Tâm sự với người xuất gia- Dòng chảy pháp cung kính
Tinh Hoa Nikāya
TÂM SỰ VỚI NGƯỜI XUẤT GIA
DÒNG CHẢY PHÁP CUNG KÍNH
Thích Minh Thành
MỤC LỤC
TOC \o "1-3" \h \z \u I.Tầm quan trọng của pháp cung kính PAGEREF _Toc104885526 \h 1
II.Thực tập hạnh cung kính PAGEREF _Toc104885527 \h 3
Tầm quan trọng của pháp cung kính
Học càng cao thì những tế hạnh càng phải cẩn thận.
Ví như, này các Tỷ-kheo, người vợ trẻ, trong đêm hay ngày, được đưa về nhà chồng, nàng cảm thấy hết sức xấu hổ, sợ hãi trước mặt mẹ chồng, cha chồng, trước mặt chồng, cho đến trước mặt các người phục vụ, làm công. Sau một thời gian, do chung sống, do thân mật, nàng có thể nói với mẹ chồng, với cha chồng, với chồng: “Hãy đi đi, các người có biết được gì!”.
Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, ở đây có Tỷ-kheo, trong đêm hay ngày được xuất gia, từ bỏ gia đình sống không gia đình, cảm thấy hết sức xấu hổ, sợ hãi trước mặt các Tỷ kheo, Tỷ-kheo-ni, nam cư sĩ, nữ cư sĩ, cho đến trước những người làm vườn và những Sa-di. Sau một thời gian, do chung sống, do thân mật, vị ấy có thể nói với sư A-xà-lê, với sư Giáo thọ: “Hãy đi đi, các người có thể biết được gì!”.
Do vậy, này các Tỷ-kheo, các Thầy cần phải học tập như sau: “Ta sẽ sống với tâm người vợ trẻ khi mới đến nhà chồng”. Như vậy, này các Tỷ-kheo, các Thầy cần phải học tập.
(Tăng Chi Bộ Kinh - tập 1, chương Bốn Pháp, phẩm Không hý luận, bài kinh Người vợ trẻ)
Đây là bài kinh Minh Thành rất ấn tượng trong mấy chục năm xuất gia, hành trì pháp của mình. Sau một thời gian xuất gia, ở trong chùa vài năm, chúng ta sẽ dễ mất đi sự cung kính; sự cung kính pháp bị suy giảm, bị thối đoạ để rồi khinh thường các học pháp. Đây là một sự thật phổ biến và đau lòng hiện nay. Minh Thành khuyên các Thầy, trong những giờ phút chúng ta còn được ngồi dưới mái trường này hãy thấy là rất quý báu. Tại sao Minh Thành xưng “con” với quý Thầy dù Minh Thành đang ở địa vị một người thầy, Giáo thọ sư? Thứ nhất là Minh Thành nhiếp phục bản ngã của tự thân. Thứ hai là Minh Thành cũng đang nhắc nhở các Thầy về pháp cung kính. Dù cho mình có tu đến Hoà Thượng thì cũng không được quên pháp cung kính. Minh Thành có tiếp xúc với Hoà Thượng Trưởng ban Trị sự tỉnh Long An, gặp từ hơn ba mươi năm trước khi Minh Thành mới xuất gia cho đến nay vẫn là nét chân chất, từ ái, hiền hoà; đức hạnh của Hoà Thượng vẫn làm Minh Thành vô cùng xúc cảm và tôn kính.
Minh Thành thường không muốn chia sẻ nhiều về những bài kinh cao thâm, to lớn bởi chúng ta sẽ dễ rơi vào tình trạng học những kiến thức trên trời mà chân thì không chạm đất, không đi được những bước đi vững vàng trên đất. Pháp cung kính, biết ơn, sự trang nghiêm, thanh tịnh, oai nghi đi, đứng, ngồi, nằm nếu không thành tựu thì chúng ta không thể học được những học pháp nào hết. Đức hạnh căn bản không có thì tất cả những gì chúng ta học được chỉ là nói suông, sáo rỗng, nói chơi, nói dóc mà thôi. Đức hạnh ở đây là từ dáng đi, đứng, ngồi, nằm, cách ăn, uống, nói năng, hành xử trong sinh hoạt thường nhật, cách xá chào nhau, lễ lạy, tụng kinh, hay cách ứng xử với nhau khi có sự kiện xảy ra trong chúng; tất cả những điều này sẽ thể hiện được công phu tu tập, sự thành tựu trong đời sống thiền môn.
Vậy nên nếu chúng ta đặt tâm sai hướng thì cả đời tu chúng ta chỉ tu trên huyễn tưởng, hư tưởng, vọng tưởng, ảo tưởng, điên đảo tưởng chứ không tu thật. Xem lại bước chân, dáng đi của mình có chánh niệm, tỉnh giác không; ánh nhìn có hộ trì căn không; cách nói chuyện của mình có cung kính, khiêm hạ, phòng hộ, thu nhiếp không hay nói ra lời nói không có chánh niệm tỉnh giác; không có trên dưới, trước sau; không có thứ bậc; nói bằng bản ngã, ta đây.
Năm 1997, Minh Thành nhập hạ ở Chùa Xá Lợi. Trong một buổi Cung An Kiết Sự, thầy Quản chúng quỳ đọc bản Cung An Kiết Sự, trong đó có câu “Lý tuy bình đẳng; Sự hữu tôn ti, trật tự”. Cũng vậy, trong việc tu học, chúng ta không thường xuyên trạch pháp, một thời gian sau là không còn phân biệt thầy – trò, mà ngang hàng, còn vỗ vai nhau nói chuyện như vậy là không được. Bởi thế trong sự tu học xuất gia cần sự chi li, nhỏ nhiệm, tinh tế và sâu sắc, nếu không càng ngày chúng ta càng đi xa mục đích của đời sống Phạm hạnh, mất dần pháp biết ơn, nhớ ơn, cung kính, tàm quý, xấu hổ, lo lắng; cũng tức là mất Thánh đạo, Thánh quả. Nếu một người tu mà không có những pháp này thì người này cũng như một thây ma thôi, không có chất liệu của người xuất gia. Đây được coi như Giới thể, chất liệu sống của người xuất gia. Pháp tàm quý, sự lo lắng, sợ hãi mới có thể đưa chúng ta đến sự trong sạch, cao thượng; mất những pháp này thì dù cho mình chưa phạm giới nhưng một thời gian sau là ác, bất thiện pháp sẽ sanh khởi. Còn một người tuy là có phạm tội nhưng có tâm biết tàm quý, lo lắng, sợ hãi thì người này vẫn có khả năng khôi phục, tăng thượng trong Thánh pháp.
Thực tập hạnh cung kính
Do vậy, khi ngồi một mình, khi hành thiền, những suy nghĩ, cảm xúc, tư tưởng về biết ơn, nhớ ơn dào dạt; và những tư duy, cảm thọ về sự xấu hổ, lo lắng, sợ hãi những ác, bất thiện pháp thì chúng ta có khả năng đi được vào dòng Thánh pháp.
Tỷ-kheo, này các Tỷ-kheo, không cung kính, không thận trọng, không sống tương hòa với các vị đồng Phạm hạnh, sẽ làm cho viên mãn thắng hạnh pháp, sự kiện này không xảy ra. Sau khi không làm cho viên mãn thắng hạnh pháp, vị ấy sẽ làm cho viên mãn hữu học pháp, sự kiện này không xảy ra.
Không làm cho viên mãn hữu học pháp, vị ấy sẽ làm cho viên mãn các giới luật, sự kiện này không xảy ra. Sau khi không làm cho viên mãn các giới luật, vị ấy sẽ làm cho viên mãn chánh tri kiến, sự kiện này không xảy ra. Sau khi không làm cho viên mãn chánh tri kiến, vị ấy sẽ làm cho viên mãn chánh định, sự kiện này không xảy ra.
Tỷ-kheo, này các Tỷ-kheo, có cung kính, có thận trọng, sống tương hòa với các vị đồng Phạm hạnh sẽ làm cho viên mãn thắng hạnh pháp, sự kiện này có xảy ra. Sau khi làm cho viên mãn thắng hạnh pháp, vị ấy sẽ làm cho viên mãn hữu học pháp, sự kiện này có xảy ra.
Sau khi làm cho viên mãn hữu học pháp, vị ấy sẽ làm cho viên mãn các giới luật, sự kiện này có xảy ra. Sau khi làm cho viên mãn các giới luật, vị ấy sẽ làm cho viên mãn chánh tri kiến, sự kiện này có xảy ra. Sau khi làm cho viên mãn chánh tri kiến, vị ấy sẽ làm cho viên mãn chánh định, sự kiện này có xảy ra.
(Tăng Chi Bộ Kinh - tập 2, chương Năm pháp, phẩm Năm phần, bài kinh Không có cung kính 1)
Đầu tiên chúng ta cung kính, thận trọng và sau đó là tương hoà, tức sáu pháp hoà kính. Tại sao chúng ta cần lạy Phật? Tại sao ngày nào chúng ta cũng phải lạy tự quy y Phật, tự quy y Pháp, tự quy y Tăng? Tại sao ngày nào chúng ta tu học đầu tiên đều phải lễ lạy Tam Bảo, và khi kết thúc chúng ta phải lạy Tam quy? Đó là chúng ta đang thực tập pháp cung kính, hạ bản ngã xuống, chứ không phải chỉ đơn thuần là lễ lạy cho xong, cho rồi, cho đủ số lượng. Chỗ cao nhất của mình phải đặt ở chỗ thấp nhất của Đức Phật.
“Rồi vua Pasenadi nước Kosala im lặng đi đến căn nhà đóng cửa, sau khi đến, bước vào hành lang nhưng không vượt qua, đằng hắng và gõ vào khóa cửa. Thế Tôn mở cửa. Rồi vua Pasenadi nước Kosala bước vào căn nhà, cúi đầu đảnh lễ chân Thế Tôn, miệng hôn xung quanh chân Thế Tôn, tay xoa rờ xung quanh chân và tự xưng tên:
Bạch Thế Tôn, con là vua Pasenadi nước Kosala. Bạch Thế Tôn, con là vua Pasenadi nước Kosala.
Thưa Đại vương, do thấy nguyên nhân gì, Đại vương lại hạ mình tột bực như vậy đối với thân này và biểu lộ tình thân ái như vậy?
Bạch Thế Tôn, con có pháp truyền thống (Dhammanvaya) này đối với Thế Tôn. "Thế Tôn là bậc Chánh Đẳng Giác, Pháp được Thế Tôn khéo giảng, chư Tăng đệ tử của Thế Tôn khéo tu tập hành trì"
(Trung Bộ Kinh, Bài kinh 89. Kinh Pháp trang nghiêm)
Qua bài kinh này, chúng ta thấy được một vị Pháp vương, một vị Đế vương đã cùng tám mươi tuổi; hai bậc Thượng thủ của xuất thế gian và thế gian tiếp xúc, gặp gỡ, cách cư xử, ngôn ngữ, hành vi mẫu mực như thế nào. Sự cung kính của vua Pasenadi với Đức Thế Tôn là tột độ.
Do vậy, nếu không biết cách tác ý trong tu học, chúng ta lễ lạy cũng chỉ là hành vi máy móc, cho đủ số lượng, chỉ là hình thức mà không hiểu được nguyên nhân, mục đích, kết quả của hành động. Mỗi một cái lạy, chúng ta hãy tác ý: “Con nguyện hạ cái bản ngã ngu si này xuống”, “Con nguyện đập tan cái tôi khờ dại này ra”, “Con nguyện phá tan cái ta hơn thua, tranh đấu này ra”. Lạy như vậy là phá được cái bản ngã, hạ thấp được cái tôi, thành tựu pháp cung kính, tăng trưởng được trí tuệ, sanh ra công đức. Lễ lạy như vậy chúng ta càng ngày càng hiền thiện, tích tập công đức, có được sự khiêm cung, khiêm hạ, khiêm nhường, khiêm nhã, khiêm tốn.
Quay về xem xét lại tâm mình xem còn nặng nề ở điều gì, hãy tác ý nhiều ở đó để phá tan bản ngã đi. Chẳng hạn như chúng ta có xích mích, giận hờn, cự cãi với huynh đệ; rồi đến giờ tu học, lễ lạy, hãy khéo tác ý “Bạch Đức Thế Tôn, cho con phá vỡ cái bản ngã hơn thua, đúng sai này thành cát bụi, thành hư không đi”. Lạy như vậy, chúng ta sẽ tăng trưởng phước đức, tiêu trừ nghiệp xấu ác, thành tựu pháp cung kính, thể nhập được tri kiến của bậc Thánh. Cũng nhờ đó việc lạy Phật sẽ phát sanh hỷ lạc, chúng ta sẽ thấy hạnh phúc, sung sướng, thích thú, khoan khoái; cảm nhận, nếm được vị pháp hỷ trong việc thực hành. Ở Linh Quy Pháp Ấn, Minh Thành và quý Thầy, quý Cô, Đại chúng lạy nhau rất thường xuyên. Khi có lỗi lầm nào xảy ra, thì sẽ lạy phát lồ sám hối. “Đệ xin lỗi sư huynh, mấy ngày trước khi nói chuyện đệ có sanh khởi bản ngã”, rồi hai huynh đệ lạy nhau.
Chúng ta thường xuyên sống trong sự buông lung, phóng dật ngay cả những giờ học pháp, hành thiền. Do vậy, chúng ta cần học và thực tập rất nhiều cho tâm, để thấy được, hiểu được tâm mình ghê gớm đến thế nào.
“Khó nắm giữ, khinh động
Theo các dục quay cuồng”
Lành thay, điều phục tâm;
Tâm điều, an lạc đến”.
“Tâm khó thấy tế nhị
Theo các dục quay cuồng
Người trí phòng hộ tâm,
Tâm hộ, an lạc đến”.
“Chạy xa, sống một mình
Không thân, ẩn hang sâu
Ai điều phục được tâm
Thoát khỏi Ma trói buộc”
(Kinh Pháp cú, phẩm Tâm)
Tâm này thường chạy theo các dục quay cuồng, rất khó nắm bắt, kiểm soát và nhiếp phục. Nhiều khi nói hay hành động rồi khi đó chúng ta mới thấy hối hận. Trước án tử hình mà có khi cũng trơ trơ không cảm xúc nữa, cái tâm vô tàm, vô quý đến tột độ. Thành ra chúng ta thấy được ý nghĩa của cái lạy đó là sự cung kính, hạ bản ngã xuống và tưới tẩm, chăm sóc, nuôi dưỡng những cảm giác hiền thiện, hài hoà, khiêm hạ, cung kính, tôn trọng lẫn nhau. Những sự tác ý, quán chiếu này không chỉ lúc hành lễ mà phải thường xuyên hàng ngày, hàng giờ. Dần dần cái cây cung kính trong cảm thọ, nghĩ tưởng của mình được tăng trưởng, lớn mạnh lên.
Bây giờ chúng ta rất ít được học, được thực tập những điều này vậy nên chất lượng người xuất gia ngày càng kém, càng sa sút. Thế nên, hãy học tập, ghi chép và thực tập những điều này thật kỹ, rồi sau đó chia sẻ với những người có nhân duyên với mình, nhất là sau này làm thầy, hãy đem những pháp hành chân chánh, thiết thực, ý nghĩa, hiệu quả tức thời này để chia sẻ.
Chúng ta không chịu thực tập sự cung kính, tôn trọng; cẩn thận đối với những tham, sân, si của mình mà suy nghĩ đến những sự cao siêu, công án này khác thì không có ích lợi gì cho sự tu học. Đức Phật nói hai từ “Thận trọng”, đây xem như là pháp hành, đề mục, thiền quán, bài tập, đề thi, công án cho người tu chúng ta.
./.
TÂM SỰ VỚI NGƯỜI XUẤT GIA
DÒNG CHẢY PHÁP CUNG KÍNH
Thích Minh Thành
MỤC LỤC
TOC \o "1-3" \h \z \u I.Tầm quan trọng của pháp cung kính PAGEREF _Toc104885526 \h 1
II.Thực tập hạnh cung kính PAGEREF _Toc104885527 \h 3
Tầm quan trọng của pháp cung kính
Học càng cao thì những tế hạnh càng phải cẩn thận.
Ví như, này các Tỷ-kheo, người vợ trẻ, trong đêm hay ngày, được đưa về nhà chồng, nàng cảm thấy hết sức xấu hổ, sợ hãi trước mặt mẹ chồng, cha chồng, trước mặt chồng, cho đến trước mặt các người phục vụ, làm công. Sau một thời gian, do chung sống, do thân mật, nàng có thể nói với mẹ chồng, với cha chồng, với chồng: “Hãy đi đi, các người có biết được gì!”.
Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, ở đây có Tỷ-kheo, trong đêm hay ngày được xuất gia, từ bỏ gia đình sống không gia đình, cảm thấy hết sức xấu hổ, sợ hãi trước mặt các Tỷ kheo, Tỷ-kheo-ni, nam cư sĩ, nữ cư sĩ, cho đến trước những người làm vườn và những Sa-di. Sau một thời gian, do chung sống, do thân mật, vị ấy có thể nói với sư A-xà-lê, với sư Giáo thọ: “Hãy đi đi, các người có thể biết được gì!”.
Do vậy, này các Tỷ-kheo, các Thầy cần phải học tập như sau: “Ta sẽ sống với tâm người vợ trẻ khi mới đến nhà chồng”. Như vậy, này các Tỷ-kheo, các Thầy cần phải học tập.
(Tăng Chi Bộ Kinh - tập 1, chương Bốn Pháp, phẩm Không hý luận, bài kinh Người vợ trẻ)
Đây là bài kinh Minh Thành rất ấn tượng trong mấy chục năm xuất gia, hành trì pháp của mình. Sau một thời gian xuất gia, ở trong chùa vài năm, chúng ta sẽ dễ mất đi sự cung kính; sự cung kính pháp bị suy giảm, bị thối đoạ để rồi khinh thường các học pháp. Đây là một sự thật phổ biến và đau lòng hiện nay. Minh Thành khuyên các Thầy, trong những giờ phút chúng ta còn được ngồi dưới mái trường này hãy thấy là rất quý báu. Tại sao Minh Thành xưng “con” với quý Thầy dù Minh Thành đang ở địa vị một người thầy, Giáo thọ sư? Thứ nhất là Minh Thành nhiếp phục bản ngã của tự thân. Thứ hai là Minh Thành cũng đang nhắc nhở các Thầy về pháp cung kính. Dù cho mình có tu đến Hoà Thượng thì cũng không được quên pháp cung kính. Minh Thành có tiếp xúc với Hoà Thượng Trưởng ban Trị sự tỉnh Long An, gặp từ hơn ba mươi năm trước khi Minh Thành mới xuất gia cho đến nay vẫn là nét chân chất, từ ái, hiền hoà; đức hạnh của Hoà Thượng vẫn làm Minh Thành vô cùng xúc cảm và tôn kính.
Minh Thành thường không muốn chia sẻ nhiều về những bài kinh cao thâm, to lớn bởi chúng ta sẽ dễ rơi vào tình trạng học những kiến thức trên trời mà chân thì không chạm đất, không đi được những bước đi vững vàng trên đất. Pháp cung kính, biết ơn, sự trang nghiêm, thanh tịnh, oai nghi đi, đứng, ngồi, nằm nếu không thành tựu thì chúng ta không thể học được những học pháp nào hết. Đức hạnh căn bản không có thì tất cả những gì chúng ta học được chỉ là nói suông, sáo rỗng, nói chơi, nói dóc mà thôi. Đức hạnh ở đây là từ dáng đi, đứng, ngồi, nằm, cách ăn, uống, nói năng, hành xử trong sinh hoạt thường nhật, cách xá chào nhau, lễ lạy, tụng kinh, hay cách ứng xử với nhau khi có sự kiện xảy ra trong chúng; tất cả những điều này sẽ thể hiện được công phu tu tập, sự thành tựu trong đời sống thiền môn.
Vậy nên nếu chúng ta đặt tâm sai hướng thì cả đời tu chúng ta chỉ tu trên huyễn tưởng, hư tưởng, vọng tưởng, ảo tưởng, điên đảo tưởng chứ không tu thật. Xem lại bước chân, dáng đi của mình có chánh niệm, tỉnh giác không; ánh nhìn có hộ trì căn không; cách nói chuyện của mình có cung kính, khiêm hạ, phòng hộ, thu nhiếp không hay nói ra lời nói không có chánh niệm tỉnh giác; không có trên dưới, trước sau; không có thứ bậc; nói bằng bản ngã, ta đây.
Năm 1997, Minh Thành nhập hạ ở Chùa Xá Lợi. Trong một buổi Cung An Kiết Sự, thầy Quản chúng quỳ đọc bản Cung An Kiết Sự, trong đó có câu “Lý tuy bình đẳng; Sự hữu tôn ti, trật tự”. Cũng vậy, trong việc tu học, chúng ta không thường xuyên trạch pháp, một thời gian sau là không còn phân biệt thầy – trò, mà ngang hàng, còn vỗ vai nhau nói chuyện như vậy là không được. Bởi thế trong sự tu học xuất gia cần sự chi li, nhỏ nhiệm, tinh tế và sâu sắc, nếu không càng ngày chúng ta càng đi xa mục đích của đời sống Phạm hạnh, mất dần pháp biết ơn, nhớ ơn, cung kính, tàm quý, xấu hổ, lo lắng; cũng tức là mất Thánh đạo, Thánh quả. Nếu một người tu mà không có những pháp này thì người này cũng như một thây ma thôi, không có chất liệu của người xuất gia. Đây được coi như Giới thể, chất liệu sống của người xuất gia. Pháp tàm quý, sự lo lắng, sợ hãi mới có thể đưa chúng ta đến sự trong sạch, cao thượng; mất những pháp này thì dù cho mình chưa phạm giới nhưng một thời gian sau là ác, bất thiện pháp sẽ sanh khởi. Còn một người tuy là có phạm tội nhưng có tâm biết tàm quý, lo lắng, sợ hãi thì người này vẫn có khả năng khôi phục, tăng thượng trong Thánh pháp.
Thực tập hạnh cung kính
Do vậy, khi ngồi một mình, khi hành thiền, những suy nghĩ, cảm xúc, tư tưởng về biết ơn, nhớ ơn dào dạt; và những tư duy, cảm thọ về sự xấu hổ, lo lắng, sợ hãi những ác, bất thiện pháp thì chúng ta có khả năng đi được vào dòng Thánh pháp.
Tỷ-kheo, này các Tỷ-kheo, không cung kính, không thận trọng, không sống tương hòa với các vị đồng Phạm hạnh, sẽ làm cho viên mãn thắng hạnh pháp, sự kiện này không xảy ra. Sau khi không làm cho viên mãn thắng hạnh pháp, vị ấy sẽ làm cho viên mãn hữu học pháp, sự kiện này không xảy ra.
Không làm cho viên mãn hữu học pháp, vị ấy sẽ làm cho viên mãn các giới luật, sự kiện này không xảy ra. Sau khi không làm cho viên mãn các giới luật, vị ấy sẽ làm cho viên mãn chánh tri kiến, sự kiện này không xảy ra. Sau khi không làm cho viên mãn chánh tri kiến, vị ấy sẽ làm cho viên mãn chánh định, sự kiện này không xảy ra.
Tỷ-kheo, này các Tỷ-kheo, có cung kính, có thận trọng, sống tương hòa với các vị đồng Phạm hạnh sẽ làm cho viên mãn thắng hạnh pháp, sự kiện này có xảy ra. Sau khi làm cho viên mãn thắng hạnh pháp, vị ấy sẽ làm cho viên mãn hữu học pháp, sự kiện này có xảy ra.
Sau khi làm cho viên mãn hữu học pháp, vị ấy sẽ làm cho viên mãn các giới luật, sự kiện này có xảy ra. Sau khi làm cho viên mãn các giới luật, vị ấy sẽ làm cho viên mãn chánh tri kiến, sự kiện này có xảy ra. Sau khi làm cho viên mãn chánh tri kiến, vị ấy sẽ làm cho viên mãn chánh định, sự kiện này có xảy ra.
(Tăng Chi Bộ Kinh - tập 2, chương Năm pháp, phẩm Năm phần, bài kinh Không có cung kính 1)
Đầu tiên chúng ta cung kính, thận trọng và sau đó là tương hoà, tức sáu pháp hoà kính. Tại sao chúng ta cần lạy Phật? Tại sao ngày nào chúng ta cũng phải lạy tự quy y Phật, tự quy y Pháp, tự quy y Tăng? Tại sao ngày nào chúng ta tu học đầu tiên đều phải lễ lạy Tam Bảo, và khi kết thúc chúng ta phải lạy Tam quy? Đó là chúng ta đang thực tập pháp cung kính, hạ bản ngã xuống, chứ không phải chỉ đơn thuần là lễ lạy cho xong, cho rồi, cho đủ số lượng. Chỗ cao nhất của mình phải đặt ở chỗ thấp nhất của Đức Phật.
“Rồi vua Pasenadi nước Kosala im lặng đi đến căn nhà đóng cửa, sau khi đến, bước vào hành lang nhưng không vượt qua, đằng hắng và gõ vào khóa cửa. Thế Tôn mở cửa. Rồi vua Pasenadi nước Kosala bước vào căn nhà, cúi đầu đảnh lễ chân Thế Tôn, miệng hôn xung quanh chân Thế Tôn, tay xoa rờ xung quanh chân và tự xưng tên:
Bạch Thế Tôn, con là vua Pasenadi nước Kosala. Bạch Thế Tôn, con là vua Pasenadi nước Kosala.
Thưa Đại vương, do thấy nguyên nhân gì, Đại vương lại hạ mình tột bực như vậy đối với thân này và biểu lộ tình thân ái như vậy?
Bạch Thế Tôn, con có pháp truyền thống (Dhammanvaya) này đối với Thế Tôn. "Thế Tôn là bậc Chánh Đẳng Giác, Pháp được Thế Tôn khéo giảng, chư Tăng đệ tử của Thế Tôn khéo tu tập hành trì"
(Trung Bộ Kinh, Bài kinh 89. Kinh Pháp trang nghiêm)
Qua bài kinh này, chúng ta thấy được một vị Pháp vương, một vị Đế vương đã cùng tám mươi tuổi; hai bậc Thượng thủ của xuất thế gian và thế gian tiếp xúc, gặp gỡ, cách cư xử, ngôn ngữ, hành vi mẫu mực như thế nào. Sự cung kính của vua Pasenadi với Đức Thế Tôn là tột độ.
Do vậy, nếu không biết cách tác ý trong tu học, chúng ta lễ lạy cũng chỉ là hành vi máy móc, cho đủ số lượng, chỉ là hình thức mà không hiểu được nguyên nhân, mục đích, kết quả của hành động. Mỗi một cái lạy, chúng ta hãy tác ý: “Con nguyện hạ cái bản ngã ngu si này xuống”, “Con nguyện đập tan cái tôi khờ dại này ra”, “Con nguyện phá tan cái ta hơn thua, tranh đấu này ra”. Lạy như vậy là phá được cái bản ngã, hạ thấp được cái tôi, thành tựu pháp cung kính, tăng trưởng được trí tuệ, sanh ra công đức. Lễ lạy như vậy chúng ta càng ngày càng hiền thiện, tích tập công đức, có được sự khiêm cung, khiêm hạ, khiêm nhường, khiêm nhã, khiêm tốn.
Quay về xem xét lại tâm mình xem còn nặng nề ở điều gì, hãy tác ý nhiều ở đó để phá tan bản ngã đi. Chẳng hạn như chúng ta có xích mích, giận hờn, cự cãi với huynh đệ; rồi đến giờ tu học, lễ lạy, hãy khéo tác ý “Bạch Đức Thế Tôn, cho con phá vỡ cái bản ngã hơn thua, đúng sai này thành cát bụi, thành hư không đi”. Lạy như vậy, chúng ta sẽ tăng trưởng phước đức, tiêu trừ nghiệp xấu ác, thành tựu pháp cung kính, thể nhập được tri kiến của bậc Thánh. Cũng nhờ đó việc lạy Phật sẽ phát sanh hỷ lạc, chúng ta sẽ thấy hạnh phúc, sung sướng, thích thú, khoan khoái; cảm nhận, nếm được vị pháp hỷ trong việc thực hành. Ở Linh Quy Pháp Ấn, Minh Thành và quý Thầy, quý Cô, Đại chúng lạy nhau rất thường xuyên. Khi có lỗi lầm nào xảy ra, thì sẽ lạy phát lồ sám hối. “Đệ xin lỗi sư huynh, mấy ngày trước khi nói chuyện đệ có sanh khởi bản ngã”, rồi hai huynh đệ lạy nhau.
Chúng ta thường xuyên sống trong sự buông lung, phóng dật ngay cả những giờ học pháp, hành thiền. Do vậy, chúng ta cần học và thực tập rất nhiều cho tâm, để thấy được, hiểu được tâm mình ghê gớm đến thế nào.
“Khó nắm giữ, khinh động
Theo các dục quay cuồng”
Lành thay, điều phục tâm;
Tâm điều, an lạc đến”.
“Tâm khó thấy tế nhị
Theo các dục quay cuồng
Người trí phòng hộ tâm,
Tâm hộ, an lạc đến”.
“Chạy xa, sống một mình
Không thân, ẩn hang sâu
Ai điều phục được tâm
Thoát khỏi Ma trói buộc”
(Kinh Pháp cú, phẩm Tâm)
Tâm này thường chạy theo các dục quay cuồng, rất khó nắm bắt, kiểm soát và nhiếp phục. Nhiều khi nói hay hành động rồi khi đó chúng ta mới thấy hối hận. Trước án tử hình mà có khi cũng trơ trơ không cảm xúc nữa, cái tâm vô tàm, vô quý đến tột độ. Thành ra chúng ta thấy được ý nghĩa của cái lạy đó là sự cung kính, hạ bản ngã xuống và tưới tẩm, chăm sóc, nuôi dưỡng những cảm giác hiền thiện, hài hoà, khiêm hạ, cung kính, tôn trọng lẫn nhau. Những sự tác ý, quán chiếu này không chỉ lúc hành lễ mà phải thường xuyên hàng ngày, hàng giờ. Dần dần cái cây cung kính trong cảm thọ, nghĩ tưởng của mình được tăng trưởng, lớn mạnh lên.
Bây giờ chúng ta rất ít được học, được thực tập những điều này vậy nên chất lượng người xuất gia ngày càng kém, càng sa sút. Thế nên, hãy học tập, ghi chép và thực tập những điều này thật kỹ, rồi sau đó chia sẻ với những người có nhân duyên với mình, nhất là sau này làm thầy, hãy đem những pháp hành chân chánh, thiết thực, ý nghĩa, hiệu quả tức thời này để chia sẻ.
Chúng ta không chịu thực tập sự cung kính, tôn trọng; cẩn thận đối với những tham, sân, si của mình mà suy nghĩ đến những sự cao siêu, công án này khác thì không có ích lợi gì cho sự tu học. Đức Phật nói hai từ “Thận trọng”, đây xem như là pháp hành, đề mục, thiền quán, bài tập, đề thi, công án cho người tu chúng ta.
./.