Thư Viện Linh Quy
← Danh sách

CỬA VÀO BẤT TỬ 1

2026-03-03 00:53:11
Tinh hoa Nikāya

CỬA VÀO BẤT TỬ 1

Thích Minh Thành

MỤC LỤC

TOC \o "1-3" \h \z \u I.Ý nghĩa tựa đề “Cửa Vào Bất Tử” PAGEREF _Toc92809724 \h 1

II.Chánh niệm về thân PAGEREF _Toc92809725 \h 2

1.Quán thân trên nền tảng Tứ Niệm Xứ PAGEREF _Toc92809726 \h 4

2.Quán thân trên phương diện bốn loại thức ăn PAGEREF _Toc92809727 \h 10

a.Định nghĩa PAGEREF _Toc92809728 \h 12

b.Hình ảnh ví dụ cho từng loại thức ăn PAGEREF _Toc92809729 \h 14

Ý nghĩa tựa đề “Cửa Vào Bất Tử”

Chúng ta cùng tìm hiểu tinh hoa của kinh tạng Nikāya qua bài “Cửa Vào Bất Tử” trong quyển sách Cửa Vào Bất Tử.

Trước tiên, chúng ta hiểu rằng chữ “bất tử” nghĩa là “không chết”, từ này có xuất xứ rõ ràng, chứ không phải tự nhiên mà tác giả dùng từ “bất tử” này. “Kinh Thánh Cầu” là bài kinh nói về sự tìm cầu của bậc Thánh, trong đó Đức Phật nói rằng chúng sanh là những kẻ bị sanh nhưng lại đi tìm cái bị sanh; chúng sanh là kẻ bị già nhưng lại đi tìm cái bị già; chúng sanh là kẻ bị bệnh nhưng lại đi tìm cái bị bệnh; chúng sanh là kẻ bị chết nhưng lại đi tìm cái bị chết; chúng sanh là kẻ bị sầu đau, thống khổ nhưng lại đi tìm cái sầu đau, thống khổ. Còn Như Lai là người bị sanh nhưng Ngài không khuất phục trước cái bị sanh, thế nên Ngài đi tìm cái không sanh. Khi còn là thái tử, Như Lai thấy cái bị già và trong nhiều kiếp ở quá khứ Ngài cũng từng bị già nên Ngài muốn tìm cái không già. Như Lai trước kia cũng bị bệnh nên Ngài đi tìm cái không bệnh. Như Lai trước kia đã bị chết nên Ngài đi tìm cái bất tử, không chết. Như Lai trước kia đã bị đau khổ, sầu lo, bất an nên Như Lai đi tìm cái không khổ, không sầu và đi tìm sự vô thượng, an ổn khỏi các khổ ách… đây là nội dung chính yếu trong “Kinh Thánh Cầu”.

Chúng ta thấy rằng, xuất xứ của chữ “bất tử” nằm trong rất nhiều bài kinh nhưng trong bài kinh này, Đức Thế Tôn có nói là Ngài đi tìm cái không chết, như vậy, “bất tử” nghĩa là không chết và từ này cũng đồng nghĩa với Niết-bàn, tức là cảnh giới bất sanh bất diệt, không còn sống chết, đạt đến tâm bất động giải thoát. Chính vì vậy, tựa bài “Cửa Vào Bất Tử” có ý nghĩa là khi mở cánh cửa này ra thì chúng ta có thể đi vào cảnh giới của không chết, bước vào thế giới của bất tử, đây chính là ý nghĩa của tựa bài “Cửa Vào Bất Tử”. Chính từ những lời dạy của Đức Phật trong Tạng kinh Nikāya mà tác giả đã đúc kết lại tất cả những tinh tuý, tinh hoa, cốt lõi nhất của giáo pháp và soạn thành bài “Cửa Vào Bất Tử” để nói lên điểm trọng yếu của toàn bộ Đại Tạng Kinh Nikāya. Chúng ta sẽ đi thật chậm trong sự tìm hiểu bài “Cửa Vào Bất Tử” này, mặc tuy chỉ vỏn vẹn mười trang nhưng lại hàm chứa đầy đủ những giáo nghĩa cốt lõi và chứa đựng hết tất cả tổng cương lĩnh của toàn bộ Thánh giáo trong năm bộ Nikāya.

Như vậy, chúng ta đã giải thích chữ “bất tử” nghĩa là không chết, từ đó vấn đề đặt ra là muốn đạt đến chỗ “không chết” thì trước hết chúng ta phải thấu suốt về “cái chết”, mà muốn thấu suốt về “cái chết” thì phải hiểu rõ thế nào là “sống”. Nói cách khác, muốn đạt đến “bất tử” thì phải hiểu “tử” và muốn hiểu được “tử” thì phải hiểu được cái “sanh”, muốn hiểu được “sanh” thì phải tìm hiểu “tại sao có sự sanh”. Đó là chúng ta truy nguyên nguồn gốc của bất tử và thấy rằng phải trải qua bốn lớp mới đạt được sự bất tử. Chính vì vậy, muốn đạt được sự bất tử, không chết thì chúng ta phải hiểu được cái chết này khổ đau như thế nào, vì khổ đau như vậy nên ta mới chán cái chết, mong cầu cái không chết và thấy rằng sự khổ đau của cái chết chính là tại vì có sanh. Đây chính là nhân quả hệ, lý duyên khởi trong sự tìm cầu bất tử, nghĩa là tại vì có sanh ra nên mới có sự chết đi, vì có chết đi nên chúng ta mới đi tìm cảnh giới không chết, như vậy điều đầu tiên cần tìm hiểu là tại sao có sanh? Đức Thế Tôn nói rằng do bốn loại thức ăn để duy trì sự sinh hữu, sanh tồn, sanh ra, sanh tử này. Để cho sự tìm hiểu được rõ ràng, sáng tỏ, trọn vẹn và sâu sắc nhất, chúng ta sẽ cùng bước vào bài “Cửa Vào Bất Tử”.

Chánh niệm về thân

Sống thế nào gọi là chân chánh?

Sống thế nào để hết khổ đau?

Sống thế nào để thoát luân hồi?

Sống thế nào để tâm tĩnh lặng?

Làm sao để tâm không dính mắc

Làm sao nhìn thấy rõ tham sân?

Làm sao nói, nín chẳng quên mình?

Làm sao thể nhập vào bất tử?

Như vậy, chúng ta phải sống như thế nào mới gọi là đời sống chân chánh? Sống như thế nào thì chúng ta mới hết mọi khổ đau? Sống như thế nào thì chúng ta mới thoát ra khỏi sự quay cuồng trong sanh tử? Sống như thế nào để tâm được tĩnh lặng và không dính mắc? Sống như thế nào để nhìn thấy rõ mọi tham sân trong thân tâm mình? Cũng bởi vì không thấy được những tham, sân, si trong tâm này nên mình mới đau khổ, luân hồi, loanh quanh, lẩn quẩn; còn khi thấy rõ được tham, sân, si làm cho mình đau khổ thì chắc chắn chúng ta sẽ nhiếp phục được nó. Cho nên, phải sống làm sao để thấy rõ được mọi tham sân? Sống làm sao nói, nín chẳng quên mình? Và sống làm sao để thể nhập vào bất tử, bước vào chỗ không chết?

Có một chữ trả lời tất cả,

Đó chính là “Chánh niệm thân tâm”

Chánh thế nào và Niệm thế nào?

Mà giải quyết được bao câu hỏi?

Chỉ bốn từ “Chánh niệm thân tâm” nhưng giải quyết được tám câu hỏi đã nêu ở trên. Vậy, phải chánh niệm thân tâm như thế nào?

Kiểm soát cẩn thận thân khẩu ý

Bảo hộ thân và bảo hộ tâm

Đây là những pháp thực hành. Đầu tiên, chúng ta phải tập kiểm soát, tập kiểm tra, tập kiểm điểm, tập kiểm xét thân và tâm của chính mình. Hơn nữa, cần phải kiểm soát một cách cẩn thận chứ không phải kiểm soát qua loa, sơ sài. Luôn luôn kiểm soát cẩn thận trong từng hành động, lời nói, ý nghĩ, suy tư. Bên cạnh đó ngày phải giữ gìn, canh chừng, bảo hộ, bảo vệ và phòng hộ thân tâm này, không để nó làm bất cứ điều gì khổ mình khổ người, không để nó nói bất cứ điều gì đau mình đau người, không để nó nghĩ bất cứ điều gì hại mình hại người.

Không buông lung thả lỏng các căn

Nhận biết rõ ràng về năm uẩn.

“Buông lung thả lỏng các căn” là cứ để cho mắt láo lia, muốn nhìn gì thì nhìn; để cho nghe thoải mái, chạy theo âm thanh; mũi chạy theo mùi; lưỡi chạy theo vị, chạy theo thức ăn; thân chạy theo những sự tiếp xúc; ý thì được thả rong nên tâm đi lang thang trong những hình bóng của tưởng, rong rủi theo những suy nghĩ của hành và cảm giác muốn sanh khởi thế nào mình cũng để cho nó thoải mái. Chúng ta thả rông, thả lỏng, thả trôi và buông lỏng thân tâm mình và điều này đưa đến khổ đau. Vì vậy, chúng ta cần phải tu tập sự “chánh niệm thân tâm”, nghĩa là phải kiểm soát, bảo vệ, phòng hộ một cách cẩn thận từ những gì bên ngoài như mắt, tai, mũi, lưỡi, thân; cho đến bên trong tâm ý là nhìn nhận một cách rõ ràng về những hình bóng, suy nghĩ, cảm giác trong tâm. Cho nên, bước đầu trong sự tu tập này là tập nhận diện rõ ràng về năm uẩn.

Quán thân trên nền tảng Tứ Niệm Xứ

Trước hết, chúng ta cần nhận biết về thân này – sắc uẩn.

Sống chánh niệm, thân tâm tỉnh giác,

Tập nhận ra chân tướng Thân này

Biết thân này có bởi nhân duyên,

Do bốn loại thức ăn nuôi dưỡng.

“Sống chánh niệm, thân tâm tỉnh giác” là khi đang đi rõ biết là thân đang đi, khi đang ngồi rõ biết là tứ đại đang ngồi, sắc đang ngồi, thân đang ngồi chứ không phải “tôi đang đi, tôi đang ngồi”. Khi đứng cũng vậy, rõ biết là sắc đang đứng, thân đang đứng, tứ đại đang đứng, mình phải tập gỡ chữ “tôi” trong từng hành động nhỏ như vậy. Đó là chúng ta đang nhận diện sắc và trong sắc thì không có cái tôi, không có cái của tôi, không có tự ngã của tôi. Thành ra, khi đang đi, đang đứng, đang ngồi, đang nằm thì chỉ rõ biết là thân đang đi, thân đang đứng, thân đang ngồi, thân đang nằm và gỡ bỏ chữ “tôi” trong những hành động đó.

Hơn nữa, khi đi, đứng, ngồi, nằm, co, duỗi, cúi, ngước cần phải nhẹ nhàng, an tịnh, lắng dịu, thanh tịnh, an trú trong tâm hiền chứ không được vội vàng, rộn ràng, lăng xăng, lao xao, máy động, dao động Tập được như vậy được gọi là có chánh niệm tỉnh giác. Tuy nhìn qua thấy đơn giản nhưng đây là cả một công trình tu tập. Chúng ta phải tập mỗi khi bước vào cổng chùa là im lặng đúng như Chánh Pháp. Ngay cả khi không đi chùa nhưng vào mỗi thời tu, mỗi thời nghe pháp của mình thì cũng phải tập ngồi trang nghiêm, thanh tịnh, ngay thẳng. Ngoài giờ tụng kinh, nghe pháp, tu học thì khi làm việc ở bếp cũng phải tập nhẹ nhàng, an tịnh, chánh niệm. Trong mỗi bước chân cũng phải tập cho thật an tường, ung dung, nhẹ nhàng, thư thới, thong thả… chứ không đợi khi bước vào thiền đường hay đi thiền hành mới đi thiền, còn bình thường thì đi như chạy rồi vấp ngã. Cho nên, sự chánh niệm là phải được tu tập trong từng cử chỉ, oai nghi nhỏ nhiệm một cách liên tục, vì không có gì tự nhiên mà đạt được.

Thân tâm mình như con khỉ luôn nhảy lung tung, lang tang và việc chúng ta phải làm là điều phục con khỉ đó. Thời gian đầu lên núi, Minh Thành chỉ dựng một am tranh để tu học, một lần các huynh đệ ở Sài Gòn lên thăm nên có dịp cả năm huynh đệ ngồi nói chuyện với nhau. Khi đó, một thầy hỏi Minh Thành ở trên núi có khỉ không, Minh Thành trả lời là có, thầy hỏi tiếp có nhiều khỉ không thì Minh Thành mới trả lời là có năm con. Sau đó năm huynh đệ nhìn nhau và cười vì hiểu ý của nhau. Cho nên, trong tất cả mọi chuyện, người tu chúng ta luôn cần phải nhìn lại bên trong chính mình, bằng không, khi nói đến con khỉ thì mình chỉ lo hướng đến con khỉ ở bên ngoài mà không biết đến con khỉ trong chính mình. Hơn nữa, sự điều phục và chế ngự con khỉ bên trong thân tâm mình mới là điều quan trọng nhất, còn việc bên ngoài có khỉ hay không là chuyện không quan trọng.

Như vậy, để có khả năng chụp vòng kim cô lên đầu con khỉ và niệm thần chú để điều phục con khỉ này thì cần phải có sự tỉnh thức của Bồ Tát. Như trong phim Tây Du Kí, Bồ Tát Quán Thế Âm cho Đường Tăng vòng kim cô và dạy Đường Tăng thần chú để chế ngự được tính hung hăng, hung bạo, hoang dại của Tôn Ngộ Không. Tâm của chúng sanh Đức Phật gọi là tâm hoang vu, tâm rừng rậm, tâm rừng rú chưa được khai phá. Bên ngoài tuy nhìn ai cũng đẹp tươi, ai cũng tô son đánh phấn, ai cũng mặc đồ bóng bẩy, đàng hoàng nhưng bên trong lại là một nội tâm hoang vu, đầy rẫy tham, sân, si, phiền não, bản ngã, hơn thua và đó là một nội tâm chưa được tu tập, chưa được nhiếp phục, chưa được chế ngự. Chúng ta đã bỏ quên tâm này trong trăm ngàn vạn kiếp và không chăm sóc, không làm cỏ, không chặt cây gai, không dọn dẹp nội tâm của chính mình nên Đức Phật mới gọi đây là tâm rừng rú, tâm hoang vu trong bài kinh “Tâm Hoang Vu”.

Cho nên, muốn chế ngự tâm hoang vu của mình thì phải dùng vòng kim cô của sự chánh niệm và tỉnh thức. Chánh niệm là nhớ nhìn lại xem bên trong đang nghĩ gì, đang có hình bóng gì, đang có cảm giác gì. Cảm giác đó là khó chịu hay dễ chịu? Hình bóng đó là lành thiện, chắp tay, cúi đầu với mọi người hay hất đầu, ngước mặt để kiếm chuyện, sanh sự? Luôn luôn kiểm tra những suy nghĩ, những cảm thọ đang dâng lên và làm cho nó hạ xuống, bốc hơi, an tịnh, lắng dịu. Như vậy, phải luôn luôn chánh niệm tỉnh giác, nhớ từ bên ngoài của thân, cho đến bên trong là những cảm giác, nghĩ, tưởng phải có sự kiểm soát cẩn thận, phải có sự phòng hộ, bảo vệ, phải có sự thâu nhiếp và chế ngự.

Đó là bước đầu của sự tu, nếu không làm được bước này thì những bước sau không thể làm được, vì chánh niệm tỉnh thức cũng giống như vỏ ngoài của một cái cây. Chính vì vậy, chúng ta phải ghi nhớ rằng sự chánh niệm tỉnh giác là hết sức quan trọng, từ hành vi, cử chỉ, cách nói chuyện, đi đứng, bưng tô cơm, dọn chén, rửa bát, giặt đồ, quét nhà, lau dọn… tất cả mọi việc đều phải thực tập chánh niệm tỉnh giác. Lúc nào cũng phải thực tập thiền, thực tập chánh niệm, kiểm soát thân tâm chứ không phải đợi lúc lên chánh điện hay lúc vào chùa. Mặt khác, dù vào chùa nhưng vẫn không có sự chánh niệm tỉnh giác thì cũng không khác gì lúc ở nhà, cho nên, đừng nghĩ vào chùa là tốt hơn người khác. Có người ở chùa suốt rồi quên mình đang ở chùa, xem chùa giống như ở nhà, giống như ngoài chợ, như vậy là thất bại.

Vì vậy, đi chùa đúng nghĩa là luôn luôn nhớ chánh niệm tỉnh giác, kiểm soát cẩn thận, phòng hộ, bảo vệ, thu nhiếp mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý. Khi vào chùa mặc áo tràng thì phải mặc ở chỗ thích hợp, không được đứng trước bàn Tổ, không được đứng trước bàn Phật, không được đứng giữa chánh điện, không được đứng giữa đường mà mặc áo tràng, đồng thời, lúc cởi áo tràng cũng phải chọn nơi phù hợp, đúng phép. Khi để dép phải để ngay ngắn, đúng chỗ, không được để một chiếc nơi này, một chiếc văng xa ở nơi khác. Khi uống nước thì uống từng ngụm, từ tốn để không bị sặc. Khi ăn cơm cũng vậy, phải gắp thức ăn nhẹ nhàng, chú ý không để rớt đũa muỗng, nhất là vào những ngày thọ bát quan trai, nếu ăn uống thiếu chánh niệm như vậy là thất bại. Những cử chỉ, hành động kể trên tuy là những việc nhỏ nhưng thử nhìn lại để xem bản thân mình đã thực tập được chưa, kể cả những vị đã đi chùa mười năm, hai mươi năm có ai thực tập trọn vẹn được không?

Cho nên, những điều Minh Thành đề cập ở trên là để chúng ta đang tập chánh niệm tỉnh giác trong từng việc nhỏ nhất, tập dần dần trong từng những việc nhỏ như vậy thì từ hạnh nhỏ sẽ trở thành đức lớn. Chính nhờ những việc nhỏ này mà công phu tu tập chánh niệm tỉnh giác sẽ chất chứa, tích luỹ, tích tụ, sau đó trở thành một sự thuần thục, nhu nhuyến, từ đó giúp chúng ta có được một thân tâm, nhẹ nhàng, lắng dịu, hoặc ít nhất là bên ngoài mình sẽ đạt sự an lắng dịu. Cho nên phải tu tập trước hết là từ bên ngoài, còn bên trong tâm đòi hỏi mức độ sâu sắc hơn nhiều lần. Chính nhờ sự thực tập những điều nhỏ này ở chùa cùng với sự thực tập khi ở nhà nên khi hữu sự xảy đến thì sự chánh niệm tỉnh giác đã trở thành quen thuộc, thuần thục và lúc đó mình sẽ có định lực, nghĩa là có được sự trầm tĩnh, tỉnh táo mỗi khi động loạn sanh khởi, hoặc hữu sự xảy ra. Ví dụ, bất thình lình chồng đi làm về và nổi sân si lên thì mình sẽ có một sự nhiếp phục cảm thọ, bằng không, chồng phùng mang lên là mình cũng trợn mắt lại, như vậy là hư chuyện, làm cho gia đình bất hòa. Qua đó, chúng ta thấy rằng, sự chánh niệm tỉnh giác từ mắt, tai, mũi, lưỡi, thân ở phía ngoài là cả một công phu tu tập, chứ không phải bình thường và bước tiếp theo là chánh niệm tỉnh giác từ bên trong tâm ý, tức là nhìn ra được tất cả những cảm giác, nghĩ, tưởng ở bên trong. Đó là chúng ta tìm hiểu chính là Thân Hành Niệm của kinh Tứ Niệm Xứ, gồm là Niệm Hơi Thở, Niệm Oai Nghi, Niệm Hành Động.

Tiến sâu hơn nữa là đến Niệm Tứ Đại, Niệm Ba Mươi Hai Thể Trược được nhắc đến trong câu:

Tập nhận ra chân tướng Thân này

Biết thân này có bởi nhân duyên,

Do bốn loại thức ăn nuôi dưỡng.

“Tập nhận ra chân tướng Thân này” là phải thường tập Niệm Hơi Thở, Niệm Tứ Đại, Niệm Ba Mươi Hai Thể Trược, Niệm Chín Giai Đoạn Tử Thi, đây là Minh Thành kết hợp với kinh Tứ Niệm Xứ – tinh hoa của Nikāya. Bước thứ nhất là tập mỗi khi đứng, hay ngồi thì nhớ đến hơi thở, nhớ đến cảm thọ, cảm nhận hơi thở, cảm nhận cảm giác trong cơ thể… tập hoài như vậy thì chúng ta sẽ quen, từ đó giúp tâm mình không đi lang thang nữa mà đưa tâm này về. Kế tiếp, chúng ta tập Niệm Tứ Đại để nhìn ra chân tướng của thân này. Vậy, phải tập Niệm Tứ Đại như thế nào?

Mỗi khi ngồi thiền hoặc ngồi một mình thì hãy nhớ "đây là tóc, lông, móng, răng, da, thịt, gân, xương, thận, tủy, tim, gan, hoành cách mô, lá lách, phổi, ruột, màng ruột, bụng, phân, mật, đàm (niêm dịch), mủ, máu, mồ hôi, mỡ, nước mắt, mỡ da, nước miếng, nước mủ, nước ở khớp xương, nước tiểu" (Trung Bộ Kinh, 10. Kinh Niệm Xứ). Chúng ta phải học thuộc ba mươi hai thể trược, bao gồm ba mươi hai thứ không sạch sẽ kết hợp lại tạo thành thân này. Khi niệm đến bộ phận nào thì bộ phận đó hiện lên trước mắt mình. Ví dụ, khi niệm đến tóc thì thấy hình ảnh mình bứt hết đầu tóc và bỏ xuống một nắm tóc; niệm đến lông thì nghĩ đến hình ảnh bứt hết tất cả những sợi lông trên người và để thành một đống trước mặt; niệm đến răng thì quán tưởng đến hình ảnh nhổ hết hai hàm răng và để thành một đống răng lẫn lộn với máu trước mặt; niệm đến da thì lột hết lớp da từ mặt đến toàn thân và để một đống da trước mặt, còn lại là một đống thịt và máu cùng với một đống tim, gan, phèo, phổi, ruột, thận, túi mật… Cuối cùng thân này chỉ là một đống bầy nhầy, một đống đất, chứ không có gì là tôi, là của tôi, là tự ngã của tôi, không có Nguyễn Thị Xoài, Trần Văn Mít, Phạm Văn Ổi gì cả, mà chỉ là đất (địa đại) làm ra.

Kế tiếp là nước (thuỷ đại) bao gồm những chất ướt bên trong cơ thể như: nước mũi, nước miếng, nước mắt, ráy tai, ghèn, mồ hôi, nước tiểu, máu, mủ, nước ở khớp xương, những chất nhờn, chất dịch… trong thân này chứa đựng một đống nước như vậy chứ không có tôi, ta, bản ngã, tự ngã nào trong thân này cả.

Tiếp theo là gió (phong đại) gồm những sự chuyển động trong cơ thể, gồm những hơi thở khì khịt vào ra, nếu thở ra mà không hít vào nữa là xong một đời; cùng với những mạch máu, huyết quản, hệ hô hấp, hệ tuần hoàn vận hành như những cơn gió, hơi khí động chuyển trong cơ thể. Tất cả chỉ là những sự vay mượn mong manh, chỉ cần đứt hơi là hết một đời, làm gì còn cái tôi, cái của tôi nào nữa. Cho nên, cần phải loại bỏ ý niệm tôi và của tôi, không có bản ngã, cái ta, cái tôi nào trong thân này, mà trong đây chỉ là sự vận hành của gió. Do vì có sức gió vận chuyển nên tay chân mới đưa lên hạ xuống, thân này mới đứng lên ngồi xuống. Khi bên trong không còn gió nữa là thân này trở thành khúc cây vô tri, vô dụng, vô thức.

Thân này không bao lâu

Sẽ vùi sâu đáy mộ

Như cây khô khúc gỗ

Vứt bỏ vì vô tri.

Minh Thành có thể nói chuyện được với quý vị cũng nhờ sức gió động chuyển, phong đại vận hành. Một khi phong đại ngừng lại là chúng ta không thể nhúch nhích, cục cựa, nói năng gì được nữa, mà sẽ giống như một khúc cây vô tri.

Cuối cùng là lửa (hoả đại), tức là những nhiệt độ, hơi ấm, những sự nóng ấm trong cơ thể giúp tiêu hoá thức ăn. Trong những hơi ấm này cũng không có cái tôi, cái của tôi nào bên trong đó cả.

Vì vậy, chúng ta không thể tìm được cái tôi, cái của tôi trong đống gió, đống đất, đống nước, đống lửa này. Thân này chỉ là pháp duyên sanh, tự thân nó không thể đứng vững mà Đức Phật dạy rằng thân này do cha mẹ sanh, do bốn đại tác thành, do cơm cháo nuôi dưỡng, vô thường, tan hoại, huỷ hoại, hoại diệt, tan nát, bại hoại. Trong tích tắc thân này có thể trở thành một đống bụi, một đống tro, một hủ cốt; tích tắc có thể trở thành một tử thi, một thây chết; tích tắc có thể ra nằm ngoài nghĩa địa, nghĩa trang; tích tắc sẽ được đưa vào lò thiêu, ngồi lên bàn thờ… tất cả mọi chuyện đều có thể xảy ra chỉ trong tích tắc. Chính vì vậy, chúng ta phải tập nhìn nhận thật sâu sắc về bản chất của thân này.

Khi nằm trên giường bệnh, lấy hơi lên nhưng không lấy hơi vào được tức là phong đại ra đi trước, ngừng thở, tim ngừng đập. Kế đó là hoả đại tiếp bước ra đi, cả thân trở nên lạnh ngắt, hơi ấm không còn. Tiếp theo là thân này trương phình lên, nứt nẻ ra, sau đó những chất dịch và máu, mủ rỉ chảy ra, đó là sự tan hoại của thuỷ đại. Sau đó là giòi và ruồi nhặng bu quanh hình hài này, những con giòi ăn từ trong ra ngoài, tuôn trào ra từ bụng và hai khoé mắt, ăn đến dưới chân và lan ra khắp thân. Tiếp theo là chó rừng đến gặm và những con quạ, kênh kênh, diều hâu cũng bay đến để cấu xé, ngoạm từng miếng thịt. Thân xác này bị phân huỷ chỉ còn lại lớp da, dần dần sót lại một chút gân, sau khi thịt hết thì còn lại một chút máu. Cuối cùng da cũng tiêu tan, máu cũng không còn và lòi ra một bộ xương trắng màu vỏ óc. Trải qua nắng táp mưa sa, bộ xương này bắt đầu bị bào mòn, rời rạc ra, chỗ kia là xương sọ, chỗ nọ là xương sườn, bên kia là xương chân, xương ống chân, xương tay, xương mông, xương đùi. Vài năm sau, bộ xương đó bị nát ra trở thành bụi, gió thổi bay vào hư không, như vậy, địa đại cũng không còn nữa... Đó là ý nghĩa của câu “tập nhận ra thân tướng thân này”, đồng thời rõ biết thân này là vô thường, là nhân duyên, là biến hoại. Như vậy là chúng ta đã nhận diện một cách sâu sắc về sắc uẩn, về chân tướng và sự thật của thân này theo chiều bên trong của tự thân.

Quán thân trên phương diện bốn loại thức ăn

Kế tiếp, chúng ta nhận diện thân này theo phương diện từ bên ngoài, cụ thể là thân này do bốn loại thức ăn nuôi dưỡng.

Đoàn thực là thức ăn ngon dở

Để dưỡng nuôi thân tứ đại này.

Xúc thực là việc gặp gỡ nhau,

Làm sảng khoái cho thân năm uẩn.

Tư niệm thực - Các dòng suy nghĩ

Làm cho tâm khoan khoái, vui vui

Thức thực - Sự rõ biết sáu trần

Làm thoải mái cho thân năm uẩn

Đoàn thực, xúc thực, tư niệm thực

Và thức thực là bốn thức ăn,

Chúng dưỡng nuôi thân ngũ uẩn này

Được sanh diệt triền miên không dứt.

Đoàn thực là thức ăn, nước uống

Nuôi dưỡng thân tứ đại no tròn,

Còn lại ba loại thức ăn kia,

Nuôi dưỡng thọ, tưởng, hành và thức.

Loại thứ nhất dưỡng thân tứ đại,

Ba loại kia nuôi dưỡng tâm mê,

Nên vô minh, tham ái ê chề

Thân năm uẩn sản sinh mê mệt.

Định nghĩa

Sau đây, chúng ta cùng tìm hiểu về bốn loại thức ăn. Đức Phật đã tuyên bố rằng, sự sanh ra của thân này là “Do thức ăn tập khởi nên sắc tập khởi” (Tương Ưng Bộ Kinh, Kinh Thủ Chuyển). Do vì có thức ăn nên thân này mới được sanh ra, mới được tồn tại, mới được duy trì. Trong cuộc sống này hầu hết tất cả chúng ta đều thích ăn, muốn ăn và có người còn ham ăn. Chính vì muốn ăn, ưa ăn, ham ăn nên mình có thân này, hễ chúng ta thích cái gì thì khi đủ điều kiện là nó sẽ có mặt. Ví dụ đơn giản, khi nhìn lại ngôi nhà của mình thì quý vị thấy rằng vì quý vị thích bức tranh đẹp đó nên khi hội tụ đủ điều kiện là nó có mặt trong nhà mình, hoặc do thích kiểu dáng của cái tủ, cái bàn đó nên nó có mặt trong nhà mình. Cho nên, chúng ta thích một thứ nào đó thì khi có đủ duyên và điều kiện là thứ đó sẽ có mặt. Cũng vậy, thức ăn là nhân, là duyên để duy trì, phát triển, sanh khởi ra thân này và do chúng ta thích những điều kiện, những yếu tố để cấu thành thân nên sẽ có thân. Vì vậy, cái thích đầu tiên của chúng sanh là thích thức ăn – Đoàn Thực, đây là những món ăn chúng ta dùng hàng ngày.

Cái thích thứ hai là Xúc Thực, nói một cách dễ hiểu là thích nhìn, thích nghe, thích ngửi, thích nếm, thích đụng chạm. Trong đó, thích nhìn là nhãn xúc – sự tiếp xúc của mắt; thích nghe là nhĩ xúc – sự tiếp xúc của lỗ tai, thích ngửi là tỷ xúc – sự tiếp xúc của lỗ mũi; thích nếm, thích ăn là thiệt xúc – sự tiếp xúc của lưỡi; thích sự đụng chạm là thân xúc – sự tiếp xúc của thân; thích những hình bóng, suy nghĩ, cảm thọ bên trong là ý xúc – sự tiếp xúc của ý. Đó chính là sáu xúc và sáu sự tiếp xúc này là thức ăn để nuôi những cảm giác, nghĩ, tưởng bên trong.

Cũng vì thích xúc mà nhiều người chạy ra ngoài để được tiếp xúc và kết quả là nhiễm dịch bệnh. Nếu không thích tiếp xúc thì dù ở nhà vẫn được an lành, tự do, thong dong, tự tại, bình an chứ không bị bức xúc, thúc giục, lôi kéo. Thế nhưng vì bên trong cứ thúc giúp muốn được tiếp xúc, được ngắm, được nhìn, được nghe, được đụng chạm, được ăn, được đi đây đi đó, cuối cùng nghe theo nên đi ra ngoài, kết quả là trúng dịch và có thể mất mạng. Nhiều đồ vật quý trong bảo tàng hay trong các cửa hàng lớn có ghi chữ “cấm sờ” nhưng khi xung quanh không có ai thì nhiều người vẫn sờ một cái vì muốn sờ mó, muốn tiếp xúc. Vì cứ sờ như vậy nên những bức tượng, những tấm bia cổ bị mòn, điển hình là đầu rùa mang bia tiến sĩ ở Quốc Tự Giám cũng bị mòn và những tấm bia thì bị mất chữ vì có quá nhiều người sờ vào.

Tất cả những điều này đều sanh khởi cũng bởi do xúc, Đức Phật gọi đó là xúc thực, tức là những sự gặp gỡ, làm sảng khoái cho thân ngũ uẩn này. Vì vậy, bằng sự yên tịnh của tâm chúng ta phải nhận diện và soi rọi để thấy rõ tất cả các pháp đang diễn ra, đồng thời phải hiểu rõ được tất cả mọi khía cạnh, phương diện của thân tâm. Chúng ta phải học thật kỹ và chắc chắn để nhìn ra được những sự thật mà trước giờ không thấy được. Dù luôn ở chung, ăn chung, ngủ chung, nói chung, làm chung, dù đòi sống đòi chết vô cùng đau khổ nhưng mình không biết được sự thật về thân tâm này nên Đức Phật gọi đó là vô minh, nghĩa là không thấy không biết tên giặc đã hãm hại, làm cho mình khổ.

Thứ ba là Tư Niệm Thực, “tư niệm” nghĩa là nghĩ nhớ, đây là những dòng suy nghĩ làm cho tâm khoan khoái, vui vẻ. Chúng ta thường thích được suy nghĩ, nghĩ ngợi, nhiều người suy nghĩ đến mức bị nhức đầu, thậm chí trở nên không tỉnh táo, điên loạn, mặc dù như vậy nhưng cứ suy nghĩ hoài, không dừng lại được cũng bởi vì thích được suy nghĩ. Có nhiều chuyện vô cùng bực tức, cứ nhớ đến là tức giận, phừng phực nhưng vẫn thích được nhớ nghĩ để bực bội, tức tối. Dù cho chuyện đó khiến mình “Ngày đêm thiêu đốt tim, gan, máu – Đốt cháy tâm can trong giận sân” nhưng vẫn cứ nhớ để làm mình khổ, đó chính là tư niệm thực – thức ăn tinh thần về phương diện nghĩ nhớ. Ngoài việc nhớ đến người làm mình giận thì mặt khác là nhớ đến những người thương yêu, dù họ đã mất rồi nhưng cứ ôn lại những kỷ niệm lúc mới gặp nhau rồi tiếc nuối, xót xa bên trong, sau đó lấy hình ra xem để hồi tưởng lại, tự làm mình đau khổ.

Con người cứ thích khổ như vậy chứ không chịu để tâm mình được nhẹ nhàng, an tịnh, lắng dịu, bình an, tỉnh giác trong giây phút hiện tại. Suốt ngày cứ lôi những chuyện yêu hận ra để nghĩ nhớ về nó và làm mình đau khổ, sầu bi. Bên trong cứ suy nghĩ suốt ngày dẫn đến căng thẳng, căng dây thần kinh, đứt mạch máu não, tai biến, lên tăng xông. Điều đáng nói là những chuyện không đáng nhớ thì người ta cứ nhớ, còn những chuyện đáng nhớ thì họ không chịu nhớ, đây gọi là tà niệm, tà tư duy. Đại đa số mọi người hay nhớ đến những chuyện buồn, nhớ lúc nhỏ mình bị hiếp đáp thế nào, cơ cực ra sao, lúc lớn lên thì gặp nhiều chuyện buồn đau, cứ nhớ nghĩ như vậy rồi nước mắt rơi, khóc một mình. Gặp ai cũng kể chuyện thời xưa, hoặc không có ai thì cũng gọi điện thoại để kể chuyện của mấy chục năm trước, nhất là những người lớn tuổi, họ thường sống với những hồi ức, hồi tưởng, quá khứ, dĩ vãng, sống với những thứ đã chết rồi. Đó là tư niệm thực chính là thức ăn bằng sự nhớ nghĩ. Con người cứ nuôi lớn những thứ tham, sân, si, những thứ yêu hận, buồn đau để dày vò, dày xéo tâm can, để hành hạ, đày đoạ cảm thọ của chính mình. Thật sự vô cùng đáng thương và tội nghiệp cho tâm thức vô minh, dại khờ, mê lầm này.

Thứ tư là Thức Thực, tức là sự rõ biết sáu trần, thích tìm hiểu để biết thứ này thứ kia xong rồi hơn thua, sân hận, ham muốn. Biết rồi để phân biệt của người không bằng của mình; của mình đẹp hơn của người; đồ của mình hàng xịn, đồ của người hàng dỏm; nhà của mình đẹp còn nhà của người không đẹp, cuối cùng dẫn đến cự cãi. Như vậy, thức thực là đi tìm những sự hiểu biết nhưng sự hiểu biết này không đưa đến ly tham, an tịnh, lắng dịu, mà nó dẫn đến tăng trưởng tham, sân, si, tức giận, thúc giục, cao thấp, bản ngã. Biết như vậy thì biết để làm gì!

Hình ảnh ví dụ cho từng loại thức ăn

Trong kinh Đức Phật đưa ra từng ví dụ cho bốn lại thức ăn.

Đầu tiên, thức ăn hàng ngày gọi là đoàn thực, được Đức Phật ví dụ như hai vợ chồng cùng một đứa con nhỏ đi trong một sa mạc hoang vu và hết lương thực. Hai vợ chồng này nghĩ nếu cứ tiếp tục đi như vậy trong khi lương thực đã hết thì cả ba người sẽ cùng chết, sau cùng họ quyết định giết đứa con nhỏ để làm lương khô thì vợ chồng họ mới có thể qua được cơn nguy hiểm, bằng không, cả gia đình sẽ chết hết. Lúc hai vợ chồng giết đứa con để lấy thịt ăn thì cảm giác đau đớn, khổ sở không thể nào diễn tả được. Đức Phật dạy các thầy Tỳ-kheo phải quán chiếu thức ăn giống như thịt của con mình để không được tham đắm trong thức ăn. Cho nên, các vị Tỳ-kheo thời Đức Phật chỉ ăn một bữa, trong bình bát của các Ngài chứa đựng lộn xộn các loại thức ăn để phá hết vị giác, phá hết sự đam mê, yêu thích trong hương vị. Khi đi khất thực, có khi người ta cho các thầy đồ mặn, chứa thịt trong đó và Đức Phật có nói rất rõ ràng là chúng sanh trong nhiều đời nhiều kiếp từng là cha con, mẹ con, anh em của mình, vì vậy, Đức Phật dạy phải quán thức ăn đó là con của mình, khi ăn thịt đó cũng là ăn thịt con mình. Ứng dụng vào đời sống hiện tại, khi quý vị ăn thịt gà, thịt heo, thịt của chúng sanh thì hãy tác ý đó là thịt của con mình trong nhiều đời trước, cho nên hãy bỏ thịt và ăn chay trường. Như vậy, mỗi lần dùng thức ăn có thịt thì hãy nhắc nhở mình rằng đó là thịt của con mình trong đời quá khứ, trải qua vô lượng vô biên kiếp trong vòng sanh tử này đã là cha con, mẹ con với nhau. Bây giờ nếu ăn thịt này tức là ăn thịt của con cái, mẹ cha, anh em mình. Tác ý như vậy để từ từ quý vị bớt ăn thịt, thay vào đó sẽ ăn củ quả nhiều hơn và đến lúc thích hợp có thể ăn chay trường, bớt nghiệp sát sanh.

Thức ăn thứ hai là xúc thực, đây là sự thích thấy, thích nghe, thích ngửi, thích nếm, thích đụng chạm, thích những cảm giác, nghĩ, tưởng trong tâm. Đức Phật dạy phải quán nó giống như con bò bị lở da, đứng ở nơi đâu cũng bị các loài ruồi, mũi, trùng, kiến bu lại châm chích vào da làm lở loét, mưng mủ. Đức Phật dạy người tu phải giảm bớt sự nghe, nhìn, ngửi, nếm, bớt sự chạy đuổi theo sáu trần bên ngoài, tại vì khi tiếp xúc với những thứ ác, bất thiện pháp, khiến tâm ham muốn sanh khởi thì sẽ làm cho mình đau khổ giống như con bò đang bị lở loét mà còn bị các loài mũi, kiến bu lại cắn, điều này vô cùng đau đớn và khó chịu. Cho nên, chúng ta không nên ưa thích tiếp xúc với những thứ xấu ác, thậm chí đối với những cảnh sắc, mùi vị chính đáng, khiến mình sanh khởi sự ưa thích thì cũng phải tác ý cái xúc đó chỉ thêm đau khổ, làm tăng trưởng thêm những ham muốn, phiền não, trói buộc, vì thế mình không ưa thích những sự tiếp xúc.

Thức ăn thứ ba là tư niệm thực, nghĩa là sự nhớ nghĩ, Đức Phật ví dụ thức ăn này giống như hố than hừng. Người nào ngồi suy nghĩ về người làm mình tức giận thì người này chẳng khác gì đang bị lôi vào hố than hừng. Mỗi lần suy nghĩ về chuyện này là nó đốt cháy mình, làm cho mình từ chết đến bị thương. Cho nên, không được nhớ nghĩ đến những chuyện tham, sân, si, hơn thua, tranh đấu.

Thức ăn thứ tư là thức thực, đây là cái biết làm sanh khởi ra phiền não, thấy là giận, nghe là sân si, ngửi nếm là bực mình, gắt gỏng. Đức Phật ví dụ người chìm đắm trong thức thực này giống như một ngày bị đánh ba trăm roi: sáng bị đánh một trăm roi, trưa bị đánh một trăm roi, chiều bị đánh một trăm roi. Cái biết làm sanh khởi tham, sân, si là một cái biết đau đớn, hành hạ tâm mình, làm mình không được yên. Đức Phật dạy đối với thức thực, đối với sự ưa thích các nhận thức làm sanh khởi tham, sân, si, bản ngã thì phải nghĩ nhận thức đó là cây roi đánh vào mình, làm cho mình đau đớn, khó chịu.

Như vậy, Minh Thành đã giới thiệu sơ lược về sự chánh niệm tỉnh giác, cùng với sự nhìn nhận sâu sắc về thân này (sắc uẩn), cũng như tìm hiểu nguyên nhân mà thân này được tồn tại là do bốn loại thức ăn. Đây là những bước chuẩn bị để chúng ta đi vào cánh cửa bất tử.

./.