Thư Viện Linh Quy
← Danh sách

Tâm Ơi Đừng Mê Nữa 4

2026-03-03 00:52:14
Tinh Hoa Nikāya

Thiền Quán

TÂM ƠI ĐỪNG MÊ NỮA 4

Thích Minh Thành

MỤC LỤC

TOC \o "1-3" \h \z \u I. Những loại mộng ảo PAGEREF _Toc83020445 \h 1

II. Nghiệp PAGEREF _Toc83020446 \h 6

III. Khuyến tấn quán chiếu – tác ý PAGEREF _Toc83020447 \h 7

IV. Tâm an PAGEREF _Toc83020448 \h 16



I. Những loại mộng ảo

Mỗi một lần sanh tử

Nằm xuống thì trắng tay,

Có khi toàn buồn tủi,

Có được mấy lúc vui...

Lủi thủi trong sanh tử

Đến đi chỉ một mình

Ngoái lại nhìn sau trước

Nghiệp, bạn đường của ta.

Cô đơn và cay đắng

Khi gặp lại bạn đường

Bơ vơ và trơ trọi

Khi nghiệp đòi, nghiệp đeo.

Nghiệp theo tâm, tạo cảnh.

Tâm ơi, hãy tỏ tường!

Đường còn nhiều nghiệp cảnh,

Nếu tâm còn hôn mê...

Tâm mê làm ra cảnh,

Tâm gặp cảnh, càng mê.

Tâm ơi, đừng mê nữa!

Nhìn vào ngũ uẩn mau.

Bị dính vào cảm xúc,

Nên ái, dục, mạn, sân

Nay chiếu soi năm uẩn

Gốc luân hồi phá tan.

Phá tan lòng tham ái,

Phá tan lòng sân, si

Phá tan lòng chấp ngã

Tâm thật là bình an.

Tâm an nhìn cuộc sống

Cảm giác thật nhẹ lòng

Tâm không còn dính mắc,

Hai mặt của cuộc đời.

Bất chợt miệng mỉm cười,

Nụ cười trong an lạc,

Nhẹ nhàng cùng gió mát,

Hạnh phúc của tâm an.

Tâm an và rộng mở,

Tâm chẳng động theo duyên,

Tâm không còn điên đảo,

Tâm dễ chịu làm sao.”

(Bài Tâm ơi, đừng mê nữa - quyển Cửa Vào Bất Tử)

Kính bạch chư tăng ni và quý Phật tử, chúng ta tiếp tục chia sẻ về bài thiền quán Tâm ơi đừng mê nữa. Chúng ta bị rất nhiều lớp mộng: lớp thứ nhất là mộng khi mình ngủ, điều này dễ hiểu là mộng là chiêm bao. Lớp mộng thứ hai là những hình bóng, ảo tưởng trong tâm, đi kèm là các cảm giác, những sự nghĩ ngợi, suy tư.

Nhận thức như chúng ta biết, đó là tưởng- ảo ảnh của tâm, do nhân duyên của xúc sanh ra thọ, tưởng, hành. Nên lớp mộng thứ nhất khi mình ngủ và nhìn thấy những hình ảnh trong chiêm bao gọi là cảnh mộng trong chiêm bao. Lớp thứ hai là những hình bóng trong tâm, ảo tưởng, ảo ảnh.

Ví dụ về câu chuyện một người tăng đi tu cùng cậu ruột, hai cậu cháu nương nhau để tu. Người cậu là bậc Thánh, đã chứng Thánh quả, có thần thông. Một ngày người tăng nhỏ được cúng dường một xấp vải, cảm thấy rất vui mừng và nghĩ rằng đem xấp vài về cúng dường cho cậu, cũng là sư phụ thì người sẽ rất vui. Khi cúng thì sư phụ vẫn trang nghiêm, không tỏ vẻ vui mừng và gọi vào đứng hầu khi sư phụ ngồi thiền. Vì ở Ấn Độ lúc đó thường có những con quạ, ruồi, côn trùng trong rừng nên mới kêu người Sa-di này đứng một bên quạt. Nhưng người này lại buồn và nghĩ là “Giờ có hai cậu cháu nương tựa nhau tu mà giờ hết thương mình rồi. Chắc giờ không tu nữa.” Sau đó người cháu ra đời cưới vợ, có hai người con và dẫn hai đứa con vào chùa thăm sư phụ. Hai vợ chồng giành nhau bồng đứa con, người chồng tức quá nên cầm cánh quạt gõ đầu vợ. Người sư phụ đang ngồi thiền và mở mắt và nói “Con không gõ trúng đầu vợ con mà trúng đầu sư phụ đây!”

Ví dụ trên cho thấy, cảnh mộng thứ nhất trong chiêm bao, thứ hai là hình ảnh, ảo ảnh trong tâm mình. Chúng ta có bao giờ bị như vậy? Bị gõ cánh quạt trúng đầu sư phụ? Vì tâm thức của chúng ta ngoài ảo tưởng, ảo ảnh, hình bóng trong tâm thì thức giống như một nhà ảo thuật gia. Thức luôn diễn tuồng trong tâm mình, nếu như mình không chánh niệm tỉnh giác, không nhận diện ngũ uẩn thì một ngày mình không biết trôi nổi trong đó bao nhiêu, cứ đi qua từ cảnh này đến cảnh kia.

Vậy nên có câu “Đường còn nhiều nghiệp cảnh. Nếu tâm còn hôn mê.” Đó là lớp mộng thứ hai, tức là những cảm giác, hình bóng, ảo ảnh, ảo tưởng, suy tư và tâm thức diễn trò là tâm thức thứ hai.

Lớp thứ ba của mộng chính là chúng ta đang ngồi đây, là đi tới đi lui, làm việc này kia. Mình cứ nghĩ là mình làm, mình nói nhưng đó thật sự là trong cảnh mộng. Vì chút nữa là mất, lát sau lại trở về giường ngủ, điều này không có mà đi qua thì mất hết. Cảnh mộng thứ ba chính là thi vi, vận hành, hoạt động của chúng ta. Sự vận hành của năm uẩn là lớp mộng thứ ba.

Lớp mộng thứ tư là “Mộng luân hồi lê thê”. Sau khi chết thì “Tâm mê làm ra cảnh”, lúc đó tâm mê và nghiệp dẫn đi, tạo ra “cảnh”.

Chúng ta cần nhớ: Mộng thứ nhất là khi ngủ, nằm chiêm bao. Mộng thứ hai là ảo ảnh, ảo tưởng trong tâm thức. Mộng thứ ba là thi vi, sinh hoạt hằng ngày. Mộng thứ tư là sau khi chết, tiếp tục đời sống tiếp. Bốn lớp mộng này chỉ có bậc Đại giác, chánh niệm và tỉnh giác liên tục từng giây từng phút mới có thể thoát ra khỏi mộng. Đại giác mới biết rằng mình đang trong đại mộng.

Trở lại với nằm chiêm bao là mộng, trong tâm là những ảo ảnh, tưởng uẩn, hình bóng trong tâm cũng được xem là dễ hiểu. Nhưng mộng thứ ba thì sẽ có người thắc mắc “Tại sao tôi đi, đứng, làm mà sao lại nói đây là cảnh mộng?” Vì “Tâm mê làm ra mộng”. Tâm mê là tâm vô minh, tham ái. Vô minh là không rõ sanh diệt của năm uẩn, nó không biết sự tập khởi, chấm dứt của năm uẩn, nó cũng không biết về sắc. Chúng ta đã học Bảy trí về sắc, Bảy trí về thọ, Bảy trí về tưởng, Bảy trí về hành, Bảy trí về thức nên khi tâm không biết sắc, thọ, tưởng, hành, thức và không biết về sự tập hợp sanh khởi, đoạn diệt chấm dứt của năm uẩn mà nó không biết. Và nó cũng không biết về bản chất, bản tánh, sự cấu tạo, hình thành bộ máy vận hành, hoạt động, đó gọi là các hành nên sự vận hành của năm uẩn nó không biết. Chính vì sự không biết này nên gọi là vô minh, tức là không thấy, không biết nên nó mê đắm, tham đắm, say sưa. Vậy nên gọi là:

“Tâm mê làm ra cảnh,

Tâm gặp cảnh, càng mê.

Tâm ơi, đừng mê nữa!

Nhìn vào ngũ uẩn mau.

Bị dính vào cảm xúc,

Nên ái, dục, mạn, sân”

Tại sao lại có yêu thích, ham muốn? Tại vì tâm mê, không biết, nó không biết đó là bong bóng, là bọt nước, không biết là trong ly cam vắt đó có chất độc, nó tưởng là ngon, ngọt, thơm, bổ. Không biết nên mới gọi là vô minh. Chính vì không biết như vậy nên mới ưa thích, tham muốn, khao khát.

Tất cả những mong muốn, khao khát phải dừng lại ra sao thì nó phải làm, phải hành động để thực hiện, đuổi tìm, truy cầu, giành giựt, tranh đấu cho bằng được những điều đó nhưng đó cũng đều do tâm mê tạo ra. Tâm mê là tâm vô minh, tâm không thấy biết ngũ uẩn và không biết tính chất của ngũ uẩn là vô thường, tan nát, hủy hoại, hoại diệt, biến hoại, bọt bèo là giọt sương, mây khói, ảo ảnh như “bóng trong gương, trăng đáy nước”. Nó cứ nghĩ là đẹp, là bền, vững chắc, kiên cố, vững vàn nên mới là “Vạn tuế, vạn tuế, vạn vạn tuế!” Cứ tưởng là trăm năm, ngàn năm, vạn năm mà không biết tính chất bọt bèo, mây khói, hư ảo của năm uẩn.

Vì không thấy, không biết nên mới mê muội nên mới khao khát, yêu thích, thèm thuồng, say đắm, đuổi tìm, đeo bám, đeo dính rồi lại tạo ra bao nhiêu những thứ khác. Từ tham ái sanh ra mặt trái của nó là sân hận, thù hằn, chiếm hữu, mưu mô, mưu sĩ và tất cả những thứ đó đều là do tâm mê tạo ra hết. Như chúng ta thấy có người đi ăn cắp đồ của người khác rồi họ phải vào tù, vậy nên đó là tâm mê tạo ra cảnh tù đó. Tâm mê muội không sáng suốt, không nhận thức được nhân quả, không nhận thức được nghiệp báo, nó chỉ làm theo kiểu u mê, si dại thì nó ưa thích thì nó làm theo dục, tham, chính tâm mê đã tạo ra cảnh đó.

Trong đời sống bình thường cũng vậy, khi đã có gia đình nhưng lại có hình bóng của một người khác thì tâm mê tạo ra cảnh vợ chồng phân ly, con cái đau khổ, nhà tan cửa nát, phu thê chia lìa. Đó chính là “Tâm mê làm ra cảnh. Tâm gặp cảnh, càng mê.”

II. Nghiệp

Tất cả những thi vi, vận động, vận hành, làm việc là ở trong vô minh và tham ái. Từ trong vô minh, không thấy không biết rồi mới ưa thích, làm mọi thủ đoạn để đạt được mục đích, như vậy là tạo ra nghiệp.

“Nghiệp theo tâm tạo cảnh

Tâm ơi hãy tỏ tường.”

“Nghiệp theo tâm tạo cảnh” là nói về nghiệp cũ, khi gặp cảnh càng mê và tạo ra thêm nghiệp mới, rồi lại nhân đôi lên…Vốn nghiệp cũ là chưa kể. Nghiệp này đi theo tâm và tạo cảnh như vậy thì chính nó mê cảnh đó.

Ví dụ như một người họa sĩ vẽ ra được một người con gái rất đẹp nên yêu và tương tư với hình đó. Chính tâm anh ta tưởng tượng ra, vẽ ra rồi mê cả hình của anh ấy vẽ. Tâm thức của mình cũng như vậy. Hay anh ta vẽ ra hình của con quỷ, con ma rồi nửa đêm dậy thì anh ta sợ, đó là “Tâm mê tạo ra cảnh”.

Chúng ta có từng giống vậy không? Tự mình diễn ra rồi chính mình sợ, tự mình diễn rồi mình lại yêu thích, tự mình diễn ra rồi lại bực bội, tức tối, sân hận trong đó. Đó chính là “Tâm mê tạo ra cảnh”.

Một ngày chúng ta chỉ sống trong mộng, trong mê, trong chiêm bao dù là đang đi, đứng, nói, làm như vậy nhưng chạm tới là sân, bản ngã vương lên, chạm tới là bực bội, bức xúc, khó chịu, không thấy sự vận hành của các pháp duyên sanh, vô thường, khổ não, trống rỗng, mà chỉ thấy tôi, của tôi nên tuy là đi, đứng, nói cười nhưng chỉ là trong chiêm bao thôi, đó là lớp mộng thứ ba, gọi là mở mắt chiêm bao.

Chuyện hết sức là bình thường nhưng nó làm cho người ta khổ vô cùng, vô lượng. Chỉ nói qua nói lại chút là đập bàn, đập chén, đập tô, động tay động chân rồi lại gây ra những ác nghiệp. Nhưng tất cả chỉ là nói qua nói lại mà tâm bản ngã, tâm sân si, sân hận nên “Nghiệp theo tâm tạo cảnh”.

“Tâm ơi hãy tỏ tường!” là chúng ta kêu tâm của mình đừng mê nữa, tỉnh lại. Nếu nó thấy cái gì đó bực bội thì mình kêu “Thôi! Hãy tỉnh đi!” Nó thấy gì tham thì mình kêu “Thôi! Tâm ơi tỉnh đi!” hay nó thấy gì đó muốn hơn thua, mình cũng kêu “Thôi! Hãy tỉnh đi! Tỉnh đi tâm ơi đừng mê nữa! Đừng si, đừng dại khờ nữa!”

III. Khuyến tấn quán chiếu – tác ý

Một ngày nhắc nhở, dạy bảo, kêu réo nó cho nhiều lần nếu không tâm sẽ quen thói si mê, vất vơ vất vưởng đó rồi đi lang thang mà không biết gì. Thân ở đây mà tâm ở đâu, nói chuyện không biết, không nghe gì. Nói cái này thì nghe cái kia, dặn cái này thì nghe cái nọ, đó là tâm mê, vất vưởng, không tỉnh giác, chánh niệm. Tâm cứ lang thang, du lịch, nhất niệm thập phương du lịch, trong tích tắc mà đi khắp mười phương.

Chạy xa sống một mình

Không thân ẩn hang sâu

Ai điều phục được tâm

Thoát khỏi ma trói buộc.

Tâm không an trú

Không biết chân diệu pháp

Tịnh tính bị rúng động

Trí tuệ không viên thành.

(Kinh Pháp Cú)

“Chạy xa sống một mình” là tâm chạy xa, sống một mình nó và mặc tình tơ tưởng. “Ẩn hang sâu” là chỗ của nó u vi, tế nhị, khó thấy, không phải là tìm một hang rồi trốn vào đó, đây chỉ là ví dụ, tức là chỗ nó trốn rất khó tìm.

Tâm ơi, đừng mê nữa!

Nhìn vào ngũ uẩn mau.

Người trí là người luôn luôn quay lại, là bậc trí giả, suốt ngày họ luôn nhìn lại tâm của họ.

“Ai điều phục được tâm

Thoát khỏi ma trói buộc”

Người thợ mộc thì lo bào gỗ, người thợ tên thì làm tên, bậc Trí thì lo điều phục tâm mình. Nên người ngoài nhìn những người Trí giống như người khờ, họ không biết hay để ý gì ở ngoài nhiều nhưng lúc nào họ cũng để ý tâm, để họ tỉnh mộng, không bị mê, không bị tâm mê dẫn dắt, dẫn lối, dẫn đường.

Vậy nên bài thiền quán này chúng ta cần để ý thật kĩ để quán chiếu tu tập, thực hành.

Chúng ta cần nhớ “Một ngày nào đó thôi ngừng thở. Cuối cùng kiếp người cũng trắng tay.” Hãy nhớ hai câu này nhất là trong giai đoạn này. Mình hãy nhớ niệm hai câu trên để tâm của mình tỉnh, đừng hơn thua, tranh giành, tranh đấu những chuyện vô ích, không có ý nghĩa.

Vậy nên mình nói “tỉnh giấc mộng” ý nghĩa ra sao? Là khi mình đang nằm chiêm bao, giật mình dậy thì mộng tan. Khi trong tâm, tưởng uẩn sanh khởi hình bóng và mình tỉnh giác, nhận diện ngũ uẩn thì tưởng uẩn đó sẽ tiêu tan. Cần chánh niệm tỉnh giác và chỉ mặt nó “Mày là tưởng uẩn, là ảo ảnh, ảo tưởng. Hãy đi ra khỏi tâm ta.” Như vậy thì nó tan.

Trong cuộc sống, khi đi lại, tiếp xúc, làm việc mà sanh khởi lên những sự hơn thua, những sự tranh đấu với nhau thì mình chỉ cần tỉnh giác chánh niệm, mình biết thứ này là vô thường, không có ý nghĩa gì hết. Trong vô thường này thì ai hơn ai thua? Trong cái thấy chết này thì ai thắng ai bại, trong bộ xương này thì ai cao ai thấp, trong đống tro này thì ai đúng ai sai?

Tác ý như vậy thì mới tỉnh mộng, cái được mất, đúng sai, hơn thua sẽ tan biến trong sự tác ý đó, vậy thì mình được tỉnh trong lớp mộng thứ ba đó và trong những ham muốn. Ham muốn nặng nhất về dục ái là thân xác chính mình, sâu hơn nữa là thân kiến, kiến chấp về thân, giờ mình quán chiếu ra sao? Mình phải quán thân hành niệm và thường xuyên, liên tục một thời gian dài, nhiều tháng, nhiều năm, nhiều chục năm.

“Thân trống rỗng không ai trong đó. Tâm vào đây làm ổ chi tâm. Tâm vào đây làm tổ làm gì? Thân trống rỗng dễ tan vỡ lắm.”

Mình cần nhắc nó thường xuyên quán chiếu Tứ đại, Ba mươi hai thể trượt, Quán Tử thi, Quán Bộ xương, một đống tro tàn… Phải luôn thường quán chiếu để phá được thân kiến, kiến chấp về ảo ảnh, tự thân nên mới xuyên thủng được lớp mộng thứ tư là mộng luân hồi miên man, là những đời sau tiếp tục tạo thân xác ra nữa. Vì chính tham ái đi tìm hỷ lạc, yêu thích, vui sướng chỗ này chỗ kia thì đó chính là động cơ, là chỗ dựa của tái sanh ở đời sau.

Chúng ta thấy tất cả bốn lớp mộng này đều dùng Thánh trí ngũ uẩn và Thánh trí lậu hoặc để phá.

Tứ trung mộng cảnh là bốn lớp cảnh mộng này nếu hằng ngày chúng ta không chánh niệm tỉnh giác, không quán chiếu là mình ở trong mộng, trong chiêm bao thôi. Tuy là đi đứng, nói cười, làm như vậy nhưng tâm mê, không thấy pháp, không thấy ngũ uẩn, lậu hoặc, vô minh mà thấy một cái tôi, của tôi và chìm đắm trong cảm thọ đó, là vui sướng, đau khổ, trơ trơ. Nó cứ đeo bám bên trong đó, cứ ngu dại, si mê trong cảm giác trơ trơ đó. Nó không thức tỉnh trước luân hồi khổ đau, trước sự tan hoại, biến hoại, hoại diệt của các pháp.

Chúng ta nên nhớ để quán chiếu và tác ý thường xuyên, đừng để cho tâm mình vô chủ, chỉ một phút giây không có chánh niệm tỉnh giác thì chỉ là thây chết, hình nộm. Vì vậy phải luôn ở trong sự quán chiếu thân thọ tâm pháp, thường xuyên nhìn thấy thân này hoạt động như thế nào, cảm giác bên trong ra sao, có tham, sân, si bản ngã không? Các pháp đang vận hành trong đó là ác pháp hay thiện pháp? Có từ bi hỷ xả, có nhu hòa, có tàm quý không?

Thường xuyên nội quán, nội chiếu như vậy thì chúng ta mới thức tỉnh được bốn lớp mộng này. Nếu mình phá được lớp mộng trong sinh hoạt thường ngày, phá được vô minh, tham ái dần dần thì mới phá được mộng luân hồi miên man của những đời sau. Động cơ, chất liệu để tác thành hậu hữu bị chấm dứt, chất liệu để làm ra một đời tiếp tục ở mai sau, cần phải làm cho nó khô kiệt, suy hao, giảm thiểu và đi đến chỗ diệt tận.

Những cảm giác, hình bóng, suy nghĩ gì đua đòi, đeo đòi, đòi hỏi, tham đắm, nắm bắt, ràng buộc, giữ chặt, chấp thủ trong đó nên phải siêng năng tác ý, quán chiếu, dạy dỗ tỉnh thức. Và mình không tu rồi đến khi hết thời khóa thì lại đơ ra, gặp cảnh bèn duyên, gặp trần là dính. Ngọn đèn chánh niệm tắt tự bao giờ cũng không hay biết. Vì vậy, phải mở mắt tuệ, mắt pháp, đạo nhãn, trí nhãn, minh nhãn, minh kiến là phải thấy cho rõ, phải luôn nhìn bằng con mắt đạo, mắt pháp, mắt trí để nhìn thế gian này, nhìn đời sống, thân xác, hình hài và mọi sự vận hành trong thế giới này. Thấy giành giựt, đấu đá như vậy rồi lại thôi, không là gì hết, cuối cùng cũng là hai bàn tay trắng.

“Nghiệp bạn đường của ta”

Chúng ta quán chiếu mộng có bốn lớp là tứ trung mộng cảnh, thứ hai kế đến là tứ trung niệm tử, phá vô minh và tham ái đối với cuộc đời này. Thứ ba là chúng ta quán bạn đường.

Vậy thế nào là bạn đường? Là khi mình đi đâu thì nó theo mình tới đó, đó gọi là bạn đường. Chúng ta cứ tưởng thân nhất là với cha mẹ, vợ chồng, con cái, anh chị em, bà con… Nhưng thật sự không phải, thân nhất chính là nghiệp.

Như bóng với hình, như vang theo tiếng, bám theo sát gót chúng ta thì đó là nghiệp. Nghiệp ở đây được dùng từ “bạn đường” tức mình đi tới đâu nó theo tới đó. Bất cứ chỗ nào, dù là ở nửa vòng Trái Đất cũng đi theo tới, dù là xuống địa ngục cũng đi theo, lên thiên giới hay vào loài ngạ quỷ, súc sanh thì nó cũng đi theo, đó gọi là bạn đường. Nó cứ đi theo và bám sát gót mình.

“Ngoái lại nhìn sau trước

Nghiệp, bạn đường của ta.”

Nhìn đi nhìn lại, nhìn tới nhìn lui, nhìn hết tất cả rồi thì cuối cùng, nghiệp mới chính là bạn đường của mình. Ví như thầy Pháp An ra đi thì Minh Thành không thể đi theo thầy ấy mà là nghiệp thiện, nghiệp bất thiện có thể đi theo thầy ấy. Và nghiệp đó là chính do mình làm chủ và không ai tạo ra hay ban cho mình, ai hại mình là chính mình là chủ nhân của nghiệp.

Thân này là sự biểu hiện của nghiệp. Nghiệp trong quá khứ biểu hiện ra, Đức Thế Tôn từng nói: Này các Tỳ-kheo, mắt, tay, mũi, lưỡi, thân, ý này là nghiệp cũ. Những hành động gồm thân hành, khẩu hành, ý hành, những suy nghĩ, lời nói, hành động là nghiệp mới. Thân này là nghiệp cũ. Tức là kết quả của những lời nói, hành động, suy nghĩ trong quá khứ làm ra thân này.

Từ thân này rồi bắt đầu suy nghĩ, nói năng, hành động. Thì những suy nghĩ, nói năng, hành động bây giờ là nghiệp mới. Những nghiệp mới cộng với những nghiệp cũ tác thành thêm những nghiệp tiếp theo cho đời sau. Và nó lại tác thành ra “Nghiệp theo tâm tạo cảnh!” Nghiệp đi theo tâm để tạo ra cảnh tương ứng, tương thích, gọi là đồng thanh tương ứng, đồng khí tương cầu. Nó phù hợp với tâm thức, thói quen, sở thích đó.

Tại sao ngày nào người ta cũng uống cà phê được? Vì người ta thích và lúc nào trong nhà cũng có cà phê. Nếu là người không thích thì không uống cà phê. Như người thích nuôi chó lại có khi bị chó hại, như lúc trước có câu chuyện con chó vồ chết một người và ông chủ của nó cũng bị đưa vào bệnh viện.

Những thứ chung quanh người đó biểu hiện từ nghiệp, sở thích, thói quen của người đó vậy nên “Nghiệp theo tâm tạo cảnh”.

Đừng trách ai khi nhìn vào trong gương vì chính tâm tạo ra gương mặt như vậy. Nhìn vào thân tướng của mình cũng đừng trách ai hay nói “Tại sao ba mẹ sinh ra con xấu như vầy?” Đó là nghiệp ở quá khứ của mình như vậy nên mới ra tướng như vậy. Đó là “bạn đường”. Giờ cứ nói, nghĩ, làm đi rồi sau này nó lại đi theo. Mình muốn chọn một thân lành lặn, đẹp đẽ, tốt tươi, phước báu hay là muốn chọn thân tật nguyền, dị tật, dị hình, dị dạng, dị loại? Đồng loại là loài người, dị loại là súc sanh.

Vậy nên ý thức được điều này thì chúng ta phải hết sức cẩn thận với nghiệp. “Nghiệp đòi, nghiệp đeo” là nó cứ đòi, đeo theo mình, đeo bám theo, đeo dính theo, giống như lỗ tai cứ dính trên người mình. Và nó có nợ nên nó cứ đòi mãi. Nếu như đòi bên ngoài thì dễ hiểu nhưng đây là đòi từ bên trong, đòi và dẫn dắt thân mình phải đi theo, không cho mình ở tu, nó cứ đeo bám theo rồi đòi hỏi, đòi nợ.

“Tâm ơi, đừng mê nữa!

Nhìn vào ngũ uẩn mau.

Bị dính vào cảm xúc,

Nên ái, dục, mạn, sân

Nay chiếu soi năm uẩn

Gốc luân hồi phá tan.”

Chúng ta thấy toàn bộ sự tu hành của mình là dựa trên Thánh trí năm uẩn và Thánh trí lậu hoặc. Chúng ta phải nhớ đó là Thánh pháp, trí nhìn ra năm uẩn và trí nhìn ra được ở trong năm uẩn đó là tham, sân si, vô minh, bản ngã. Nếu không thành tựu trí huệ này thì sự tu của mình không đi đến hồi kết đúng như Đức Phật dạy là thấy được năm uẩn rồi sau đó thấy được lậu hoặc, cấu nhiễm mới giải quyết được vấn đề. Nên “Chiếu soi năm uẩn. Gốc luân hồi phá tan” là chiếu soi được năm uẩn thì mình mới phá tan được gốc của luân hồi.

“Nay chiếu soi năm uẩn

Gốc luân hồi phá tan.

Phá tan lòng tham ái,

Phá tan lòng sân, si

Phá tan lòng chấp ngã”

Chỉ mấy câu trên thôi nhưng đây là Bốn Thánh trí về ngũ uẩn và Bốn Thánh trí về lậu hoặc. “Nay chiếu soi năm uẩn” tức là Bốn Thánh trí về ngũ uẩn, “Gốc luân hồi phá tan. Phá tan lòng tham ái. Phá tan lòng sân, si. Phá tan lòng chấp ngã” là Bốn Thánh trí về lậu hoặc.

Sau khi thấy được ngũ uẩn thì mới thấy được tham ái, sân si, chấp ngã. Và khi đã nhìn thấy được rồi mới phá vỡ. Không thấy được ngũ uẩn thì làm sao thấy được lậu hoặc, không mở được cánh cửa thì làm sao bước vào nhà?

Vì vậy, tại sao chúng ta phải thực tập nhận diện ngũ uẩn vì nếu không nhận diện được ngũ uẩn thì không thấy được lậu hoặc và không thể nào thấy được dục, tham, ái, vô minh và bản ngã, điều đó không thể xảy ra. Chúng ta thấy là nhìn vào ngũ uẩn là cả một sự kiên trì, bền chí và nhiều khi mình nhìn thấy lậu hoặc nhiều quá thì mình chán, không muốn nhìn nữa. “Thôi xả ra đi cho thoải mái!” là xem như xong.

Vậy nên lúc nào mệt mỏi thì chúng ta thực tập an tịnh, lắng dịu, nhẹ nhàng thì khi khỏe lại chúng ta phải mở con mắt pháp, mở tuệ nhãn, đạo nhãn ra. Vì những vô minh, tham ái, chấp ngã là thâm căn cố đế, là trong xương trong tủy, trong da, trong thịt chúng ta nên khi nhìn lại thì lúc nào cũng thấy nó hết. Nhưng khi mình lên trình pháp đều là ngon lành, tức là mình chưa thấy được lậu hoặc, là mình còn yếu. Người tu khá là nhìn thấy các lậu hoặc. Càng nhìn thấy được nhiều lậu hoặc, cấu nhiễm thì người đó càng sắc bén, sáng tỏ chừng đó.

Vậy nên chúng ta tu mà chỉ tìm an ổn thì tu không thành tựu được, cứ muốn cho khỏe thân thôi rồi bắt đầu lại từ bỏ trí tuệ, trí tuệ năm uẩn, lậu hoặc, sống với sự hướng ngoại, sự buông lơi, buông lung, buông lỏng, buông thả, không còn hộ trì căn, không còn sự soi rọi vào bên trong để tẩy rửa nữa và mình chấp nhận đầu hàng. Tuy là hình thức tu nhưng tâm mình trở lại với phàm phu, không còn là một chiến sĩ, dũng sĩ trong đạo Phật nữa, đã bỏ cuộc chiến, dừng cuộc chiến, xuôi tay, buông vũ khí xuống. Như vậy thì chỉ có hình thức là tu, không phải là người tu thật sự.

Chúng ta từng học Căn bản trí số hai, bài kinh Sa môn, Tăng Chi Bộ Kinh tập một:

1. - Này các Tỷ-kheo, có ba hạnh Sa-môn cần phải làm này của Sa-môn. Thế nào là ba?

- Thọ trì tăng thượng giới học,

- Thọ trì tăng thượng tâm học,

- Thọ trì tăng thượng tuệ học.

Đây là ba hạnh Sa-môn cần phải làm của Sa-môn.

Do vậy, này các Tỷ-kheo, hãy học tập như sau: "Sắc bén sẽ là ước muốn chúng ta để thọ trì tăng thượng giới học. Sắc bén sẽ là ước muốn chúng ta để thọ trì tăng thượng định học. Sắc bén sẽ là ước muốn chúng ta để thọ trì tăng thượng tuệ học". Như vậy, này các Tỷ-kheo, các Thầy cần phải học tập.

2. Ví như, này các Tỷ-kheo, một con lừa đi theo sau lưng đàn bò nghĩ rằng: "Ta cũng là con bò, ta cũng là con bò", nhưng nó không có màu sắc giống như con bò. Nó không có tiếng giống như con bò. Nó không có chân giống như con bò. Tuy vậy, nó vẫn đi theo đàn bò, nghĩ rằng: "Ta cũng là con bò, ta cũng là con bò".

Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, ở đây Tỷ-kheo đi theo sau lưng chúng Tỷ-kheo, nghĩ rằng: "Ta cũng là Tỷ-kheo, ta cũng là Tỷ-kheo". Nhưng vị ấy không có ước muốn thọ trì tăng thượng giới học như các Tỷ-kheo khác. Vị ấy không có ước muốn thọ trì tăng thượng tâm học như các Tỷ-kheo khác. Vị ấy không có ước muốn thọ trì tăng thượng tuệ học như các Tỷ-kheo khác. Tuy vậy, vị ấy vẫn đi theo sau lưng chúng Tỷ-kheo, nghĩ rằng: "Ta cũng là Tỷ-kheo, ta cũng là Tỷ-kheo".

Do vậy, này các Tỷ-kheo, cần phải học tập như sau: "Sắc bén sẽ là ước muốn chúng ta để thọ trì tăng thượng giới học. Sắc bén sẽ là ước muốn chúng ta để thọ trì tăng thượng tâm học. Sắc bén sẽ là ước muốn chúng ta để thọ trì tăng thượng tuệ học". Như vậy, này các Tỷ-kheo, các Thầy cần phải học tập.

(Bài kinh Samôn, Phẩm Sa-Môn, Tập 1. Tăng Chi Bộ Kinh tập 1)

Vậy nên ngay cả người cư sĩ mà không chỉ nói về người xuất gia, là cần phải có ước muốn tăng thêm các đức hạnh, thiền định, trí tuệ. Không chỉ một năm một tháng mà là mỗi ngày mỗi giờ, mỗi ý niệm trong tâm mình là mình ước muốn và không hài lòng với những gì mình đang có. Mình ước muốn đức hạnh, giới đức của mình tăng thêm. Khi mình mặc áo giới, áo choàng của một người cư sĩ hay mặc áo của người tu sĩ thì trong lòng mình cần có ước muốn phát triển thiền định, trí tuệ thì đó mới là đệ tử của Đức Phật. Đến khi nào phát triển đến mức không còn chỗ để phát triển nữa thì lúc đó gọi là cứu cánh phạm hạnh.

Còn nếu mình chỉ được một chút thôi đã hài lòng, tự mãn thì mình sẽ đứng lại ở nơi thiền pháp, sẽ bị dừng lại, dậm chân tại chỗ. Vì vậy chúng ta cần thấy rõ chỗ đó để tu tập.

“Phá tan lòng tham ái” nhờ giới, “phá tan lòng sân, si” nhờ định, “phá tan lòng chấp ngã” nhờ tuệ thì lúc đó tâm mới thật sự bình an.

Trong bài này chỉ các câu này thôi đã tóm thâu hết tinh hoa của kinh Nikāya.

“Nay chiếu soi năm uẩn

Gốc luân hồi phá tan.

Phá tan lòng tham ái,

Phá tan lòng sân, si

Phá tan lòng chấp ngã

Tâm thật là bình an.”

Đây là lõi của kinh Nikāya, xương sống, yếu chỉ của Thánh pháp, là Thánh pháp tạng, lời dạy nguyên chất của Đức Phật.

Vậy nên khi mình đọc thiền quán thì không đọc lướt qua được, mà phải đọc tới lui, chiêm nghiệm, nghe và đọc rồi nghiền ngẫm trăm ngàn lần. Thì khi mình thật sự phá tan những tham ái, sân si, chấp ngã, gốc luân hồi thì lúc đó tâm mới thật sự là bình an.

Chưa phá tan được là chưa an, nhìn vào mà còn dục, ái, sân hận là còn bất an. Nhìn vào mà không thấy Thánh trí năm uẩn mà lại u mê, si dại thì đó là nguy nan, bất an. Nhìn vào mà thấy bản ngã còn là mình thấy còn nguy hiểm, chưa phá tan. Mà đã phá tan hết những cái đó rồi thì “Tâm thật là bình an”.

Cho chúng ta bình an từng phần, tức mỗi lần chiến thắng là mỗi lần bình an, ví như khi nó nổi lên mà mình nhiếp phục được thì mình thấy bình an. Sanh khởi lên mà mình đánh gục được là bình an, nó hiện hữu mà mình làm cho chấm dứt, đoạn tận, đoạn diệt được thì lúc đó mình thấy được sự bình an. Và mình siêng năng thì mình mới phá tan nó được, mình không siêng năng là nó vẫn còn và cứ sống qua ngày như vậy, không phải là một người tu chân chánh, chỉ có hình thức như vậy.

IV. Tâm an

Khi mình đã nhìn thấy được thì:

“Tâm an nhìn cuộc sống

Cảm giác thật nhẹ lòng

Tâm không còn dính mắc,

Hai mặt của cuộc đời.”

Khi tâm an nhìn cuộc sống thì nó nhẹ tênh vì tham ái, sân si, chấp ngã không còn. Giờ tâm bình an nhìn thế giới, nhìn cuộc sống này thì “Cảm giác thật nhẹ lòng. Tâm không còn dính mắc. Hai mặt của cuộc đời.” Là không còn dính mắc đúng sai, thắng bại, được mất, khen chê, vinh nhục, ta người, cao thấp, nhân ngã, tham sân… Tất cả đều không còn dính mắc nữa.

“Bất chợt miệng mỉm cười,

Nụ cười trong an lạc,”

Nụ cười trên là của một người đại viên mãn, đại giác, tức là bừng tỉnh cơn mê, phá được tứ trùng mộng cảnh. Bốn lớp mộng đều phá tan, lúc đó người này là đại giác ngộ. Khi đã đại giác ngộ thì:

“Bất chợt miệng mỉm cười,

Nụ cười trong an lạc,

Nhẹ nhàng cùng gió mát,

Hạnh phúc của tâm an.”

Tâm bây giờ nhẹ như gió vì không còn vướng mắc gì nữa, đối với ngũ uẩn, tứ đại, sáu căn, sáu trần, sáu thức, đối với mười tám giới, mười hai xứ… Tất cả đều không còn dính mắc nữa.

Đây là nơi đại an ổn của người tu.

“Tâm an và rộng mở,

Tâm chẳng động theo duyên,

Tâm không còn điên đảo,

Tâm dễ chịu làm sao.”

Tâm bình an rộng mở cùng khắp vô lượng, vô biên vì đã phá thân kiến chấp thủ. Nếu còn thân kiến thì còn làm hang, làm ổ, làm tổ trong thân này, trong thọ tưởng hành thức. Khi nó phá vỡ hết cả năm thủ uẩn thì lúc đó nó vô lượng, không còn bị hạn chế, giới hạn trong sắc uẩn này nữa, trong những cảm giác, hình bóng, suy nghĩ, nhận thức và trở thành tâm bất động, đó là “Tâm chẳng động theo duyên”.

Tất cả những gì đến đều không làm tâm dao động được, bất động tâm giải thoát. “Tâm không còn điên đảo. Tâm dễ chịu làm sao.” Điên đảo là lộn ngược, lấy đầu làm đuôi, lấy đuôi làm đầu, lấy trắng làm đen, lấy đen làm trắng, lấy đúng làm sai, lấy sai làm đúng. Điên đảo gồm có tâm điên đảo, kiến điên đảo, tưởng điên đảo trong kinh Nikāya. Tâm nhìn nhận lộn ngược, tưởng lộn ngược và thấy biết cũng lộn ngược.

Vậy nên mộng mới tưởng là thật, vô thường cho là thường, khổ cho là vui, bất tịnh mà lại cho là sạch đẹp, vô ngã, trống rỗng mà cho là có ngã. Đó là tứ đảo – bốn sự đảo lộn sự thật. Ngũ uẩn này là vô thường mà nó cho là thường, khổ đau mà nó nhìn thấy cho là vui sướng, vô ngã, trống rỗng, trống không, hư ảo, tan biến mà nó cho là thường còn, bền chắc, thường trú, thường trụ. Bất tịnh, nhơ nhớp thì nó cho là sạch sẽ, đẹp đẽ. Đây gọi là tứ đảo, bốn sự điên đảo của tâm.

Nếu tâm không còn điên đảo, thấy được tính chất vô thường, khổ vô ngã, bất tịnh của ngũ uẩn thì tâm sẽ không còn điên đảo nữa và “Tâm dễ chịu làm sao”. Tâm chứng ngộ được pháp tánh, bản tánh của các pháp, về sự thật của năm uẩn đã được chứng ngộ.

“Bất chợt miệng mỉm cười,

Nụ cười trong an lạc,

Nhẹ nhàng cùng gió mát,

Hạnh phúc của tâm an.”

“Nhẹ nhàng cùng gió mát”, cùng mưa rơi, chim hót, trúc lay là hạnh phúc của tâm bình an.

“Tâm an và rộng mở,

Tâm chẳng động theo duyên,”

Khi sáu căn tiếp xúc với sáu trần, sanh ra mọi cảm thọ thì tâm đều không dao động, bất động, không bị các thọ làm cho dao động, động chuyển. “Tâm dễ chịu làm sao” là điều cần muốn, phải muốn và cố gắng làm cho được.

“Tâm an và rộng mở,

Tâm chẳng động theo duyên,

Tâm không còn điên đảo,

Tâm dễ chịu làm sao.”

Đến đây gọi là “Hồng trần nhẹ gánh chơi ba cõi. Mọi niệm tùy duyên độ chúng sanh.” Tức là đã đặt được gánh nặng xuống, thấy duyên thì độ, thấy người khổ thì giúp, tâm hoàn toàn không còn dao động nữa.

Như vậy chúng ta đã học qua bài thiền quán Tâm ơi đừng mê nữa qua bốn buổi tu tập. Quý Phật tử có thấy hạnh phúc, an lạc không?

93:00-111:00: Phật tử trình pháp.

Kính chúc quý vị Phật tử có giấc ngủ an lành trong pháp.