Thư Viện Linh Quy
← Danh sách

MẬT MÃ THẾ GIỚI 7 - BỐN CHÂN LÝ VĨ ĐẠI

2026-03-03 00:53:11
Tinh Hoa Nikāya

MẬT MÃ THẾ GIỚI 7

BỐN CHÂN LÝ VĨ ĐẠI

Thích Minh Thành

MỤC LỤC

TOC \o "1-3" \h \z \u I.Bốn sự suy vong PAGEREF _Toc87940939 \h 1

1.Lão suy vong PAGEREF _Toc87940940 \h 3

2.Bệnh suy vong PAGEREF _Toc87940941 \h 4

3.Tài sản suy vong PAGEREF _Toc87940942 \h 5

4.Thân tộc suy vong PAGEREF _Toc87940943 \h 6

II.Bốn sự thuyết giáo Chánh Pháp PAGEREF _Toc87940944 \h 7

1.Thế giới là vô thường đi đến hủy diệt PAGEREF _Toc87940945 \h 8

a.Bài kinh “Xuất Hiện” PAGEREF _Toc87940946 \h 11

b.Chiêm nghiệm trí tuệ siêu việt trong hai từ “các hành” PAGEREF _Toc87940947 \h 13

2.Thế giới là vô hộ, vô chủ PAGEREF _Toc87940948 \h 20

3.Thế giới là vô sở hữu PAGEREF _Toc87940949 \h 22

4.Thế giới là thiếu thốn, khao khát, nô lệ cho tham ái PAGEREF _Toc87940950 \h 23

Bốn sự suy vong

Chúng ta cùng nghe Tôn giả Ratthapala trình bày về “Bốn sự thuyết giáo Chánh Pháp”, đây là bốn sự thuyết giáo vĩ đại của Thế Tôn qua bài kinh “Ratthapala”, Trung Bộ Kinh.

Sau khi Tôn giả Ratthapala thăm viếng và hóa độ gia đình thì Ngài đi đến vườn Lộc Uyển để nghỉ ngơi vào buổi trưa. Đúng lúc đó, nhà vua Koravya muốn đến thăm vườn Lộc Uyển:

– Này Thợ Săn, hãy dọn dẹp đất vườn ở Lộc Uyển, ta muốn đi thăm viếng cảnh đẹp”.

Người thợ săn vâng đáp vua Koravya, trong khi dọn dẹp vườn Nai, thấy Tôn giả Ratthapala đang ngồi dưới gốc cây để nghỉ trưa. Sau khi thấy vậy, người ấy liền đến vua Koravya, sau khi đến liền tâu vua Koravya

– Tâu Đại vương, vườn Nai đã được dọn dẹp. Và ở đấy có Thiện nam tử tên là Ratthapala là con một thế gia ở Thullakotthita mà Đại vương thường hay tán thán, vị ấy đang ngồi dưới một gốc cây để nghỉ trưa.

Tôn giả Ratthapa là con của một thế gia tức là con của một gia đình rất giàu có, nổi tiếng và có thế lực. Nhà vua thường hay tán thán, khen ngợi khi nghe tin Ngài đi xuất gia. Khi nghe tin Tôn giả Ratthapala đang nghỉ trưa dưới gốc cây, nhà vua nói đây là dịp đúng thời, đúng lúc và vua muốn cúng dường Tôn giả Ratthapala.

Vua Koravya nói thêm: “Hãy đem bố thí tất cả món ăn đã soạn sẵn, loại cứng và loại mềm”, ra lệnh cho thắng nhiều cỗ xe thù thắng, leo lên một cỗ xe thù thắng, liền cùng với các cỗ xe đi ra khỏi Thullakotthita để yết kiến Tôn giả Ratthapala với đại uy phong của bậc đế vương.

Vua cho người chuẩn bị những thực phẩm, đồ ăn để cúng dường và ra lệnh chuẩn bị những cỗ xe thù thăng và vua leo lên một chiếc xe rất đẹp, cùng đoàn xe đến viếng thăm Tôn giả Ratthapala.

Sau khi cỡi xe cho đến chỗ đất còn có thể cỡi xe được, Ngài xuống xe, đi bộ, cùng với hàng tùy tùng vương hầu, đến chỗ của Tôn giả Ratthapala, sau khi đến, nói lên những lời chào đón hỏi thăm với Tôn giả Ratthapala, sau khi nói lên những lời chào đón hỏi thăm thân hữu, liền đứng một bên. Đứng một bên, vua Koravya bạch Tôn giả Ratthapala:

– Ở đây xin mời Tôn giả Ratthapala ngồi xuống trên nệm voi.

– Thôi vừa rồi, Đại vương! Đại vương hãy ngồi. Tôi đã ngồi trên chỗ ngồi của tôi.

Dù được nhà vua mời ngồi ở chỗ sang trọng, trên nệm voi quý phái, cao sang nhưng Tôn già Ratthapala không ngồi. Sau đó nhà vua ngồi vào chỗ đã soạn sẵn của vua và bắt đầu nêu ra vấn đề. Một người quân vương, đế vương, thiên tử khi nêu ra những vấn đề thì đó là những vấn đề không phải bình thường.

– Bạch Tôn giả Ratthapala, có bốn sự suy vong này. Chính do thành tựu bốn sự suy vong này mà ở đây, có người cạo bỏ râu tóc, đắp áo cà-sa, xuất gia từ bỏ gia đình, sống không gia đình. Thế nào là bốn? Lão suy vong, bệnh suy vong, tài sản suy vong, thân tộc suy vong.

Nhà vua nêu ra bốn sự suy vong, tức là bốn sự suy tàn và diệt vong.

Thứ nhất là “lão suy vong”, nghĩa là do sự suy tàn của tuổi già, mất đi sức khỏe thời niên thiếu, khi đó những người già này mới đi tu. Ở Ấn Độ, lúc 50 tuổi người ta mới đi tu, sống đời phạm chí. “Chí” là chí hướng, “hạnh” là phạm hạnh, tức là sống đời phạm hạnh trong sạch của người tu hành. Sau 50 tuổi, người ta từ bỏ gia đình, sống đời du sĩ trong rừng trong núi, đi đây đi đó để tu hành. Người ta nghĩ rằng từ lúc nhỏ cho đến tuổi đó là họ đã hoàn thành trách nhiệm của đời sống, cho nên sau 50 tuổi là người ta sống cho chính mình. Vì vậy, ở Ấn Độ có đời sống phạm chí. Bởi thế, nhà vua nói khi nào đến lúc “lão suy vong”, tuổi già, suy tàn thì mới đi tu.

Thứ hai là “bệnh suy vong”, tức là do thân bệnh, không làm gì nổi nữa nên mới đi tu.

Thứ ba là “tài sản suy vong”, tức là khi mất mát, phá sản hết tất cả thì mới đi tu.

Thứ tư là “thân tộc suy vong”.

Nhà vua nói vì bốn lí do trên nên người ta mới đi tu. Khi nói vấn đề nào ra thì nhà vua giải thích kèm theo:

Lão suy vong

Này Tôn giả Ratthapala, thế nào là lão suy vong? Ở đây, thưa Tôn giả Ratthapala có người niên cao, lạp lớn, đã đến tuổi trưởng thượng, đã sống mãn kỳ, đã gần mệnh chung. Vị ấy suy tư như sau: "Nay ta đã già, niên cao lạp lớn, đã đến tuổi trưởng thượng, đã sống mãn kỳ, đã gần mệnh chung. Thật không dễ gì cho ta thâu được các tài vật chưa thâu hoạch được, hay làm tăng trưởng các tài vật đã thâu hoạch. Vậy ta hãy cạo bỏ râu tóc, đắp áo cà-sa, xuất gia từ bỏ gia đình, sống không gia đình". Vị này, do thành tựu lão suy vong nên cạo bỏ râu tóc, đắp áo cà-sa, xuất gia từ bỏ gia đình, sống không gia đình.

Vị này suy nghĩ mình đã già, không còn làm ăn gì được nữa, nếu có tài sản thì cũng không đủ sức để phát triển nó. Hơn nữa, đến hiện tại người này thấy rằng mình đã sống đầy đủ, mãn kỳ, gần ra đi, thế nên vị này đi tu.

Như vậy, thưa Tôn giả Ratthapala được gọi là lão suy vong. Nhưng Tôn giả Ratthapala nay còn trẻ, niên thiếu, còn thanh niên, tóc đen nhánh, trong tuổi thanh xuân, trong sơ kỳ tuổi đời; Tôn giả Ratthapala đâu có lão suy vong? Vậy Tôn giả Ratthapala đã biết gì, đã thấy gì, hay đã nghe gì mà xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình?

Nhà vua nói Tôn giả Ratthapa còn trong sơ kỳ tuổi đời, còn trẻ, niên thiếu, còn thanh niên, tóc đen nhánh, trong tuổi thanh xuân, gia đình danh gia vọng tộc, giàu có, quyền thế, không bị cái già làm cho suy tàn, không bị suy lão. Vì vậy, vua hỏi Ngài đã biết gì, thấy gì mà chọn con đường xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình. Tôn giả Ratthapala không trả lời liền, Ngài bình thản để nhà vua nói tiếp. Qua đó chúng ta thấy rằng, cảm thọ của các bậc ngày xưa rất an tịnh, lắng dịu, trầm tĩnh, không bị dao động, động loạn, sôi nổi, sôi sục giống như người bây giờ. Nhất là các bậc đế vương, các bậc tu hành thì cảm thọ càng lắng dịu.

Bệnh suy vong

Nhà vua nói tiếp:

Và thưa Tôn giả Ratthapala, thế nào là bệnh suy vong? Ở đây, thưa Tôn giả Ratthapala, có người bị bệnh, khổ đau, mang trọng bệnh. Vị ấy suy nghĩ như sau: "Ta bị bệnh, khổ đau, mang trọng bệnh, thật không dễ gì cho ta thâu được các tài vật chưa thâu hoạch được, hay làm tăng trưởng các tài vật đã thâu hoạch được. Vậy ta hãy cạo bỏ râu tóc, đắp áo cà-sa, xuất gia từ bỏ gia đình, sống không gia đình". Vị này do thành tựu bệnh suy vong nên cạo bỏ râu tóc, đắp áo cà-sa, xuất gia từ bỏ gia đình, sống không gia đình.

Người này bị bệnh, làm ăn không được nữa, cho nên người này dành tuổi đời còn lại dành để đi tu, kiếm chút vốn luyến, phước báu, trí tuệ, tinh thần để lo cho đời sau.

Như vậy, thưa Tôn giả Ratthapala, được gọi là bệnh suy vong. Nhưng Tôn giả Ratthapala nay ít bệnh, ít não, tiêu hóa được điều hòa, không quá lạnh, không quá nóng; Tôn giả Ratthapala đâu có bệnh suy vong? Tôn giả Ratthapala đã biết gì, đã thấy gì hay đã nghe gì mà xuất gia từ bỏ gia đình, sống không gia đình?

Nhà vua nói Tôn giả Ratthapala không bị bệnh làm cho suy tàn, vậy tại sao Ngài phải đi tu.

Các quý thầy, quý sư cô cần phải nằm lòng bài kinh này, vì đây thật sự là mẫu mực, mô phạm, nhân thiên sư phạm của bậc Thánh đối với người xuất gia. Từng câu, từng chữ trong bài kinh hết sức sâu sắc, bao trùm thế giới này.

Tài sản suy vong

Và thưa Tôn giả Ratthapala, thế nào là tài sản suy vong? Ở đây, thưa Tôn giả Ratthapala có người giàu sang, tiền của nhiều, tài vật nhiều, và những tài vật của vị ấy dần dần đi đến chỗ suy vong. Vị ấy suy nghĩ như sau: "Ta trước đây giàu sang, tiền của nhiều, tài sản nhiều. Những tài vật ấy của ta dần dần đã đi đến suy vong. Thật không dễ gì cho ta thâu được những tài vật chưa thâu hoạch được, hay làm cho tăng trưởng những tài vật đã thâu hoạch được. Vậy ta hãy cạo bỏ râu tóc, đắp áo cà-sa, xuất gia từ bỏ gia đình, sống không gia đình". Vị này do thành tựu tài suy vong nên cạo bỏ râu tóc, đắp áo cà-sa, xuất gia từ bỏ gia đình, sống không gia đình.

Người này nghĩ rằng trước đây họ giàu có, nhiều tiền bạc, nhiều tài sản nhưng hiện giờ đã bị phá sản, tiêu tan, tay trắng, túi trống không, không còn gì nữa, cho nên người này đi tu.

Như vậy, thưa Tôn giả Ratthapala được gọi là tài suy vong. Nhưng Tôn giả Ratthapala chính tại Thullakotthita này, là con của một lương gia đệ nhất; Tôn giả Ratthapala đâu có tài sản suy vong? Tôn giả Ratthapala đã biết gì, đã thấy gì, hay đã nghe gì mà xuất gia từ bỏ gia đình, sống không gia đình?

Vua nói Tôn giả Ratthapala là con của một gia đình giàu có, nổi tiếng nhất vùng, chẳng những giàu có mà còn là một gia đình hiền lành, lương thiện. Ngài không bị phá sản, không bị mất mát gì nhưng Ngài đi xuất gia, cho nên nhà vua hỏi Ngài thấy được gì, biết được gì mà lại chọn như vậy.

Qua đó, chúng ta thấy rằng, những người xưa đi tu là những người có chức tước, có quan quyền, là đại gia, là quý tộc, là hoàng thân, có trí thông minh nhưng vẫn chọn đi tu. Còn bây giờ nhiều người nghèo rớt mồng tơi, rơi củ chuối, khổ sở rất nhiều mới đi tu, vậy mà vào tu vẫn không nỗ lực, còn luyến tiếc ngoài đời rồi muốn quay trở về. Điều đó chứng tỏ rằng nghiệp của chúng sanh bây giờ rất nặng nề. Vì thế, chúng ta cần học những bài kinh này để được hun đúc, tưới tẩm, thúc đẩy, có thêm động lực, sinh lực để hướng thượng, vượt lên.

Thân tộc suy vong

Và này Tôn giả Ratthapala, thế nào là thân tộc suy vong? Ở đây, thưa Tôn giả Ratthapala có người có nhiều thân hữu quen biết, bà con huyết thống, những thân hữu quyến thuộc của người ấy dần dần đi đến chỗ suy vong. Người ấy suy tư như sau: "Trước kia, ta có nhiều người thân hữu quen biết, bà con huyết thống. Những thân hữu quyến thuộc ấy của ta dần dần đi đến chỗ suy vong. Thật không dễ gì cho ta thâu được những tài vật chưa thâu hoạch được, hay làm cho tăng trưởng những tài vật đã thâu hoạch được. Vậy ta hãy cạo bỏ râu tóc, đắp áo cà-sa, xuất gia từ bỏ gia đình, sống không gia đình". Vị này do thành tựu thân tộc suy vong nên cạo bỏ râu tóc, đắp áo cà-sa, xuất gia từ bỏ gia đình, sống không gia đình.

Có người có nhiều bà con, cô bác, anh chị em, bạn bè, thân hữu, quen biết, bà con huyết thống nhưng người này dần dần mất đi người thân. Chẳng hạn cha mẹ mất, anh em mất, bà con mất. Hoặc do bệnh tật, tai nạn, lũ lụt, sóng thần, hỏa hoạn, dịch bệnh nên người này mất hết người thân. Người này lẻ loi, cô đơn, buồn rầu nên quyết định cạo bỏ râu tóc mà đi tu.

Như vậy, thưa Tôn giả Ratthapala, được gọi là thân tộc suy vong. Nhưng Tôn giả Ratthapala ở chính tại Thullakotthita này, có nhiều thân hữu quen biết, bà con huyết thống, Tôn giả Ratthapala đâu có thân tộc suy vong? Vậy Tôn giả Ratthapala đã biết gì, đã thấy gì hay đã nghe gì mà xuất gia từ bỏ gia đình, sống không gia đình?

Vua nói Tôn giả Ratthapala có cha mẹ, có anh chị em, có thân hữu, bà con, dòng họ huyết thống đông đúc, không bị thân tộc suy vong. Thế nên vua hỏi Ngài nghe, Ngài thấy, Ngài hiểu biết điều gì mà lại chọn đi tu. Cuối cùng, vua Koravya nói thêm:

– Thưa Tôn giả Ratthapala, đây là bốn loại suy vong, do thành tựu bốn loại suy vong này mà ở đây, có người cạo bỏ râu tóc, đắp áo cà-sa, xuất gia từ bỏ gia đình, sống không gia đình; Tôn giả Ratthapala đâu có những loại ấy? Vậy Tôn giả đã biết gì, đã thấy gì, hay đã nghe gì mà xuất gia từ bỏ gia đình, sống không gia đình?

Bốn sự thuyết giáo Chánh Pháp

Và sau đây là câu trả lời của bậc Thánh Tăng:

– Thưa Đại vương, có bốn sự thuyết giáo Chánh pháp, được Thế Tôn, bậc Tri Giả, Kiến giả, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác giảng dạy. Do tôi biết, tôi thấy và tôi nghe thuyết giáo ấy, mà tôi xuất gia từ bỏ gia đình, sống không gia đình.

Tôn giả Ratthapala nói lên bốn sự thuyết giáo Chánh Pháp, đây là bốn chân lý, bốn sự thật được Thế Tôn giảng dạy, trình bày, tuyên thuyết.

Thế nào là bốn?

"Thế giới là vô thường, đi đến hủy diệt", thưa Đại vương, đó là thuyết giáo Chánh pháp thứ nhất, do Thế Tôn, bậc Tri Giả, Kiến Giả, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác, thuyết giảng. Do tôi biết, tôi thấy và tôi nghe thuyết giáo ấy, mà tôi xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình.

"Thế giới là vô hộ, vô chủ", thưa Đại vương, đó là thuyết giáo Chánh pháp thứ hai, do Thế Tôn, bậc Tri Giả. Kiến Giả, bậc A-lahán, Chánh Đẳng Giác thuyết giảng. Do tôi biết, tôi thấy và tôi nghe thuyết giáo ấy, mà tôi xuất gia từ bỏ gia đình, sống không gia đình.

"Thế giới là vô sở hữu, ra đi cần phải từ bỏ tất cả", thưa Đại vương đó là thuyết giáo Chánh pháp thứ ba, do Thế Tôn, bậc Tri Giả, Kiến Giả, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác thuyết giảng. Do tôi biết, tôi thấy, tôi nghe thuyết giáo ấy, mà tôi xuất gia từ bỏ gia đình, sống không gia đình.

"Thế giới là thiếu thốn, khao khát, nô lệ cho tham ái", thưa Đại vương, đó là thuyết giáo Chánh pháp thứ tư, do Thế Tôn, bậc Tri Giả, Kiến Giả, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác thuyết giảng. Do tôi biết, tôi thấy, tôi nghe thuyết giáo ấy, mà tôi xuất gia từ bỏ gia đình, sống không gia đình.

Đây là bốn chân lý về thế giới, bốn đại thuyết giáo của Chánh Pháp mà chúng ta phải học thuộc lòng và làm đề mục quán chiếu thường xuyên.

Thế giới là vô thường đi đến hủy diệt

Sau khi nghe xong, nhà vua hỏi:

– Tôn giả Ratthapala đã nói: "Thế giới là vô thường đi đến hủy diệt, " ý nghĩa của lời nói này cần phải được hiểu như thế nào, thưa Tôn giả Ratthapala?

Nhà vua nghe xong phải hỏi lại ý nghĩa của câu nói của Tôn giả Ratthapala như thế nào, trong khi đó có nhiều người sau khi nghe xong là nói hiểu rồi, không cần giải nghĩa, đó chính là sự nông cạn, thiển cận, cạn cợt, là cái tôi, là bản ngã của người học bây giờ. Có rất nhiều người chưa học được gì thì tự cho rằng mình giỏi, mới học được vài chữ thì cho rằng mình đầy bụng, mới nghe phớt phớt “thân vô thường, tâm vô thường, cảnh vô thường” thì cho rằng mình đã hiểu được vô thường… Người như vậy sẽ mãi mãi là phàm phu, vì họ cho rằng mình đã hiểu hết nên không có sự đào sâu, học hỏi, quán chiếu. Trong khi đó, chỉ cần thể nhập hai chữ “vô thường” là có thể thành tựu từ Dự lưu cho đến Thánh quả A-la-hán.

Ở đây, vua Koravya là một vị là đế vương, chẳng lẽ vua không hiểu được câu "Thế giới là vô thường, đi đến hủy diệt" nhưng Ngài vẫn hỏi ý nghĩa của câu nói này. Còn chúng ta, khi nghe câu này thì có thể hiểu nhưng chắc chắn rằng cách hiểu của mình khác với cách hiểu của bậc Thánh. Câu hỏi của nhà vua trong đoạn kinh này thể hiện thái độ của người học đạo, cho nên khi đọc kinh, chúng ta phải để ý từng chút một, có như vậy mới học được nhiều góc độ, khía cạnh, trí tuệ trong những bài kinh.

Sau khi nhà vua hỏi xong, Tôn giả Ratthapala nói:

– Thưa Đại vương, Đại vương nghĩ thế nào? Khi Ngài 20 tuổi, hay 25 tuổi, Ngài có thiện nghệ về voi, thiện nghệ về ngựa, thiện nghệ về xe, thiện nghệ về cung, thiện nghệ về kiếm, bắp vế mạnh và cánh tay mạnh, có khả năng và thiện nghệ trong nghề đánh giặc?

– Thưa Tôn giả Ratthapala, khi tôi được 20 hay 25 tuổi, tôi thiện nghệ về voi, tôi thiện nghệ về ngựa, thiện nghệ về xe, thiện nghệ về cung, thiện nghệ về kiếm, bắp vế mạnh, và cánh tay mạnh, có khả năng và thiện nghệ trong nghề đánh giặc. Có đôi lúc, thưa Tôn giả Ratthapala, tôi cảm thấy có thần lực và xem không ai có thể bằng tôi về sức mạnh.

Thiện nghệ ở đây chính là sự khéo léo trong nghệ thuật cỡi voi, cỡi ngựa, bắn cung, cầm kiếm, cung thuật, võ nghệ, tay chân đầy sức mạnh và có tài trong việc cầm quân đánh giặc. Có lúc nhà vua cảm thấy như có thần lực và không ai bằng vua về sức mạnh.

– Thưa Đại vương, Đại vương nghĩ thế nào? Nay Đại vương vẫn còn bắp vế mạnh, cánh tay mạnh, có khả năng và thiện nghệ đánh giặc như vậy không?

– Không như vậy, thưa Tôn giả Ratthapala, nay tôi đã già, niên cao, lạp lớn, đã đến tuổi trưởng thượng, đã sống mãn kỳ, đã gần mệnh chung, gần 80 tuổi thọ. Có đôi lúc, thưa Tôn giả Ratthapala, tôi nghĩ: "Ở đây, ta sẽ bước chân", nhưng tôi lại bước chân tại chỗ khác.

Có lúc vua muốn bước chân qua chỗ này nhưng cuối cùng lại đặt chân qua chỗ khác, không theo ý nghĩ của vua. Hiểu sâu thêm là có khi vùa bị choáng váng, trợt, té, vì Ngài đã 80 tuổi.

– Chính liên hệ với nghĩa này, này Đại vương mà Thế Tôn, bậc Tri Giả, Kiến Giả, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác đã nói: "Thế giới là vô thường, đi đến hủy diệt", và tôi sau khi biết, sau khi thấy và sau khi nghe như vậy đã xuất gia từ bỏ gia đình, sống không gia đình.

Tôn giả Ratthapala nói chính vì sự liên hệ giữa sự suy tàn của tuổi trẻ mà đi đến chỗ suy vong của tuổi già. Tuổi trẻ mất, sức khỏe mất, sức mạnh không còn, tay chân bủn rủn, mắt mờ, lưng còng, da nhăn, gối mỏi… những gì tươi trẻ, sức khỏe, mạnh mẽ, uy lực, thần lực, những thiện nghệ, tài năng đã suy lão và diệt vong, suy tàn và mất mát. Chính vì vậy mà Đức Thế Tôn – bậc thấy biết cùng tột, bậc thấu suốt sự thật về thân tâm, thế giới này đã nói: "Thế giới là vô thường, đi đến hủy diệt". Sau khi thấy, sau khi biết, sau khi nghe như vậy thì Tôn giả Ratthapala đã xuất gia.

Tôn giả Ratthapala và nhà vua đồng thời nói về tuổi già nhưng nhà vua nói kết quả của tuổi già, tức là đến lúc già, mất hết tuổi trẻ thì người ta mới đi tu. Còn Ngài Ratthapala không phải đợi đến cái quả, mà Ngài suy ngược về cái nhân. Tức là từ lúc còn trẻ là Tôn già Ratthapala đã nhìn ra được sự suy vong của cái già. Cho nên, Đức Phật có nói “tánh già nằm trong tuổi trẻ”. Như vậy, vấn đề nhà vua đưa ra và câu trả lời của Tôn giả Ratthapala có liên hệ với nhau. Tuy nhiên, kẻ vô văn phàm phu, người ngoài đời thì đợi đến lúc già, lúc quả đến thì họ mới thấy, còn bậc Đa văn Thánh đệ tử thì nhìn từ cái nhân. Nghĩa là từ lúc trẻ các vị đã thấy kết quả, thấy được cái già để chuẩn bị, lo liệu trước khi nó xảy ra.

"Thế giới là vô thường, đi đến hủy diệt". Nếu không được học, chúng ta sẽ tưởng hai chữ “thế giới” này là Mỹ, Úc, Tây, Tàu, châu Âu, châu Phi… nhưng chúng ta đã được học ba định nghĩa về thế giới, gồm: năm dục trưởng dưỡng; căn, trần, thức, xúc, thọ, ái, thủ, hữu; ngũ uẩn. Trong những bài kinh Đức Phật nói về tất cả các góc độ, khía cạnh nhưng tóm lại ngũ uẩn này vẫn là bao trùm hết. Trong Căn Bản Trí, chúng ta thay thế chữ “thế giới” bằng chữ “thân”, vì nếu để chữ “thế giới” thì nhiều người không biết sẽ hiểu thế giới là năm châu bốn biển… Vì vậy, nếu không thành tựu trí tuệ về ngũ uẩn thì chúng ta không thể nào nắm được thân tâm, nắm được thế giới trong lòng bàn tay được. Thông thường, khi nghe đến hai chữ “thế giới” thì mình nghĩ đó là thiên địa, vạn vật nhưng thật ra đó chỉ mới là sắc uẩn, mà sắc lớn thì nằm ngoài trái đất, còn sắc nhỏ chính là sắc thân này. Vì thế, khi thay chữ “thế giới” bằng chữ “thân” thì nghĩa của câu này được sáng tỏ: "Thân là vô thường, đi đến hủy diệt". Nghĩa là cánh tay không còn khỏe, bước chân run rẩy, mắt mờ, tai điếc, lưng còng, gối mỏi, da nhăn… đi đến lão suy vong. Sau khi nghe xong, nhà vua tán thán:

– Thật vi diệu thay, Tôn Giả Ratthapala! Thật hy hữu thay, Tôn giả Ratthapala! Ý nghĩa này được Thế Tôn, bậc Tri Giả, Kiến Giả, Bậc A la hán, Chánh Đẳng Giác đã khéo nói: "Thế giới là vô thường, đi đến hủy diệt". Thật vậy, thưa Tôn giả Ratthapala, thế giới là vô thường, đi đến hủy diệt.

Chỉ một câu kinh ngắn như vậy nhưng là chân lý bao trùm cả trái đất, chúng ta không được học phớt qua mà phải đọc tới đọc lui, nghiền ngẫm, thiền quán, tư duy, mở rộng ra các phạm trù trong cuộc sống. Còn nếu chỉ đọc qua rồi thôi thì chúng ta không có cảm thọ, không thấy chấn động, không tiếp xúc được với sự thật. Chúng ta phải khắc ghi vào trong tim, vào trong trí não, vào trong cảm thọ những chân lý này, phải tích tụ, chất chứa, cất giữ giống như bảo vật, vàng bạc, hột xoàn, của báu.

"Thân là vô thường, đi đến hủy diệt", tự tánh đổi khác, thay đổi, biến dị, làm cho khác đi, không còn giống lúc ban đầu, đi đến chỗ hủy diệt, tan vỡ, diệt vong, diệt tận. Đó là chân lý thứ nhất về thân xác này, chữ “thân” này là chỉ mới nói về sắc uẩn, nói đầy đủ phải là “thọ, tưởng, hành, thức cũng là vô thường, đi đến hủy diệt”.

Bài kinh “Xuất Hiện”

Liên hệ đến bài kinh “Xuất Hiện”, Tăng Chi Bộ I:

- Này các Tỷ-kheo, dầu các Như Lai có xuất hiện hay không xuất hiện, vẫn được an trú là pháp trú tánh của giới ấy, là pháp quyết định tánh, tức là: "Tất cả các hành là vô thường". Về vấn đề này, Như Lai chánh giác tri, chánh giác ngộ. Sau khi chánh giác tri, chánh giác ngộ, Như Lai tuyên bố, thuyết giảng, tuyên thuyết, xác nhận, khai thị, phân biệt, hiển thị: "Tất cả các hành là vô thường".

- Này các Tỷ-kheo, dầu các Như Lai có xuất hiện hay không xuất hiện, vẫn được an trú là pháp trú tánh của giới ấy, là pháp quyết định tánh, tức là: "Tất cả các hành là khổ". Về vấn đề này, Như Lai chánh giác tri, chánh giác ngộ. Sau khi chánh giác tri, chánh giác ngộ Như Lai tuyên bố, thuyết giảng, tuyên thuyết, xác nhận, khai thị, phân biệt, hiển thị: "Tất cả các hành là khổ".

- Này các Tỷ-kheo, dầu các Như Lai có xuất hiện hay không xuất hiện, vẫn được an trú là pháp trú tánh của giới ấy, là pháp quyết định tánh, tức là: "Tất cả các pháp là vô ngã". Về vấn đề này, Như Lai chánh giác tri, chánh giác ngộ. Sau khi chánh giác tri, chánh giác ngộ, Như Lai tuyên bố, thuyết giảng, tuyên thuyết, xác nhận, khai thị, phân biệt, hiển thị: "Tất cả các pháp là vô ngã". (Tăng Chi Bộ Kinh I, 3. Chương Ba Pháp, XIV. Phẩm Kẻ Chiến Sĩ, bài kinh Xuất Hiện)

Bài kinh này sâu sắc vô cùng. Quyết định tánh nghĩa là mãi mãi như vậy, không đổi khác, nghĩa là dù cho Đức Phật có ra đời hay không ra đời, bản tánh vẫn là như vậy, không đổi khác.

Đầu tiên, Đức Phật tuyên bố "Tất cả các hành là vô thường", điều này được Đức Phật biết một cách đúng sự thật, chánh giác ngộ, thấu đáo, tận tường.

Thứ hai, sau khi Ngài thấy biết đúng sự thật một cách chân xác, thấu đáo, tận tường thì Ngài tuyên bố, thuyết giảng, tuyên thuyết, xác nhận, xác quyết, phân biệt, làm cho rực sáng chân lý: "Tất cả các hành là khổ".

Thứ ba, dầu Như Lai có xuất hiện hay không xuất hiện thì các pháp, mọi sự vật, hiện tượng từ vật chất cho đến tinh thần, từ vật lý cho đến tâm lý… có bản tánh, bản chất xác quyết, mãi mãi, không bao giờ thay đổi, đó là: "Tất cả các pháp là vô ngã". Các pháp nghĩa là ngũ uẩn, từ sắc chất, cảm giác, nghĩ, tưởng, nhận thức, có bản chất như vậy, không thay đổi. Dù cho Đức Phật ra đời hay không ra đời thì bản chất của các pháp là vô hộ, vô chủ, vô sở hữu, trống rỗng, không có tự thể, không có tự ngã… bản tánh đó là như vậy, không đổi khác.

Đó gọi là pháp quyết định tánh, là pháp trú tánh của giới ấy, nói gọn là “pháp giới tánh”. Tức là tính chất của tất cả hiện hữu trong thế gian này là vô thường, khổ, vô ngã, biến đổi, khổ đau, trống rỗng, không có tự ngã. Sau khi Đức Thế Tôn thấy triệt để, biết triệt để, chứng ngộ xong thì Ngài tuyên bố, thuyết giảng, tuyên thuyết, xác nhận, xác quyết, phơi bày, hiển thị, làm rực sáng chân lý cho tất cả chúng sanh thấy tất cả các hành là vô thường, khổ, vô ngã. Khi đọc đến chữ “các hành” tự nhiên cả người rúng động, không thể tượng được trí tuệ của Đức Phật, thấy rằng không có một người thứ hai ở trong tam giới này sử dụng ngôn từ thiện xảo như Đức Thế Tôn.

Chiêm nghiệm trí tuệ siêu việt trong hai từ “các hành”

Vậy, thế nào là “các hành”? Tại sao Đức Phật lại dùng từ này? Chữ “hành” nghĩa là dời đổi, trong chữ Hán chữ “hành” nghĩa là đi, là động chuyển, là vận hành, là xê dịch, là thiên lưu, là biến chuyển, là vận động, là chuyển động. Thế gian thường dùng từ “vạn vật” nhưng Đức Phật không dùng từ đó, mà Ngài dùng từ “các hành”. Hôm qua ở thất Minh Thành hâm đồ ăn bằng nồi cơm điện, thế nhưng Minh Thành quên để nồi cơm vào vỏ nồi, mà đổ luôn thức ăn vào vỏ nồi ở phía ngoài. Đó là bởi vì lúc đó mải mê chiêm nghiệm chữ “các hành” này, ý hành thấy chữ “các hành” này quá thâm sâu, tuyệt diệu rồi quên việc luôn việc mình đang làm. Nhà Nho có câu “thực bất tri kỳ vị” để chỉ những người để tâm nghiệm đạo đến nổi ăn mà không biết vị của đồ ăn. Trong nhà thiền cũng vậy, nhiều người nghiệm đạo đến mức không biết trời đang mưa, quên luôn cảnh giới ở bên ngoài. Tuy nhiên, điều này cũng tùy trường hợp, vì có những trường hợp khác là do vô minh nên không thấy, không biết chuyện mình đang làm.

Cho nên, chữ “các hành” này chứa đựng một trí huệ thâm sâu, khủng khiếp. Những người ở thế gian dùng rất nhiều từ, chẳng hạn như: vạn vật, vạn tượng, sum la, thế giới, vũ trụ, càng khôn… còn Đức Phật chỉ dùng từ “các hành” – các sự vận hành, tức là khi nhìn vào điều gì Đức Phật cũng thấy nó đang vận chuyển, xê dịch, vận hành. Và vì vận hành nên các pháp mới là vô thường, vì vận hành nên mới đi đến hủy diệt, vì vận hành nên mới ra đi, từ bỏ tất cả. Đến bây giờ, chúng ta mới thấy được sự khủng khiếp của hai chữ “các hành” này. Khi thấy ra thì chúng ta vô cùng sửng sốt trước cách dùng từ của bậc Chánh Đẳng Chánh Giác, không thể có người thứ hai. Vì thế, mỗi một từ trong kinh chúng ta cần phải để ý thật nhiều, vì không thể có một người thứ hai trên trái đất này, trong tam giới này có thể sử dụng ngôn từ một cách thiện xảo đến mức như vậy. Đức Phật nhìn thấy cái gì cũng có sự vận động trong đó và vì vận động nên có khổ. Cụ thể, tổ hợp sắc luôn vận động, tức là thân này luôn có sự vận động, không đứng yên nên từ cái trẻ mới đi sang cái già, vì không đứng yên nên từ cái khỏe mới đi qua cái bệnh, vì không đứng yên nên từ chỗ mạnh mới đi đến chỗ yếu, vì không đứng yên nên đang sống nhưng biến đổi sang cái chết. Đó chính là các hành đang vận hành, vận động, vận chuyển, di chuyển, xê dịch để đi đến chỗ hủy diệt.

Trong kinh Pháp Cú, Đức Phật có dạy:

Tất cả hành vô thường

Với Tuệ, quán thấy vậy

Ðau khổ được nhàm chán;

Chính con đường thanh tịnh.

***

Tất cả hành khổ đau

Với Tuệ quán thấy vậy,

Ðau khổ được nhàm chán;

Chính con đường thanh tịnh.

***

Tất cả pháp vô ngã,

Với Tuệ quán thấy vậy,

Ðau khổ được nhàm chán

Chính con đường thanh tịnh.

(Kinh Pháp Cú – Phẩm Đạo)

Như vậy, chữ “các hành” này vô cùng khủng khiếp. Con mắt trí tuệ của Đức Phật nhìn xuyên thấu tất cả các pháp, Ngài nhìn vào bản thể thực tại bên trong chứ không nhìn biểu hiện bên ngoài của các pháp. Hơn nữa, không những vật chất mà cả tinh thần, cảm xúc, tư tưởng, nhận thức… tất cả đều vận hành. Hình sắc luôn vận hành, dịch chuyển, chẳng hạn: tre bị mối mọt, gỗ nứt mục, tôn dột nát, bê tông nứt lún, máy móc hư hỏng… chúng phải “đi” như vậy để đến được chỗ cuối cùng là hủy diệt. Con người cũng vậy, phải “đi” để đến chỗ cuối cùng là nghĩa trang, lò thiêu, mà trước khi đến những chỗ đó là phải đến bệnh viện. Đó chính là sự vận hành của sắc.

Trong kinh có chữ “thọ hành”, nghĩa là sự vận hành của cảm thọ. Đức Phật nói thọ hành còn nhanh hơn ánh sáng, nhanh hơn thần thông của chư Thiên. Cảm thọ này cứ đi như vậy, không đứng yên một chỗ, cho nên cảm xúc của chúng ta luôn vận hành. Khi cảm thọ vận hành đến chỗ yêu thương thì mình muốn nó đứng ở đó hoài, không được đi và do vậy mà mình đau khổ. Bởi vì các cảm thọ phải tiến tới, luôn vận chuyển, không thể nào đứng lại ở chỗ yêu thương hoài được, cho nên, khi người ta không thương nữa thì mình đau khổ, đau đớn, tan nát trái tim, tan nát cõi lòng. Cảm xúc luôn vận hành, không thể đứng yên một chỗ, mà mình muốn nó đứng yên, muốn nắm lấy nó thì đó chính là thọ thủ uẩn.

Con người luôn muốn cảm giác phải đứng lại ở chỗ mình thích, mà cái muốn như vậy là cái muốn vô tri, cái muốn trong sự không thấy, không biết, không hiểu nên đau khổ. Tất cả mọi cảm xúc đang vận hành, đang đi, mình muốn nó đứng lại là điều không thể được, bởi vì bản tánh của nó là phải bước. Giống như kim đồng hồ thì phải quay, không đứng một chỗ được, bởi vì bản tánh, bản chất của nó là phải quay, là vận hành. Có nhiều lời bài hát nói rằng “mong khoảnh khắc này trái đất đừng quay nữa”, nếu như vậy thì nổ banh xác thì sao! Những mong muốn đó là vô minh, tham ái, chấp thủ. Muốn những khoảnh khắc hạnh phúc còn mãi là chuyện không thể nào, bởi vì Phật dạy “chư hành vô thường”, khi hiểu được điều này thì chúng ta nhìn mọi việc rất rõ ràng. Một người mới thương nhưng sau đó ghét mình thì mình thấy điều đó là tất nhiên, là chuyện bình thường, vì các hành là vô thường. Như vậy, Đức Phật giải mã mọi tình cảm, cảm xúc ở trên thế giới này chỉ bằng hai chữ “các hành”.

Sự vận hành của cảm xúc khiến con người vô cùng đau khổ. Sự vận hành này gồm: khổ, vui, không khổ không vui. Có người hỏi “cảm thọ không khổ không vui tại sao có si trong đó”? Đó là bởi vì người này không biết đó là cảm thọ, cho đó là mình, không nhận diện được đó là loại cảm thọ gì và trong cảm thọ đó có sự si mê mà không biết. Cho nên có si mê trong cảm thọ không khổ không vui, nhưng mình không thấy không biết, tức là mình vô minh đối với nó. Như vậy, cảm xúc khổ vận hành, cảm xúc vui vận hành, cảm xúc không khổ không vui cũng vận hành, cho nên Đức Phật dạy quán vô thường, vô thường vì các hành luôn vận hành. Chúng ta đừng thấy cái khổ sẽ vận hành qua cái vui, mà phải nhớ rằng cái vui này chỉ ở trong tạm bợ, chỉ có Niết-bàn mới là đệ nhất lạc. Đức Phật đã dạy, không bệnh là lợi bậc nhất và Niết-bàn mới là vui bậc nhất. Tuy nói là vui nhưng cái vui này nằm trong cái khổ và đang vận hành trong khổ. Tất cả mọi thứ: hình sắc, cảm xúc, tư tưởng, suy tư, hình bóng, nhận thức, thấy biết đều vận hành trong cái khổ. Một tổ hợp đại khổ uẩn như vậy thì không thể ra khỏi được cái khổ, cũng như đang ở trên biển thì không thể có một chỗ nào khô được. Người đời nói nguyên đống nước to lớn, sâu dày gọi là biển cả nhưng Đức Phật nói đó không phải, đó chỉ là biển của phàm phu. Còn đối với bậc Thánh thì sắc là biển cả, mắt là biển cả, những suy tư là biển cả, những nhận thức là biển cả, những cảm thọ đắm đuối, say mê là biển cả, những hình bóng là biển cả… nhận chìm tất cả chúng sanh.

Biển khổ mênh mông sóng ngập trời,

Khách trần chèo một chiếc thuyền khơi,

Thuyền ai ngược gió ai xuôi gió,

Ngoảnh lại cùng trong bể khổ thôi.

Nhìn sâu hơn, hình sắc gồm tứ đại – đất, nước, gió, lửa, mà trong đất cũng có sự vận hành; nước cũng vận hành; gió cũng vận hành; lửa cũng vận hành. Qua đó, chúng ta thấy rằng, chỉ một phần hình sắc nhưng gồm bốn thứ vận hành hợp lại, như vậy thì hình sắc làm sao mà không vận hành, không dời đổi, không dịch chuyển được. Hơn nữa, trong đất, nước, gió, lửa gồm vô số thứ luôn vận hành, từ những thứ lớn cho đến thứ nhỏ, từ những thứ nhỏ cho đến những thứ nhỏ hơn, cho đến những nguyên tử, phân tử… và trong kinh có dùng từ “lân hư trần” để chỉ cho những thứ nhỏ, gần bằng với hư không, mắt thường không thể nào thấy được. Những hạt nhỏ đó luôn động chuyển, vận hành và đó cũng được gọi là các hành.

Các hành cứ vận hành, đi tới, không có chủ, không là của ai, nên ra đi phải từ bỏ hết tất cả. Các hành này vận hành trong dục, trong tham, trong ái, trong vô minh, trong bản ngã nên lúc nào cũng thiếu thốn, cũng khát khao, cũng làm nô lệ cho vô minh, dục ái. Các bậc Thánh đã thấy hết những điều đó thì làm sao các Ngài không từ bỏ, không nhàm chán cho được. Còn chúng ta không nhìn thấy, không thấu hiểu nên không từ bỏ được.

Bởi vì các hình sắc, cảm xúc luôn vận hành trong cái khổ, cứ dục, tham, ái, thiếu thốn, khát khao nhưng cuối cùng cũng đi đến hủy diệt, tan hoại. Cái nào vui rồi cũng sẽ tan, cái nào sướng rồi cũng sẽ vỡ, cái nào an lạc rỗi cũng đi đến đau khổ. Bao nhiêu những suy nghĩ, hình bóng, nhận thức vận hành trong khổ, tham, sân, si, bản ngã, thân kiến, tự ngã. Tất cả đều là khổ như vậy thì làm sao tìm được chỗ vui. Chính vì vậy Đức Phật mới dạy Niết-bàn là đệ nhất lạc, bởi vì Niết-bàn là vượt thoát ra khỏi tất cả những thứ khổ đó, có như vậy thì mới hết khổ. Còn nếu cứ ở bên trong khổ tìm kiếm cái vui thì không thể nào hết khổ được.

Hai chữ “các hành” này phải viết lên bàn thờ để quỳ lạy mỗi ngày, hoặc viết ngay chỗ ngồi thiền để chiêm nghiêm. Các hành tức là sắc hành, thọ hành, tưởng hành, thức hành. Những thứ này đang vận hành, đang vận chuyển, đang xê dịch để đi đến nhà thương, nhà quàng, nhà mồ, nghĩa là đi đến chỗ hủy diệt. Chúng ta thấy rằng, không có từ nào có thể diễn tả được trí tuệ của Đức Phật, mỗi chữ Ngài dùng đã là tối thượng, vậy còn tìm cuốn sách nào để đọc, tìm người nào để học, tìm ai làm bậc Đạo sư nữa.

Cho nên, bài kinh “Xuất Hiện” mới nói rằng, dầu cho Đức Phật ra đời hay không ra đời thì các pháp vẫn an trú trong quyết định tánh: “các hành là khổ đau”. Như Lai là bậc thấy biết tận cùng, chứng ngộ triệt để về các hành này, sau đó Ngài tuyên thuyết, trình bày, hiện thị, phân biệt, phơi bày, làm rực sáng để cho thế giới này nhìn thấy được sự thật: các hành là vô thường, các hành là khổ đau, các hành là trống rỗng, vô ngã, vô sở hữu, không có gì bảo hộ, không có chủ. Chẳng hạn, chúng ta ra lệnh cho thân này không bệnh, khỏe mạnh là chuyện không thể nào, bởi vì nó vô chủ, nó không nghe lời mình. Hoặc đang có cảm thọ sân, chúng ta dạy nó “đừng sân nữa, hiền từ đi” thì nó cũng không nghe lời, trừ trường hợp đó là người có tu tập, vì có tu tập thì mới làm chủ được thân tâm, mà làm chủ được thân tâm là làm chủ được thế giới. Hoặc khi tham muốn, mình kêu dừng lại sự tham muốn thì nó cũng không nghe lời, chừng nào mình kêu mà nó nghe lời là tâm đã được điều phục, đã được chế ngự, đã được huấn luyện, đã được làm chủ, khi đó tâm đã được thành tựu. Như vậy, các pháp rõ như chỉ tay trong lòng bàn tay, chúng ta chỉ cần nỗ lực, cố gắng hành trì.

Cảm xúc luôn vận hành thì làm sao yêu thương còn mãi; hình sắc luôn vận hành nên đến một ngày mẹ chết, cha chết, phải chia lìa những người yêu thương; những suy tư, suy nghĩ luôn vận hành nên những tư tưởng cũng đổi thay không ngừng; thức luôn vận hành nên cái biết cũng đổi thay liên tục… Còn một điều gì đó nếu cứ vận hành lặp tới lặp lui thì sẽ trở thành thói quen, Đức Phật cũng đã tuyên bố các tưởng là kết quả của thói quen. Sau đó, thói quen đó trở thành sức mạnh, tạo thành nghiệp lực, đó chính là sức mạnh của thói quen. Hình bóng đó cứ xâm chiếm trong tâm nhưng vẫn có khả năng diệt tận được hình bóng này, bởi vì các pháp luôn vận hành, vận chuyển.

Khi chiêm nghiệm, chúng ta mới thấy được hai chữ “các hành” này chứa đựng một trí huệ siêu khủng, siêu việt, khủng khiếp. Vì thế, chúng ta cần phải học, phải tu để nhìn thấy được các hành; thấy được sự sanh khởi của các hành; thấy được sự chấm dứt của các hành và con đường đưa đến sự chấm dứt các hành. Các hành là ngũ uẩn; sự sanh khởi các hành là do vô minh và tham ái, tức là không thấy, không biết ngũ uẩn nên yêu thích nó; sự chấm dứt các hành là khi hết vô minh, hết tham ái; con đường chấm dứt tất cả các hành là thấy biết đúng, nghĩ đúng, nói đúng, sống đúng, làm đúng, siêng đúng, quán đúng, định đúng về các hành… Khi đó các hành không còn vận hành trong dục, ái, tham, sân, si, vô minh, bản ngã.

Chúng ta phải nhìn ra tất cả đều đang vận hành trong khổ đau, không có gì là vui sướng. Con người bị dục, tham, ái, sân hận, bản ngã làm khổ không ngừng. Tất cả các hành là vô thường, tất cả các hành là khổ đau, tất cả các pháp là vô ngã. Và khi chúng ta không thấy được như vậy là mình sống trong si mê, đây là câu trả lời cho câu hỏi “tại sao cảm thọ không khổ không vui là si”. Bởi vì không thấy, không biết cảm thọ là vô thường, không biết nó luôn vận hành nên chúng ta nắm chặt vào đó và cho rằng cảm thọ đơ đơ, thường thường đó là tôi, là của tôi, là tự ngã của tôi… như vậy là mình vô minh, chấp ngã, không thấy được sự vận hành của các cảm thọ.

Thế giới là vô hộ, vô chủ

Sau đó, nhà vua nói tiếp:

– Nhưng thưa Tôn giả Ratthapala, ở vương quốc này, có đội quân voi, cũng có đội quân ngựa, cũng có đội quân xa, cũng có đội quân bộ, nếu chúng tôi gặp nguy khốn thời các đội quân bảo vệ chúng tôi. Tôn giả Ratthapala đã nói: "Thế giới là vô hộ, vô chủ", ý nghĩa của lời nói này, cần phải được hiểu như thế nào, thưa Tôn giả Ratthapala?

Nhà vua nói mình có bộ binh, xa binh, tượng binh, mã binh… nếu có chuyện xảy ra thì binh lính sẽ bảo vệ vua. Vua hỏi tại sao Tôn giả Ratthapala nói thế giới là vô hộ, vô chủ, không ai bảo hộ, trong khi vua là quốc chủ, là nhất quốc chi quân, là chủ nhân của đất nước và còn có bốn binh chủng bảo hộ. Vậy, ý nghĩa của câu nói "Thế giới là vô hộ, vô chủ" phải được hiểu như thế nào?

Ngeh xong, Tôn giả Ratthapala hỏi vua có mắc căn bệnh nào lâu dài, kinh niên, mãn tính, nhiều năm không:

– Thưa Đại vương, Đại vương nghĩ thế nào? Đại vương có mắc chứng bệnh kinh niên nào không?

– Thưa Tôn giả Ratthapala, tôi có bệnh phong kinh niên. Nhiều khi, thân hữu quen biết, bà con huyết thống đứng xung quanh tôi và nói: "Nay vua Koravya sẽ mệnh chung, nay vua Koravya sẽ mệnh chung".

Mọi người đều nghĩ nhà vua sắp sửa qua đời, vì vua đã 80 tuổi, còn mắc bệnh kinh niên. Tôn giả Ratthapala hỏi tiếp:

– Thưa Đại vương, Đại vương nghĩ thế nào? Đại vương có thể nói chăng, với các thân hữu quen biết, bà con huyết thống của Đại vương: "Mong rằng Tôn giả thân hữu quen biết, bà con huyết thống làm vơi nhẹ sự đau khổ của tôi! Mong tất cả hãy san sẻ cảm thọ này, để tôi có thể có một cảm thọ nhẹ nhàng hơn"; hay là Đại vương chỉ có thể thọ lãnh cảm thọ ấy một mình?

Nghĩa là khi nhà vua bệnh nặng, xung quanh Ngài có hoàng hậu, vương phi, thái tử, hoàng tử, đại thần… vậy vua có thể kêu những người đó chịu đựng, san sẻ cảm thọ đó với vua không? Vua Koravya nói không thể kêu ai chịu chia sẻ cảm thọ đau đớn đó với vua được, vua chỉ có thể chịu đựng một mình:

– Thưa Tôn giả Ratthapala, tôi không có thể nói với các thân hữu quen biết, bà con huyết thống của tôi: "Mong rằng các Tôn giả thân hữu quen biết, bà con huyết thống làm vơi nhẹ sự đau khổ của tôi. Mong tất cả hãy san sẻ cảm thọ này để có thể có một cảm thọ nhẹ nhàng hơn"; và tôi chỉ có thể thọ lãnh cảm thọ ấy một mình".

– Chính liên hệ với nghĩa này, này Đại vương mà Thế Tôn, bậc Tri Giả, Kiến Giả, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác đã nói: "Thế giới là vô hộ, vô chủ", và tôi sau khi biết, sau khi thấy và sau khi nghe như vậy đã xuất gia từ bỏ gia đình, sống không gia đình.

Lúc đầu, nhà vua nói khi người ta bị bệnh thì họ mới đi tu, còn Tôn giả Ratthapala nói rằng ngay khi còn trẻ thì Ngài thấy được mình sẽ đi đến chỗ bệnh suy vong, cho nên Ngài đã xuất gia. Vì một khi bệnh thì không ai có thể chịu thay cơn đau cho mình. Dù là người thân yêu nhất, như vợ chồng, cha mẹ, anh em nhưng không một ai có thể san sẻ được cảm xúc đau đớn, khổ sở trong cơn bệnh quằn quại lúc sắp ra đi. Nhà vua nghe xong, tán thán:

– Thật vi diệu thay, Tôn giả Ratthapala! Thật hy hữu thay, Tôn giả Ratthapala! Ý nghĩa này được Thế Tôn bậc Tri Giả, Kiến Giả, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác đã khéo nói: "Thế giới là vô hộ, vô chủ". Thật vậy, thưa Tôn giả Ratthapala, thế giới là vô hộ, vô chủ.

Thân này, tâm này không ai làm chủ, không ai bảo hộ, không ai có thể san sẻ, chia sớt được những cảm xúc đau đớn, quằn quại, khổ sở khi nằm trên giường bệnh. Ví dụ dễ thấy, người nào bị nhiễm Covid-19 thì bị đưa đi cách ly, không người thân nào được đi theo chăm sóc, có khi còn phải tắt hơi một mình trên giường bệnh bên cạnh những người lạ, không quen biết. Hơn nữa, dù cho những lúc bình thường không bị dịch bệnh, người thân có ở kế bên thì cũng không thể san sẻ những cảm thọ, cảm xúc đau đớn, thống khổ, quằn quại với mình được.

Thế giới là vô sở hữu

Vua Koravya hỏi tiếp:

– Nhưng thưa Tôn giả Ratthapala, ở vương quốc này có rất nhiều vàng nén và tiền vàng dưới đất và trên mặt đất". Tôn giả Ratthapala đã nói: "Thế giới là vô sở hữu, ra đi cần phải từ bỏ tất cả". Ý nghĩa của lời nói này cần phải được hiểu như thế nào, thưa Tôn giả Ratthapala?

Vua nói ở đất nước này có nhiều vàng bạc, kho báu, khoáng sản… nhưng tại sao Tôn giả Ratthapala lại nói "Thế giới là vô sở hữu, ra đi cần phải từ bỏ tất cả", ý nghĩa của câu nói đó như thế nào?

– Thưa Đại vương, Đại vương nghĩ thế nào? Dầu cho nay Đại vương sống thụ hưởng mãn túc, cụ túc năm món dục trưởng dưỡng, Đại vương có thể nói được như sau: "Chính như vậy, tôi thọ hưởng mãn túc, cụ túc năm món dục trưởng dưỡng này"; hay là người khác sẽ thọ hưởng tài sản này, còn Đại vương sẽ phải đi theo nghiệp của mình?

Tôn giả Ratthapala hỏi nhà vua, dù vua được hưởng thụ tất cả những sắc đẹp, những âm thanh, những mùi vị ngon lành, thơm tho, những tiếng nhạc hay, vô số cung tầng, mỹ nữ, vàng bạc, châu báu… nhưng lúc sắp sửa ra đi thì vua có thể nói rằng mình đã hưởng thụ hết những thứ dục đó không? Hay cuối cùng tài sản đó cũng thuộc về người khác, còn nhà vua vẫn phải đi theo nghiệp của mình? Vua trả lời:

– Thưa Tôn giả Ratthapala, dầu cho nay tôi sống thụ hưởng mãn túc, cụ túc năm món dục trưởng dưỡng. Tôi không có thể nói được như sau: "Chính như vậy tôi thọ hưởng mãn túc, cụ túc năm món dục trưởng này". Chính người khác sẽ thọ hưởng tài sản này, còn tôi phải đi theo nghiệp của tôi.

Vua trả lời những người khác sẽ thọ hưởng tất cả tài sản đó, còn khi nhắm mắt ra đi thì vua phải đi theo nghiệp của mình, không đem theo được thứ gì. Dù là vua, là đại gia, là thế gia nhưng khi ra đi thì không đem theo được bất cứ cái gì, người thân ở lại chỉ đốt vàng mã xuống cho, hoặc nếu chôn đồ thật xuống thì ăn trộm, ăn cướp cũng đào mồ cuốc mã để lấy. Có những vị vua cho làm trước hàng trăm bức tượng binh lính ở phần mộ của mình nhưng chỉ là hình thức vậy thôi, đến khi chết cũng không thể đem theo những bức tượng đó. Có người cho chôn theo vàng vòng, ngọc ngà, châu báu nhưng cũng không thể sử dụng được, mà còn bị ăn trộm đến lấy.

Cho nên, cái cuối cùng đi theo chúng ta chỉ là nghiệp của chính mình. Chúng ta sẽ đi theo những suy nghĩ, cảm thọ, lời nói, nghĩ tưởng, nhân quả đã tạo khi còn sống, ngoài ra không đem theo được bất cứ thứ gì. Tất cả tài sản, ruộng vườn, xe cộ, đất đai, đô la, vàng tiền... đều phải bỏ lại, cần phải ra đi, từ bỏ tất cả. Vì vậy, chúng ta phải chiêm nghiệm cho ngấm thật sâu chân lý này: "Thân là vô sở hữu, cần phải ra đi, từ bỏ tất cả", thân này không ai bảo hộ, không có cái gì là chủ. Chính vì thấy biết như vậy, mà Tôn giả Ratthapala đã chọn con đường xuất gia:

– Chính liên hệ với nghĩa này, này Đại vương, mà Thế Tôn, bậc Tri Giả, Kiến Giả, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác đã nói: "Thế giới là vô sở hữu, cần phải ra đi, từ bỏ tất cả". Và tôi sau khi biết, sau khi thấy và sau khi nghe như vậy, đã xuất gia từ bỏ gia đình, sống không gia đình.

– Thật vi diệu thay, Tôn giả Ratthapala! Thật hy hữu thay, Tôn giả Ratthapala! Ý nghĩa này được Thế Tôn bậc Tri Giả, Kiến Giả, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác đã khéo nói: "Thế giới là vô sở hữu, cần phải ra đi, từ bỏ tất cả". Thật vậy thưa Tôn giả Ratthapala thế giới là vô sở hữu, cần phải ra đi, từ bỏ tất cả.

Thế giới là thiếu thốn, khao khát, nô lệ cho tham ái

Vua hỏi ý nghĩa của câu cuối cùng:

Tôn giả Ratthapala đã nói: "Thế giới là thiếu thốn, khao khát, nô lệ cho tham ái". Ý nghĩa của lời nói này cần phải được hiểu như thế nào, thưa Tôn giả Ratthapala?

– Thưa Đại vương, Đại vương nghĩ thế nào? Có phải Đại vương trị vì ở Kuru, một nước phồn thịnh?

– Thưa vâng, Tôn giả Ratthapala. Tôi trị vì ở Kuru, một nước phồn thịnh.

– Thưa Đại vương, Đại vương nghĩ thế nào? Nếu có người đáng tin cậy, chánh trực đến với Đại vương từ phương Đông, và sau khi đến tâu với Đại Vương: "Tâu Đại vương, Đại vương có biết chăng? Tôi từ phương Đông lại. Ở đấy, tôi có thấy một quốc độ lớn, phú cường, phồn thịnh, dân cư trù mật. Tại đấy có nhiều đội voi, đội ngựa, đội xe, bộ đội. Tại đấy có nhiều ngà voi, tại đấy có nhiều vàng nén, tiền vàng chưa làm và đã làm, có nhiều phụ nữ. Và có thể chinh phục quốc độ ấy với vũ lực như thế ấy. Tâu Đại vương, hãy đi chinh phục!" Đại vương sẽ hành động như thế nào?

– Thưa Tôn giả Ratthapala, sau khi chinh phục, quốc độ ấy tôi sẽ trị vì.

Tôn giả Ratthapala đưa ra giả thuyết, nếu có một người đến tâu với đức vua rằng có một đất nước khác giàu có, nhiều vàng bạc, nhiều khoáng sản, tài sản, châu báu và người này biết cách để chinh phục đất nước đó… thì vua sẽ làm như thế nào? Vua trả lời sẽ chinh phục và trị vì đất nước đó, như vậy là vua có được hai đất nước.

Tôn giả Ratthapala hỏi tiếp, nếu có người từ phương Tây, phương Bắc, phương Nam đến, họ cũng nói có những đất nước giàu có, nhiều tài sản, nhiều khoảng sản, nhiều phụ nữ đẹp, có đầy đủ bốn binh chủng và có thể thu phục đất nước đó bằng vũ lực, vậy vua làm thế nào? Nhà vua trả lời cũng sẽ chinh phục và trị vì những đất nước đó, như vậy, vua sẽ được bành trướng và mở rộng đất nước của vua ra. Vua nói xong, Tôn giả Ratthapala nói:

– Chính liên hệ với nghĩa này, này Đại vương mà Thế Tôn, bậc Tri Giả, Kiến Giả, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác đã nói: "Thế giới là thiếu thốn, khao khát, nô lệ cho tham ái, " và tôi sau khi biết, sau khi thấy, sau khi nghe như vậy, đã xuất gia từ bỏ gia đình, sống không gia đình.

– Thật vi diệu thay, Tôn giả Ratthapala! Thật hy hữu thay, Tôn giả Ratthapala! Ý nghĩa này được Thế Tôn, bậc Tri Giả, Kiến Giả, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác đã khéo nói: "Thế giới là thiếu thốn, khao khát, nô lệ cho tham ái". Thật vậy, thưa Tôn giả Ratthapala, thế giới là thiếu thốn, khao khát, nô lệ cho tham ái.

Thế giới này không bao giờ thấy đủ, lúc nào cũng thấy thiếu thốn, khao khát, rồi con người đem thân này làm tôi đòi, nô lệ cho những tham dục, muốn chiếm hữu, bành trướng, rộng mở, cướp lấy, chiếm đoạt, xâm lấn của người khác. Chính vì thấy như vậy nên Tôn giả Ratthapala đã đi tu.

Tôn giả Ratthapala đã giảng như vậy, sau khi giảng như vậy xong, lại nói thêm như sau:

Ta thấy người giàu sang ở đời,

Có của vì si không bố thí.

Vì tham, họ tích tụ tài vật,

Và chạy theo dục vọng càng nhiều.

Dùng bạo lực, chinh phục quả đất,

Vua trị vì cho đến hải biên,

Không thỏa mãn bờ biển bên này,

Và chạy theo bờ biển bên kia.

Vua cùng rất nhiều loại người khác,

Ái chưa ly, mạng chung đã đến,

Bị thiếu thốn, không bỏ thân họ,

Không thỏa mãn lòng dục ở đời.

Quyến thuộc tán loạn, khóc người ấy:

"Than ôi, người ấy không bất tử! ".

Mạng thân người ấy vải bao phủ,

Họ đốt lửa làm lễ hỏa thiêu.

Bị thọc với cây, người ấy cháy,

Độc mảnh vải, bỏ tiền của lại.

Ở đây, quyến thuộc cùng thân hữu,

Không nơi nương tựa cho kẻ chết.

Kẻ thừa tự, nhận mang tài sản,

Riêng con người, theo nghiệp phải đi,

Tiền của đâu có theo người chết,

Cả vợ con, tài sản, quốc độ.

Tài sản không mua được trường thọ,

Phú quý không tránh được già suy

Kẻ trí nói đời này thật ngắn,

Thật vô thường, biến đổi luôn luôn.

Kẻ giàu, kẻ nghèo đều cảm xúc,

Người ngu, kẻ trí đồng cảm thọ,

Kẻ ngu bị ngu đánh nằm ngã,

Bậc trí cảm xúc, không run sợ.

Do vậy, trí tuệ thắng tài vật,

Nhờ trí, ở đây được viên thành.

Không thành mãn trong hữu, phi hữu,

Kẻ ngu tạo tác các ác nghiệp.

Nhập thai thác sanh thế giới khác,

Người ấy luân hồi, tiếp tục sanh,

Kẻ thiểu trí chắc hẳn phải là

Nhập thai và sanh thế giới khác.

Như kẻ trộm bị bắt khi trộm,

Ác tánh hại mình do tự nghiệp,

Chúng sanh cũng vậy chết đời khác,

Ác tánh hại mình, do tự lực.

Dục vọng nhiều loại, ngọt, khả ái,

Nhiễu loạn tâm dưới nhiều hình thức,

Thấy hoạn nạn trong dục trưởng dưỡng,

Nên tôi xuất gia, tâu Đại vương!

Như quả từ đây, người bị rụng,

Cả già lẫn trẻ, khi thân hoại,

Do thấy chính vậy, tôi xuất gia,

Hạnh Sa-môn phải là tối thắng,

Thưa Đại vương!

(Trung Bộ Kinh, 82. Ratthapala)