Thư Viện Linh Quy
← Danh sách

ÁI DỤC 2 - Nguy Hại Và Sự Xuất Ly 1

2026-03-03 00:53:10
Kinh NIKAYA Giảng Giải

Ái Dục 2 - Vị Ngọt

Nguy Hại Và Sự Xuất Ly 1

Thích Minh Thành

MỤC LỤC

TOC \o "1-3" \h \z \u I. Cốt lõi tu hành - Nhiếp phục dục và tham PAGEREF _Toc84841584 \h 1

II. Tác ý PAGEREF _Toc84841585 \h 5

III. Dục ách PAGEREF _Toc84841586 \h 7

I. Cốt lõi tu hành - Nhiếp phục dục và tham

Kính lễ ân đức Thế Tôn,

Kính lễ ân đức Chánh pháp

Kính lễ ân đức chúng tăng

Kính lễ ân đức đạo sư

Kính lễ Thánh giới.

Kính bạch chư tăng ni và tất cả quý Phật tử, chúng ta tiếp tục tìm hiểu chuyên đề về dục. Chúng ta đã trích một đoạn ngắn trong bài kinh Một pháp môn quyết trạch và phần tiếp theo:

“Và này các Tỷ-kheo, thế nào là các dục đoạn diệt?

Xúc đoạn diệt, này các Tỷ-kheo là dục đoạn diệt. Đây là con đường Thánh đạo tám ngành đưa đến các dục đoạn diệt. Tức là chánh tri kiến, chánh tư duy, chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng, chánh tinh tấn, chánh niệm, chánh định.

Khi nào, này các Tỷ-kheo, vị Thánh đệ tử rõ biết các dục như vậy, rõ biết các dục sanh khởi như vậy, rõ biết các dục sai biệt như vậy, rõ biết các dục dị thục như vậy, rõ biết các dục đoạn diệt như vậy, rõ biết con đường đưa đến các dục đoạn diệt như vậy, khi ấy, vị ấy được rõ biết Phạm hạnh thế nhập này như là các dục đoạn diệt.

Này các Tỷ-kheo, cần phải biết các dục... cần phải biết con đường đưa đến dục đoạn diệt, đã được nói như vậy. Chính do duyên này, đã được nói như vậy.”

Tức là: “Rõ biết các dục như vậy” là trí tuệ thứ nhất. “Rõ biết các dục sanh khởi như vậy” là trí tuệ thứ hai. “Rõ biết các dục sai biệt như vậy” là trí tuệ thứ ba. “Rõ biết các dục dị thục như vậy” là trí tuệ thứ tư. “Rõ biết các dục đoạn diệt như vậy” là trí tuệ thứ năm. Đó là năm trí, năm sự thấy biết thấu đáu triệt để, chính xác, xác quyết về các phương diện của dục, tham, ái.

Và “khi ấy, vị ấy được rõ biết Phạm hạnh thế nhập này như là các dục đoạn diệt.” Khi nào một người tu tu hành được năm loại trí tuệ này một cách đầy đủ, thấu đáu thì người ấy được rõ biết sự thể nhập vào đời sống trong sạch, thanh tịnh, phạm hạnh này là sự chấm dứt của tất cả các dục, tham, ái đối với ngũ uẩn. Chính vì lý do này nên Như Lai đã nói như vậy.

Chúng ta chiêm nghiệm về các dục đoạn diệt tức là sự chấm dứt các tham muốn, yêu thích, dục ái đối với sắc, thanh, hương, vị, xúc. Nói rộng ra là về pháp, Đức Phật nói là sáu ái như chúng ta đã học trong Căn bản trí về sáu pháp: sắc ái, thanh ái, hương ái, vị ái, xúc ái, pháp ái, là tâm tham ái đối với sắc, chữ sắc này bao trùm cả Trái Đất này. Tâm yêu thích đối với tiếng, âm thanh, đối với mùi, vị, đối với sự tiếp xúc, đụng chạm, đối với thọ, tưởng, hành, cảm giác, nghĩ tưởng bên trong.

Đến khi nào mà tâm yêu thích đó chấm dứt, lúc đó là thể nhập phạm hạnh, cứu cánh thanh tịnh. Chính vì vậy, Ngài Xá-lợi-phất có một nhóm các vị Tỳ-kheo chuẩn bị đi xa, đến chào Đức Phật và xin phép Đức Phật. Khi đó Đức Phật hỏi là có đến từ giã Ngài Xá-lợi-phất hay chưa thì họ đáp là chưa. Thế Tôn mới bảo họ đi qua từ giã Ngài Xá-lợi-phất. Họ qua từ giã thì Ngài Xá-lợi-phất mới hỏi là các vị đó đi đường xa như vậy, nhiều nơi như vậy, những nhà hiền triết, trí thức, các nhà nghiên cứu, bác học, các vị tu sĩ, tu hành hỏi là “Đức Thế Tôn, bậc đạo sư, thầy các ông dạy cái gì?” thì các ông ấy sẽ nói ra sao? Tức là có người hỏi Thế Tôn, bậc đạo sư, tôn giả Gotama hướng dẫn cái gì? Dạy dỗ cái gì, yếu chỉ, trọng điểm, trọng tâm, cốt lõi, hồng tâm là gì? Khi đó các vị đó trả lời ra sao?”

Sau đó các vị Tỳ-kheo đó nói “Xin Tôn Giả nói lên, chúng tôi sẽ nghe và thọ trì.” Câu trả lời quan trọng nhất của Ngài Xá-lợi-phất là: “nhiếp phục dục tham và đoạn tận dục tham, đó là yếu chỉ và tông chỉ, cốt lõi của giáo pháp mà Đức Thế Tôn, bậc đạo sư đã dạy.”

“Vị ấy được rõ biết Phạm hạnh thế nhập này như là các dục đoạn diệt” cũng là thể hiện qua câu nói trên. Tức là các ham muốn đối với năm dục trưởng dưỡng, sáu ái, ngũ uẩn, tứ đại này đã bị chấm dứt hết, không còn. Lúc đó cũng là lúc thể nhập phạm hạnh, tức là lúc thành tựu cứu cánh phạm hạnh, sự tu hành tối cao đã được thành tựu, nhờ sự đoạn diệt các dục.

Đó là chúng ta thấy được hướng để mà chúng ta tu hành, nhiều khi hỏi mình cốt lõi của sự tu, học cái gì, tu làm sao, mục đích của sự tu là đi đến đâu, điểm nhắm, đích đến là gì? Mình cứ ngơ ngơ, trơ trơ không biết mà chỉ nói là giải thoát, thoát ra khỏi dục, tham, ái, năm dục trưởng dưỡng, sáu ái, ngũ uẩn, để thoát lòng yêu thích, tham mê, dính mắc, nắm giữ bên trong.

Sau này chúng ta sẽ được học dần dần, chúng ta sẽ thấy được những cái dục, tham, ái này rất ghê gớm, khủng khiếp, kinh hãi, vây bủa, vây hãm trong đời sống chúng ta, bao vây thế giới này mà chúng ta không hay, không biết gì. Vậy nên như hôm qua chúng ta đã nói “Nhận tham sân làm bạn” tức là nhận kẻ thù làm người yêu, người thương, người thân. Như thế nên chúng ta đau khổ lâu dài.

Tiếp theo, thế nào là chánh tri kiến đối với các dục? Chúng ta nên nhớ Bát Chánh Đạo rất tuyệt diệu ở chỗ: hễ đặt vào chỗ nào thì nó sẽ có sức công phá pháp đó. Ví dụ thấy đúng về sân là khác, thấy đúng về tham dục là khác, thấy đúng về si mê là khác, thấy đúng về vô minh là khác nhau. Vậy nên đưa Bát Chánh Đạo đến đâu thì sẽ soi sáng đến đó, thông suốt, phá vỡ đến đó. Khi chánh kiến đưa vào dục ái, sự thấy đúng này sẽ phá vỡ cái thấy sai về dục.

Thấy sai về dục là cái thấy vui sướng, đẹp đẽ, sạch sẽ, tồn tại lâu dài, thấy cái vui đó có thật, là bền lâu, là tươi thắm, tươi đẹp, là tà kiến, nhìn sai lầm, nhận định lầm lạc về năm dục trưởng dưỡng về bên ngoài lẫn bên trong.

Đối tượng mà mình tham muốn và cái tham muốn đều là vô thường. Món đồ mà mình yêu thích nó có còn được vậy hoài không? Hay là nó biến hoại, biến đổi, tan hoại? Cảnh mà mình ưa thích, bị dính mắc, trói cột trong đó thì có được như vậy hoài không? Hay như câu hát “nay tôi trở về thăm trường cũ, mái ngói rêu phong, bạn cũ không còn”? Lúc xưa ở ngoài đời thì nhớ trường, nhớ lớp, nhớ bạn giờ vào chùa tu thì nhớ chùa, nhớ trường Phật học, đều có các hình thức nhớ khác nhau.

Lúc xưa có bạn giờ vào chùa thì là sư huynh đệ, chỉ là đổi cách gọi nhưng thực chất vẫn là vậy. Tất cả những thứ đó là sắc ái, sự yêu thích những cảnh sắc đó, sâu vào trong nữa là sắc tưởng, là mình yêu thích những hình bóng còn đọng lại trong tâm về cảnh vật, món đồ, con người đó.

Chúng ta thấy như cảnh, món đồ ở ngoài, con người ở ngoài đó là vô thường, biến đổi mà mình lại không muốn sự biến đổi đó, khi gặp lại mà những thứ đó biến đổi thì mình lại thấy đau xót. Ví dụ như người bạn của mình khi gặp lại thì đã nằm một chỗ, thấy như vậy thì tim mình cảm thấy đau xót, nếu là bạn thân hay người yêu thương thì nó đau nhói, nước mắt tuôn ra, không chấp nhận được.

Vì trong suy nghĩ là nó giống như lúc xưa, xưa gặp ra sau thì hai mươi năm sau gặp cũng y như vậy, giờ nếu gặp khác thì không chấp nhận được. Vì tâm cứ cho là thường hoài, nó không biết rằng đó là vô thường, nên khi gặp lại vô thường, đổi thay thì nó bàng hoàng, chua xót, xót xa, đau đớn, nước mắt giàn giụa. Nghĩ rằng mới ngày nào còn vui chơi, học đùa như vậy mà giờ nằm bán thân bất toại như vậy thì mình đau đớn, xót xa, khổ.

Chánh kiến ở bên trong là để mình nhìn thấy đối tượng mà mình tham muốn, những cái bên trong mà suy tư, tư duy, tham ái, những cảm giác, hình bóng… tất cả đó là vô thường, khổ, vô ngã, bại hoại, tan nát, đổ vỡ, bất an.

Thấy được tất cả dục và tâm ham muốn dục đó, tất cả cái đó không như vậy mãi mà bị biến đổi, rã tan. Như món đồ gốm thì tánh bể đã nằm bên trong món đồ đó, dù cho nó được nung trong lò hay còn là đất sét thì tánh bể ở trong món đồ gốm đó. Còn nếu chúng ta nhìn thấy nó còn như vậy mãi thì cứ vui sướng, đó là cái nhìn tà kiến đối với dục, là cái nhìn sai, không đúng.

Mình suy tư dục là tai họa, mình chạy theo nó thì mình sẽ đau khổ nhưng cuối cùng cũng là đuổi hình bắt bóng, chụp các bong bóng, chạy bắt khói sương. Chúng có thể tan biến bất cứ lúc nào, bất cứ ở đâu, những suy nghĩ của mình là suy nghĩ ly dục tư duy. Tất cả những suy nghĩ giúp cho mình rời xa tham muốn, yêu thích thì suy nghĩ đó là nghĩ đúng, là chánh tư duy. Khi mình nói những lời đúng về tính chất, bản tánh của dục là như vậy, không thể vượt khỏi tính chất ấy. Đó là mình nên nói những lời chánh ngữ như vậy về dục. Không thể nói đó là mãi mãi, vĩnh hằng, đó gọi là chánh ngữ.

Như hôm qua chúng ta có nói về chánh nghiệp, chánh mạng, những hành vi của mình thì mình làm cái gì để đưa đến sự rời xa nó, ly tham, đoạn dục, dẫn đến sự đoạn diệt các dục, đó gọi là chánh nghiệp – sự thấy đúng về dục, nghĩ đúng về dục, nói đúng về dục. Mỗi việc làm của mình đều nhằm mục đích để mình viễn ly các dục, rời xa các dục, nhàm chán các dục, từ bỏ các dục, đoạn tận các dục.

Ngay trong nghề nghiệp của chúng ta cũng vậy, mình không vì dục vọng, tham muốn, lợi ích, ích kỷ của mình mà mình lại làm những nghề tổn hại như bán rượu, bán thịt, bán vũ khí, bán người, bán chất độc. Không vì sự ích kỷ, tham muốn, tham dục, tham ái của mình, phục vụ cho dục vọng của mình, cái ham muốn, ưa thích, sung sướng, hả hê, thỏa mãn trong ham muốn của mình mà mình làm ra điều gây nên tội lỗi, đó là chánh mạng của dục, phải sống đúng, siêng đúng, quán đúng, định đúng. Mình siêng năng về tất cả sự siêng năng, cố gắng, nỗ lực, tứ chánh cần, tứ như ý túc, sự tinh cần, tinh tấn nhằm để đoạn diệt các dục, đó gọi là chánh tinh tấn, gọi là siêng đúng. Chúng ta nhìn lại mình có suy nghĩ siêng năng, cố gắng nỗ lực để phát huy ham muốn không?

Quán đúng, quán xét dục là ung nhọt, ham muốn này là ung nhọt, mũi tên, tai họa, bất hạnh, bệnh hoạn là ràng buộc, trói trăng, khổ đau, trúng tên độc, là hố than hừng… Quán xét như vậy gọi là chánh quán, chánh niệm, xét đúng, như lý tác ý như vậy mãi thì sẽ đưa đến sự nhàm chán, rời xa, từ bỏ, đoạn diệt.

II. Tác ý

Một ngày nhìn lại thì chúng ta chánh tư duy về dục được bao nhiêu tiếng? Vậy nên phải siêng năng tác ý, suy nghĩ, động não, tư duy. Như Đức Thế Tôn nói, những tư duy, tham ái là dục của con người, giờ mình chỉ thêm chữ không, lìa vào thì đó là ly dục. Những tư duy lìa tham ái là chánh niệm, là những suy nghĩ ra sao để mình rời, mình từ bỏ nó, nhàm chán, chấm dứt, đoạn diệt thì suy nghĩ đó là suy nghĩ đúng, chánh tư duy, chánh quán, chánh niệm.

Những suy nghĩ này được rèn tới rèn lui, nghĩ đi nghĩ lại, nuôi lớn, tăng trưởng, phát triển như vậy thì trở thành tuệ lực, sức mạnh của trí tuệ, của chánh niệm, niệm lực, có khả năng đào xới, chặt đứt, bứng gốc, năm nát, thiêu đốt, thiêu cháy, tan hoại do sự suy nghĩ sắc bén này. Đó là tác ý.

Trong kinh Nikāya Đức Phật từng dạy, “các vị Tỳ-kheo cần tuệ tri như sau, suy nghĩ như sau, quán chiếu như sau, chánh quán như sau” đó là cách để tác ý, phía sau là Đức Phật chỉ mình tác ý.

Vậy nên mình đưa Bát chánh đạo vào sự đoạn diệt dục, không phải Bát chánh đạo mà mình lại học theo máy móc, chữ nghĩa, mà là tất cả những cái gì đối với tham, sân, si, dục ái, vô minh, bản ngã. Mình đưa vào là nó có sức công phá, chánh kiến phá tà kiến, thấy đúng phá cái thấy sai, hiểu lầm về dục, nghĩ đúng phá cái nghĩ lầm, nghĩ sai về dục, nói đúng phá cái nói lầm, nói sai về dục. Hành động đúng phá hành động lầm, sai quấy về tham, ái.

Sự sống đúng, làm nghề nghiệp đúng phá làm nghề nghiệp sai để nuôi mạng này. Sự siêng đúng dẹp bỏ, trừ khử sự siêng năng, sai lầm. Sự quán xét, tư duy, tác y đúng phá, đập, diệt tận những suy nghĩ, tư duy, nghĩ nhớ theo dục, theo ái, theo tham, theo ngu si, mê muội, từ chỗ suy nghĩ đúng thì tâm yên định đúng, chân chánh. Nếu không, là tà định là ngồi yên để mong được làm gì đó “Tôi ngồi yên vậy thì tôi xuất hồn. Sau này tôi bay lên. Tôi ngồi đây và sau này được khen, được danh tiếng, được người ta nể.”

Ví như mọi người xả thiền và mình cứ ngồi yên như vậy mãi, ngồi thêm một, hai tiếng sau mới xả ra sau đó thì thấy mình tốt hơn mọi người. Như vậy thì gọi là tà định, sự định tâm để nuôi lớn bản ngã, cái tôi, thể hiện mình nên chúng ta mới thấy được tà định là các người ngoại đạo, những người muốn xuất hồn… Nhưng thật ra, chỉ cần nhích một chút thôi. Một suy nghĩ sai, một cảm thọ mà không có chánh kiến, một tưởng lầm thì rơi vào sự định tâm sai cách.

Như lúc xưa chúng ta học thì nghĩ tà định nghe qua rất ghê gớm, chắc là những người luyện những phép, bùa chúa nhưng thật sự chúng ta ngồi thiền rất nhiều nhưng để ngồi thiền chánh định thì thật sự rất hiếm. Ngồi để thấy yên thân, yên ổn, cho khỏe, cho mình đạt được cái gì đó bên trong đó, để mình được nhẹ nhàng, an tịnh. Những cảm thọ mình thấy là mình yêu thích trong đó, nó dính vào trong hết. Mình định tâm để có được sự bình tĩnh, sáng suốt, cái nhìn thấu đáo để mình diệt tận tất cả các dục, đó là chánh định, lúc đó mới đưa đến cứu cánh phạm hạnh, thể nhập phạm hạnh, đưa đến đoạn dục ly tham.

Tại sao chúng ta cứ chĩa thẳng vào dục, tham, ái này? Vì chính nó làm cho mình khổ. Giờ mình muốn hết khổ mà mình lại không biết mặt nó, không hiểu về nó, không rành về nó, không biết cấu tạo của nó, sanh khởi, vận hành, hoạt động, sự xâm chiếm, áp đảo, chi phối, khống chế, hành hạ, đày đọa thì làm sao mình có thể hạ gục, nhiếp phục, diệt tận nó được? Và nếu mình không hạ gục, nhiếp phục, diệt tận nó thì làm sao mình hết khổ?

III. Dục ách

Giờ chúng ta thử suy nghĩ cái khổ của mình từ đâu? Là muốn mà không được. Tất cả cái khổ này mình muốn nó mà không được và chữ muốn tiếng Hán là dục. Muốn gồm năm đối tượng: sắc, thanh, hương, vị, xúc. Ngoài đó ra không còn gì khác nữa, chỉ có pháp nữa là trùm hết cả vũ trụ.

Và nếu muốn không được thì sao? Được thể hiện qua một đoạn của bài kinh Các ách trong Tăng Chi Bộ kinh tập một. Chúng ta sẽ tìm hiểu về dục ách, tức cái ách đè nặng mình, quấn vào đầu, vào cổ mình như con trâu trồng vào đầu cái cày. Nên nó mang cái ách như vậy thật nặng nề, nhọc nhằn, mệt mỏi. Cũng vậy, chúng ta bị tròng ách vào đầu, vào cổ, vào vai, vào người, đi đâu cũng kéo theo.

“Và này các Tỷ-kheo, thế nào là dục ách?

Ở đây, này các Tỷ-kheo, có hạng người không như thật quán tri sự tập khởi, sự chấm dứt, vị ngọt, sự nguy hại, sự xuất ly các dục. Do như không thật quán tri sự tập khởi, sự chấm dứt, vị ngọt, sự nguy hại, sự xuất ly các dục, nên dục tham, dục hỷ, dục luyến, dục đam mê, dục khát, dục não, dục chấp thủ, dục ái trong các dục chiếm đóng và tồn tại. Này các Tỷ- kheo, đây gọi là dục ách.”

(Bài kinh Các ách – I. Phẩm Bhandagàma – Chương Bốn pháp

– Kinh Tăng Chi Bộ tập một)

Đây là các ách ái dục, tham dục, dục vọng đè nặng trên đầu, trên vai, trên cổ. Tại sao người này không như thật quán tri? Như thật quán tri là thấy biết, quán xét đúng sự thật. Vì người này không thấy biết, quán xét đúng sự thật nên người này làm cho nó đè nặng xuống, đè đầu cưỡi cổ mình, bắt mình làm nô lệ, nô tì, nô bộc, nô dịch, nô tài, cung phụng, hầu hạ, phục dịch cho nó suốt đời suốt kiếp, chết rồi sanh ra rồi lại sanh rồi tử… Vĩnh viễn như vậy hoài nên mình thành kẻ nô lệ, làm đầy tớ, nô tì, nô bộc, nô lệ, nô tài cho nó, vậy nên gọi là dục ách.

Như con trâu mang cái cày, mình bị dục này giống như cái ách đó tròng vào người mình, đi đâu cũng mang nặng nề như vậy, kéo lê khiến cho nhọc nhằn, vất vả, mệt mỏi, đau khổ như vậy làm mình không được tự do, khi mình gỡ được ách này ra thì lúc đó mới thong dong, tự tại, thảnh thơi.

Tại sao chúng ta lại bị các ách: “dục tham, dục hỷ, dục luyến, dục đam mê, dục khát, dục não, dục chấp thủ, dục ái trong các dục chiếm đóng và tồn tại”? Vì chúng ta không thật sự thấy biết và quán xét đúng về sự sanh khởi, chấm dứt của dục, về vị ngọt, sự nguy hại, sự thoát ra, xuất ly khỏi dục, đây là năm trí tuệ.

Chúng ta thấy bao nhiêu trí tuệ Đức Phật chứng ngộ, thành tựu, để Ngài truyền trao lại cho mình, mà tại sao người không có sự thấy biết này thì người đó không gặp Như Lai, đệ tử của Như Lai, không gặp chánh pháp nên làm sao thấy biết, quán được những điều này? Nên dục duyên khởi là do xúc, sự tiếp xúc sanh khởi nên mới có được sự tham muốn. Dục đoạn diệt, chấm dứt là do xúc đoạn diệt và con đường đưa đến xúc đoạn diệt là Bát Chánh Đạo, tám đúng.

Vì người này không quán chiếu, không biết được dục sanh ra sao, không biết làm sao để dục diệt, luôn ở trong vô minh, vô tri, vô trí nên bị dục đè nặng, đè đầu, cưỡi cổ.

“Về vị ngọt, sự nguy hại, sự thoát ra, xuất ly khỏi dục” Vị ngọt của dục làm chúng ta nhớ về câu chuyện một người bị con voi rượt đuổi làm lọt xuống hố, chụp được sợi dây leo nhưng nhìn lên thấy có hai con chuột trắng, chuột đen gặm sợi dây bên dưới là bốn con rắn độc phun nọc độc. Trong cơn hoảng loạn, nguy cấp như vậy, người này bất thình lình có năm giọt mật rơi từ trên xuống và nếm được làm tê, phê mà quên đi hết nguy hiểm sợ hãi. Con voi dữ thì chỉ sự vô thường vì nó đang đuổi, đang rượt mình.

Như chúng ta thấy một ngày qua mau không? Một tháng qua nhanh không? Mới đây mà đã bốn tháng mình ở trên núi, dịch bệnh đã kéo dài gần hai năm. Đó giống như con voi dữ của vô thường rượt mình chạy. Nhớ ngày nào mình còn tung tăng, vui đùa mà hôm nay đầu đã bạc, đó thể hiện hình ảnh con voi dữ, vô thường rượt đuổi mình. Hai con chuột trắng, chuột đen gặm sợi dây sinh mạng của mình là ngày và đêm. Bên dưới là bốn con rắn độc sanh già bệnh chết, sanh lão bệnh tật là tứ đại.

Đức Phật ví dụ tứ đại như bốn con rắn độc, cả bốn con cũng không hợp nhau mà chạy, chống nhau. Con rắn lửa không hợp với con rắn nước, rắn đất cũng không hợp với con rắn gió, cả bốn con cứ mổ, chống, cự nhau, chiến đấu với nhau. Chỉ cần con này mổ con kia làm nó yếu sức nằm xuống thì xem như xong.

Như trong người mình từ đất, nước, gió, lửa mà cái nào mạnh hơn thì như lửa mạnh hơn thì làm sốt bốn mươi độ. Thời điểm này thì sao? Đó là tứ đại, bất hòa. Bốn con rắn để chỉ tứ đại, sanh già bệnh chết, sanh lão bệnh tử, trong bốn đại này chống đối với nhau. Vậy nên đang trong sự kinh hãi, huy hoàng, hoảng hốt, bất an như vậy mà năm giọt mật bên trên rơi xuống và hứng lấy thì đã quên hết nguy hiểm, tai họa, khổ đau. Đó gọi là vị ngọt của dục. Chỉ một chút đó mà chết một đời, trăm đời, ngàn đời, vô lượng, vô biên kiếp.

Vậy nên khi chiêm nghiệm lại thì chúng ta rất khổ với vị ngọt này. Ví như giờ món đồ ăn rất ngon, khi nhai và nuốt qua khỏi cổ thì nó thành những gì? Hay khi ăn rồi bị trúng thực thì bị ói ra, hay thậm chí như những người say xỉn khi ói rất nhiều thì mùi bay ra có dễ chịu không? Khi nãy là món đồ ngon, thơm, bổ giờ thì chỉ cần nghe đến ói là cả thọ, tưởng, hành của mình thấy rùng rợn rồi. Đó là sự nguy hại của dục, bản tính, bản chất của nó nhưng chúng sanh lại ưa thích vị ngọt mà không quán chiếu, thấy biết một cách sâu sắc về tính chất nguy hiểm và tác hại của nó. Cứ lao theo, tơ tưởng, suy nghĩ về vị ngọt đó cứ say đắm trong những ảo tưởng của vị ngọt, những cảm giác ngọt ngào đó, mật ngọt chết ruồi.

Ví như ngồi mấy trăm cây số, được đưa đi tham quan một vòng chỉ trong mười phút rồi lại chạy tiếp nữa, cũng chỉ chụp hình trong mười phút rồi lại đi tiếp. Nhưng như vậy thì chúng ta phải thức khuya, dậy sớm, giành chỗ, sân si với nhau để rồi đi đến đó được một chút như vậy. Đó là một chút của vị ngọt.

Đến vị ngọt của tình ái thì được bao nhiêu để rồi sau đó là bao nhiêu những đắng cay, bao nhiêu sự hành tội với nhau.

48:00- 56:00: Thầy Pháp An trình pháp.

Như vậy, chúng ta cần cố gắng diệt được dục đó để thoát ra thì dần dần sẽ đi đến kết quả, vì mình diệt không được vì mình chưa biết cách, giờ thì Đức Phật dạy cho mình đúng cách thì dần dần mình sẽ nhiếp phục được và sẽ đi đến chỗ đoạn diệt.

Vậy nên phần đông là bị đam mê trong vị ngọt mà không quán tính chất nguy hiểm, tác hại nên sự xuất ly, thoát ra khỏi các dục là cực kì khó khăn và hiếm hoi. Các bậc Thánh, Đức Thế Tôn, các bậc A-la-hán, các bậc Bốn đôi Tám chúng, Hiền thánh đã thành tựu và chúng ta đi theo con đường đó thì cũng sẽ đang có được những thành tựu nho nhỏ, dần dần, chúng ta nỗ lực tinh tấn, thì cũng sẽ đi đến những thành tựu lớn. Không thể không thành tựu trừ khi mình không có ý muốn mạnh mẽ, sự xác quyết, không có sự nỗ lực, tinh cần, tinh tấn, nếu không làm được thì không có các bậc Hiền thánh, cũng không có những vị Bốn đôi Tám chúng.

Chúng ta cần thấy được điều đó vì đó là sự nỗ lực không hề đơn giản, là cả một sự thâm căn cố đế trong máu, trong xương tủy của mình. Vậy nên mình phải học, tu, thực hành, quán chiếu, tác ý, nhiệt tâm, tinh cần, dồn tâm sức của mình vào. Vì không như thật, thấy được sự duyên khởi, sanh diệt hay vị ngọt, sự nguy hiểm, sự xuất ly nên dục tham, dục hỷ, dục luyến. Các từ này cần nói nhiều phương diện để chúng ta thấy được sức mạnh của nó đến đâu, nếu không thì chúng ta nghĩ tâm dục này rất đơn giản.

Vậy dục tham, dục hỷ, dục luyến là như thế nào? Dục tham là mình tham muốn về dục, chúng ta có thấy được cảm giác bên trong như vậy không? Là nó muốn cái đó. Dục hỷ là vui thích, hoan hỷ với dục, với những hình ảnh, bóng dáng, suy nghĩ, cảm thọ đó. Dục luyến là lưu luyến, bên trong cảm thọ có cảm giác lưu luyến, không muốn bỏ, không muốn đoạn diệt, dứt hẳn. Khi mình quyết tâm muốn bỏ thì bên trong có một suy nghĩ, cảm giác lưu luyến, luyến tiếc. Khi mình quyết tâm là “Diệt tận hoàn toàn đi!” thì lâu lâu mình cảm thấy nhẹ nhẹ bên trong, là luyến tiếc, có khi suy nghĩ đó khởi lên, có khi lại không có, chỉ là một cảm thọ luyến tiếc, bịn rịn.

Dục đam mê, dục khát, dục não là đam mê trong dục, khao khát trong dục và nhiệt não trong dục làm cho sầu khổ, buồn bã vì không được thay vì được rồi lại mất, được nhưng không như ý. Dục não là đam mê, khao khát trong đó, khi đã dính vào đó thì u mê, ngu mê, si mê. Như chuyện một người già đã mấy chục tuổi lại đi xâm hại đứa trẻ chỉ vài tuổi. Thật khủng khiếp.

Đức Phật dùng từ là dục cuồng, một khi đã sanh khởi thì xâm chiếm cả sắc, thọ, tưởng, hành, thức. Đây là vấn đề để chúng ta nhận diện khi mà dục sanh khởi lên, lúc đó là sắc dục, hành dục, tưởng dục, thức dục, tức lúc đó dục đã xâm chiếm, bao phủ toàn bộ ngũ uẩn của người đó.

Cảm thọ của người đó chỉ hướng đến sự khao khát, đam mê đó thôi, trong tâm những hình bóng sanh khởi ra, xâm chiếm toàn bộ nội tâm, những suy nghĩ chỉ chạy quanh đó, không có gì khác, chỉ suy nghĩ về dục đó. Thức chỉ biết vậy, thân là công cụ, vì thọ, tưởng, hành bên trong điều khiển, thân là công cụ. Lúc đó là sắc dục, cảm giác dục, hình hài tham muốn, tất cả mọi thứ bên trong đều là sự thúc giục, khao khát, đam mê đòi hỏi điên cuồng. Những hình bóng, suy nghĩ, xâm chiếm và chỉ quanh quẩn những suy nghĩ dục đó thôi.

Khi đó, cả ngũ uẩn này chìm trong vũng lầy của dục, không thể thoát ra được. Người không biết tu, không biết nhận diện ngũ uẩn thì làm sao thoát ra được vì nó đã trùm, bao phủ, xâm chiếm, áp đảo hết.

Như chuyện con lại xâm hại mẹ ruột, vì lúc đó nó đã điên cuồng, dục đam mê, dục khát, dục não. Vì chỉ là mê, không còn biết những gì khác, không còn biết đối tượng đó là ai, dù có tội lỗi, luân lý, đạo đức, đảo lộn luân thường thì cũng không còn biết vì cái đam mê, ngu mê, si ám đó bao trùm hết.

Những vụ án như trên làm cho chúng ta rợn người, cảm thấy khủng khiếp, sởn gai óc nhưng diễn ra rất nhiều. Đó đều là dục đam mê, dục khát, dục não.

Chúng ta học những điều này để thấy được và quán sự nguy hiểm, tác hại của nó, tội lỗi, tội ác của dục, quán sự đáng nhàm chán, từ bỏ, rùng rợn, sợ hãi, đáng kinh, đáng khiếp, làm cho con người điên đảo, điên cuồng, điên dại, ngu dại, ngu si, mê muội. Nó làm cho con người không còn cha mẹ, anh em, bà cháu… Từ đó chúng ta mới thấy được bộ mặt thật sự khủng khiếp của dục.

Một người dính mắc vào những điều này, nắm chặt trong dục, bị nó hành hạ, sai khiến làm người ta rất khổ, nhiều khi người ta cũng không muốn vậy vì một khi đã xâm chiếm thì người đó cũng không còn tự chủ nữa, thậm chí là giết người, đốt nhà. Vì nếu thực hiện hành vi dục không được thì giết người, đốt nhà.

Như chuyện một người thanh niên đã say xỉn qua nhà hàng xóm có một cô gái và muốn thực hiện hành vi dục vọng thì cô gái đã phản kháng và bỏ chạy thì người con trai đi theo và giết cả nhà cô gái. Nhưng bình thường thì người con trai này hiền lành, tốt với hàng xóm nhưng một khi dục vọng khống chế, xâm chiếm, chế ngự, áp đảo thì trở thành người tàn bạo, tàn ác, hung dữ, mất hết nhân tính, đạo đức, biến thành một con người khác.

Chúng ta thấy được sự nguy hiểm, tác hại vô cùng, khủng khiếp của nó, nó phá sạch, phá tan hết những đạo đức, hiền thiện, những luân lý, lễ nghĩ trên cuộc đời này, làm cho người ta lâm vào cảnh tù tội, chết chóc, tai họa. Đó chỉ là những cảm giác sanh khởi, những hình bóng, suy nghĩ, sau đó là áp đảo, khống chế con người hoàn toàn làm mình thấy giống như trúng độc, cứ điên cuồng, si mê, điên đảo trong đó. Sau khi tỉnh lại thì lúc đó hối hận, đau khổ dài dẵng, ở trong tù cả đời hay mang án chung thân, án tử hình, xấu hổ, nhục nhã. Bao nhiêu những gì mình đã chất chứa, tích góp, tạo dựng trong một thoáng chốc đã sụp đổ hết tất cả, cũng vì dục ác độc này.

Đó là những danh từ mà Đức Phật dùng: dục tham, dục hỷ, dục luyến, dục đam mê, dục khát, dục não, dục chấp thủ, dục ái trong các dục, chiếm đóng và tồn tại trong nội tâm. Chiếm đóng là chiếm cả ngũ uẩn này, đóng dinh, đóng thự bên trong, đóng sào huyệt trong đó, gọi là chế ngự, điều khiển và tất cả chúng sanh là nô lệ.

Như vợ chồng đang sống hạnh phúc thì tan nhà, nát cửa vì chồng có vợ bé, sau đó là những trận đánh ghen khủng khiếp vô cùng như cạo đầu, bứt tóc, lột đồ, tẩm xăng đốt, tạt a-xít, làm cho những người sống cả cuộc đời trong sự đau khổ, không dám nhìn mặt ai, phải bỏ làng xóm ra đi. Những người bị tạt a-xít thì bị hủy hoại cả gương mặt. Tất cả đều do cảm giác dục.

Đối với người tu hành cũng có thể bị sa ngã, thoái đọa cũng vì dục. Vậy nên kẻ thù của mình chính là cảm giác này, làm cho con người điêu đứng, điên đảo, khổ sở, bất an, bức xúc, khao khát, thèm thuồng. Đức Phật gọi chung là khát ái, giống như người khát rất khát được uống, người rất đói được ăn. Nó khống chế toàn bộ nhân sinh, chúng sanh, hữu tình, người ta quán chiếu thì thấy rùng rợn, sợ hãi, khủng khiếp, kinh sợ, kinh hãi.

Đó là dục nam nữ, còn dục tiền của cũng như vậy. Làm cho người khác sẵn sàng giết người, lừa gạt thậm chí là cha mẹ ruột, anh em ruột. Như chúng ta từng nghe về câu chuyện của ông triệu phú keo kiệt, ác độc, ông ta giết đứa cháu của mình để chiếm đoạt tài sản. Hoặc câu chuyện về gia đình có hai anh em, người em bị tàn tật, khuyết tật ngồi xe lăn mà phải đi thưa kiện suốt hàng chục năm với anh của mình, chỉ vì giành lấy ngôi nhà cha mẹ để lại.

Vậy nên chúng ta thấy được dục rất ác độc. Từ sắc đẹp, tiền bạc, những địa vị đạp đổ, sát hại người khác để được đi lên, lừa dối, gian xảo, ác độc, mưu mô, mưu sĩ, mưu hại, mưu toan, mưu tính. Như Đức Thế Tôn nói: vua tranh với vua, quan tranh với quan, thương nhân tranh với thương nhân, người tu tranh với người tu, con tranh với cha, bạn bè tranh đấu với nhau… Tất cả đó đều là dục, nó làm cho thế giới này quằn quại, điên cuồng, quay cuồng trong dục, chúng ta thấy những suy nghĩ trằn trọc, băng khoăn, ngủ không được, ăn không ngon là vì tại cái dục.

Bệnh tương tư cũng là do dục, vì đạt không được nên đau khổ, mất ăn, bỏ ngủ, để cướp đoạt, xâm chiếm. Vậy nên đau khổ của kẻ phàm phu, tham ái, chấp thủ, sống an bình không muốn mà muốn đi chiếm đoạt đất đai của người, làm xảy ra chiến tranh giữa nước này với nước kia, chế tạo vũ khí hủy diệt hàng loạt. Chỉ thả một trái bom đã làm tiêu tan cả một thành phố mấy chục ngàn hay cả trăm ngàn, triệu người chết.

Tất cả những điều đó đều là dục tham, ác tham, dục vọng, làm cho thế giới này bất an, đau khổ, rối loạn, chiến tranh. Vậy nên chúng ta quán dục, ái này rất ghê gớm, đau khổ, ác độc, tai họa. Vì vậy giáo pháp tối thượng của Ngài cứu khổ chúng sanh là giáo pháp ly tham.

Chúng ta thấy được ý nghĩa thâm sâu của từ ly tham, chữ tham là đi với dục và ái. Tất nhiên muốn thì tham, thích thì muốn nên hễ có dục là có tham, ái trong đó. Từ sự chiếm hữu con người, tình cảm, tài sản làm cho người ta đau khổ trong nước mắt, trong máu, rơi vào những cảnh khổ sở, sanh ly tử biệt. Như dịch bệnh làm cho hàng ngàn đứa trẻ mồ côi, không cha, mẹ và phải sống trong nước mắt, khổ sầu. Chúng đều là những đứa trẻ ngây thơ, chỉ năm, ba tuổi, chỉ nhìn được hình cha mẹ và đầu đội khăn tang.

Vì… 79:00 của con người mà tạo ra bao nhiêu nước mắt, bao nhiêu máu hồng, những đau khổ, tan thương, dâu bể, khổ sầu trên cuộc đời này. Chúng ta thấy được năm giới của Đức Phật có phải để nhiếp phục tham, dục, ái? Vậy nên từ ly tham bao trùm hết tất cả Ba mươi bảy phẩm trợ đạo của Đức Phật, mình có tham, muốn trộm cắp, tà dâm, nói dối, sử dụng chất say sưa nghiện ngập cũng là tham, dục, ái.

Vậy nên tất cả giáo pháp của Đức Phật đều đưa đến sự ly tham, nhận ra được dục ái sanh khởi, hoạt động, xâm chiếm ra sao, tai nạn, nguy hiểm, tác hại của nó, ác độc, sự khốn nạn của nó đã đem lại đau khổ như thế nào, hãm hại chúng sanh như thế nào để người ta ghê gớm, rùng rợn, chán ngán, ngao ngán, ê chề, não nề, gớm ghê. Từ đó người ta có sự rời xa, từ bỏ, đi đến chỗ đoạn tận, đoạn diệt nó.

Như chuyện vì lấn chiếm đất mà anh em ruột chém nhau, giết mấy mạng người, đều là từ tham, dục, ái mà ra. Chúng ta thấy trên cả thế giới bao nhiêu chuyện hằng ngày xảy ra trên báo chí, tin tức đều từ lòng tham của con người, lòng ham muốn, yêu thích, đó đều là ái, dục, tham. Nếu con người biết đến cái tham, kiềm chế, nhiếp phục sự tham thì thế giới này được an bình, an ổn, bớt khổ hơn.

Sự tham, dục này phát huy đến cực đỉnh của ác tham, ác độc thì có thể hủy diệt cả hành tinh này, đi vào ngưỡng của kiếp hoại của Trái Đất, đi vào kỉ nguyên của hoại kiếp. Chúng ta thấy con người rất tham lam, cái gì cũng ăn cắp, đến chùa cũng không từ, nơi thần thánh cũng không nể kiêng, buôn thần bán thánh. Hoặc mượn hình thức tu hành để lợi dụng, lừa gạt người ta, tất cả là dục, tham, ái, nó làm ra bao nhiêu đau khổ trên cuộc đời này.

Vậy nên chúng ta mới thấm thía câu “ly tham pháp tối thượng”. Chúng ta nhớ Đức Phật từng nói: phàm tất cả các pháp hữu vi hay vô vi, ly tham là pháp tối thượng trong tất cả các pháp. Rời sự tham này là chúng sanh bớt đau khổ, nước mắt ít chảy, máu ít đổ xuống, sự sầu bi, u não sẽ giảm bớt trên thế gian này. Còn nếu cứ phát huy cái dục, tham, ái này, những ác tham, bất thiện pháp thì càng ngày chính mình hủy diệt mình, hủy diệt cả người thương yêu mình, cả nhân loại, thế giới, muôn loài, đi đến chỗ diệt tận, hoại kiếp, Trái Đất rồi sẽ bùng vỡ chỉ cần một cái bấm nút sẽ vỡ tan, vỡ tung.

Chúng ta thấy đau khổ khi còn những cảm giác dục, tham, ái còn xâm chiếm, áp đảo, chế ngự thì mình phải lo lắng, nhiệt tâm, tinh cần, nỗ lực trong sự tu học. Nhìn thấy được bên trong còn mạnh mẽ, hung hăn, dữ tợn thì mình phải để nhiều tâm, nhiều lực, nhiều sức, nhiều chí để mình tác ý, nhiếp phục, đoạn trừ. Nếu không thì chúng ta cứ mang cái ách này đè nặng, đè đầu, cưỡi cổ chúng ta. Làm nô lệ cho nó, suốt ngày cứ chạy kiếm cái này cái kia. Dù là người tu cũng không yên, cứ chạy nơi này, nơi nọ mãi, vì nó bên trong thúc giục, sai khiến, đứng núi này trông núi nọ, ở chỗ này nhìn chỗ kia, ảo tưởng, tham muốn đó, cứ lẩn quẩn mãi như vậy không ra được.

Vậy nên Thánh pháp chúng ta học là ly tham, để nhìn thấy sự thật đó. Sự thật mà đem lại sự nguy hiểm, tác hại, những sự ác độc của nó, của dục, tham ái này, chúng ta giảm bớt, nhiếp phục, chế ngự nó rồi dần dần đi đến chỗ diệt tận thì chúng ta thành tựu được pháp ly tham này, đó là con đường Đức Phật cứu khổ. Đức Phật từng nói: xưa và nay ta chỉ tuyên bố hai điều là khổ và con đường diệt khổ. Từ dục, tham mới có sự khổ, con đường diệt khổ là đoạn diệt dục tham này.

Đó là tống cương lĩnh, tóm thâu hết tất cả, đây là những pháp bằng những từ ngữ đơn giản nhất: “Xưa và nay ta chỉ tuyên bố hai điều: khổ và con đường diệt khổ.” Khổ từ dục, tham, diệt khổ là do chấm dứt dục, tham, ái đối với ngũ uẩn, năm dục trưởng dưỡng này, đó là pháp cứu khổ của đạo Phật, diệt khổ chi đạo.

Chúng ta có thấy ngao ngán, nhàm chán, muốn xa lìa, viễn ly, từ bỏ để thoát ra, đó là hạnh phúc tối thượng, bình an tuyệt đối, là đạo lộ giải thoát. Chúng ta cần chiêm nghiệm thật nhiều về dục tham, dục hỷ, dục luyến, dục khát, dục não, dục chấp thủ, dục ái, trong các dục chiếm đóng và tồn tại.

Bằng tình thương, bằng từ tâm, bằng tấm lòng luôn nghĩ đến sự an lạc, an ổn cho chính chúng ta. Cũng vậy, con chân thành cầu nguyện sự an lạc, an ổn này cũng đến với chư vị nơi này.

Chư vị nghe hiểu được âm thanh này, cùng hữu tình trong trời đất rộng lớn này, mong tất cả đều được tâm thương này thấm nhuần mà dễ chịu, an lạc và bình an, tìm được hạnh phúc và an vui cho chúng ta, lòng yêu thương tự thân chúng ta và yêu thương muôn loài.

Mong tất cả có được trí tuệ, thấy được sự vô thường của đời sống này, tâm chán ngán từ bỏ những xác thân năm uẩn, vô thường này để thể nhập vào tâm an tịnh, trong sạch, trầm lặng, giải thoát khỏi biển sanh tử và chấm dứt hết mọi khổ đau, lòng tha thiết chân thành cầu nguyện, sự an lạc và bình an, trí tuệ và giải thoát, đến với cùng khắp tất cả.