy nghe đức Phật chỉ rõ như vậy, nhưng chúng ta cứ vô tư nằm ngủ chung với các con rắn độc tham, sân, si và thậm chí nhiều khi còn cảm thấy yêu thích chúng giống như là các con thú cưng như chó hoặc mèo nuôi ở trong nhà. Chính vì yêu quý và nuôi dưỡng chúng từ khi còn nhỏ cho đến khi chúng lớn mạnh đủ sức tác oai tác quái thì chúng ta không thể nào ngăn chặn hay trừ dẹp phiền não được nữa! Cho nên, đối với những phiền não ‘ngủ ngầm’ này, đức Phật khuyên dùng phương pháp đoạn trừ là hữu hiệu nhất. Tùy theo loại phiền não mà chúng ta sử dụng một hay nhiều cách như thấy đúng, tránh né, đoạn trừ .v.v…để loại trừ chúng theo bảy cách mà đức Phật đã trình bày trong bài kinh Nhất Thiết Lậu Hoặc thuộc kinh Trung Bộ số 1 - quyển 1.

Sau cùng là đối với các kiết sử muốn đối trị là phải tu tập Thất giác chi. Thất giác chi là gì? Niệm trạch pháp, tinh tấn, hỷ, khinh an, định, xả. Đây là tinh thần thiết thực của Tứ thánh đế. Đức Thế Tôn dạy: “Trong chính cái thân có ý thức dài một tầm này, Ta tuyên bố thế giới, sự sinh khởi của thế giới, sự chấm dứt của thế giới và con đường đưa đến sự chấm dứt của thế giới. Năm uẩn là đau khổ và nguyên nhân của khổ đau cũng ở ngay trong thân năm uẩn này. Cũng từ trong năm uẩn này mà khổ đau diệt và tìm ra con đường đưa đến khổ đau diệt cũng ở ngay chỗ đó”.

Chính ngay trong cái thân cao một thước bảy, nặng tám mươi ký lô này đức Thế Tôn tuyên bố sự sinh khởi và chấm dứt thế giới của đau khổ và hạnh phúc. Ngay cái thân này sanh khởi ra đau khổ và cũng ngay thân này mà chấm dứt đau khổ; Ngay thân này đạt được hạnh phúc tối thượng; Ngay nơi cái thân này cũng tạo ra khổ đau cùng cực; Ngay nơi cái thân này tạo thành thế giới thanh tịnh và cũng ngay thân này sanh ra thế giới nhiễm ô của phiền não hệ lụy.

Ở trong chỗ chứng ngộ Tứ thánh đế đức Thế Tôn nói rằng: “Ta tuyên bố nhờ lạc và hỷ mà bốn Thánh đế được chứng ngộ, mà không phải do khổ ưu mà bốn Thánh đế được chứng ngộ”.

Đức Phật dạy Trung đạo, không phải đam mê dục lạc cũng không phải là khổ hạnh ép xác mà từ chỗ thấy được sự thật, dẹp trừ vô minh tham ái mà thành tựu được sự giải thoát đau khổ.

TỨ THÁNH ĐẾ VỚI BỐN HOẰNG THỆ NGUYỆN

Hòa thượng Thích Thiện Siêu trong một buổi giảng tại Huế vào năm 1983 đã đưa ra nhận xét rằng: “Dựa vào Tứ thánh đế này mà có bốn hoằng thệ nguyện của người tu.

Chúng sanh vô biên thệ nguyện độ là dựa vào Khổ thánh đế mà phát nguyện.

Phiền não vô tận thệ nguyện đoạn là dựa vào Tập thánh đế mà phát nguyện.

Pháp môn vô lượng thệ nguyện học là dựa vào Đạo thánh đế mà phát nguyện. Phật đạo vô thượng thệ nguyện thành là dựa vào Diệt thánh đế mà phát nguyện.

Truyền thống của Phật giáo Việt Nam mãi mãi vẫn nằm trong truyền thống Phật giáo dưới sự lãnh đạo của Thế Tôn. Tứ thánh đế là giáo lý nền tảng và là phương pháp chỉ đạo”.

Chúng sanh vô biên thệ nguyện độ là dựa vào Khổ thánh đế mà phát nguyện. Sở dĩ cả cuộc đời của chúng ta khổ vô cùng vô tận là vì chỉ lo mải mê giành giật tài, sắc, danh lợi, ăn uống… mà không ngờ tất cả chỉ là ‘bóng trăng đáy nước’! Dù cố gắng chụp lấy, vơ vét và nắm giữ, nhưng khi trút hơi thở cuối cùng thì tất cả đều bỏ lại hết, chẳng mang theo được một thứ gì! Cho nên, người tu thấy được nỗi khổ của mình và thấy rõ mọi vật đều phát xuất từ nguyên nhân giả dối, không thật cho nên phát nguyện lớn nguyện độ thoát tất cả chúng sanh đang còn chìm đắm trong khổ đau giống như mình. Vì vậy mà chúng ta thường phát nguyện rằng:

Chúng sanh khổ nguyện xin cứu khổ,

Chúng sanh khổ nguyện xin tự độ.

Muốn độ chúng sanh thì phải tự độ bản thân của mình trước bằng cách là phải thấu triệt được Khổ thánh đế mới có thể độ thoát chúng sanh.

Phiền não vô tận thệ nguyện đoạn là dựa vào Tập thánh đế mà phát nguyện.

Phải đoạn trừ hết mọi nguyên nhân sanh ra phiền não. Nếu ngồi yên mà đếm thì không thể biết có bao nhiêu thứ phiền não ở trong tâm đang rối bời tựa như cuộn tơ vò, không biết đường nào mà tháo gỡ. Phải tự chúng ta xem lại và tháo gỡ, mà không thể trông cậy vào người nào khác. Trong giai thoại nhà thiền có câu chuyện như sau:

Một hôm, ngài Pháp Nhãn hỏi đại chúng:

- Trên cổ của con cọp có treo lục lạc, người nào mở được?

Toàn chúng không ai đáp được. Ngay lúc ấy Thiền sư Pháp Đăng vừa đi đến, ngài Pháp Nhãn cũng hỏi Sư câu ấy. Sư thưa:

- Người cột mở được.

Ngài Pháp Nhãn bảo với đại chúng:

- Các ngươi chẳng được khinh y.

Đây là một công án của nhà Thiền nhằm giúp cho người tu thấy được chỗ mấu chốt mà tháo gỡ trong nội tâm. Cọp là một loài vật rất hung dữ, cho nên không ai có thể lại gần tháo gỡ cái lục lạc trên cổ của nó. Vậy hỏi ai là người có thể gở được cái lục lạc đó ra? Chỉ có người nào trước đó đã buộc lục lạc vào cổ của con cọp thì người đó có thể mở ra. Điều đó có nghĩa là tất cả phiền não tự mình buộc thì phải tự mình tháo mở. Phiền não của mình phải tự mình chuyển hóa, không ai có giúp hoặc làm thế cho mình.

Pháp môn vô lượng thệ nguyện học là dựa vào Đạo thánh đế mà phát nguyện. Con đường tu hành có vô lượng vô biên pháp môn, cho nên ở bất cứ chỗ nào cũng có thể tu hành. Mọi cái thấy, cái nghe, cái hiểu, cái biết, nắng, mưa, nói nín, động tịnh, hít thở, ăn uống, ngủ nghỉ… đều là chỗ để ứng dụng công phu tu hành. Không nơi đâu không là đạo tràng thanh tịnh để quán xét và điều phục thân tâm.

Phật đạo vô thượng thệ nguyện thành là dựa vào Diệt thánh đế mà phát nguyện. Lấy cảnh giới diệt tận hết đau khổ là Niết bàn an vui làm tiêu chuẩn cũng như là đích đến sau cùng mà trong đời này chúng ta quyết định phải đạt được.

Tóm lại, Tứ thánh đế hay bốn chân lý vĩ đại của bậc Thánh là một giáo lý cũng là một phương pháp vô cùng thiết thực mà bất cứ người tu học Phật pháp cũng đều nắm vững để vận dụng tu tập đạt đến chỗ giải thoát hoàn toàn mọi tham ái và vô minh. Luôn đề khởi chánh niệm và có sự tỉnh thức ở nơi thân tâm và trước mọi cái thọ, tưởng, hành, thức lúc nào cũng nhìn thấy mọi sự mọi vật bằng con mắt vô thường biến hoại là có được chánh kiến. Cái thấy đó phù hợp với sự thật, tương ưng với ba pháp ấn mà từ xưa cho đến nay vốn là như vậy, là lẽ tất nhiên và phổ biến trùm khắp như thế. Thấy đúng với sự thật đó thì phù hợp với chân lý và cũng tương ưng với tuệ giác sáng suốt. Mà tương ưng minh, tuệ, giác thì tâm sẽ dừng lại yên định và ngay chỗ đó chấm dứt hết mọi ái dục phiền não, giải thoát không còn khổ đau, chứng đắc quả vị A-la-hán.

Ngay trong từng hơi thở, có thể thấy rõ duyên sanh vô ngã tánh không là đệ nhất nghĩa đế, thì liền có được cái chìa khóa mở ra kho tàng Tam tạng kinh điển; Chỉ trong một hơi thở thấy thân này vay mượn trong một hơi thở là tương ưng với chân đế, tương ưng với đệ nhất nghĩa không bậc nhất của Phật giáo. Người nào thấy thấu suốt được như thế chính là thấy pháp; mà người thấy pháp tức là thấy được chân thân của đức Phật. Đó là tinh thần căn bản cội gốc của kinh A-hàm và Nikaya mà đức Phật đã giảng nói một cách rộng rãi nhất./.