Tương Ưng Cảm Thọ 2A
TƯƠNG ƯNG CẢM THỌ 2A
Thích Minh Thành
MỤC LỤC
TOC \o "1-3" \h \z \u I. Vực thẳm PAGEREF _Toc76309502 \h 1
II. Thánh trí về Cảm thọ PAGEREF _Toc76309503 \h 6
I. Vực thẳm
“Kẻ vô văn phàm phu nói như sau: "Ở giữa biển lớn, có vực thẳm". Nhưng ở đây, này các Tỳ-kheo, kẻ vô văn phàm phu đối với việc không có, không xẩy ra, lại nói: "Ở giữa biển lớn, có vực thẳm".
Này các Tỳ-kheo, đồng nghĩa với các khổ thọ về thân là vực thẳm này.
Kẻ vô văn phàm phu, khi cảm giác khổ thọ về thân, thời sầu muộn, than vãn, khóc lóc, đấm ngực, đi đến bất tỉnh. Này các Tỳ-kheo, đây gọi là kẻ vô văn phàm phu không đứng lên trên vực thẳm, không đạt tới chỗ chân đứng.
Còn bậc Ða văn Thánh đệ tử, này các Tỳ-kheo, khi cảm giác khổ thọ về thân, không sầu muộn, không than vãn, không khóc lóc, không đấm ngực, không đi đến bất tỉnh. Này các Tỳ-kheo, đây gọi là bậc Ða văn Thánh đệ tử đã đứng lên trên vực thẳm, đã đạt tới chỗ chân đứng.
1)Ai không chịu đựng nổi,
Các khổ thọ khởi lên,
Thân đau, hại mạng sống,
Cảm xúc khiến run rẩy.
Ai than vãn, khóc lóc,
Suy nhược, thiếu kiên cường,
Không đứng trên vực sâu,
Không đạt chỗ chân đứng.
2) Ai có thể chịu đựng,
Các khổ thọ khởi lên,
Thân đau, hại mạng sống,
8Cảm xúc không run rẩy,
Vị ấy vượt vực sâu,
Ðạt tới chỗ chân đứng.”
(Tương Ưng Bộ, Tập IV – Thiên Sáu Xứ, Chương II. Tương Ưng Thọ,
Phần Một - Phẩm Có Kệ, 4. IV. Vực Thẳm (Pàtàla))
Thế Tôn nói rằng kẻ phàm phu không học chánh pháp nói rằng giữa biển lớn có vực thẳm nhưng ngài nói rằng không có, vực thẳm thực sự là những cảm thọ đau khổ nơi thân, sự khó chịu bực bội, đau đớn nơi thân mới chính là vực thẳm. Sự khác biệt giữa người tu và người không tu ở chỗ nào? Người không tu, không nghe, không học, không thực hành chánh pháp khi có cảm giác khó chịu, nhức nhối, đau đớn nơi thân thì người này sầu muộn, than vãn, khóc lóc, đấm ngực, đi đến bất tỉnh.
Đầu tiên sẽ là sầu muộn, buồn phiền, mình có chút bệnh như nhức răng, đau chân thì lúc đó trong tâm mình buồn rồi cái miệng bắt đầu than, cảm thọ đó là khổ thọ, khẩu hành phát ra lời nói là than vãn, khóc lóc, thậm chí là đấm ngực rồi đi đến bất tỉnh. Khi có chuyện xảy ra thì có những người kêu trời, than vãn, bức tóc, đấm ngực hoặc ngất xỉu. Một cái thân mang bệnh thì lúc nào mặt mày cũng nhăn nhó, rên rỉ thậm chí là đấm ngực, đi đến bất tỉnh.
Cái này Đức Phật gọi là vực thẳm của kẻ thường tình, thân bị cái gì là mình sẽ buồn chán, than thở, khóc lóc, có khi kể lại chuyện buồn cũng tủi thân rồi khóc. Những tài sản bên ngoài thân hoặc là những chi phần trong thân thể mình bị mất mát, hư hại, tổn thương thì mình sẽ rất đau khổ. Bậc đa văn thánh đệ tử cũng bị giống người bình thường nhưng họ không sầu muộn, không than vãn, không khóc lóc, không đấm ngực, không đi đến bất tỉnh.
Giữa người bình thường và bậc đa văn thánh đệ tử khác nhau ở tâm thức, tức là thọ thân của bậc thánh có nhưng thọ tâm họ không có. Thầy Pháp An kể bác Ba nằm bệnh lâu ngày nên thân thể bị lở loét vào tới xương, người ta chế oxy già rửa vết thương mà bác Ba vẫn nằm yên, ngón tay chỉ nhịp nhịp trên gường, như vậy mình thấy sự nhiếp phục cảm giác đau đớn, bị rát, xót đau hết sức thâm hậu của bác Ba. Bác của con không biết dùng tiền, ở nhà cho bao nhiêu tiền bác đều đi bố thí, bác ở nhà hốt thuốc nam miễn phí, đi đến đâu là cứu người làm phước đến đó.
Bác là sư phụ ngày xưa của thầy Pháp An (thầy Pháp An là ba con) cho nên thầy Pháp An thấy bác Ba là tâm phục khẩu phục tuy là vai anh nhưng sợ còn hơn cha mẹ, ở nhà ai cũng gọi bác là ông đạo Ba, bác tu đã chứng đạt được những cái uy lực phi thường, có thể biết được quá khứ vị lai và nhiếp phục được những cảm thọ, đây là người trong gia tộc của Minh Thành. Nhà của bác giàu có nổi tiếng cả vùng nhưng bác không biết xài tiền, có bao nhiêu đều đem cho cứu người, đi đến đâu đều hốt thuốc cứu người.
Từ bà nội, ba con cho đến chị Mai, anh Tý đều hốt thuốc, vì chặt cây làm thuốc mà mất luôn miếng da tay. Hôm trước con đi về Tây Ninh hốt thuốc thấy y đức của người thầy đó không nhận tiền, không nhận quà, mời ly nước cũng không nhận, vào hốt 90 thang thì thấy đây là kết quả ngày xưa mà gia đình mình hốt thuốc cho người ta nên bây giờ mình được người ta hốt thuốc lại, nhân quả rất rõ ràng. Cho nên mình thấy rằng những điều mình đã làm không bị mất đi dù đó là thiện hay ác. Đức Phật đã nói phải cảm thọ thì cái nghiệp đó mới chấm dứt, nếu chưa cảm thọ thì nghiệp không chấm dứt.
“Phàm nghiệp nào được làm vì tham, này các Tỳ-kheo, sanh ra từ tham, duyên khởi từ tham, tập khởi từ tham, tại chỗ nào tự ngã được hiện hữu, tại chỗ ấy, nghiệp ấy được thuần thục. Chỗ nào nghiệp ấy được thuần thục, chỗ ấy quả dị thục của nghiệp ấy được cảm thọ ngay trong hiện tại, hay trong đời sống kế tiếp, hay trong một đời sau nữa.”
(Tăng Chi Bộ, Chương III. Ba Pháp, IV. Phẩm Sứ Giả Của Trời,
33.- Các Nguyên Nhân).
Mỗi lần bà Năm vào bệnh viện đều phải lấy mấy ống máu để xét nghiệp nên con biết rằng đây chính là quả báo sát sanh năm xưa của bà, mình phải chịu những cảm thọ đau đớn, khổ sở đó. Mình trả quả ngay trong đời này thì tốt lành cho mình, thậm chí cái nặng biến thành nhẹ, còn nếu quả nặng sẽ phải rơi vào ba đường ác. Cho nên những cảm xúc, cảm giác đau đớn nơi thân phải có sự thực tập, còn nếu:
“Ai không chịu đựng nổi,
Các khổ thọ khởi lên,
Thân đau, hại mạng sống,
Cảm xúc khiến run rẩy.
Ai than vãn, khóc lóc,
Suy nhược, thiếu kiên cường,
Không đứng trên vực sâu,
Không đạt chỗ chân đứng.”
Cho nên người tu sâu sắc là nhiếp phục các cảm thọ, đây là công phu của mình, mà mình muốn nhiếp phục cảm thọ thì phải thường trực để ý cảm thọ, quán chiếu, chăm sóc, xem xét cảm thọ, xử lý cảm xúc của cảm thọ thì mình mới có khả năng nhiếp phục các cảm thọ, nếu không khi vừa có cảm giác khởi lên là sẽ bấn loạn. Như người bình thường không có sự tu tập thì vừa có chuyện chút thôi là rối loạn, quýnh quáng, sợ hãi rồi.
Chẳng hạn cô Sáu 2h đêm bị tụt canxi nên tay chân cô cứng đờ rồi cô bị bất tỉnh, cô Út thấy vậy thì cô cũng bệnh theo rồi nhập viện chung luôn vì cô sợ. Sau đó gọi điện báo tin cho cô Tư đã hơn 80 tuổi, nghe xong cô Tư cũng làm mệt theo. Cô Sáu là trường hợp thọ do nhãn xúc sanh, là cô thấy tận mắt. Cô Tư là thọ do nhĩ xúc sanh do nghe qua điện thoại.
Cho nên phần tương ưng thọ này là trái tim của Đức Phật, nó vô biên thậm thâm pháp nghĩa, người phàm phu không thể hiểu nổi được, cũng không thể biết để thực tập được. Biết tin thôi là xúc sanh thọ, nghe là nhĩ sanh thọ, từ xúc sanh ra cảm giác, cảm thọ. Mới thấy thôi là đã nhập viên theo, nghe thôi đã làm mệt trong người thậm chí có người ngất xỉu, có trường hợp họ không sống được mà tìm con đường chết, đó là vực thẳm của kẻ vô văn phàm phu.
Cho nên Đức Thế Tôn nói ở giữa biển không có vực thẳm, mà chính cảm xúc đau khổ mới là vực thẳm. Các cảm thọ sanh khởi lên trong thân mình thì mình phải khéo léo quản lý, kiểm soát, giải tỏa, xuất ly khỏi nó. Người nào nhiếp phục được cảm thọ thì người đó đứng trên vực sâu, còn người không nhiếp phục cảm thọ, không tu tập cảm thọ, không thoát ra được cảm thọ thì người này rơi xuống vực sâu. Chẳng hạn như khó chịu vì những lời chỉ dạy, huấn luyện thì bỏ tu đi xuống núi, như vậy là rơi xuống vực thẳm, bỏ cái chí lý tưởng cao thượng giải thoát lúc đi tìm đạo vì những lời dạy dỗ của thầy, của huynh đệ thì đó là rơi xuống vực sâu, mất hết tương lai, sự nghiệp vĩ đại.
Bây giờ Sài Gòn đất chật người đông nên chạy xe phải chen nhau mà chạy, lỡ quẹt trúng xe một chút thôi là nhảy xuống cự cãi thậm chí đánh nhau, vậy là rơi xuống vực sâu. Bên trong các cảm thọ chính là vực thẳm, trong các cảm xúc là vực sâu, trong các cảm giác là hố đen cho nên phải cực kì cẩn thận với nó. Khi mình thấy cảm thọ sanh khởi lên thì quán chiếu, quán tưởng rằng mình đang đi trên mép vực thẳm, có thể rơi xuống bất cứ lúc nào nên phải cẩn thận.
II. Thánh trí về Cảm thọ
Kẻ vô văn phàm phu làm sao có thể biết đó là cảm thọ, làm sao biết đó là thọ uẩn, làm sao biết được đó là cảm giác, làm sao biết đó pháp duyên sanh, pháp vô thường, làm sao phân biệt được cái nào là thọ thân và cái nào là thọ tâm.
“Này các Tỳ-kheo, có ba cảm thọ này. Thế nào là ba?
Lạc thọ,
Khổ thọ,
Bất khổ bất lạc thọ.
Lạc thọ, này các Tỳ-kheo, cần phải thấy là khổ. Khổ thọ cần phải thấy là mũi tên. Bất khổ bất lạc thọ cần phải thấy là vô thường.
Khi nào, này các Tỳ-kheo, Tỳ-kheo thấy được lạc thọ là khổ, thấy được khổ thọ là mũi tên, thấy được bất khổ bất lạc thọ là vô thường; thời này các Tỳ-kheo, đây gọi là Tỳ-kheo có chánh kiến, ái được đoạn tận, kiết sử được hủy hoại. Với minh kiến chơn chánh đối với ngã mạn, vị ấy đoạn tận khổ đau.
Ai thấy lạc là khổ,
Thấy khổ là mũi tên,
Với bất khổ bất lạc,
Thấy thọ là vô thường,
Tỷ-kheo ấy chánh kiến,
Liễu tri các cảm thọ.
Vị ấy liễu tri thọ,
Hiện tại không lậu hoặc,
Mạng chung, bậc Pháp trú,
Ðại trí vượt ước lường.”
(Tương Ưng Bộ, Tập IV – Thiên Sáu Xứ, Chương II. Tương Ưng Thọ,
Phần Một - Phẩm Có Kệ, 5. V. Cần Phải Quán Kiến)
Đây là thánh trí huệ, trí huệ của bậc thánh, không thể nào kẻ phàm phu có thể tưởng tượng nổi nếu không được học, cho nên Đức Phật mới gọi là vô văn phàm phu, tức là người phàm phu không được nghe, không được học thánh trí này. Cảm thọ vui sướng cần phải được thấy là khổ, cảm thọ khổ cần phải được thấy là mũi tên, cảm thọ không vui không khổ cần phải được thấy là vô thường. Thấy được như vậy mới gọi là chánh kiến, thấy được như vậy cái ái, sự ưa thích mới được đoạn tận, chấm dứt. Thấy được như vậy thì những mối buộc gút, sự sai khiến mới đi đến chỗ tan vỡ, hủy hoại. Thấy được như vậy là cái thấy minh lạc, sáng suốt, chân chánh, mới có thể diệt trừ được bản ngã, đoạn tận khổ đau.
Tại sao thấy cảm giác vui là khổ? Làm sao kẻ phàm phu chấp nhận được điều này? Tôi đang ăn, đang vui đùa thì tại sao lại nói là khổ? Đi từ chân núi vào giữa trưa nắng chói chang hoặc bò từ chân núi lên giữa mưa bão để cố gắng chụp hình hoặc thức sáng đêm để chụp được khoảnh khắc mây giăng hay bình minh vào sáng sớm ở Cổng Trời, vậy thì cái lạc thọ đó có phải là khổ không? Muốn có được cảm giác ở giữa biển mây trên Cổng Trời thì phải trải qua bao nhiêu km? Vừa phải đi xa vừa phải thức trắng đêm lại còn phải leo núi để có được tấm hình ưng ý thì đó có phải lạc thọ là khổ không?
Mình đang nói những điều hết sức bình thường, những cái mà người đời thưởng thức, vui vẻ theo cách lành mạnh, chứ mình chưa nói đến cảm giác tiêu cực. Bây giờ ngồi nói cho đã miệng rồi cười đùa nhưng sau đó là thị phi, làm gia đình người ta tan rã, vợ chồng hiểu lầm nhau, trong lúc nói họ thấy vui, là lạc thọ nhưng sau đó làm cho vợ chồng người ta gây gổ, đổ vỡ.
Vậy thì phải quán cảm giác sung sướng, nói cho đã miệng đó là khổ. Một người nghiền á phiện, các chất kích thích, khi dùng thuốc thì đó là lạc thọ, họ sung sướng, khoan khoái trong người nhưng hệ lụy về sau là vô cùng khủng khiếp, vậy thì phải biết quán lạc thọ này là khổ.
Cho nên mới nói họ lấy khổ làm vui, không có điếu thuốc là bứt rứt, đi đến chỗ nào không cho hút là phải trốn chui trốn nhủi, thậm chí là vào toilet để hút, chỉ mới là điếu thuốc đã vậy thì nói gì đến ma túy và các chất gây nghiện khác. Vì vậy Đức Phật đã nói phải quán cảm giác sung sướng, khoan khoái, thích thú đó là khổ đau. Các cô trong chùa yên tịnh nghe pháp thì không muốn, mà lại thích bày ra nấu đủ thứ món ăn, vào nấu thì mệt, mà mệt rồi cự cãi nhau, dọn thức ăn lên cho người ta ăn thì lại bị chê nữa, người thì chê ngọt, người thì nói mặn, không thì nấu lạt quá, nếu như không cự cãi nhau thì nấu lên ăn chỉ có một chút nhưng lại bỏ mất thời gian tu tập quý báu, suốt ngày chạy theo món ăn, thì có phải lạc thọ đó là khổ không?
Sướng cái lưỡi một chút thôi mà làm cho mình đắm chìm mãi mãi trong khổ, cho nên ý nghĩa trong những câu nói của Đức Phật rất sâu rộng, bao trùm cả vũ trụ, nó là khẩu quyết, sự chứng ngộ thánh trí vô thượng Chánh Đẳng Chánh Giác của Đức Phật trong những câu nói này, mình có chiêm nghiệm suốt đời cũng chưa thể hiểu được hết ý nghĩa mà Đức Phật gửi gắm vào đó.
Khi nghe tiếng mèo kêu con lại nhớ đến tiếng kêu của các loài súc sanh, chẳng hạn như con ve khi đến mùa giao phối sẽ phát ra âm thanh, sau khi giao phối xong thì chết, vậy nên lạc thọ là khổ, cảm giác vui sướng là khổ nhưng chúng sanh vô minh thì làm sao hiểu được, Đức Phật nói ra sự thật thì họ không chịu nổi. Có một anh chàng đến gặp Đức Phật, Phật đã nói rằng yêu thích, yêu thương là đau khổ, ái là khổ.
Anh chàng này không đồng ý, anh về nói với những người bạn cùng đánh bài rằng Phật nói yêu mà khổ là sai, yêu là sướng. Câu chuyện này vang xa đến tai vua Ba-tư-nặc, nhà vua nói chuyện với hoàng hậu Mallikà rằng sư phụ của bà nói yêu là khổ, thương là khổ. Hoàng hậu hỏi lại bệ hạ có thương thần thiếp không thì nhà vua trả lời tất nhiên là có. Nếu thần thiếp có xảy ra chuyện gì như có người nam nào nắm tay âu yếm thần thiếp thì lúc đó bệ hạ như thế nào? Ta sẽ sân hận. Nếu thần thiếp bệnh hoạn, mệnh chung thì bệ hạ như thế nào? Ta sẽ thương nhớ, đau khổ. Vậy thì thưa đại vương, chính điều này mà Thế Tôn, bậc tri giả, bậc kiến giả, bậc A-la-hán Chánh Đẳng Giác tuyên bố yêu thương là đau khổ.
Có một vị nữ cư sĩ nổi tiếng là bố thí, cúng dường, hộ trì Tam Bảo. Vị này chỉ có đứa cháu độc nhất nhưng lại chết nên bà này đến khóc nức nở với Thế Tôn, đầu bù tóc rối, nước mắt đầy mặt lem luốc. Phật hỏi bà có muốn nhiều cháu không? Vị này trả lời con rất thích. Đức Thế Tôn nói một ngày trong thành có bao nhiêu đứa trẻ mất đi, vậy thì bà khóc than không ngày nào khô nước mắt.
Đức Phật đã chứng minh cho mình thấy ái là khổ, cũng như bây giờ thầy Pháp An nhìn thấy bà Diệu Hiền bị bệnh tật hành hạ đau đớn thì trong lòng cũng đau xót, nếu ông nhìn một người phụ nữ không quen biết bị bệnh thì cảm thọ trong lòng cũng nhẹ nhàng nhưng với người thân thương nhất của mình, người có ân nghĩa, ân tình bị đau đớn thì mình cũng nhói đau tim gan. Sự ràng buộc của vợ chồng, cảm xúc hoang lạc của nam nữ bị dính mắc vào trong đó và kéo theo hệ lụy suốt cuộc đời.
Nhiều khi con thấy mình đi tu là một điều may mắn, mình đã giải thoát phân nửa sự sanh tử. Sanh tử có 2 nghĩa: Một là thoát ly sanh tử luân hồi, điều này là cao siêu trọn vẹn. Thứ hai, nghĩa gần của sanh tử là sanh con. Con thấy người chồng khi muốn đi là phải được vợ cho phép mới đi, bị quản lý, để ý, thậm chí còn bị kiểm tra điện thoại, ví tiền, thành ra lạc thọ phải quán chiếu nó là khổ, khi quán chiếu được như vậy thì đó là bậc chánh kiến.
Mình đang nói đến tu cho rốt ráo để thoát khỏi sanh tử luân hồi là phải như vậy, từ cái ăn uống, chuyện nam nữ, đi chơi, nhà cửa… đều phải quán lạc thọ là khổ, vì nhà mình đẹp quá không nỡ bỏ đi, nhà của thầy Pháp An nhỏ bé, đơn sơ nên thầy đi tu rất dễ chứ còn nếu nhà cao cửa rộng thì rất khó đi tu, cho nên lạc thọ sẽ trói cột, trói buộc, là xiềng xích, cho nên chính vì cảm giác vui sướng này mà con người khổ đau. Khi thưởng thức điếu thuốc, thưởng thức món ăn ngon hay hít cỏ Mỹ, heroin, một chút cảm giác vui thích đó nhưng hệ lụy theo sau đó là suốt đời.
Còn mình cũng có lạc thọ nhưng mình không khổ trong đó vì đó là lạc thọ trong chánh pháp, không có hệ lụy của khổ mà đưa đến dứt khổ, vì vậy lạc thọ, hỷ thọ trong pháp khác với cái lạc của thế gian, những cái càng vui chừng nào thì càng khổ chừng đó. Những khi con đi tản bộ một mình trên núi nghe chim hót, ngắm mây bay, nhìn trúc lay trên đỉnh Linh Quy thì mới thấy được đời tu hạnh phúc biết dường nào, nếu mình dính mắc vào một gia đình vợ chồng con cái, bị ràng buộc vào đó thì khổ biết chừng nào. Đó là lạc thọ, có gia đình, con cái thì vui phải biết nhưng trong đó phải quán chiếu là khổ, bậc đại trí huệ đã nói như vậy.
Khổ thọ cần phải thấy là mũi tên, phải thấy được cảm giác khổ là mũi tên đâm vào tim mình. Mình phải chịu đựng một tấm thân đầy những chứng bệnh, mình phải chịu đau chỗ này, nhức chỗ kia, đau chỗ nọ, hằng ngày phải uống thuốc, hằng ngày mình phải chịu đựng sự nóng giận, bực tức, sân hận, mình phải chịu đựng cảm giác cái tôi dâng lên làm mình khó chịu, ngủ không được nên mệt mỏi, vật vờ thì mình phải biết đây là mũi tên. Có chân nên mới đi qua đi lại, có tay nên mới có sự cầm nắm, có bụng nên mới biết đói khát.
Nếu không có chân thì không có đi lại, không có đau nhức, không có tay thì không có cầm nắm, không có bụng thì không có đói khát, đòi hỏi ăn uống. Vì có cái thân tứ đại ngũ uẩn vô thường, bất tịnh này cho nên mới có những cảm giác khổ, cảm giác đòi hỏi này, vì vậy mình phải quán nhàm chán mũi tên này, đói cũng khổ, khát cũng khổ, đau cũng khổ, tất cả chỉ toàn là mũi tên.
Những bức xúc trong cái dục thúc giục, đòi hỏi thì phải thấy đây là mũi tên. Những cảm giác nóng bực, thiêu đốt của sân hận thì cũng thấy đây là mũi tên. Trăm ngàn vạn ức mũi tên bắn vào đầy thân thể này cho nên một khi cảm giác khổ sanh khởi lên là mình phải thấy nhàm chán, mình đã chịu đựng biết bao mũi tên trong trăm ngàn vạn kiếp rồi. Từ đó mình đưa tâm mình đi đến chỗ yểm ly, ly tham, từ bỏ, khi sanh khởi cảm giác đau đớn, khó chịu thì tác ý "đó là mũi tên, không có thích thú gì trong đây mà chỉ thấy ngao ngán, nhàm chán nên hãy yểm ly, chấm dứt nó đi".
Mỗi lần quán mũi tên khi có cảm giác khổ là mỗi lần trí huệ của mình tăng trưởng, phát triển thâm sâu để thể nhập vào thánh tri kiến, còn nếu mình không sanh những cảm giác, tác ý như vậy thì khi khổ mình sẽ rên rỉ, sân hận, bực tức. Còn ở đây cái khổ sẽ sanh trí huệ nếu mình biết quán cái khổ này là mũi tên, càng khổ nhiều chừng nào thì sự xuất ly càng mạnh chừng đó, mình đã thấy được sự nguy hiểm và tác hại của những cái khổ này: đói khát, mệt mỏi, giận hờn, buồn phiền, tham dục ái, bản ngã, hơn thua, ganh ghét, tranh đấu, chèn ép, ức hiếp, lừa gạt… Tất cả đều là mũi tên nên không có gì thích thú trong này. Quán được như vậy, thấy được như vậy, biết được như vậy, hiểu được như vậy thì đây gọi là Tỳ-kheo có chánh kiến, ái được đoạn tận, kiết sử được hủy hoại. Mình cứ quán các cảm thọ như vậy thì ái sẽ không thể tăng trưởng mà sẽ đi đến giảm thiểu, bản ngã, dục tham giảm thiểu.
Cảm giác khổ này là mũi tên của ngũ uẩn, mũi tên của tam độc, mũi tên của lậu hoặc, mũi tên của sự vô minh và khát ái. Chính vì có thân này nên mới có những cảm giác đau nhức, có bệnh tật, những cái này cũng là mũi tên nên hãy yểm ly, nhàm chán, chấm dứt, xả ly, từ bỏ, như vậy ái được đoạn tận, kiết sử được hủy hoại, những sự trói buộc, sai khiến sẽ từ từ tan vỡ, minh kiến chơn chánh đối với ngã mạn, vị ấy đoạn tận khổ đau.
Thích Minh Thành
MỤC LỤC
TOC \o "1-3" \h \z \u I. Vực thẳm PAGEREF _Toc76309502 \h 1
II. Thánh trí về Cảm thọ PAGEREF _Toc76309503 \h 6
I. Vực thẳm
“Kẻ vô văn phàm phu nói như sau: "Ở giữa biển lớn, có vực thẳm". Nhưng ở đây, này các Tỳ-kheo, kẻ vô văn phàm phu đối với việc không có, không xẩy ra, lại nói: "Ở giữa biển lớn, có vực thẳm".
Này các Tỳ-kheo, đồng nghĩa với các khổ thọ về thân là vực thẳm này.
Kẻ vô văn phàm phu, khi cảm giác khổ thọ về thân, thời sầu muộn, than vãn, khóc lóc, đấm ngực, đi đến bất tỉnh. Này các Tỳ-kheo, đây gọi là kẻ vô văn phàm phu không đứng lên trên vực thẳm, không đạt tới chỗ chân đứng.
Còn bậc Ða văn Thánh đệ tử, này các Tỳ-kheo, khi cảm giác khổ thọ về thân, không sầu muộn, không than vãn, không khóc lóc, không đấm ngực, không đi đến bất tỉnh. Này các Tỳ-kheo, đây gọi là bậc Ða văn Thánh đệ tử đã đứng lên trên vực thẳm, đã đạt tới chỗ chân đứng.
1)Ai không chịu đựng nổi,
Các khổ thọ khởi lên,
Thân đau, hại mạng sống,
Cảm xúc khiến run rẩy.
Ai than vãn, khóc lóc,
Suy nhược, thiếu kiên cường,
Không đứng trên vực sâu,
Không đạt chỗ chân đứng.
2) Ai có thể chịu đựng,
Các khổ thọ khởi lên,
Thân đau, hại mạng sống,
8Cảm xúc không run rẩy,
Vị ấy vượt vực sâu,
Ðạt tới chỗ chân đứng.”
(Tương Ưng Bộ, Tập IV – Thiên Sáu Xứ, Chương II. Tương Ưng Thọ,
Phần Một - Phẩm Có Kệ, 4. IV. Vực Thẳm (Pàtàla))
Thế Tôn nói rằng kẻ phàm phu không học chánh pháp nói rằng giữa biển lớn có vực thẳm nhưng ngài nói rằng không có, vực thẳm thực sự là những cảm thọ đau khổ nơi thân, sự khó chịu bực bội, đau đớn nơi thân mới chính là vực thẳm. Sự khác biệt giữa người tu và người không tu ở chỗ nào? Người không tu, không nghe, không học, không thực hành chánh pháp khi có cảm giác khó chịu, nhức nhối, đau đớn nơi thân thì người này sầu muộn, than vãn, khóc lóc, đấm ngực, đi đến bất tỉnh.
Đầu tiên sẽ là sầu muộn, buồn phiền, mình có chút bệnh như nhức răng, đau chân thì lúc đó trong tâm mình buồn rồi cái miệng bắt đầu than, cảm thọ đó là khổ thọ, khẩu hành phát ra lời nói là than vãn, khóc lóc, thậm chí là đấm ngực rồi đi đến bất tỉnh. Khi có chuyện xảy ra thì có những người kêu trời, than vãn, bức tóc, đấm ngực hoặc ngất xỉu. Một cái thân mang bệnh thì lúc nào mặt mày cũng nhăn nhó, rên rỉ thậm chí là đấm ngực, đi đến bất tỉnh.
Cái này Đức Phật gọi là vực thẳm của kẻ thường tình, thân bị cái gì là mình sẽ buồn chán, than thở, khóc lóc, có khi kể lại chuyện buồn cũng tủi thân rồi khóc. Những tài sản bên ngoài thân hoặc là những chi phần trong thân thể mình bị mất mát, hư hại, tổn thương thì mình sẽ rất đau khổ. Bậc đa văn thánh đệ tử cũng bị giống người bình thường nhưng họ không sầu muộn, không than vãn, không khóc lóc, không đấm ngực, không đi đến bất tỉnh.
Giữa người bình thường và bậc đa văn thánh đệ tử khác nhau ở tâm thức, tức là thọ thân của bậc thánh có nhưng thọ tâm họ không có. Thầy Pháp An kể bác Ba nằm bệnh lâu ngày nên thân thể bị lở loét vào tới xương, người ta chế oxy già rửa vết thương mà bác Ba vẫn nằm yên, ngón tay chỉ nhịp nhịp trên gường, như vậy mình thấy sự nhiếp phục cảm giác đau đớn, bị rát, xót đau hết sức thâm hậu của bác Ba. Bác của con không biết dùng tiền, ở nhà cho bao nhiêu tiền bác đều đi bố thí, bác ở nhà hốt thuốc nam miễn phí, đi đến đâu là cứu người làm phước đến đó.
Bác là sư phụ ngày xưa của thầy Pháp An (thầy Pháp An là ba con) cho nên thầy Pháp An thấy bác Ba là tâm phục khẩu phục tuy là vai anh nhưng sợ còn hơn cha mẹ, ở nhà ai cũng gọi bác là ông đạo Ba, bác tu đã chứng đạt được những cái uy lực phi thường, có thể biết được quá khứ vị lai và nhiếp phục được những cảm thọ, đây là người trong gia tộc của Minh Thành. Nhà của bác giàu có nổi tiếng cả vùng nhưng bác không biết xài tiền, có bao nhiêu đều đem cho cứu người, đi đến đâu đều hốt thuốc cứu người.
Từ bà nội, ba con cho đến chị Mai, anh Tý đều hốt thuốc, vì chặt cây làm thuốc mà mất luôn miếng da tay. Hôm trước con đi về Tây Ninh hốt thuốc thấy y đức của người thầy đó không nhận tiền, không nhận quà, mời ly nước cũng không nhận, vào hốt 90 thang thì thấy đây là kết quả ngày xưa mà gia đình mình hốt thuốc cho người ta nên bây giờ mình được người ta hốt thuốc lại, nhân quả rất rõ ràng. Cho nên mình thấy rằng những điều mình đã làm không bị mất đi dù đó là thiện hay ác. Đức Phật đã nói phải cảm thọ thì cái nghiệp đó mới chấm dứt, nếu chưa cảm thọ thì nghiệp không chấm dứt.
“Phàm nghiệp nào được làm vì tham, này các Tỳ-kheo, sanh ra từ tham, duyên khởi từ tham, tập khởi từ tham, tại chỗ nào tự ngã được hiện hữu, tại chỗ ấy, nghiệp ấy được thuần thục. Chỗ nào nghiệp ấy được thuần thục, chỗ ấy quả dị thục của nghiệp ấy được cảm thọ ngay trong hiện tại, hay trong đời sống kế tiếp, hay trong một đời sau nữa.”
(Tăng Chi Bộ, Chương III. Ba Pháp, IV. Phẩm Sứ Giả Của Trời,
33.- Các Nguyên Nhân).
Mỗi lần bà Năm vào bệnh viện đều phải lấy mấy ống máu để xét nghiệp nên con biết rằng đây chính là quả báo sát sanh năm xưa của bà, mình phải chịu những cảm thọ đau đớn, khổ sở đó. Mình trả quả ngay trong đời này thì tốt lành cho mình, thậm chí cái nặng biến thành nhẹ, còn nếu quả nặng sẽ phải rơi vào ba đường ác. Cho nên những cảm xúc, cảm giác đau đớn nơi thân phải có sự thực tập, còn nếu:
“Ai không chịu đựng nổi,
Các khổ thọ khởi lên,
Thân đau, hại mạng sống,
Cảm xúc khiến run rẩy.
Ai than vãn, khóc lóc,
Suy nhược, thiếu kiên cường,
Không đứng trên vực sâu,
Không đạt chỗ chân đứng.”
Cho nên người tu sâu sắc là nhiếp phục các cảm thọ, đây là công phu của mình, mà mình muốn nhiếp phục cảm thọ thì phải thường trực để ý cảm thọ, quán chiếu, chăm sóc, xem xét cảm thọ, xử lý cảm xúc của cảm thọ thì mình mới có khả năng nhiếp phục các cảm thọ, nếu không khi vừa có cảm giác khởi lên là sẽ bấn loạn. Như người bình thường không có sự tu tập thì vừa có chuyện chút thôi là rối loạn, quýnh quáng, sợ hãi rồi.
Chẳng hạn cô Sáu 2h đêm bị tụt canxi nên tay chân cô cứng đờ rồi cô bị bất tỉnh, cô Út thấy vậy thì cô cũng bệnh theo rồi nhập viện chung luôn vì cô sợ. Sau đó gọi điện báo tin cho cô Tư đã hơn 80 tuổi, nghe xong cô Tư cũng làm mệt theo. Cô Sáu là trường hợp thọ do nhãn xúc sanh, là cô thấy tận mắt. Cô Tư là thọ do nhĩ xúc sanh do nghe qua điện thoại.
Cho nên phần tương ưng thọ này là trái tim của Đức Phật, nó vô biên thậm thâm pháp nghĩa, người phàm phu không thể hiểu nổi được, cũng không thể biết để thực tập được. Biết tin thôi là xúc sanh thọ, nghe là nhĩ sanh thọ, từ xúc sanh ra cảm giác, cảm thọ. Mới thấy thôi là đã nhập viên theo, nghe thôi đã làm mệt trong người thậm chí có người ngất xỉu, có trường hợp họ không sống được mà tìm con đường chết, đó là vực thẳm của kẻ vô văn phàm phu.
Cho nên Đức Thế Tôn nói ở giữa biển không có vực thẳm, mà chính cảm xúc đau khổ mới là vực thẳm. Các cảm thọ sanh khởi lên trong thân mình thì mình phải khéo léo quản lý, kiểm soát, giải tỏa, xuất ly khỏi nó. Người nào nhiếp phục được cảm thọ thì người đó đứng trên vực sâu, còn người không nhiếp phục cảm thọ, không tu tập cảm thọ, không thoát ra được cảm thọ thì người này rơi xuống vực sâu. Chẳng hạn như khó chịu vì những lời chỉ dạy, huấn luyện thì bỏ tu đi xuống núi, như vậy là rơi xuống vực thẳm, bỏ cái chí lý tưởng cao thượng giải thoát lúc đi tìm đạo vì những lời dạy dỗ của thầy, của huynh đệ thì đó là rơi xuống vực sâu, mất hết tương lai, sự nghiệp vĩ đại.
Bây giờ Sài Gòn đất chật người đông nên chạy xe phải chen nhau mà chạy, lỡ quẹt trúng xe một chút thôi là nhảy xuống cự cãi thậm chí đánh nhau, vậy là rơi xuống vực sâu. Bên trong các cảm thọ chính là vực thẳm, trong các cảm xúc là vực sâu, trong các cảm giác là hố đen cho nên phải cực kì cẩn thận với nó. Khi mình thấy cảm thọ sanh khởi lên thì quán chiếu, quán tưởng rằng mình đang đi trên mép vực thẳm, có thể rơi xuống bất cứ lúc nào nên phải cẩn thận.
II. Thánh trí về Cảm thọ
Kẻ vô văn phàm phu làm sao có thể biết đó là cảm thọ, làm sao biết đó là thọ uẩn, làm sao biết được đó là cảm giác, làm sao biết đó pháp duyên sanh, pháp vô thường, làm sao phân biệt được cái nào là thọ thân và cái nào là thọ tâm.
“Này các Tỳ-kheo, có ba cảm thọ này. Thế nào là ba?
Lạc thọ,
Khổ thọ,
Bất khổ bất lạc thọ.
Lạc thọ, này các Tỳ-kheo, cần phải thấy là khổ. Khổ thọ cần phải thấy là mũi tên. Bất khổ bất lạc thọ cần phải thấy là vô thường.
Khi nào, này các Tỳ-kheo, Tỳ-kheo thấy được lạc thọ là khổ, thấy được khổ thọ là mũi tên, thấy được bất khổ bất lạc thọ là vô thường; thời này các Tỳ-kheo, đây gọi là Tỳ-kheo có chánh kiến, ái được đoạn tận, kiết sử được hủy hoại. Với minh kiến chơn chánh đối với ngã mạn, vị ấy đoạn tận khổ đau.
Ai thấy lạc là khổ,
Thấy khổ là mũi tên,
Với bất khổ bất lạc,
Thấy thọ là vô thường,
Tỷ-kheo ấy chánh kiến,
Liễu tri các cảm thọ.
Vị ấy liễu tri thọ,
Hiện tại không lậu hoặc,
Mạng chung, bậc Pháp trú,
Ðại trí vượt ước lường.”
(Tương Ưng Bộ, Tập IV – Thiên Sáu Xứ, Chương II. Tương Ưng Thọ,
Phần Một - Phẩm Có Kệ, 5. V. Cần Phải Quán Kiến)
Đây là thánh trí huệ, trí huệ của bậc thánh, không thể nào kẻ phàm phu có thể tưởng tượng nổi nếu không được học, cho nên Đức Phật mới gọi là vô văn phàm phu, tức là người phàm phu không được nghe, không được học thánh trí này. Cảm thọ vui sướng cần phải được thấy là khổ, cảm thọ khổ cần phải được thấy là mũi tên, cảm thọ không vui không khổ cần phải được thấy là vô thường. Thấy được như vậy mới gọi là chánh kiến, thấy được như vậy cái ái, sự ưa thích mới được đoạn tận, chấm dứt. Thấy được như vậy thì những mối buộc gút, sự sai khiến mới đi đến chỗ tan vỡ, hủy hoại. Thấy được như vậy là cái thấy minh lạc, sáng suốt, chân chánh, mới có thể diệt trừ được bản ngã, đoạn tận khổ đau.
Tại sao thấy cảm giác vui là khổ? Làm sao kẻ phàm phu chấp nhận được điều này? Tôi đang ăn, đang vui đùa thì tại sao lại nói là khổ? Đi từ chân núi vào giữa trưa nắng chói chang hoặc bò từ chân núi lên giữa mưa bão để cố gắng chụp hình hoặc thức sáng đêm để chụp được khoảnh khắc mây giăng hay bình minh vào sáng sớm ở Cổng Trời, vậy thì cái lạc thọ đó có phải là khổ không? Muốn có được cảm giác ở giữa biển mây trên Cổng Trời thì phải trải qua bao nhiêu km? Vừa phải đi xa vừa phải thức trắng đêm lại còn phải leo núi để có được tấm hình ưng ý thì đó có phải lạc thọ là khổ không?
Mình đang nói những điều hết sức bình thường, những cái mà người đời thưởng thức, vui vẻ theo cách lành mạnh, chứ mình chưa nói đến cảm giác tiêu cực. Bây giờ ngồi nói cho đã miệng rồi cười đùa nhưng sau đó là thị phi, làm gia đình người ta tan rã, vợ chồng hiểu lầm nhau, trong lúc nói họ thấy vui, là lạc thọ nhưng sau đó làm cho vợ chồng người ta gây gổ, đổ vỡ.
Vậy thì phải quán cảm giác sung sướng, nói cho đã miệng đó là khổ. Một người nghiền á phiện, các chất kích thích, khi dùng thuốc thì đó là lạc thọ, họ sung sướng, khoan khoái trong người nhưng hệ lụy về sau là vô cùng khủng khiếp, vậy thì phải biết quán lạc thọ này là khổ.
Cho nên mới nói họ lấy khổ làm vui, không có điếu thuốc là bứt rứt, đi đến chỗ nào không cho hút là phải trốn chui trốn nhủi, thậm chí là vào toilet để hút, chỉ mới là điếu thuốc đã vậy thì nói gì đến ma túy và các chất gây nghiện khác. Vì vậy Đức Phật đã nói phải quán cảm giác sung sướng, khoan khoái, thích thú đó là khổ đau. Các cô trong chùa yên tịnh nghe pháp thì không muốn, mà lại thích bày ra nấu đủ thứ món ăn, vào nấu thì mệt, mà mệt rồi cự cãi nhau, dọn thức ăn lên cho người ta ăn thì lại bị chê nữa, người thì chê ngọt, người thì nói mặn, không thì nấu lạt quá, nếu như không cự cãi nhau thì nấu lên ăn chỉ có một chút nhưng lại bỏ mất thời gian tu tập quý báu, suốt ngày chạy theo món ăn, thì có phải lạc thọ đó là khổ không?
Sướng cái lưỡi một chút thôi mà làm cho mình đắm chìm mãi mãi trong khổ, cho nên ý nghĩa trong những câu nói của Đức Phật rất sâu rộng, bao trùm cả vũ trụ, nó là khẩu quyết, sự chứng ngộ thánh trí vô thượng Chánh Đẳng Chánh Giác của Đức Phật trong những câu nói này, mình có chiêm nghiệm suốt đời cũng chưa thể hiểu được hết ý nghĩa mà Đức Phật gửi gắm vào đó.
Khi nghe tiếng mèo kêu con lại nhớ đến tiếng kêu của các loài súc sanh, chẳng hạn như con ve khi đến mùa giao phối sẽ phát ra âm thanh, sau khi giao phối xong thì chết, vậy nên lạc thọ là khổ, cảm giác vui sướng là khổ nhưng chúng sanh vô minh thì làm sao hiểu được, Đức Phật nói ra sự thật thì họ không chịu nổi. Có một anh chàng đến gặp Đức Phật, Phật đã nói rằng yêu thích, yêu thương là đau khổ, ái là khổ.
Anh chàng này không đồng ý, anh về nói với những người bạn cùng đánh bài rằng Phật nói yêu mà khổ là sai, yêu là sướng. Câu chuyện này vang xa đến tai vua Ba-tư-nặc, nhà vua nói chuyện với hoàng hậu Mallikà rằng sư phụ của bà nói yêu là khổ, thương là khổ. Hoàng hậu hỏi lại bệ hạ có thương thần thiếp không thì nhà vua trả lời tất nhiên là có. Nếu thần thiếp có xảy ra chuyện gì như có người nam nào nắm tay âu yếm thần thiếp thì lúc đó bệ hạ như thế nào? Ta sẽ sân hận. Nếu thần thiếp bệnh hoạn, mệnh chung thì bệ hạ như thế nào? Ta sẽ thương nhớ, đau khổ. Vậy thì thưa đại vương, chính điều này mà Thế Tôn, bậc tri giả, bậc kiến giả, bậc A-la-hán Chánh Đẳng Giác tuyên bố yêu thương là đau khổ.
Có một vị nữ cư sĩ nổi tiếng là bố thí, cúng dường, hộ trì Tam Bảo. Vị này chỉ có đứa cháu độc nhất nhưng lại chết nên bà này đến khóc nức nở với Thế Tôn, đầu bù tóc rối, nước mắt đầy mặt lem luốc. Phật hỏi bà có muốn nhiều cháu không? Vị này trả lời con rất thích. Đức Thế Tôn nói một ngày trong thành có bao nhiêu đứa trẻ mất đi, vậy thì bà khóc than không ngày nào khô nước mắt.
Đức Phật đã chứng minh cho mình thấy ái là khổ, cũng như bây giờ thầy Pháp An nhìn thấy bà Diệu Hiền bị bệnh tật hành hạ đau đớn thì trong lòng cũng đau xót, nếu ông nhìn một người phụ nữ không quen biết bị bệnh thì cảm thọ trong lòng cũng nhẹ nhàng nhưng với người thân thương nhất của mình, người có ân nghĩa, ân tình bị đau đớn thì mình cũng nhói đau tim gan. Sự ràng buộc của vợ chồng, cảm xúc hoang lạc của nam nữ bị dính mắc vào trong đó và kéo theo hệ lụy suốt cuộc đời.
Nhiều khi con thấy mình đi tu là một điều may mắn, mình đã giải thoát phân nửa sự sanh tử. Sanh tử có 2 nghĩa: Một là thoát ly sanh tử luân hồi, điều này là cao siêu trọn vẹn. Thứ hai, nghĩa gần của sanh tử là sanh con. Con thấy người chồng khi muốn đi là phải được vợ cho phép mới đi, bị quản lý, để ý, thậm chí còn bị kiểm tra điện thoại, ví tiền, thành ra lạc thọ phải quán chiếu nó là khổ, khi quán chiếu được như vậy thì đó là bậc chánh kiến.
Mình đang nói đến tu cho rốt ráo để thoát khỏi sanh tử luân hồi là phải như vậy, từ cái ăn uống, chuyện nam nữ, đi chơi, nhà cửa… đều phải quán lạc thọ là khổ, vì nhà mình đẹp quá không nỡ bỏ đi, nhà của thầy Pháp An nhỏ bé, đơn sơ nên thầy đi tu rất dễ chứ còn nếu nhà cao cửa rộng thì rất khó đi tu, cho nên lạc thọ sẽ trói cột, trói buộc, là xiềng xích, cho nên chính vì cảm giác vui sướng này mà con người khổ đau. Khi thưởng thức điếu thuốc, thưởng thức món ăn ngon hay hít cỏ Mỹ, heroin, một chút cảm giác vui thích đó nhưng hệ lụy theo sau đó là suốt đời.
Còn mình cũng có lạc thọ nhưng mình không khổ trong đó vì đó là lạc thọ trong chánh pháp, không có hệ lụy của khổ mà đưa đến dứt khổ, vì vậy lạc thọ, hỷ thọ trong pháp khác với cái lạc của thế gian, những cái càng vui chừng nào thì càng khổ chừng đó. Những khi con đi tản bộ một mình trên núi nghe chim hót, ngắm mây bay, nhìn trúc lay trên đỉnh Linh Quy thì mới thấy được đời tu hạnh phúc biết dường nào, nếu mình dính mắc vào một gia đình vợ chồng con cái, bị ràng buộc vào đó thì khổ biết chừng nào. Đó là lạc thọ, có gia đình, con cái thì vui phải biết nhưng trong đó phải quán chiếu là khổ, bậc đại trí huệ đã nói như vậy.
Khổ thọ cần phải thấy là mũi tên, phải thấy được cảm giác khổ là mũi tên đâm vào tim mình. Mình phải chịu đựng một tấm thân đầy những chứng bệnh, mình phải chịu đau chỗ này, nhức chỗ kia, đau chỗ nọ, hằng ngày phải uống thuốc, hằng ngày mình phải chịu đựng sự nóng giận, bực tức, sân hận, mình phải chịu đựng cảm giác cái tôi dâng lên làm mình khó chịu, ngủ không được nên mệt mỏi, vật vờ thì mình phải biết đây là mũi tên. Có chân nên mới đi qua đi lại, có tay nên mới có sự cầm nắm, có bụng nên mới biết đói khát.
Nếu không có chân thì không có đi lại, không có đau nhức, không có tay thì không có cầm nắm, không có bụng thì không có đói khát, đòi hỏi ăn uống. Vì có cái thân tứ đại ngũ uẩn vô thường, bất tịnh này cho nên mới có những cảm giác khổ, cảm giác đòi hỏi này, vì vậy mình phải quán nhàm chán mũi tên này, đói cũng khổ, khát cũng khổ, đau cũng khổ, tất cả chỉ toàn là mũi tên.
Những bức xúc trong cái dục thúc giục, đòi hỏi thì phải thấy đây là mũi tên. Những cảm giác nóng bực, thiêu đốt của sân hận thì cũng thấy đây là mũi tên. Trăm ngàn vạn ức mũi tên bắn vào đầy thân thể này cho nên một khi cảm giác khổ sanh khởi lên là mình phải thấy nhàm chán, mình đã chịu đựng biết bao mũi tên trong trăm ngàn vạn kiếp rồi. Từ đó mình đưa tâm mình đi đến chỗ yểm ly, ly tham, từ bỏ, khi sanh khởi cảm giác đau đớn, khó chịu thì tác ý "đó là mũi tên, không có thích thú gì trong đây mà chỉ thấy ngao ngán, nhàm chán nên hãy yểm ly, chấm dứt nó đi".
Mỗi lần quán mũi tên khi có cảm giác khổ là mỗi lần trí huệ của mình tăng trưởng, phát triển thâm sâu để thể nhập vào thánh tri kiến, còn nếu mình không sanh những cảm giác, tác ý như vậy thì khi khổ mình sẽ rên rỉ, sân hận, bực tức. Còn ở đây cái khổ sẽ sanh trí huệ nếu mình biết quán cái khổ này là mũi tên, càng khổ nhiều chừng nào thì sự xuất ly càng mạnh chừng đó, mình đã thấy được sự nguy hiểm và tác hại của những cái khổ này: đói khát, mệt mỏi, giận hờn, buồn phiền, tham dục ái, bản ngã, hơn thua, ganh ghét, tranh đấu, chèn ép, ức hiếp, lừa gạt… Tất cả đều là mũi tên nên không có gì thích thú trong này. Quán được như vậy, thấy được như vậy, biết được như vậy, hiểu được như vậy thì đây gọi là Tỳ-kheo có chánh kiến, ái được đoạn tận, kiết sử được hủy hoại. Mình cứ quán các cảm thọ như vậy thì ái sẽ không thể tăng trưởng mà sẽ đi đến giảm thiểu, bản ngã, dục tham giảm thiểu.
Cảm giác khổ này là mũi tên của ngũ uẩn, mũi tên của tam độc, mũi tên của lậu hoặc, mũi tên của sự vô minh và khát ái. Chính vì có thân này nên mới có những cảm giác đau nhức, có bệnh tật, những cái này cũng là mũi tên nên hãy yểm ly, nhàm chán, chấm dứt, xả ly, từ bỏ, như vậy ái được đoạn tận, kiết sử được hủy hoại, những sự trói buộc, sai khiến sẽ từ từ tan vỡ, minh kiến chơn chánh đối với ngã mạn, vị ấy đoạn tận khổ đau.