Thư Viện Linh Quy
← Danh sách

Làm Sao Hết Khố

2026-03-03 00:53:11
LÀM SAO HẾT KHỔ

Thích Minh Thành

MỤC LỤC

TOC \o "1-3" \h \z \u I. Thực hành ba pháp PAGEREF _Toc69115613 \h 1

II. Ái là cội nguồn của khổ đau PAGEREF _Toc69115614 \h 1

III. Thánh Trí về sắc PAGEREF _Toc69115615 \h 6

I. Thực hành ba pháp

Tất cả đại chúng mình thực tập ba pháp

Rõ biết tước mặt. Cảm nhận hơi thở vào ra ở chóp mũi, ngực và bụng, cảm nhận sự động chuyển của ba chỗ chóp mũi, ngực và bụng từ ba chỗ đó mở rộng cảm giác lan tỏa ra toàn thân, cảm giác đầu mặt vai, mình, mông, chân, ống chân, cảm nhận cảm giác toàn thân, nội tâm tĩnh giác rõ biết sáng tỏa trong nội tâm của mình.

Mình nhớ ngày nào cũng thực tập ba pháp nếu không thực tập mình sẽ không nhìn thấy rõ được bản thân của mình, không thấy rõ được nội tâm của mình. Ba pháp này rất quan trọng, không phải lúc ngồi thiền mới thực tập mà trong lúc đi đứng chỗ nào cũng thực hiện được. Thứ nhất đặt niệm trước mặt. Thứ hai cảm giác toàn thân Thứ ba nội tâm tĩnh giác

Bất cứ khi đi đứng nằm ngồi nhất là ngồi thiền cũng không được nhắm mắt, phải rõ biết trước mặt mình, mở mắt rộng hai bên hết mức cho tỉnh táo xong mình trở về hơi thở, hơi thở vào mình biết hơi thở vào, hơi thở ra hơi tha ra cảm nhận ba chỗ động chuyển của hơi thở chóp mũi, lồng ngực và bụng ba chỗ đó động chuyển khi mình thở.

II. Ái là cội nguồn của khổ đau

Tinh yếu của tạng kinh Nikāya. Tất cả nguồn cội của tất cả khổ sầu trên cuộc đời này. Nguồn cội khổ sầu là gì? Chúng ta cùng đến với lời dạy của Đức Phật trong bài kinh Ái Sanh, ái là yêu thích tham muốn, sanh là sanh khởi. Minh Thành sẽ điểm những yếu nghĩa trong bài kinh.

“Một thời Thế Tôn trú ở Savatthi, Jetavana, tại tinh xá ông Anathapindika. Lúc bấy giờ con một của một gia chủ, khả ái, đáng thương, bị mệnh chung. Sau khi nó chết, (người cha) không còn muốn làm việc, không còn muốn ăn uống, luôn luôn đi đến nghĩa địa, người ấy than khóc: "Con ở đâu, đứa con một của ta? Con ở đâu, đứa con một của ta?"”

Lúc đức Thế Tôn ở Sa va Thy, bấy giờ có một cậu đó có đứa con rất nhỏ chết, cậu này rất thương đứa con nhỏ, khi đứa con chết rồi cậu này không muốn làm việc không muốn ăn uống, đi đến nghĩa địa chỗ chôn đứa con than khóc con ở đâu, đứa con một của ta, con ở đâu? Ông cứ lại nghĩa địa khóc hoài vì thương nhớ, ông nghe người ta hướng dẫn lại gặp đức Phật đức, đức Phật mới hỏi sao mà mặt mày của cậu thấy bơ phờ, thấy mệt mỏi khổ sở, cậu mới bạch đức Thế Tôn sao con khỏe khoắn được sao con khỏe khoắn được đứa con một của con chết rồi còn rất nhỏ, giờ con không muốn ăn muốn uống và muốn làm việc gì, con chỉ đi đến nghĩa địa than khóc.

Lúc đó đức Phật nói câu này

“– Sự thật là như vậy, này Gia chủ, vì rằng, này Gia chủ, sầu, bi, khổ, ưu não do ái sanh ra, hiện hữu từ nơi ái.”

(Bài Kinh Ái Sanh, Trung Bộ Kinh)

Gia chủ tức là nói cậu có đứa con mất, ông phải biết sự thật tất cả buồn đau khổ sầu là do sự yêu thích sanh ra, do có sự yêu thích thương yêu mà nó có mặt, lúc đó cậu này không đồng ý với đức Phật, có yêu thích mới sanh ra vui sướng, tại sao yêu thích sanh ra sầu khổ, không chịu bỏ đi. Ngài Gotama nói vậy là không trúng, yêu thương phải sanh vui sướng, hỷ lạc vui sướng mà tại sao Ngài nói lại sanh ra sầu khổ.

Lúc đó ông này mới đi tới sòng bạc thấy mấy người đang đổ xí ngầu, cậu này mới tới kể lại, tôi tới gặp Sa môn Gotama, Sa môn Gotama nói như vậy tôi không đồng ý, mấy ông đánh bạc nói đúng rồi, Sa môn Gotama nói sai ông nói mới đúng, yêu thương sao sanh ra sầu khổ, yêu thương phải vui sướng. Câu chuyện này không bao lâu lan tới tai vua Ba tư Nặc lan tới triều đình, lúc đó vua Ba tư Nặc mới gọi hoàng hậu Mạc lợi MalaCa này hoàng hậu đây là lời của Sa môn GotaMa nói với mọi người sầu bi khổ u não do ái sanh ra hiện hữu từ nơi ái, đây là câu nói của Sa môn Gotama, lúc đó Hoàng hậu mới nói tâu đại vương nếu Thế Tôn dạy như vậy thì sự việc là như vậy.

Lúc đó vua Ba tư Nạc nói hoàng hậu thật là, cái gì Thế tôn nói cũng nghe theo cung kính yêu thích Sa môn Gotama quá vậy, đạo sư nói gì với đệ tử đệ tử quá hoan hỷ, Hoàng hậu nói thầy tôi dạy sao tôi nghe y như vậy, ông vua không chịu, hoàng hậu mới gọi một vị Bà la môn đi đến đảnh lễ đức Thế Tôn hỏi xác định vấn đề có phải câu chuyện đó là như vậy hay không? Vị này đi tới đức Thế Tôn đảnh lễ thưa hỏi xong rồi đức Phật xác nhận đúng là sự việc là như vậy, đức Thế Tôn xác nhận vấn đề là như vậy vị Ba la môn về thuật lại cho Hoàng hậu, lời nói đức Thế Tôn

“– Thật sự là như vậy, này Bà-la-môn. Thật sự là như vậy, này Bà-la-môn. Này Bà-la-môn, sầu, bi, khổ, ưu, não do ái sanh ra, hiện hữu từ nơi ái.”

Này Bà la môn thửa xưa ở thành này cô đó mẹ cô bị qua đời, khi mẹ cô qua đời cô ấy sầu khổ tâm tư hỗn loạn phát điên cuồng, cô đi từ đầu đường này tới đầu đường kia qua ngã tư đường nói có ai thấy mẹ tôi đâu không, khổ sầu thậm chí cô như ngây dại vì thương mẹ không phải chỉ mình cô đó không mà có rất nhiều người khác bị mất cha, bị mất anh, mất người chị, mất anh trai, mất con gái mất chồng, rất nhiều người như vậy cũng sầu khổ đi lang thang khóc than có ai thấy chồng tôi đâu không, có ai thấy anh tôi đâu không, có ai thấy con trai tôi đâu không, đức Phật nêu ra rất nhiều tường hợp v.v...

Này Bà la môn thuở xưa chính tại thành Sa va Thy này, có một người đàn bà đi thăm gia đình bà con những người bà con này muốn dùng sức mạnh để bắt ép người đàn bà này xa chồng để lấy người thanh niên khác.

Ở Ấn Độ nam nữ không được bình đẳng nên người con gái ở chế độ ngày xưa rất khổ. Người vợ mới nói với chồng này hiền phu những người bà con này muốn dùng sức mạnh bắt em xa anh và gã cho một người đàn ông khác nhưng em không muốn như vậy, lúc đó ông chồng cũ này chặt người đàn bà này làm hai rồi tự vận nghĩ rằng hai chúng ta sẽ gặp nhau ở đời sau.

“Này Bà-la-môn, do pháp môn này cần phải được hiểu rằng sầu, bi, khổ, ưu, não do ái sanh ra, hiện hữu từ nơi ái.”

Đau khổ và sầu đau là từ nơi yêu thương sanh ra, có mặt là từ chỗ yêu thương sự bám chặt sự nắm chặt trong ái đó. Xong câu chuyện này ông Bà la môn về thuật lại cho Hoàng hậu, Hoàng hậu dùng một trí huệ để nói chuyện với nhà vua. Tậu Đại vương, Đại vương nghĩ thế nào đại vương có thương công chúa của thiếp không?

Phải có, này Hoàng hậu ta rất thương công chúa. Thưa Đại vương Đại vương nghĩ thế nào nếu như một sự biến đổi biến dịch đổi khác đến với công chua Đại vương có khởi lên sầu bi khổ u não hay không? Sự biến dịch ở đây là tai nạn hay bệnh hoạn hay có gì biến động đến con gái của Ngài lúc đó Ngài có khổ hay không?

Chắc chắn là có khổ, Hoàng hậu ta khổ chính liên hệ đến sự tình này tâu Đại vương mà Thế Tôn bậc tri giả bậc kiến giả tức là bậc thấy biết bậc A La Hán Chánh Đẳng Giác đã nói sầu bi khổ u não là do ái sanh ra hiện hữu từ nơi ái. Tâu Đại vương đại vương nghĩ thế nào, nếu phi tần của Đại vương nếu mà tướng quân của Đại vương, những phi tần của Đại vương, Đại vương có yêu thương hay không? Đại vương nói có, những tướng quân đại vệ thân cận đại vương có thương hay không? Ta có thương. Vậy nếu như những người đó có xảy ra chuyện gì lúc đó đại vương có khổ hay không?

Hoàng hậu đưa ra một mặt dài dài, từ người thân quyến thuộc đến những người thân cuối cùng Hoàng hậu kết luận chính liên hệ đến việc này mà Thế Tôn bậc tri giả kiến giả bậc A La Hán Chánh Đẳng Giác đã nói rằng sầu bi khổ u não khởi lên là do ái sanh ra hiện hữu từ nơi ái. Lúc này nhà vua vô cùng cảm động thật là vi diệu thay.

Này Hoàng hậu Mạc lợi thật là hy hữu thay này Hoàng hậu Thế Tôn đã thể nhập nhờ trí tuệ, đã thấy nhờ trí tuệ đến đây Malica hãy sửa soạn tẩy trần rồi nhà vua Ba tư nặc từ chỗ ngồi đứng dậy đắp thượng y và một bên vai chắp tay vái đức Thế Tôn, đảnh lễ đức Thế Tôn và nói lên lời cảm hướng, đảnh lễ Đức Thế Tôn Bậc A La Hán Chánh Đẳng Giác, đảnh lễ Đức Thế Tôn Bậc A La Hán Chánh Đẳng Giác, đảnh lễ Đức Thế Tôn Bậc A La Hán Chánh Đẳng Giác.

Qua câu chuyện này chúng ta thấy được điều gì? Nhà vua sau khi cảm nhận đạo lý đúng sự thật nhà vua đắp thượng y chắp tay xá đảnh lễ đức Thế tôn, bậc tôn quý nhất trên đời, bậc A La Hán Bậc Chánh Đẳng Giác thấu suốt tột cùng sự thật nói ba lần.

Qua bài kinh này liên hệ tới mình nếu như mà người thân thương nhất của mình ra đi mình rất khổ nên đây là bài kinh Ái sanh đồng nghĩa với khổ sanh, chỗ nào người nào sự việc nào mà mình yêu thích nhất chính chỗ đó người đó việc đó làm cho mình đau khổ nhiều nhất, đây là giáo pháp trực chỉ, người mình yêu thương nhất mình bị ràng buộc chính người đó bị cái gì là mình đau khổ nhất, mình liên hệ rộng ra nếu món đồ nào mình quan trọng nhất nếu món đồ đó bị mất hay bị hư hoại lúc đó mình đau khổ, sự việc nào mình coi đó là quan trọng thì sự việc đó làm mình mệt mỏi.

Muốn giải quyết vấn đề?

Sự thương yêu yêu thích nằm ở sắc nhiều, phần vật chất thân người hay món đồ căn nhà tài sản đó là sắc

III. Thánh Trí về sắc

Sắc định nghĩa trong kinh Thủ Chuyển, sắc là bốn đại chủng và sắc do bốn đại chủng tạo thành. Bốn đại chủng chỉ cho tứ đại

Định nghĩa trong kinh Đáng được ăn

Thế nào là sắc, bị biến đổi gọi là sắc, bị biến đổi bởi lạnh, bị biến đổi bởi nóng, đói khát, bị biến đổi bởi sự xúc chạm của ruồi. muỗi. sức nóng. chất rắn. bị biến đổi gọi là sắc. Sắc sanh, do thức an tập khởi nên sắc tập khởi. Sắc diệt, do thức ăn đoạn diệt nên sắc đoạn diệt. Sắc diệt đạo, con đường đưa đến sắc đoạn diệt là con đường đưa đến con đường thánh đạo tám nghành. Vị ngọt của sắc, do duyên nơi sắc lạc hỷ gì khởi lên, lạc hỷ đó gọi là vị ngọt của sắc, lạc hỷ ở đây chỉ cho cái vui thích đối với sắc. Sự nguy hại của sắc, sắc chịu sự biến đổi vô thường khổ gọi là sự nguy hại của sắc. Sự xuất ly của sắc, sự nhiếp phục dục và tham sự điều phục dục và tham gọi là sự xuất ly sắc.

Phải thuộc bảy trí huệ về sắc để mình quán chiếu, đối tượng mình tham ái là sắc pháp. Tại sao sắc chất sanh ra? Tại sao sắc chấm dứt đoạn diệt? Mình mù mịt đức Phật gọi mình là vô minh, mình không biết không hiểu.

Do thức ăn tập khởi nên sắc mới tập khởi. Bây giờ sắc thân của mình không ăn làm sao sống cho nên mình phải có thức ăn thì mình tồn tại đó gọi là sắc sanh tức là sắc thân này tồn tại, thức ăn duy trì nuôi lớn, lúc mình oa oa lọt lòng mẹ có ba ký bây giờ mấy chục ký là do thức ăn nuôi lớn. Không cho ăn uống là chết nên trí huệ đầu tiên là sắc sanh, tức là từ đâu mà sắc thân này sanh khởi ra được, tồn tại ra được, thức ăn tập khởi là sắc tập khởi, tập là sự tập hợp sự nhóm hợp, khởi là sự sanh khởi, do thức ăn nhóm hợp tập hợp lại sinh khởi ra, ngay khi tinh cha huyết mẹ ngay lúc đó thức ăn đưa vào mới phát triển nên trí thứ nhất là sắc sanh.

Trí thứ hai là sắc diệt nếu mà không có ăn thì sắc diệt. Sắc diệt đạo là tu tập bát chánh đạo. Vị ngọt của sắc. Nguy hại của sắc. Sự xuất ly thoát ra khỏi sắc

Thế nào là vị ngọt của sắc? Khi mình tiếp xúc với sắc mình khởi lên sự yêu thích thích thú khoan khoái trong đó nó hấp dẫn lôi cuốn thích thú đam mê, trói cột trong đó cái đó là vị ngọt của sắc. Đức Thế Tôn nói chính vì có vị ngọt này nên chúng sanh mới ưa thích sắc, đam mê sắc mới quyến luyến nắm chặt trong đó mở ra không được, buông xả không được đó là chấp thủ tức là nắm chặt cái đó nhưng chỗ đau đớn thay mình thấy vị ngọt nhưng mình không thấy nguy hại của sắc.

Thế nào là sự nguy hại của sắc? Sắc là vô thường, là khổ là sự biến hoại của sắc đó là sự nguy hiểm nguy hại của sắc, không có sắc nào tồn tại mãi mãi, sắc luôn luôn phải chịu sự biến đổi vô thường của khổ trong đó mình không quán chiếu nên khi sự khổ bày ra mình mới hụt hẫng hoãn loạn khổ đau.

Mình không có trí huệ, si mê, vô minh, nên không thấy được không chấp nhận được, có vị có một đứa con gái một duy nhất chết bảy năm rồi nhưng vẫn đau khổ, mỗi lần nói đến là khóc vì thương quá không chịu nỗi đó là sự nguy hại của sắc, sự biến đổi của sắc sự khổ, sự vô thường, bây giờ nghe nói bệnh, tới chết sợ không dám nhắc. Đó là mình trốn, tránh mình khỏa lấp, mình che đậy, mình không muốn trực diện đối diện với sự thật, sự thật đến thì sao? Ví dụ giờ mình có bệnh mà mình không dám đi khám bác sĩ, càng ngày càng nặng khi hay ra thời kỳ cuối, lúc đó đau khổ, nhưng nếu phát hiện sớm có thể trị được, mà mình để hoài không muốn nhắc tới nghĩ tới nó phát triển trong đó cái khổ của mình cũng giống vậy.

Tại sao mình sợ nhắc tới bệnh? Tại sao mình sợ nhắc già cái chết? Tại vì tham ái, sợ ánh sáng trí huệ. Tham ái về tự thân, về sắc thân, sợ trí huệ, sợ ánh sáng soi tới, sợ mất, sợ chạm tới bản thân của nó, không muốn đụng chạm, nhưng khi đến mình hoảng loạn, điên loạn, hụt hẫng. Nên người tu thông minh, Thánh Đệ Tử là phải quán chiếu sự nguy hại của sắc, phải quán chiếu ví dụ món đồ đó mình ưa thích mình phải biết món đồ đó là vô thường, món đồ này nó sẽ biến đổi món đồ đó nó sẽ tan hoại, món đồ là gì thân mình cũng tan hoại nói gì món đồ, đó là trí huệ là tuệ lực, người thân mình ra đi rồi sẽ đến phiên mình.

Nỗ lực tinh tấn tu tập thấy được khổ của sắc, ví dụ thân mình nay bảy mươi mấy năm thấy khổ mình quán chiếu bao nhiêu mầm bệnh

“Hãy xem bong bóng đẹp,

Chỗ chất chứa vết thương,

Bệnh hoạn nhiều suy tư,

Thật không gì trường cửu.”

“Sắc này bị suy già,

Ổ tật bệnh, mỏng manh,

Nhóm bất tịnh, đỗ vỡ,

Chết chấm dứt mạng sống.”

Kinh Pháp Cú – 147, 148

Chết là chấm dứt mạng sống, phải thấy được cái khổ trong thân này để khi mình quán chiếu, mình nhàm chán lúc mình ra đi mình không nuối tiếc, mình không quyến luyến, không khổ sầu, nếu không mình hoảng sợ, sợ mất, hoảng loạn, sợ hãi, đưa mình đi vào chỗ tối tăm, đưa mình đi đến chỗ đau khổ, thấy bản chất sự thật.

Được như vậy, mình sẽ ra đi một cách an nhiên tự tại, cái đó là công năng nghe pháp. Cần phải quán chiếu tu tập mới được như vậy, nên quán bệnh khổ trong sắc thân này rất quan trọng, nhiều khi mình chứng kiến những chuyện mình thấy không có gì nhưng nó đưa tới bất hạnh, rất đơn giản, mình nghĩ bệnh, sự nguy hiểm đưa đến với mình rất dễ, tập thể dục cho khỏe, mà tập té đập đầu vào bệnh viện, hay ra Đà Lạt chụp hình ở đồi cao, đứng chụp lăn xuống dưới chảy máu bị thương rất dễ, rất mong manh.

Đó là nỗi khổ của sắc thân sắc này nó giòn, tưởng chắc chắn là si mê, nó rất mong manh, quán chiếu thường như vậy, mình sanh ra trí huệ rất tuyệt vời. Mới hôm qua Minh Thành trên núi lấy cái áo mặc, nghĩ bình thường, rất bình an, không có chuyện gì nhưng lấy áo ra, ong bay ra cắn cái tay sưng lên. Áo mình mặc làm sao tưởng tưởng được, nó rất mong manh, mình cứ nghĩ mình bền chắc, nghĩ thân này làm bằng kim cương, thân này như cây chuối, lột từng bẹ từng bẹ không có lõi chắc.

Phải quán tính nguy hại, nguy hiểm, tai hại của nó, mà vì thân này mình khổ rất nhiều, lo ăn uống. Vì thân này biết bao nhiêu nghiệp, mình không phân biệt thiện pháp và bất thiện pháp, mình không phân biệt được nghiệp đen nghiệp trắng, mình không phân biệt được cái lợi cái hại, mình thấy bao nhiêu thân này chất chứa tích tũy cái nghiệp.

Quán chiếu cái này mình thấy rất sợ hãi, bạn trai bạn gái yêu thương không được, giết hại lẫn nhau, mình quán chiếu tham sân si lừng lẫy. Mình được ngồi trong đây rất là hạnh phúc, mình đang ngồi trong ánh sáng của Bậc Chánh Đẳng Giác. Có chuyện đau lòng xót xa vô hạn, cha cô năm nay bảy mươi bảy tuổi, ông cụ này bệnh bại liệt, cô đưa làm thủ tục xong bỏ đi luôn, người ta điện thoại không liên lạc được, mọi người trong đó người cho bịch sữa, chén cháo ăn, bốn đứa con bỏ ông vào viện, mỗi lần cánh cửa mở, ông nhóm dậy nhìn xem, mà không ai vào thăm nuôi, bốn đứa con, hai bà vợ. Cho nên mình nhờ phước lành, thiện nghiệp mới ngồi đây, mình không có phước lành, không có thiện nghiệp, nằm một chỗ đại tiểu tiện một chỗ, quán chiếu sự nguy hại sự vô thường khổ biến hoại của các sắc đó là sự nguy hại của sắc.

Làm sao xuất ly khởi sắc vượt ra khởi sắc, nhiếp phục dục và tham, đoạn tận dục và tham ở trong sắc, nhiếp phục được nó thì quý vị sẽ vượt ra khỏi nó, nhiếp phục được nó mình trị được nó, trị được tâm tham đối với sắc, mình trị nó được giống như Tôn Ngộ Không, có vòng kim cô, niền vô không quậy mình nữa.

Sắc diệt đạo, tức là Bát Chánh Đạo. Đầu tiên mình muốn nhiếp phục dục và tham muốn đoạn tận dục và tham, chấm dứt dục và tham thì mình phải thành tựu được Chánh Tri Kiến, Chánh Chi Kiến là thấy biết chân chánh thấy đúng mới được nếu không thấy đúng mình nhìn sai mình nghĩ sai nói sai trật hết mình đi theo vô minh đi theo bát tà đạo chứ không phải Bát Chánh Đạo.

Thấy như thế nào là thấy đúng? Sắc là tứ đại chứ không phải sắc là tôi là của tôi, sắc thân này là đất, nước, gió, lửa kết hợp lại, ở ngoài cũng là đất nước gió lửa chứ không phải là tôi là của tôi. Mình nghĩ sai, mình nhìn sai, mình nghĩ đây là tôi, mấy cái này là của tôi, cái đó là sai, đây là tứ đại kết hợp. Cũng như sắc tập khởi, có thức ăn có nên mình có, thức ăn không nên mình không.

Đó là nói về đất, nước là mình có uống thì mình mới có nếu không có nước uống mình không có, gió là có không khí có hô hấp có tuần hoàn nên mình có, có ánh sáng mặt trời có nhiệt độ là lửa trong thân mình có thân nhiệt vận hành, tất cả đều là tứ đại đất, nước, gió, lửa nhưng vô minh mình nghĩ đây là tôi đây là của tôi mình nghĩ sai, ví dụ lúc đó Minh Thành đi thấy tai nạn giao thông, văng cánh tay ra một khúc, thấy gân, thấy máu, thấy mỡ, thấy thịt, cánh tay nằm đó giờ là của ai?

Nếu như có người đến cán tiếp cánh tay đó thì người bị tai nạn nằm bên đây không còn nói cánh tay của tôi, ông lại cán, lúc đó lìa khỏi thân là hết. Ví dụ mình đang ăn nhai mía tự nhiên rớt răng ra, khi rớt ra là thôi bỏ. Cho nên sai lầm chấp thủ là chỗ mình bám chặt trong ý tưởng, mình sai lầm, cho đây là tôi của tôi, hai chữ này làm cho mình chết vô minh si mê, làm sao mình gỡ hai chữ này mình nghĩ rằng đất nước gió lửa chứ không phải mình.

Tối mình ngồi quán chiếu ba mươi hai thể trược, tóc, móng, răng, thịt, xương, gân... Mình quán từng cái, quán thời gian là mình xuất ly khỏi sắc, trí huệ vào dòng thánh, ít nhất cũng nhiếp phục được dục và tham đối với sắc, cái này là trí huệ của Bậc Chánh Đẳng Giác không bình thường, phải tu mới được, nếu không tu cái này không nhiếp phục được dục và tham đây là bất tịnh quán, trị tham bằng bất tịnh quán ba mươi hai thể trược là ba mươi hai thứ không sạch sẽ. Mình quán như vậy để pháp cái chấp của tôi và mình phá được tham dục, tham ái đối với thân của người khác.

Thứ ba là khi mình sắp sửa ra đi mình nói ba cái này đồ dơ bẩn bất tịnh mỗi ngày, mình quán mình sắp rã mình không còn mang những đồ dơ bẩn này nữa, thì quý vị đi thẳng. Cái này quán sâu sắc chứng quả đoạn tận tham sân si phá hết.

Quán xác chết khi mình nằm đó nó sình lên làm sao sình lên làm sao? sình lên dòi ăn đầy người, quạ kên kên ăn rỉa mỡ máu rỉa riết còn bộ xương năm tháng khô da thịt máu khô còn bộ xương từ từ rãi rắc đầu bên đây xương ống quyển bên kia mỗi chỗ mỗi nơi rã hết rồi nát thành tro. Quán chiếu như vậy nhiếp phục được dục và tham đoạn tận được dục và tham xuất ly khỏi sắc, mình thường tập như vậy sẽ thành tựu được Chánh Tri Kiến, Chánh Tư Duy thấy đúng suy xét đúng, mình nói đúng pháp và bắt đầu giữ vững giới, nuôi mạng sống đúng, nói nghĩ làm đúng, siêng năng tinh tấn. Luôn luôn quán chiếu suy niệm về bất tịnh quán tứ đại quán chín giai đoạn của một tử thi đưa đến tâm an định Chánh Định tu tập đó là cỗ xe tối thượng đưa mình tới Niết Bàn đó là tối thượng thừa.

./.