Thánh Trí Năm Uẩn 22
Kinh NIKAYA Giảng Giải
Thánh Trí Năm Uẩn 22
Thích Minh Thành
Thật sự là kinh hãi, thật sự là khiếp sợ, thật sự là lo lắng vì tứ đại hải dương khô kiệt hoàn toàn, các núi lớn băng hoại, sụp đổ và tan nát, Trái Đất này bị hỏa hoạn, đại tam tai nổi lên, các núi lửa phun trào trở thành đống tro tàn nhưng không có sự chấm dứt đau khổ đối với những chúng sanh bị vô minh che đậy, tham ái trói buộc và sự quay cuồng lưu chuyển trôi nổi tiếp tục khổ đau trong luân hồi. Chúng ta có lo lắng hay không? Chúng ta có lo nghĩ hay không? Chúng ta có lo sợ không hay suốt ngày chỉ lo những chuyện vặt vãnh hơn thua, tham sân si, phải quấy, thị phi, so đo, chấp ngã… Chúng ta bị vô minh che đậy, bị si ám bao vây, bị bóng đêm trùm phủ. Vây hãm chúng ta là những ái dục, dục vọng, chúng ta phải sống trong kiếp mù lòa, chuyện đáng lo thì không lo, chuyện đáng sợ thì không sợ, chuyện đáng suy nghĩ lại không suy nghĩ.
Vô thỉ là luân hồi này, này các Tỳ-kheo, khởi điểm không thể nêu rõ đối với lưu chuyển luân hồi của các chúng sanh bị vô minh che đậy, bị tham ái trói buộc. (Tương Ưng Bộ, Tập II - Thiên Nhân Duyên, Chương IV. Tương Ưng Vô Thỉ (Anamatagga), I. Phẩm Thứ Nhất, III. Nước Mắt)
Tại sao lại khổ vậy? Tại sao lại lặn hụp trôi nổi bất tận như vậy? Giống như con chó bị cột vào cây cột với sợi dây thừng, con chó chỉ chạy lòng vòng quanh cây cột đó thôi, cũng vậy kẻ vô văn phàm phu không tu tập Pháp của bậc Thánh nên cho sắc này là mình, cho cảm giác này là tôi, cho các hình bóng trong tâm là tự ngã, là ta, cho suy nghĩ này là tôi, là ta, cho sự nhận thức rõ biết này là tôi, là ta nên người đó chạy lòng vòng quanh sắc; thọ; tưởng; hành; thức này giống như con chó bị buộc vào cây cột bởi sợi dây thừng.
Ví như, này các Tỳ-kheo, có con chó bị dây thằng trói chặt vào một cây cột hay cột trụ vững trắc, chạy vòng theo, chạy tròn xung quanh cây cột ấy hay cột trụ ấy. Cũng vậy, này các Tỳ-kheo, kẻ vô văn phàm phu... không tu tập pháp các bậc Chân nhân, quán sắc như là tự ngã... quán thọ như là tự ngã... quán tưởng như là tự ngã... quán các hành như là tự ngã... quán thức như là tự ngã, hay tự ngã như là có thức, hay thức ở trong tự ngã, hay tự ngã ở trong thức. Người ấy chạy vòng theo, chạy tròn xung quanh sắc... thọ... tưởng... các hành... Người ấy chạy vòng theo, chạy tròn xung quanh thức. Vì rằng người ấy chạy vòng theo, chạy tròn xung quanh sắc... thọ... tưởng... các hành... người ấy chạy theo vòng theo, chạy tròn xung quanh thức; người ấy không giải thoát khỏi sắc, không giải thoát khỏi thọ, không giải thoát khỏi tưởng, không giải thoát khỏi các hành, không giải thoát khỏi thức, không giải thoát khỏi sanh, già chết, sầu, bi, khổ, ưu, não. Ta tuyên bố rằng: "Vị ấy không giải thoát khỏi khổ đau". (Tương Ưng Bộ, Tập III – Thiên Uẩn, Chương I. Tương Ưng Uẩn (f), V. Phẩm Hoa, VII. Dây Thằng)
Người đó có suy nghĩ gì cũng suy nghĩ về sắc "nhà của tôi, tiền bạc của tôi, thân thể của tôi, đất đai tài sản của tôi", có suy nghĩ gì cũng suy nghĩ về những cảm giác, tưởng, nhận thức và cứ lòng vòng như trong những tài sản vật chất, thân xác vô thường, tạm bợ, mong manh, nhỏ bé, ngắn ngủi, bất an này. Người ấy không thể giải thoát khỏi sắc; thọ; tưởng; hành; thức, không giải thoát khỏi sanh; già; bệnh; chết; sầu; bi; khổ; ưu; não. Chú Thiện Cận có thấy tâm mình chạy lòng vòng trong những người thân không? Không đi ra khỏi những hình bóng của người thân, đó là bị buộc vào sợi dây trong cây cột của sắc; thọ; tưởng; hành; thức.
Cũng vậy, này các Tỳ-kheo, kẻ vô văn phàm phu quán sắc: "Cái này là của tôi, cái này là tôi, cái này là tự ngã của tôi", quán thọ... quán tưởng... quán các hành... quán thức: "Cái này là của tôi, cái này là tôi, cái này là tự ngã của tôi". Nếu người ấy có đi, người ấy chỉ đi tới năm thủ uẩn này. Nếu người ấy đứng, người ấy chỉ đứng gần năm thủ uẩn này. Nếu người ấy ngồi, người ấy chỉ ngồi gần năm thủ uẩn này. Nếu người ấy nằm, người ấy chỉ nằm gần năm thủ uẩn này. (Tương Ưng Bộ, Tập III – Thiên Uẩn, Chương I. Tương Ưng Uẩn (f), V. Phẩm Hoa, VIII. Dây Thằng)
Làm sao có thể đi xa được khi bị buộc vào sợi dây thừng? Làm sao có thể đi xa khi cho sắc là mình, là của mình, khi cho những cảm giác là mình, là của mình, khi cho những hình bóng, suy nghĩ, nhận thức là tôi, là của tôi? Nếu có đi cũng chỉ đi gần năm thủ uẩn.
Do vậy, này các Tỳ-kheo, cần phải luôn luôn quán sát tâm của mình như sau: "Trong một thời gian dài, tâm này bị tham, sân, si nhiễm ô. Do tâm nhiễm ô, này các Tỳ-kheo, chúng sanh bị nhiễm ô. Do tâm thanh tịnh, chúng sanh được thanh tịnh". (Tương Ưng Bộ, Tập III – Thiên Uẩn, Chương I. Tương Ưng Uẩn (f), V. Phẩm Hoa, VIII. Dây Thằng)
Chúng ta tham trong năm uẩn, tham muốn sắc, tham muốn cảm giác khoan khoái, thích thú, ham muốn những hình bóng vừa lòng, khả ái, tham muốn những suy nghĩ cho rằng đó là kiến thức của tôi, nhận thức, ý kiến của tôi. Chúng ta sân đối với năm uẩn, làm hư hao sắc khi sân lên, làm mất cảm giác yên vui khi bực bội, gây ra những hành động, cảm thọ khó chịu, có những hình bóng làm thù hằn. Chúng ta si mê, u ám, khờ dại trong năm uẩn. Trong một thời gian rất dài tâm này bị ô nhiễm đối với năm uẩn, chúng sanh bị ô nhiễm do tâm bị ô nhiễm, chúng sanh được thanh tịnh do tâm trong sạch. Cho nên toàn bộ sự tu tập là tẩy sạch tham sân si đối với năm thủ uẩn, đó là công trình tu tập của chúng ta.
Này các Tỳ-kheo, các Ông có thấy một bức họa gọi là danh họa không?
-- Thưa có, bạch Thế Tôn.
-- Này các Tỳ-kheo, bức danh họa ấy do tâm tư họa mà thành. Do vậy, này các Tỳ-kheo, tâm còn đa dạng hơn cả danh họa ấy. (Tương Ưng Bộ, Tập III – Thiên Uẩn, Chương I. Tương Ưng Uẩn (f), V. Phẩm Hoa, VIII. Dây Thằng)
Do suy nghĩ muốn vẽ nên mới tạo thành bức tranh nhưng cái tâm lại vẽ vời gấp trăm ngàn lần bức tranh đó. Tâm thức chúng ta là vị họa sĩ tài ba vẽ nên rất nhiều cảnh giới, hình ảnh.
Này các Tỳ-kheo, Ta không quán thấy một bộ loại nào khác lại đa dạng như tâm. Như các hữu tình thuộc loại bàng sanh; các hữu tình thuộc loại bàng sanh ấy, này các Tỳ-kheo, do tâm tư duy (mà thành). Do vậy, này các Tỳ-kheo, tâm ấy lại đa dạng hơn các hữu tình thuộc loại bàng sanh ấy. (Tương Ưng Bộ, Tập III – Thiên Uẩn, Chương I. Tương Ưng Uẩn (f), V. Phẩm Hoa, VIII. Dây Thằng)
Không có thứ nào khác mà có nhiều hình dáng, nhiều dạng thức, nhiều trạng thái, nhiều tình huống đa dạng như tâm. Súc sanh, thú vật là do tâm tư duy mà thành, tâm suy nghĩ tạo thành những hình dáng của thú vật, súc sanh. Cho nên tâm ý này rất khủng khiếp, loài người chúng ta dù là Âu, Á, Đông Tây không khác nhau là mấy, cũng là mắt, tai, mũi, lưỡi giống nhau, có khác chăng là màu da, tiếng nói nhưng loài súc sanh đa dạng hơn thế rất nhiều, hà mã, kiến, ruồi, cá, vi trùng, vi rút, chim chóc, gia cầm,… Có biết bao loại vi trùng, có biết bao giống cá, có con to bằng cả tòa nhà cao tầng như cá nhà táng, cá voi, có con nhỏ như ngón tay như cá cơm, lìm kìm… cho nên Đức Phật nói các loại hữu tình đa dạng như vậy đều do tâm tư duy mà thành nhưng tâm ấy lại đa dạng hơn những loài thú vật đó. Có vô số hình thái của súc sanh, loài vật mà chúng ta nhìn thấy trên thế giới động vật, cho đến ngày nay vẫn phát hiện ra những loài chưa từng thấy, tìm được những bộ xương hóa thạch của khủng long nhiều ngàn năm trước, tất cả những tướng mạo đó đều xấu xí, kinh hãi nhưng tất cả cũng đều do tâm tư duy mà thành.
Đáng sợ là tâm tư này!
Đáng ghê rợn là tâm thức này!
Đáng đề phòng, dò xét là tâm tư duy này!
Những suy nghĩ ác sẽ trở thành rắn độc, những suy nghĩ xảo quyệt trở thành hồ ly, những suy nghĩ dao động, lăng xăng sẽ trở thành khỉ vượn, những suy nghĩ hung hăng, hung tợn sẽ trở thành cọp beo, sói lang, những suy nghĩ cực ác sẽ trở thành cá sấu, cá mập. Người họa sĩ vẽ ra được bức tranh từ suy nghĩ của họ, bức tranh đó biểu hiện suy nghĩ, thân xác của các loài vật là sự biểu hiện của ý hành trong tư duy cho nên Đức Phật dạy chúng ta phải tu tập tâm, giới, tuệ, kiểm soát suy nghĩ của mình. Những suy nghĩ bất chánh, tà ác, sân hận, bất kính, bất hiếu sẽ đưa mình đến những đời sống đau khổ trong hiện tại và tương lai lâu dài.
Ví như, này các Tỳ-kheo, một người thợ nhuộm hay một họa sĩ, nếu người ấy có thuốc nhuộm, hay lạc, hay nghệ, hay màu xanh, hay màu đỏ tía, hay một tấm gỗ khéo bào, hay một bức tường, hay một tấm vải. Người ấy có thể vẽ hình người đàn bà hay hình người đàn ông với đầy đủ tất cả chi tiết. Cũng vậy, này các Tỳ-kheo, kẻ vô văn phàm phu, liên tục làm cho hiện hữu sắc... thọ... tưởng... các hành... liên tục làm cho hiện hữu thức. (Tương Ưng Bộ, Tập III – Thiên Uẩn, Chương I. Tương Ưng Uẩn (f), V. Phẩm Hoa, VIII. Dây Thằng)
Anh chàng họa sĩ có màu trong tay sẽ vẽ ra đàn bà, đàn ông, trời mây, non nước, biển cả, thú rừng, đồ vật… Cũng vậy, kẻ vô văn phàm phu liên tục làm cho hiện hữu sắc, liên tục làm cho hiện ra những sắc thân hoặc là thân con trâu, con bò, con gà, con vịt, con kiến… Do vô minh không biết ngũ uẩn này là khổ, là bệnh hoạn, bất tịnh, phiền não cho nên mới ưa thích, say mê, lòng dục, lòng tham, lòng khao khát trong này nên liên tục làm cho hiện hữu những thân năm uẩn. Do vô minh và khát ái làm chất liệu, làm màu và cọ để người họa sĩ vẽ ra những thân người, thân thú, thân cô hồn, ngạ quỷ, địa ngục, súc sanh, những thân tàn tật, đui, điếc, câm, ngọng, những thân què quặt, bại liệt, mù, chột, điên khùng, sứt môi, méo miệng. Vừa rồi người ta thử nghiệm vaccine trên người đều bị méo miệng, như vậy mà chúng ta cứ làm cho hiện hữu liên tục sắc; thọ; tưởng; hành; thức này. Vẽ và nhuộm ra nước mắt, máu, sầu, bi, khổ, ưu, não, đầy rẫy dục tham, sân hận, giành giật, cướp bóc, giết hại, đâm chém trong này, nói vài câu cũng gây sự nên tạo ra bao nhiêu ác nghiệp, đau khổ.
Nhưng bậc Ða văn Thánh đệ tử, này các Tỳ-kheo, được thấy các bậc Thánh... khéo tu tập pháp các bậc Chân nhân, không quán sắc như là tự ngã... không quán thọ... không quán tưởng... không quán các hành... không quán thức như là tự ngã, hay tự ngã như là có thức, hay thức ở trong tự ngã, hay tự ngã ở trong thức. Vị ấy không chạy vòng theo, chạy tròn xung quanh thức. Vị ấy không chạy vòng theo, chạy tròn xung quanh sắc... thọ... tưởng... các hành... không chạy vòng theo, chạy tròn xung quanh thức. Vị ấy không chạy vòng theo, chạy tròn xung quanh sắc... thọ... tưởng... các hành... thức; do không chạy vòng theo, chạy vòng tròn xung quanh thức, vị ấy được giải thoát khỏi sắc, được giải thoát khỏi thọ, được giải thoát khỏi tưởng, được giải thoát khỏi các hành, được giải thoát khỏi thức, được giải thoát khỏi sanh, già chết, sầu, bi, khổ, ưu, não. Ta nói: "Vị ấy được giải thoát khỏi đau khổ". (Tương Ưng Bộ, Tập III – Thiên Uẩn, Chương I. Tương Ưng Uẩn (f), V. Phẩm Hoa, VIII. Dây Thằng)
Chạy vòng tròn là chạy lòng vòng, do vị ấy không bị buộc trong sợi dây thừng đó, không chạy xung quanh năm uẩn nên vị ấy được giải thoát khỏi sắc; thọ; tưởng; hành; thức, được giải thoát khỏi sanh, già chết, sầu, bi, khổ, ưu, não. Ta nói: "Vị ấy được giải thoát khỏi đau khổ. Những bài kinh này cực kì thâm sâu, để học kĩ thì chúng ta phải học rất dài lâu, phải biết kết hợp với những bài đã học để quán chiếu. Chúng ta nhìn lại tâm thức, thân xác suốt ngày có chạy lòng vòng quanh ngũ uẩn không? Tại sao lại chạy? Vì do vô minh và khát ái. Hằng ngày có vẽ tranh, nhuộm màu không? Hằng ngày có bị buộc dây thừng để chạy lòng vòng quanh cây cột đó không? Khi nói chuyện với nhau thì nói về điều gì? Nói về ngũ uẩn, sắc hồi xưa tôi là vậy, trước đây tôi là vậy thì đó là sắc quá khứ, sau này tôi sẽ như vậy thì đó là sắc vị lai, tôi đã từng có những cảm giác như vậy là thọ của quá khứ, sau này tôi mong được vậy là thọ của vị lai, tưởng quá khứ, tưởng vị lai và tưởng hiện tại, những hành của quá khứ, vị lai, hiện tại. Cho nên giải thoát cho chúng sanh như thế nào?
Ở Sàvatthi. Rồi một vị Thiên, khi đêm đã gần tàn, với nhan sắc thù thắng chói sáng toàn vùng Jetavana, đi đến Thế Tôn. Sau khi đến, vị ấy đảnh lễ Thế Tôn rồi đứng một bên. Ðứng một bên, vị Thiên ấy bạch Thế Tôn:
-- Thưa Tôn giả, Ngài có biết giải thoát, thoát ly, viễn ly cho các chúng sanh không?
-- Này Hiền giả, Ta có biết giải thoát, thoát ly, viễn ly cho các chúng sanh.
-- Thưa Tôn giả, như thế nào Ngài biết giải thoát, thoát ly, viễn ly cho các chúng sanh?
Hỷ, tái sanh đoạn tận,
Tưởng, thức được trừ diệt,
Các thọ diệt, tịch tịnh,
Như vậy này Hiền giả,
Ta biết sự giải thoát,
Thoát ly và viễn ly,
Cho các loại chúng sanh.
(Tương Ưng Bộ, Tập I – Thiên Có Kệ, Chương I. Tương Ưng Chư Thiên, I. Phẩm Cây Lau, II. Giải Thoát)
Làm sao để giải thoát, thoát ly, viễn ly? Đó là hỷ tái sanh đoạn tận, tưởng, thức được diệt trừ, các thọ được tịch tịnh. Hỷ là ưa thích, khoan khoái, vui sướng đối với ngũ uẩn cho nên học cái này mới giải mã được tất cả lời kinh của Đức Phật trong tạng kinh Nikāya, nếu không học chỉ biết đọc hỷ tái sanh đoạn tận nhưng hỷ đối với cái gì thì không biết, nếu không có chìa khóa của ngũ uẩn mở ra thì đọc không hiểu. Giả sử mình nói hỷ chấm dứt thì hết luân hồi sanh tử nhưng hỷ là hỷ cái gì?
Ở đây, này các Tỳ-kheo, Tỳ-kheo hoan hỷ, hoan nghênh, đắm trước rồi an trú. Hoan hỷ, hoan nghênh, đắm trước và an trú gì?
Hoan hỷ, hoan nghênh, đắm trước rồi an trú sắc. Do vị ấy hoan hỷ, hoan nghênh, đắm trước rồi an trú sắc, hỷ đối với sắc khởi lên. Do hỷ đối với sắc, thủ đối với sắc khởi lên. Do duyên thủ đối với sắc, hữu khởi lên. Do duyên hữu, sanh khởi lên. Do duyên sanh, già chết, sầu, bi, khổ, ưu, não khởi lên. Như vậy là sự tập khởi của toàn bộ khổ uẩn này.
Hoan hỷ, hoan nghênh, đắm trước rồi an trú thọ... rồi an trú tưởng... rồi an trú các hành... rồi an trú thức. Do vị ấy hoan hỷ, hoan nghênh, đắm trước rồi an trú thức, hỷ khởi lên. Do hỷ đối với thức, thủ đối với thức khởi lên. Do duyên thủ đối với thức, hữu khởi lên. Do duyên hữu, sanh khởi lên. Do duyên sanh, già chết, sầu, bi, khổ, ưu, não khởi lên. Như vậy là sự tập khởi của toàn bộ khổ uẩn này. (Tương Ưng Bộ, Tập III - Thiên Uẩn, Chương I. Tương Ưng Uẩn (a), A. Năm Mươi Kinh Căn Bản, I. Phẩm Nakulapità, V. Thiền Ðịnh)
Hoan hỉ, hoan nghênh, đắm trước và an trú đối với năm uẩn thì khổ tập khởi, thành ra sự tu của chúng ta rất cụ thể, rõ ràng như chỉ trong lòng bàn tay, hễ còn hoan hỉ đối với năm uẩn thì còn luân hồi sanh tử. Nếu người đó tạo bạch nghiệp thì người này sẽ luân hồi sanh tử trong những tấm thân dễ chịu, đỡ khổ. Nhưng nếu người này tạo nhiều ác nghiệp (hắc nghiệp) thì người này sẽ mang các tấm thân thống khổ vì tật bệnh, đau đớn quằn quại. Còn nếu diệt hỷ tiêu tận, tức là sự khoan khoái, thích thú trong năm uẩn được chấm dứt thì người này đi đến tịch tịnh Niết-bàn, ra khỏi năm uẩn. Đây là Thánh Pháp Ấn của Đức Phật cho nên chúng ta đã thực tập nuôi dưỡng tâm viễn ly, nhất hướng nhàm chán và hôm nay phải từ bỏ nhưng cứ làm từ từ, Thánh Pháp Ấn là y chỉ viễn ly, y chỉ ly tham, y chỉ đoạn diệt hướng đến từ bỏ. Nhưng mình đừng sợ, mình nghe để thành tựu trí huệ thì ít nhất cũng có hướng đi ra, dù chưa bỏ hết được nhưng có hướng bỏ những cái thô ác nặng nề, uế trước. Vì vậy một khi sự ưa thích, tham đắm trong năm uẩn chấm dứt thì người này nhất định nhập Niết-bàn, không còn trở lại để tìm thêm cái thân nữa. Quý vị nhàm chán Linh Quy Pháp Ấn tột cùng thì ra đi không bao giờ trở lại nữa, đối với ngũ uẩn cũng giống như vậy. Những vị xuất gia khi ra đi là ba mươi năm không về nhà, có khi cha mẹ chết không hay biết vì họ quyết tâm tu hành, bây giờ các chú tập sự xuất gia tâm rất yếu, hở chút là lo, thậm chí đến các vị xuất gia rồi cũng vậy, tâm đạo không mạnh mẽ, không dứt khoát. Phải ý thức được rằng việc tu hành này tối tôn, tối thượng, thù thắng, có lợi ích cho cả vũ trụ chứ không chỉ có lợi cho vài người trong gia đình mình. Tâm ái luyến của mình rất nặng nề và phải đoạn tận, trừ diệt, tịch tịnh, bây giờ mình đang thực tập nhàm chán để không còn ưa thích nữa, con đã thấy ngán rất nhiều rồi nhưng không biết đại chúng có thấy như vậy không? Mọi người cũng ngán lắm rồi mới lên Linh Quy tu hành, phải nuôi dưỡng, phát huy cái tâm nhàm chán để phá cái tâm hoan hỉ, ưa thích. Cảm thọ diệt, tịch tịnh là đối với ba cảm thọ không còn ưa thích, nó không còn hấp dẫn, lôi kéo được mình nữa, mình không thấy ưa thích trong đó, quán từ từ để thâm nhập thì đến một lúc nào đó tất cả cảm thọ cũng được lắng dịu. Quý vị thấy mình tu trong dòng Pháp này tâm thức mình có chuyển biến nhiều không? Ngày xưa mình thấy cảnh đẹp, đồ đẹp là mình thích thú, say mê còn giờ mình chỉ thấy đó là sắc uẩn vô thường, nó đã giảm bớt rất nhiều, bây giờ cho đi chơi còn không đi, chỉ đi khi đến chỗ đó nghe Pháp còn không là không đi, như vậy mới là sự tiến bộ vì hỷ đã giảm bớt. Tưởng, thức được trừ diệt, cái tưởng cũng là thân kiến và sẽ được phá trừ, cho nên cái Pháp mình đang học rất hiếm được nghe.
Sư Phụ: Con xin hỏi sư cô Hạnh Từ bên Phật giáo nguyên thủy của mình bây giờ học cái gì?
Sư cô Hạnh Từ: Con kính bạch sư phụ, quý thầy, quý sư cô và đại chúng. Bên Phật giáo nguyên thủy chúng con tu bên Phước Sơn là chúng con hành thiền Tứ Niệm Xứ nhưng khi hành thiền lại nhắm mắt theo dõi hơi thở, cảm thọ gì khởi lên chỉ biết là có cảm thọ đó và không có tác ý. Chúng con hành tứ oai nghi đi, đứng, nằm, ngồi, thân khởi lên gì thì biết đó, trong hành động hằng ngày là tiểu oai nghi, làm gì biết đó, không có tác ý, chánh niệm tỉnh giác. Trong cái học thì chúng con học căn bản về Pali, ai muốn nghiên cứu sâu hơn thì đi học lớp chuyên sâu về văn phạm còn con chỉ học về cách đọc tụng. Mỗi tuần có bốn buổi hành thiền chung bao gồm 200 Tăng Ni và cư sĩ hành thiền chung trong không gian rộng, mỗi Chủ Nhật hành chung một lần từ 6h sáng đến 8 giờ tối, xen kẽ một tiếng ngồi thiền một tiếng đi thiền hành. Chúng con chỉ học bao nhiêu đó, không có tác ý diệt ngã, không học tác ý phải nhàm chán cái thân tuy rằng các bài giảng đều dạy điều này nhưng không có sự đốc thúc tác ý, học chỉ để hiểu và tự thân mỗi người thực hành, chúng con không được đốc thúc như sư phụ tận tình chỉ dạy cho chúng con ở đây. Do đó con làm theo đúng những gì chỗ tu tập cũ chỉ dạy và nghĩ rằng như vậy mình được lắm rồi nhưng con không biết suy nghĩ đó là bản ngã, con cảm thụ những nội dung được dạy rất máy móc và tưởng như vậy là đúng cho đến hôm qua nghe sư phụ giảng làm chấn động trái tim con, là tất cả những gì mình làm, mình suy nghĩ đều là ngũ uẩn. Khi mình cảm thụ cái gì thì phải cảm thụ bằng thọ, làm cái gì thì phải biết đó là thọ vận hành, còn trước khi đến đây tu học con làm bằng thức, con cứ học và làm mà không cảm thọ được, con nghĩ đó là con đang làm đúng nhưng hóa ra là do cái ngã nghĩ, cho nên hôm qua con xúc động, sư phụ đã cho con ánh sáng. Ngày trước ở Phước Sơn trước khi vào thiền con đều niệm ba mươi hai thể trược, niệm nhàm chán cái thân và niệm cái chết có thể đến bất kì lúc nào, con nghĩ như vậy là con đang thực hành nhưng đó chỉ là đang trả bài, lập đi lập lại những gì được học, ngay cả tiểu oai nghi lúc đi, ăn, nói chuyện thì con đều làm y như bài học và con tưởng như vậy là con đã thực hành đúng nhưng bài giảng của sư phụ hôm qua cho thấy bản ngã đang làm, bản ngã cho thấy mình giỏi, mình có tiến bộ, có chữ "mình" trong đó, lúc đó con thấy mọi việc ổn nhưng trong lòng lại thúc giục đi đến đích mà mọi người ở đây đều muốn là giải thoát Niết-bàn, dứt khỏi sanh tử luân hồi nhưng trong khi tu tập không ai dạy con được như sư phụ đang dạy, như các quý thầy, quý cô, quý đại chúng ở đây chỉ cho con thấy tất cả những gì trước đây con tu tập chỉ nuôi dưỡng bản ngã. Lúc nào cũng có "mình" trong đây, mình làm cái này, mình làm cái kia.
Kính thưa sư phụ, như bài giảng hôm nay của sư phụ hình ảnh ghi khắc trong tâm con nhiều nhất là hình ảnh con chó bị buộc cọng dây thừng và đi lòng quanh cây cột, trong tâm con lại xuất hiện nó đi vòng lòng một hồi thì cọng dây thừng sẽ bị quấn chặt vào cây cột, như thế con chó sẽ bị kẹt cứng trong đó không có cách thoát ra, nó càng vùng vẫy thì sợi dây thừng càng siết chặt cho đến khi không thể vùng vẫy được nữa. Con liên tưởng đến hình ảnh của con và của các chúng sanh đang mê mờ y như con chó đó, đang bị sự tham đắm của ngũ uẩn siết cho đến chết và cũng không có cách thoát ra, không thấy ánh sáng của Phật Pháp, không thấy ánh sáng của sự giác ngộ. Trong suốt bài giảng của sư phụ, con tưởng đến cuộc đời của mình, từ trước đến giờ mình tham đắm kinh khủng dục lạc, từ chuyện làm đẹp hình sắc bên ngoài, vui chơi, thỏa mãn những gì liên hệ vật chất. Bên ngoài có gì mới là gia đình phải mua sắm cho con để thỏa mãn tiện nghi vật chất, may mắn con được xuống tóc và rời khỏi nơi tiện nghi vật chất đầy đủ không thiếu để đi đến ngôi chùa Q2 nguyên thủy, ở đó con được ở một cốc tu cũng đầy đủ tiện nghi nhưng lúc đó con cũng thấy khổ vì con đang từ chỗ có nhà cửa đầy đủ đi đến nơi ăn uống kham khổ, mỗi ngày lại được sư phụ phát cho bốn mươi ngàn tiền ăn, cuối tháng thì được phát tiền nhưng con chỉ ở được bốn tháng vì con cảm thấy không phát triển được Pháp. Vì con nghĩ con đã từ bỏ căn nhà của con, từ bỏ dục lạc thì phải tìm cái gì có ý nghĩa hơn, con rời đi và nơi đến thứ hai của con là Phước Sơn, đến đó con cũng được phân cho ở một cái cốc nhỏ nhưng không được sạch sẽ như chùa nguyên thủy ở Q2 nhưng con vui thích vì con được học rất nhiều. Bên nguyên thủy của con không được chặt chẽ như ở đây vì ai muốn tu gieo duyên thì cứ tu, từ gieo duyên thì ai muốn tu luôn thì cứ tu, cho nên những người không biết gì Phật Pháp như con đều được xuất gia gieo duyên, con giữ luôn không xả y do đó tình trạng của con là không biết gì. Ở Phước Sơn con được sư phụ thương yêu, một lần sư phụ nói những ai biết từ bỏ cốc tường đi đến cốc cây, cốc gỗ ở thì người đó mới tu tiến bộ, con ghi nhớ lời dạy nên xin từ bỏ cốc tường để xin đến cốc cây tịch lặng hơn, đi vào khất thực bên trong thì hơi xa nhưng con cảm giác rất an tịnh và con vui thích ở đó. Tự nhiên con lại nghĩ "mình đi để từ bỏ tham mà sao giờ lại bị dính vào đây", con bị khựng lại, sự tu tập không phát triển thêm và con cảm thấy phải ra đi nên con xin phép được đi dự khóa thiền của cô Hằng Liên, từ khóa thiền đó con dự định lên Linh Quy Pháp Ấn. Duyên thứ nhất con lên đây vì cảnh đẹp, duyên thứ hai là con thấy trên mạng có bộ phân loại kinh Nikāya sư phụ đưa lên mạng, một người bạn đã cài vào điện thoại cho con, tim con hướng về đây, lòng con rất hoan hỉ và xác định phải đến đây lần hai. Khi đến đây con không nghĩ sẽ được học tập sâu sắc như vầy mà chỉ nghĩ là sẽ đến để tìm hiểu cách sử dụng app phân loại đồng thời đến đảnh lễ sư phụ. Con xin thầy Pháp Nghĩa cho con ở lại 3-4 ngày để tu tập nhưng duyên con ở lại đã được 8 ngày. Con rời bỏ Phước Sơn là nơi có chỗ ở đầy đủ nhưng con dị dính mắc để đến đây ở chung với đại chúng nhưng con lại hoan hỉ, con thực hiện việc không nuôi dưỡng ngũ uẩn, tuy rằng con chưa có năng lực thực hành giỏi như mọi người ở đây nhưng con nghĩ nếu con chịu khó học hỏi thì con cũng tiến đến điều con mong ước là học tập để đi đến giải thoát. Hiện tại ở đây dạy cho con nhận diện năm uẩn, những gì con học lúc trước chỉ phục vụ cho năm uẩn, tôn bản ngã lên cao. Đến đây con thấy được bản ngã của mình "mày xấu xa, mày tệ", tuy rằng con muốn thực hiện nhưng tập khí, vô minh sâu dày nên con còn bị vấp nhiều. Con mong quý thầy, quý cô và quý đại chúng hoan hỉ, con mong sư phụ từ bi, hoan hỉ chấp nhận con hiện giờ, hôm nay con phải quay về Phước Sơn. Con kính cám ơn sư phụ đã cho con cơ hội nói lời tri ân quý thầy, quý cô, quý đại chúng, tri ân Linh Quy Pháp Ấn, tri ân dòng tu Nikāya này. Hôm nay con xuống núi từ giã quý vị nhưng con có quyết tâm sẽ quay lại.
Sư Phụ: Này các Tỳ-kheo, do vì không thắng tri, không liễu tri, không ly tham, không từ bỏ mắt nên không thể đoạn tận khổ đau... tai... mũi... lưỡi... thân... Do vì không thắng tri, không liễu tri, không ly tham, không từ bỏ ý nên không thể đoạn tận khổ đau.
Và này các Tỳ-kheo, do thắng tri, liễu tri, ly tham và từ bỏ mắt nên có thể đoạn tận khổ đau... tai... mũi... lưỡi... thân... Do thắng tri, liễu tri, ly tham và từ bỏ ý nên có thể đoạn tận khổ đau. (Tương Ưng Bộ, Tập IV - Thiên Sáu Xứ, Chương MXX. Tương Ưng Sáu Xứ (d), Phần Ba - Năm Mươi Kinh Thứ Ba, I. Phẩm An Ổn, Khỏi Các Khổ Ách, VIII. Tuệ Tri)
Này các Tỳ-kheo, do không thắng tri, không liễu tri, không ly tham, không từ bỏ các sắc nên không thể đoạn tận khổ đau... các tiếng... các hương... các vị... các xúc... Do không thắng tri, không liễu tri, không ly tham, không từ bỏ các pháp nên không thể đoạn tận khổ đau.
Và này các Tỳ-kheo, do thắng tri, liễu tri, ly tham, từ bỏ các sắc, nên có thể đoạn tận khổ đau... các tiếng... các hương... các vị... các xúc... Do thắng tri, liễu tri, ly tham, từ bỏ các pháp nên có thể đoạn tận khổ đau. (Tương Ưng Bộ, Tập IV - Thiên Sáu Xứ, Chương MXX. Tương Ưng Sáu Xứ (d), Phần Ba - Năm Mươi Kinh Thứ Ba, I. Phẩm An Ổn, Khỏi Các Khổ Ách, IX. Tuệ Tri)
Tuệ tri là biết bằng trí tuệ, nếu thật sự biết bằng trí tuệ thì mình sẽ từ bỏ, còn chưa muốn từ bỏ thì cái biết đó chưa phải là biết bằng trí tuệ, đó là tưởng tri, thức tri chứ không phải tuệ tri. Biết bằng trí tuệ đưa đến ly tham, nhàm chán, đoạn tận, xả ly, từ bỏ. Cái biết nào đưa đến ly tham thì cái biết đó là trí tuệ, cái biết nào đưa đến viễn ly, rời xa thì cái biết đó là trí tuệ, cái biết nào đưa đến sự nhàm chán, chấm dứt thì cái biết đó là trí tuệ, cái biết nào đưa đến sự từ bỏ đối với năm thủ uẩn thì cái biết đó là trí tuệ. Khi đọc bài kinh này con vô cùng xúc động, mình đi tu nửa cuộc đời trong chùa cho đến giờ mới thật sự nghe những lời dạy chân chánh của Đức Phật, mới biết được Đức Phật dạy thực sự cái gì. Nếu không mình chỉ liên tục làm cho sắc hiện hữu, liên tục làm cho thọ; tưởng; hành; thức hiện hữu. Khi mọi người thường nhớ nghĩ đến cha mẹ, gia đình thì có phải liên tục làm cho ngũ uẩn hiện hữu không? Khi tác ý vượt ra tham ái, thành tựu trí tuệ thì không làm cho ngũ uẩn hiện hữu, hình bóng xâm chiếm trong tâm dù là ai thì nó cũng ám ảnh tức là liên tục làm sắc hiện hữu, cảm giác cứ ám ảnh là liên tục làm cho thọ hiện hữu, sắc tưởng hiện hữu trong tâm, suy nghĩ lập tới lập lui là làm cho hiện hữu hành uẩn, nhận thức chỉ biết có bấy nhiêu, không còn biết gì đến xung quanh mình nữa mà suốt ngày chỉ suy nghĩ có bấy nhiêu là hành; thức hiện hữu. Tương Ưng Thọ, Tương Ưng Uẩn, Tương Ưng Sáu Xứ là ba bộ nhất định phải học thuộc, phải đọc tụng và quán chiếu thường xuyên. Không phải dễ để gặp được chánh pháp, không phải dễ để tu được trong chánh pháp, chúng ta đã ở rất xa Đức Phật, con đã đi Myanmar, Sri Lanka, Thái Lan, đã đến các trường thiền lớn nhất thế giới, mình có phước duyên gặp được Chánh Pháp nên phải cố gắng trong pháp học và pháp hành, sau này mình sẽ thấy giá trị siêu việt và vĩ đại của nó, mình tu là đã ngay trong hiện tại thấy được lợi ích của nó rồi nên phải cố gắng nhiều hơn nữa, thường xuyên tác ý viễn ly, nhàm chán, ly tham, từ bỏ ác bất thiện pháp, từ bỏ những sắc pháp, tài sản, vật chất, những cảm giác, nhận thức, nghĩ tưởng, có như vậy mới làm cho tâm được lắng dịu, an tịnh. Phải quán chiếu hình ảnh con chó bị buộc vào cây cột, phải tìm cách mở sợi dây đó để thoát ra.
Chú Sĩ: Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật. Con kính bạch trên sư phụ, con kính thưa quý thầy, quý sư cô cùng toàn thể đại chúng. Con xin chia sẻ sự cảm nhận trong buổi sáng hôm nay khi sư phụ chia sẻ về lời dạy của Đức Phật sự luân hồi của các chúng sanh bị vô minh chi phối. Qua bài kinh đó con thấy được những ví dụ Đức Phật đưa ra rất thực tế để thấy được sự vô minh của chúng sanh và tự thân con, vì mãi mê không có trí tuệ thấy biết được lòng tham ái và vô minh bám chặt vào năm thủ uẩn này. Bài kinh sư phụ chia sẻ sáng nay con vẫn nghe cô Toàn chia sẻ năm ví dụ. Ví dụ thứ nhất là khi mặt nước này khô cạn nhưng chúng sanh vẫn không thể thoát ra khỏi sự đau khổ của luân hồi này. Ví dụ thứ hai là Mặt Trời làm khô cạn nước chỉ còn lại trong dấu chân con trâu. Ví dụ thứ ba là con chó bị cột dính vào cây cột bằng sợi dây và con chó không thể thoát ra khỏi cây cột đó. Ví dụ rất thiết thực là một người họa sĩ, tâm mình vì vô minh không hiểu biết cứ làm cho hiện hữu ra sắc; thọ; tưởng; hành; thức, từ những tư duy đó tạo ra nghiệp. Ví dụ thứ năm là một người thợ nhuộm vải, vì vô minh, chấp thủ cho rằng sắc; thọ; tưởng; hành; thức là mình, là của mình, suốt ngày quây quần trong ngũ uẩn, không có trí tuệ để thoát ra, bị tham sân si, vô minh, bản ngã chi phối nên khổ sở, đau khổ. Ngay cả gặp được Chánh Pháp vẫn chưa chịu thoát ra, chưa chịu gỡ ra sợi dây trói buộc, tự làm khổ mình từ vô lượng kiếp vừa qua cho đến nay. Con chân thành cảm ơn sư phụ, những buổi giảng hôm nay của sư phụ, những buổi chia sẻ từ lúc sư phụ về núi cho đến nay về Tứ Thánh Đế, quán về khổ làm cho con cảm thấy nhàm chán đối với đời sống này, con thấy không có gì sướng bằng việc thoát khỏi khổ, nếu đã thấy khổ mà không chịu thoát ra cứ đi tìm cái khổ khác thì đến khi nào mới chấm dứt được dòng luân hồi này, đến chừng nào mới gỡ ra được sợi dây tham ái trói buộc này. Con xin lỗi sư phụ, thời gian vừa qua con đã không nhìn lại thân tâm, thật sự nếu để tâm quán chiếu thì đó là một vấn đề để soi xét lại các việc làm của mình là đủ để nhận ra cái khổ của cuộc đời này, thế nào con vẫn tham đắm, dính mắc đối với vị ngọt của cuộc đời này, đối với sự tạm bợ, màn diễn của ngũ uẩn này. Con đã không quán chiếu sự nguy hại để thoát ra mà vẫn còn bị trói buộc vào vị ngọt. Con xin lỗi sư phụ vì con đã không hết lòng tôn kính, tôn sùng với những lời chia sẻ tận tình của sư phụ. Con vẫn chưa thoát ra sự luyến ái, trói buộc đối với gia đình, con nghĩ rằng khi gặp được Chánh Pháp với những ngày đầu tiên lên đây con cảm thấy Pháp rất thiết thực và bản thân rất may mắn nhưng sau một thời gian tu tập thì con đã để tâm mình chạy theo những vị ngọt của tham dục, tham ái, cứ nghĩ rằng Pháp này dễ tu nên con đã không tận tình, để cho bản ngã chen vào trong thời gian qua. Con rất đau khổ và ân hận vì đã không nghe theo lời dạy của sư phụ, quý thầy và các bậc thiện tri thức chia sẻ. Ngày hôm nay con chân thành cảm ơn sư phụ đã hết lòng chia sẻ những kinh nghiệm tu học, chia sẻ những lời dạy của Đức Phật giảng dạy rộng ra để con hiểu thêm vô minh và tham ái đối với tự thân. Con cảm ơn sư phụ, quý thầy, quý sư cô và đại chúng. Nhờ có quý thầy, quý sư cô và đại chúng con mới được ở trong một hội chúng tinh ba, có lòng nhiệt huyết thoát ra khỏi sự vô thường của đời sống này. Con hứa sẽ cố gắng nhìn lại bản thân từng ngày để tu tập tiến bộ hơn. Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật.
Sư Phụ: Trong năm ví dụ chú nói thì ba ví dụ sau mới gọi là ví dụ, còn hai cái trước là Đức Phật nói sự thật chứ không phải ví dụ, biển cả sẽ đi đến kiếp hoại sẽ khô cạn không phải ví dụ, bảy Mặt Trời là sự thật chứ không phải ví dụ.
Chú Thiên Cần: Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật. Con cung kính bạch trên sư phụ, con cung kính trên quý thầy, quý sư cô và quý vị Phật tử. Con pháp danh Thiện Cần, con xin chia sẻ những cảm nhận của con trong buổi sáng hôm nay. Trong sáng nay con có khổ thọ vì con bị đau dạ dày, con nhiếp phục và chiến đấu với cái đau đó nên có bị hôn trầm, đúng như lời sư phụ nói con thấy mình cứ lẩn quẩn trong thọ; tưởng; hành, nhất là suy nghĩ về người thân và những cảm thọ trong năm uẩn này không thể thoát ra được. Hôm nay sư phụ đã vén được bức màn vô minh để con có tầm nhìn rộng mở, khi nghe về những lời dạy của Đức Phật, trong vô thỉ kiếp luân hồi này thì con thoát ra được sự gò bó, hạn hẹp của chính mình. Con xét thấy thời gian qua con lên đây tu tập nhưng vẫn còn yếu kém, trong khi quý thầy, quý cô và đại chúng đều tinh tấn, nỗ lực tu tập và học Pháp còn con vẫn buông lung phóng dật, lười biếng, con bị những lậu hoặc, nghiệp quả, vọng tưởng xâm chiếm, làm cản trở con đường tu hành. Con xin sám hối với sư phụ, với quý thầy, quý cô và đại chúng, kính mong được sự chứng minh để con có thể gột rửa lậu hoặc, uế nhiễm trong nội tâm của mình để có thể tiếp tục tiến xa trên con đường tu tập giải thoát. Hôm nay nhìn lại cảm thọ, những bệnh tật trong cơ thể thì con có tưởng về quá khứ, những ác nghiệp sát sanh, giết hại sinh mạng các loài nên bây giờ mình phải chịu sự đau đớn trong cơ thể. Con tác ý nhàm chán, chán ngán cái thân này nhưng sự tác ý của con còn yếu, cũng còn sợi dậy ràng rịt, dính chặt, còn thọ khổ, những cái tưởng ám ảnh, sợi dây luyến ái cứ giày vò nên con rất lo lắng. Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật. Con kính xin sư phụ, quý thầy, quý cô và đại chúng chỉ dạy thêm để con tiến tục tiến sâu hơn trên con đường tu tập thánh pháp này. Con xin tri ân lên sư phụ, quý thầy, quý cô và đại chúng cũng như quý vị công phu, công quả ở đây đã từ bi, dày công có sự tu tập thánh pháp tuyệt vời, vi diệu của Đức Phật. Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật. Con xin đảnh lễ sám hối.
Sư Phụ: Trước khi chúng ta nghỉ, con có vài điều cần chia sẻ. Các thầy, các sư cô, các chú, các cô về đây tu và tất cả những người có mặt ở đây đều rất chân thành, hiền thiện, tha thiết trong sự tu học mới có mặt ở đây, thậm chí là tuyệt vời, chân chất, chân thật. Gặp được dòng Chánh Pháp tối thượng là điều thù thắng trong những điều thù thắng, có khi vô lượng kiếp vừa qua có khi không gặp được Chánh Pháp này. Mình muốn đi xa mà những người thiếu nợ biết mình muốn đi xa thì người ta có để cho mình đi không? Những chủ nợ sẽ kéo nhau đến đòi nợ cho nên có nhiều vị lên đây tu rất tinh tấn, đầy ý chí nhưng hết chuyện này đến chuyện kia kéo đến, người thân bệnh, sư phụ bệnh, cha mẹ ông bà bệnh, tai nạn hoặc tự thân người đó bệnh hoặc nghiệp quá khứ của người đó kéo họ phải xuống núi, đó là những chủ nợ của họ. Nếu lúc đó mình không bình tĩnh, sáng suốt, không kiên trì, vững chí sẽ kéo mình trở lại cho nên không phải mình tu dở, không phải mình làm biếng không chịu tu mà là khi có duyên bên ngoài đến thì mình phải sáng suốt quán chiếu xem đó là gì để có cách ứng phó phù hợp để còn tu được. Nếu không có niệm – định – tuệ, không nhận diện ngũ uẩn khi có chuyện đến, không thấy mục tiêu mình đang làm cao quý như thế nào thì mình sẽ bị quật ngã. Nợ tiền thì chủ nợ đến đòi tiền, nợ tình thì đến đòi tình, nợ ái thì bị đòi ái… vì người này chuẩn bị đi nên phải trả nợ mới cho đi hoặc nợ tình ái, thân ái nên họ không muốn mình đi, muốn mình ở lại cho vui. Cho nên mình phải có chánh niệm, bình tĩnh soi xét sâu sắc, khi có chuyện gì đến với thì mình phải thưa với quý thầy, thưa với quý sư cô, thưa với đại chúng nếu mình thấy trí huệ bản thân không đủ sức giải quyết vấn đề để có những phương pháp hỗ trợ giúp đỡ cho mình. Nếu không có thầy ở nhà thì xin thầy Pháp Nghĩa mở ra pháp đàm "con bị như vậy mong quý thầy, quý cô giúp sức cho con", ra quỳ lạy sám hối trình bày. Tất cả mọi người dùng công lực tu hành truyền nguồn trí huệ, nguồn từ bi và mình hứng lấy sức mạnh đó, tức là niệm – định – tuệ, từ bi trí huệ, hùng lực của đại chúng là sức mạnh tập thể sẽ giúp cho mình. Còn mình im lặng thì nửa đêm lại cuốn gói xuống núi, ma đưa lối quỷ dẫn đường lại tìm những chỗ đoạn trường mà đi. Cho nên có gì xảy ra phải trình, phải thưa, phải cầu thỉnh quý thầy, quý sư cô và đại chúng giúp sức cho con. Nếu chú bệnh mà chú không nói ra, tức là làm cho hiện hành các pháp hữu vi nên gọi là hành, chú không nói thì ai biết chú bị bệnh chỉ thấy chú nghe Pháp bình thường, có người bệnh nặng nếu không la lên thì người kế bên cũng không biết, đó là bệnh thân còn bệnh tâm cũng vậy, có gì phải thưa lên để mọi người giúp mình. Còn mình đã làm hết sức mà vẫn không được thì đó là do nhân duyên tu hành chưa đủ nhưng phải làm hết sức mình, dân gian có câu "30 chưa phải là Tết", chừng nào qua 12h đêm ngày 30 mới gọi là Tết. Người ta nghiên cứu về bộ não con người thì nhận thấy con người chỉ sử dụng có 10% bộ não, người ta khuyến khích hãy suy nghĩ những gì cao siêu, rộng lớn, dồn hết tâm lực vào việc đang làm. Có những người đạt kỉ lục thế giới vì họ sử dụng nhiều hơn 10% của người bình thường còn Đức Thế Tôn là 100%, mình cứ nghĩ làm không được là vĩnh viễn đến chết cũng không làm được. Đừng bao giờ nghĩ mình làm không được, đừng nghĩ rằng mình yếu kém, suy nghĩ đó làm giới hạn bản thân, không bước qua được ranh giới của tự thân, một khi được tiếp nguồn thánh trí huệ này rồi thì không có gì là không được, thánh trí ngũ uẩn này phá tung vũ trụ thì có gì làm không được? Cho nên quan trọng ở chỗ tư duy của mình vì tư duy sanh ra loài người, súc sanh, chư Thiên và tư duy sanh ra bậc Thánh nên mới gọi là Thánh tư duy. Suy nghĩ rất quan trọng nên phải thường xuyên tác ý, dùng Thánh trí huệ tác ý. Đừng suy nghĩ yếu hèn, đừng suy nghĩ chùn chân, đừng suy nghĩ tiêu cực, cứ suy nghĩ phải tiến tới, ly tham, xả ly và phải niệm câu này thay cho câu Niệm Phật "Phải tiến tới, tiến tới", "Tôi phải thành tựu, phải diệt tận cái này, phải xuất ly khỏi nó". Gặp điều gì nặng trong tâm thì phải dồn toàn lực giải quyết cái đó, từ từ tu các pháp khác, nặng về dục thì tập trung vào những bài diệt dục, Quán Bất Tịnh, Quán Ba Mươi Hai Thể Trược để diệt dục, tất cả nghe pháp, thiền định, pháp đàm đều dồn vào diệt dục. Nhớ nhà, tình ái, gia đình thì tập trung vào phá cái này trong các giờ thiền, đi kinh hành, nghe pháp đều tác ý đánh tan cảm giác nhớ nhung đó, xong rồi mới tu qua Pháp khác chứ đừng tu mỗi cái một chút, khối u còn là phải giải phẫu, cắt nó ra cho hết. Không có ai là người thân của mình, chỉ có vô minh, nhân quả và nghiệp, nếu nói người thân thì ai cũng là người thân trong quá khứ, trong Tương Ưng Vô Thỉ Đức Phật đã nói rất khó để tìm một người không phải là mẹ của mình.
Ví như, này các Tỳ-kheo, có người chặt các cành cỏ, khúc cây, nhành cây, nhành lá, trong cõi Diêm-phù-đề này, chất chúng thành một đống, làm chúng thành những que đặt theo hình các ô vuông, cầm từng que đặt xuống và nói: "Ðây là mẹ tôi, đây là mẹ của mẹ tôi". Và không thể cùng tận, này các Tỳ-kheo, là các bà mẹ, mẹ của người ấy. Nhưng nhành cỏ, khúc cây, nhành cây, nhành lá trong cõi Diêm-phù-đề này có thể đi đến đoạn tận, đoạn diệt. (Tương Ưng Bộ, Tập II - Thiên Nhân Duyên, Chương IV. Tương Ưng Vô Thỉ (Anamatagga), I. Phẩm Thứ Nhất, I. Cỏ Và Củi)
Các Ông nghĩ thế nào, này các Tỳ-kheo, cái gì là nhiều hơn, sữa mẹ mà các Ông đã uống trong khi các Ông lưu chuyển luân hồi trong một thời gian dài, hay là nước trong bốn biển?
-- Bạch Thế Tôn, theo như lời Thế Tôn thuyết pháp, chúng con hiểu rằng cái này là nhiều hơn, tức là sữa mẹ mà chúng con đã uống trong khi chúng con lưu chuyển luân hồi trong một thời gian dài chớ không phải nước trong bốn biển!
Cái này là nhiều hơn, này các Tỳ-kheo, tức là sữa mẹ mà các Ông đã uống trong khi các Ông lưu chuyển luân hồi trong một thời gian dài chớ không phải nước trong bốn biển. (Tương Ưng Bộ, Tập II - Thiên Nhân Duyên, Chương IV. Tương Ưng Vô Thỉ (Anamatagga), I. Phẩm Thứ Nhất, IV. Sữa)
Này các Tỳ-kheo, thật không dễ gì tìm được một chúng sanh, trong thời gian dài này, lại không một lần đã làm mẹ... (Tương Ưng Bộ, Tập II - Thiên Nhân Duyên, Chương IV. Tương Ưng Vô Thỉ (Anamatagga), II. Phẩm Thứ Hai, IV. Mẹ)
Trong các vị đang ngồi đây, cực kì khó tìm một vị không phải là mẹ, không phải là ông, không phải là anh chị của con trong đời quá khứ, điều này là cực kì khó trong vòng luân hồi này. Tất cả mọi người đã từng làm cha, làm mẹ, làm anh chị em của con chứ không phải chỉ có ông Pháp An mới là cha con. Chỉ có thể nhập trí huệ mới giải quyết được, còn không thì tất cả mọi chuyện đều không giải quyết được, chỉ có tiếp tục sầu, bi, khổ, ưu, não, tiếp tục sanh, già, bệnh, chết, tiếp tục phân ly đau khổ chỉ trừ khi nào thành tựu chánh kiến. Một câu cuối để kết thúc, khi nãy chú trình pháp có nói một câu khiến con phải suy xét là chú phải nhiếp phục cảm giác đau dạ dày rất khó chịu khi nghe Pháp nhưng người ở ngoài nhìn vào không biết, chẳng hạn Liên Trụ bệnh hoặc Thông Tuệ. Cô Hạnh Trí, Tuệ Tâm nhìn không biết đang bệnh nhưng trong thân mình phải chiến đấu chống lại cảm giác đau đớn, nhức mỏi, tê chân. Như vậy con mắt nhìn không đúng, Khổ Thánh Đế là như vậy cho nên con mới nói với đại chúng là đừng tin vào mắt thấy tai nghe vì sự thật rất khác, người ngoài nhìn vào không biết chú đó đang đau dạ dày hoặc sự đau đớn của Thông Tuệ, Liên Trụ, chỉ thấy ngồi trang nghiêm thanh tịnh chứ không biết người đó đang chịu những cảm giác thống khổ, đau đớn. Thành ra nhìn bằng con mắt cứ tưởng là đúng, thường thì phàm phu khi biểu hiện ra kết quả họ mới biết cho nên quán về Khổ Thánh Đế thâm sâu như vậy đó, không phải nhìn thấy người đó nằm trên gường bệnh mới là khổ, sự quán chiếu mà Đức Phật dạy nó sâu sắc như vậy đó. Con biết đại chúng ngồi đây cũng bị khổ thọ vì lạnh, nhức, mỏi, tê, nhức, buồn ngủ nhưng phải chịu cái khổ này để vượt qua cái khổ lớn.
Nguyên Ngọc: Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật. Kính bạch sư phụ, kính bạch quý thầy, quý sư cô và kính thưa quý đại chúng. Con có một câu hỏi về bài kinh tất cả các chúng sanh do tâm tư mà hiện hữu, bài kinh này con nghe một lần ở Giác Tuệ thì con đã chấn động, hôm nay sư phụ nhắc lại. Con có câu hỏi xin được sư phụ giải đáp: Có khi nào trong tâm tư của con chưa tạo tác mà chúng sanh đã hiện hữu không? Con cảm thấy rất kinh sợ khi ý nghĩ sanh khởi thì con lại thấy nó đúng với thực tại (nghĩ gì có đó) thì đó có phải tự nó hiện hữu hay do nó tương ưng cho nên con rất sợ ý nghĩ của mình. Ví dụ con vừa suy nghĩ thấy cảnh đó, nhà đó mà con chưa tạo tác thì nó đã hiện hữu ra. Con xin đảnh lễ tri ân sư phụ, cám ơn quý thầy, quý sư cô và đại chúng đã dung chứa con thời gian qua, con có rất nhiều lợi lạc làm tư lương để tinh tấn tu tập.
Sư Phụ: Đức Phật nói tất cả đều do tâm tư mình tạo thành để mình cẩn thận trong suy nghĩ, đừng suy nghĩ ác bất thiện pháp, sự tu căn bản là điều đó. Có những điều trùng hợp như khi con nhập thất dưới quê thì con nghĩ phải chi có dưa leo để ăn thì mát trong người, chỉ mới nghĩ vậy thôi mà lát sau có người cúng cả bao dưa leo, không chỉ một lần như vậy mà rất nhiều lần nghĩ gì là có đó, có những cái trùng hợp như vậy, tùy theo phước nghiệp của mình có sự chiêu cảm. Khi mình có phước đức thì suy nghĩ gì thì nó tương thích với suy nghĩ của mình như dân gian có câu chúc "Tâm tưởng sự thành". Có những người họ suy nghĩ cái xấu có khi cũng tương ứng, chính vì vậy phải cẩn thận trong suy nghĩ. Hãy nghĩ thiện pháp chứ đừng nghĩ ác pháp, nghĩ cái tốt chứ đừng nghĩ cái xấu, suy nghĩ theo chiều hướng Đức Phật dạy chứ đừng nghĩ theo chiều vô minh, si ám. Còn thần thông của Đức Phật là ý sanh thân, tức là ngài ở tại đây nhưng ngài muốn lên Phạm thiên thì có một cái thân theo ý muốn của ngài, ngài vừa nghĩ thôi là lập tức có cái thân lập tức xuất hiện ngay tại chỗ đó, còn mình tu chưa tới nổi đâu, Đức Phật muốn hóa hiện cái thân của ngài ở thế giới nào thì ngài biến ra đó vì ngài tự tại đối với ngũ uẩn, ngũ uẩn không còn ràng buộc được ngài cho nên ngài muốn hiện ngàn thân sẽ có ra bấy nhiêu thân ở thế giới khác. Những vị đã vượt ra khỏi ngũ uẩn thì sức lực là bất khả tư nghị, còn mình thì không ra khỏi cục thịt mấy chục kí lô này vì thế dục tham ái làm khổ mình.
- Này Kevaddha, có ba pháp thần thông này Ta đã tự mình giác ngộ và tuyên thuyết. Thế nào là ba? Tức là biến hóa thần thông, tha tâm thần thông, giáo hóa thần thông. (Trường Bộ Kinh, 11. Kinh Kevaddha (Kiên Cố))
Thật vậy, này Bà-la-môn, lời nói của Ông trước như là chống ta, sau xích lại gần ta. Và Ta sẽ trả lời cho Ông. Này Bà-la-môn, Ta chứng được nhiều loại thần thông, một thân hiện ra nhiều thân, ... Này Bà-la-môn, ta thành tựu được định không tầm không tứ, với tâm của mình rõ biết tâm của người khác, tùy theo ý hành của Ta hướng đến chỗ nào, thời tâm của Ta lập tức suy tầm đến chỗ ấy. Này Bà-la-môn, Ta có thể giáo giới như sau: "Hãy suy nghĩ như thế này, chớ suy nghĩ như vậy. Hãy tác ý như vậy, chớ tác ý như vậy! Hãy từ bỏ cái này, hãy đạt được cái này và an trú!".
Thưa Tôn giả Gotama, có một Tỳ-kheo nào khác, cũng thành tựu được ba loại thần thông này, ngoài Tôn giả Gotama?
- Này Bà-la-môn, không phải chỉ có một trăm, hai trăm, ba trăm, bốn trăm, năm trăm mà còn nhiều hơn nữa các Tỳ-kheo thành tựu được ba loại thần thông này.
- Nhưng thưa Tôn giả Gotama, nay các Tỳ kheo ấy hiện ở đâu?
- Này Bà-la-môn, trong chúng Tỳ-kheo này.
- Thật vi diệu thay, Tôn giả Gotama! Thật vi diệu thay, Tôn giả Gotama! Như người dựng đứng những gì bị quăng ngã xuống, hay trình bày cái gì bị che kín, hay chỉ đường cho người bị lạc hướng, hay cầm đèn sáng vào bóng tối để những ai có mắt có thể thấy sắc. Cũng vậy, Chánh pháp đã được Tôn giả Gotama dùng nhiều phương tiện thuyết giảng. Con nay xin quy y Tôn giả Gotama, quy y Pháp, quy y Tăng. Mong Tôn giả Gotama nhận con làm đệ tử cư sĩ, từ nay cho đến mạng chung, con trọn đời quy ngưỡng. (Tăng Chi Bộ, Chương III - Ba Pháp, V. Phẩm Nhỏ, 60.- Sangàrava)
Nguyện đem công đức này hướng về khắp tất cả đệ tử và chúng sanh đều trọn thành Phật đạo.
./.
Thánh Trí Năm Uẩn 22
Thích Minh Thành
Thật sự là kinh hãi, thật sự là khiếp sợ, thật sự là lo lắng vì tứ đại hải dương khô kiệt hoàn toàn, các núi lớn băng hoại, sụp đổ và tan nát, Trái Đất này bị hỏa hoạn, đại tam tai nổi lên, các núi lửa phun trào trở thành đống tro tàn nhưng không có sự chấm dứt đau khổ đối với những chúng sanh bị vô minh che đậy, tham ái trói buộc và sự quay cuồng lưu chuyển trôi nổi tiếp tục khổ đau trong luân hồi. Chúng ta có lo lắng hay không? Chúng ta có lo nghĩ hay không? Chúng ta có lo sợ không hay suốt ngày chỉ lo những chuyện vặt vãnh hơn thua, tham sân si, phải quấy, thị phi, so đo, chấp ngã… Chúng ta bị vô minh che đậy, bị si ám bao vây, bị bóng đêm trùm phủ. Vây hãm chúng ta là những ái dục, dục vọng, chúng ta phải sống trong kiếp mù lòa, chuyện đáng lo thì không lo, chuyện đáng sợ thì không sợ, chuyện đáng suy nghĩ lại không suy nghĩ.
Vô thỉ là luân hồi này, này các Tỳ-kheo, khởi điểm không thể nêu rõ đối với lưu chuyển luân hồi của các chúng sanh bị vô minh che đậy, bị tham ái trói buộc. (Tương Ưng Bộ, Tập II - Thiên Nhân Duyên, Chương IV. Tương Ưng Vô Thỉ (Anamatagga), I. Phẩm Thứ Nhất, III. Nước Mắt)
Tại sao lại khổ vậy? Tại sao lại lặn hụp trôi nổi bất tận như vậy? Giống như con chó bị cột vào cây cột với sợi dây thừng, con chó chỉ chạy lòng vòng quanh cây cột đó thôi, cũng vậy kẻ vô văn phàm phu không tu tập Pháp của bậc Thánh nên cho sắc này là mình, cho cảm giác này là tôi, cho các hình bóng trong tâm là tự ngã, là ta, cho suy nghĩ này là tôi, là ta, cho sự nhận thức rõ biết này là tôi, là ta nên người đó chạy lòng vòng quanh sắc; thọ; tưởng; hành; thức này giống như con chó bị buộc vào cây cột bởi sợi dây thừng.
Ví như, này các Tỳ-kheo, có con chó bị dây thằng trói chặt vào một cây cột hay cột trụ vững trắc, chạy vòng theo, chạy tròn xung quanh cây cột ấy hay cột trụ ấy. Cũng vậy, này các Tỳ-kheo, kẻ vô văn phàm phu... không tu tập pháp các bậc Chân nhân, quán sắc như là tự ngã... quán thọ như là tự ngã... quán tưởng như là tự ngã... quán các hành như là tự ngã... quán thức như là tự ngã, hay tự ngã như là có thức, hay thức ở trong tự ngã, hay tự ngã ở trong thức. Người ấy chạy vòng theo, chạy tròn xung quanh sắc... thọ... tưởng... các hành... Người ấy chạy vòng theo, chạy tròn xung quanh thức. Vì rằng người ấy chạy vòng theo, chạy tròn xung quanh sắc... thọ... tưởng... các hành... người ấy chạy theo vòng theo, chạy tròn xung quanh thức; người ấy không giải thoát khỏi sắc, không giải thoát khỏi thọ, không giải thoát khỏi tưởng, không giải thoát khỏi các hành, không giải thoát khỏi thức, không giải thoát khỏi sanh, già chết, sầu, bi, khổ, ưu, não. Ta tuyên bố rằng: "Vị ấy không giải thoát khỏi khổ đau". (Tương Ưng Bộ, Tập III – Thiên Uẩn, Chương I. Tương Ưng Uẩn (f), V. Phẩm Hoa, VII. Dây Thằng)
Người đó có suy nghĩ gì cũng suy nghĩ về sắc "nhà của tôi, tiền bạc của tôi, thân thể của tôi, đất đai tài sản của tôi", có suy nghĩ gì cũng suy nghĩ về những cảm giác, tưởng, nhận thức và cứ lòng vòng như trong những tài sản vật chất, thân xác vô thường, tạm bợ, mong manh, nhỏ bé, ngắn ngủi, bất an này. Người ấy không thể giải thoát khỏi sắc; thọ; tưởng; hành; thức, không giải thoát khỏi sanh; già; bệnh; chết; sầu; bi; khổ; ưu; não. Chú Thiện Cận có thấy tâm mình chạy lòng vòng trong những người thân không? Không đi ra khỏi những hình bóng của người thân, đó là bị buộc vào sợi dây trong cây cột của sắc; thọ; tưởng; hành; thức.
Cũng vậy, này các Tỳ-kheo, kẻ vô văn phàm phu quán sắc: "Cái này là của tôi, cái này là tôi, cái này là tự ngã của tôi", quán thọ... quán tưởng... quán các hành... quán thức: "Cái này là của tôi, cái này là tôi, cái này là tự ngã của tôi". Nếu người ấy có đi, người ấy chỉ đi tới năm thủ uẩn này. Nếu người ấy đứng, người ấy chỉ đứng gần năm thủ uẩn này. Nếu người ấy ngồi, người ấy chỉ ngồi gần năm thủ uẩn này. Nếu người ấy nằm, người ấy chỉ nằm gần năm thủ uẩn này. (Tương Ưng Bộ, Tập III – Thiên Uẩn, Chương I. Tương Ưng Uẩn (f), V. Phẩm Hoa, VIII. Dây Thằng)
Làm sao có thể đi xa được khi bị buộc vào sợi dây thừng? Làm sao có thể đi xa khi cho sắc là mình, là của mình, khi cho những cảm giác là mình, là của mình, khi cho những hình bóng, suy nghĩ, nhận thức là tôi, là của tôi? Nếu có đi cũng chỉ đi gần năm thủ uẩn.
Do vậy, này các Tỳ-kheo, cần phải luôn luôn quán sát tâm của mình như sau: "Trong một thời gian dài, tâm này bị tham, sân, si nhiễm ô. Do tâm nhiễm ô, này các Tỳ-kheo, chúng sanh bị nhiễm ô. Do tâm thanh tịnh, chúng sanh được thanh tịnh". (Tương Ưng Bộ, Tập III – Thiên Uẩn, Chương I. Tương Ưng Uẩn (f), V. Phẩm Hoa, VIII. Dây Thằng)
Chúng ta tham trong năm uẩn, tham muốn sắc, tham muốn cảm giác khoan khoái, thích thú, ham muốn những hình bóng vừa lòng, khả ái, tham muốn những suy nghĩ cho rằng đó là kiến thức của tôi, nhận thức, ý kiến của tôi. Chúng ta sân đối với năm uẩn, làm hư hao sắc khi sân lên, làm mất cảm giác yên vui khi bực bội, gây ra những hành động, cảm thọ khó chịu, có những hình bóng làm thù hằn. Chúng ta si mê, u ám, khờ dại trong năm uẩn. Trong một thời gian rất dài tâm này bị ô nhiễm đối với năm uẩn, chúng sanh bị ô nhiễm do tâm bị ô nhiễm, chúng sanh được thanh tịnh do tâm trong sạch. Cho nên toàn bộ sự tu tập là tẩy sạch tham sân si đối với năm thủ uẩn, đó là công trình tu tập của chúng ta.
Này các Tỳ-kheo, các Ông có thấy một bức họa gọi là danh họa không?
-- Thưa có, bạch Thế Tôn.
-- Này các Tỳ-kheo, bức danh họa ấy do tâm tư họa mà thành. Do vậy, này các Tỳ-kheo, tâm còn đa dạng hơn cả danh họa ấy. (Tương Ưng Bộ, Tập III – Thiên Uẩn, Chương I. Tương Ưng Uẩn (f), V. Phẩm Hoa, VIII. Dây Thằng)
Do suy nghĩ muốn vẽ nên mới tạo thành bức tranh nhưng cái tâm lại vẽ vời gấp trăm ngàn lần bức tranh đó. Tâm thức chúng ta là vị họa sĩ tài ba vẽ nên rất nhiều cảnh giới, hình ảnh.
Này các Tỳ-kheo, Ta không quán thấy một bộ loại nào khác lại đa dạng như tâm. Như các hữu tình thuộc loại bàng sanh; các hữu tình thuộc loại bàng sanh ấy, này các Tỳ-kheo, do tâm tư duy (mà thành). Do vậy, này các Tỳ-kheo, tâm ấy lại đa dạng hơn các hữu tình thuộc loại bàng sanh ấy. (Tương Ưng Bộ, Tập III – Thiên Uẩn, Chương I. Tương Ưng Uẩn (f), V. Phẩm Hoa, VIII. Dây Thằng)
Không có thứ nào khác mà có nhiều hình dáng, nhiều dạng thức, nhiều trạng thái, nhiều tình huống đa dạng như tâm. Súc sanh, thú vật là do tâm tư duy mà thành, tâm suy nghĩ tạo thành những hình dáng của thú vật, súc sanh. Cho nên tâm ý này rất khủng khiếp, loài người chúng ta dù là Âu, Á, Đông Tây không khác nhau là mấy, cũng là mắt, tai, mũi, lưỡi giống nhau, có khác chăng là màu da, tiếng nói nhưng loài súc sanh đa dạng hơn thế rất nhiều, hà mã, kiến, ruồi, cá, vi trùng, vi rút, chim chóc, gia cầm,… Có biết bao loại vi trùng, có biết bao giống cá, có con to bằng cả tòa nhà cao tầng như cá nhà táng, cá voi, có con nhỏ như ngón tay như cá cơm, lìm kìm… cho nên Đức Phật nói các loại hữu tình đa dạng như vậy đều do tâm tư duy mà thành nhưng tâm ấy lại đa dạng hơn những loài thú vật đó. Có vô số hình thái của súc sanh, loài vật mà chúng ta nhìn thấy trên thế giới động vật, cho đến ngày nay vẫn phát hiện ra những loài chưa từng thấy, tìm được những bộ xương hóa thạch của khủng long nhiều ngàn năm trước, tất cả những tướng mạo đó đều xấu xí, kinh hãi nhưng tất cả cũng đều do tâm tư duy mà thành.
Đáng sợ là tâm tư này!
Đáng ghê rợn là tâm thức này!
Đáng đề phòng, dò xét là tâm tư duy này!
Những suy nghĩ ác sẽ trở thành rắn độc, những suy nghĩ xảo quyệt trở thành hồ ly, những suy nghĩ dao động, lăng xăng sẽ trở thành khỉ vượn, những suy nghĩ hung hăng, hung tợn sẽ trở thành cọp beo, sói lang, những suy nghĩ cực ác sẽ trở thành cá sấu, cá mập. Người họa sĩ vẽ ra được bức tranh từ suy nghĩ của họ, bức tranh đó biểu hiện suy nghĩ, thân xác của các loài vật là sự biểu hiện của ý hành trong tư duy cho nên Đức Phật dạy chúng ta phải tu tập tâm, giới, tuệ, kiểm soát suy nghĩ của mình. Những suy nghĩ bất chánh, tà ác, sân hận, bất kính, bất hiếu sẽ đưa mình đến những đời sống đau khổ trong hiện tại và tương lai lâu dài.
Ví như, này các Tỳ-kheo, một người thợ nhuộm hay một họa sĩ, nếu người ấy có thuốc nhuộm, hay lạc, hay nghệ, hay màu xanh, hay màu đỏ tía, hay một tấm gỗ khéo bào, hay một bức tường, hay một tấm vải. Người ấy có thể vẽ hình người đàn bà hay hình người đàn ông với đầy đủ tất cả chi tiết. Cũng vậy, này các Tỳ-kheo, kẻ vô văn phàm phu, liên tục làm cho hiện hữu sắc... thọ... tưởng... các hành... liên tục làm cho hiện hữu thức. (Tương Ưng Bộ, Tập III – Thiên Uẩn, Chương I. Tương Ưng Uẩn (f), V. Phẩm Hoa, VIII. Dây Thằng)
Anh chàng họa sĩ có màu trong tay sẽ vẽ ra đàn bà, đàn ông, trời mây, non nước, biển cả, thú rừng, đồ vật… Cũng vậy, kẻ vô văn phàm phu liên tục làm cho hiện hữu sắc, liên tục làm cho hiện ra những sắc thân hoặc là thân con trâu, con bò, con gà, con vịt, con kiến… Do vô minh không biết ngũ uẩn này là khổ, là bệnh hoạn, bất tịnh, phiền não cho nên mới ưa thích, say mê, lòng dục, lòng tham, lòng khao khát trong này nên liên tục làm cho hiện hữu những thân năm uẩn. Do vô minh và khát ái làm chất liệu, làm màu và cọ để người họa sĩ vẽ ra những thân người, thân thú, thân cô hồn, ngạ quỷ, địa ngục, súc sanh, những thân tàn tật, đui, điếc, câm, ngọng, những thân què quặt, bại liệt, mù, chột, điên khùng, sứt môi, méo miệng. Vừa rồi người ta thử nghiệm vaccine trên người đều bị méo miệng, như vậy mà chúng ta cứ làm cho hiện hữu liên tục sắc; thọ; tưởng; hành; thức này. Vẽ và nhuộm ra nước mắt, máu, sầu, bi, khổ, ưu, não, đầy rẫy dục tham, sân hận, giành giật, cướp bóc, giết hại, đâm chém trong này, nói vài câu cũng gây sự nên tạo ra bao nhiêu ác nghiệp, đau khổ.
Nhưng bậc Ða văn Thánh đệ tử, này các Tỳ-kheo, được thấy các bậc Thánh... khéo tu tập pháp các bậc Chân nhân, không quán sắc như là tự ngã... không quán thọ... không quán tưởng... không quán các hành... không quán thức như là tự ngã, hay tự ngã như là có thức, hay thức ở trong tự ngã, hay tự ngã ở trong thức. Vị ấy không chạy vòng theo, chạy tròn xung quanh thức. Vị ấy không chạy vòng theo, chạy tròn xung quanh sắc... thọ... tưởng... các hành... không chạy vòng theo, chạy tròn xung quanh thức. Vị ấy không chạy vòng theo, chạy tròn xung quanh sắc... thọ... tưởng... các hành... thức; do không chạy vòng theo, chạy vòng tròn xung quanh thức, vị ấy được giải thoát khỏi sắc, được giải thoát khỏi thọ, được giải thoát khỏi tưởng, được giải thoát khỏi các hành, được giải thoát khỏi thức, được giải thoát khỏi sanh, già chết, sầu, bi, khổ, ưu, não. Ta nói: "Vị ấy được giải thoát khỏi đau khổ". (Tương Ưng Bộ, Tập III – Thiên Uẩn, Chương I. Tương Ưng Uẩn (f), V. Phẩm Hoa, VIII. Dây Thằng)
Chạy vòng tròn là chạy lòng vòng, do vị ấy không bị buộc trong sợi dây thừng đó, không chạy xung quanh năm uẩn nên vị ấy được giải thoát khỏi sắc; thọ; tưởng; hành; thức, được giải thoát khỏi sanh, già chết, sầu, bi, khổ, ưu, não. Ta nói: "Vị ấy được giải thoát khỏi đau khổ. Những bài kinh này cực kì thâm sâu, để học kĩ thì chúng ta phải học rất dài lâu, phải biết kết hợp với những bài đã học để quán chiếu. Chúng ta nhìn lại tâm thức, thân xác suốt ngày có chạy lòng vòng quanh ngũ uẩn không? Tại sao lại chạy? Vì do vô minh và khát ái. Hằng ngày có vẽ tranh, nhuộm màu không? Hằng ngày có bị buộc dây thừng để chạy lòng vòng quanh cây cột đó không? Khi nói chuyện với nhau thì nói về điều gì? Nói về ngũ uẩn, sắc hồi xưa tôi là vậy, trước đây tôi là vậy thì đó là sắc quá khứ, sau này tôi sẽ như vậy thì đó là sắc vị lai, tôi đã từng có những cảm giác như vậy là thọ của quá khứ, sau này tôi mong được vậy là thọ của vị lai, tưởng quá khứ, tưởng vị lai và tưởng hiện tại, những hành của quá khứ, vị lai, hiện tại. Cho nên giải thoát cho chúng sanh như thế nào?
Ở Sàvatthi. Rồi một vị Thiên, khi đêm đã gần tàn, với nhan sắc thù thắng chói sáng toàn vùng Jetavana, đi đến Thế Tôn. Sau khi đến, vị ấy đảnh lễ Thế Tôn rồi đứng một bên. Ðứng một bên, vị Thiên ấy bạch Thế Tôn:
-- Thưa Tôn giả, Ngài có biết giải thoát, thoát ly, viễn ly cho các chúng sanh không?
-- Này Hiền giả, Ta có biết giải thoát, thoát ly, viễn ly cho các chúng sanh.
-- Thưa Tôn giả, như thế nào Ngài biết giải thoát, thoát ly, viễn ly cho các chúng sanh?
Hỷ, tái sanh đoạn tận,
Tưởng, thức được trừ diệt,
Các thọ diệt, tịch tịnh,
Như vậy này Hiền giả,
Ta biết sự giải thoát,
Thoát ly và viễn ly,
Cho các loại chúng sanh.
(Tương Ưng Bộ, Tập I – Thiên Có Kệ, Chương I. Tương Ưng Chư Thiên, I. Phẩm Cây Lau, II. Giải Thoát)
Làm sao để giải thoát, thoát ly, viễn ly? Đó là hỷ tái sanh đoạn tận, tưởng, thức được diệt trừ, các thọ được tịch tịnh. Hỷ là ưa thích, khoan khoái, vui sướng đối với ngũ uẩn cho nên học cái này mới giải mã được tất cả lời kinh của Đức Phật trong tạng kinh Nikāya, nếu không học chỉ biết đọc hỷ tái sanh đoạn tận nhưng hỷ đối với cái gì thì không biết, nếu không có chìa khóa của ngũ uẩn mở ra thì đọc không hiểu. Giả sử mình nói hỷ chấm dứt thì hết luân hồi sanh tử nhưng hỷ là hỷ cái gì?
Ở đây, này các Tỳ-kheo, Tỳ-kheo hoan hỷ, hoan nghênh, đắm trước rồi an trú. Hoan hỷ, hoan nghênh, đắm trước và an trú gì?
Hoan hỷ, hoan nghênh, đắm trước rồi an trú sắc. Do vị ấy hoan hỷ, hoan nghênh, đắm trước rồi an trú sắc, hỷ đối với sắc khởi lên. Do hỷ đối với sắc, thủ đối với sắc khởi lên. Do duyên thủ đối với sắc, hữu khởi lên. Do duyên hữu, sanh khởi lên. Do duyên sanh, già chết, sầu, bi, khổ, ưu, não khởi lên. Như vậy là sự tập khởi của toàn bộ khổ uẩn này.
Hoan hỷ, hoan nghênh, đắm trước rồi an trú thọ... rồi an trú tưởng... rồi an trú các hành... rồi an trú thức. Do vị ấy hoan hỷ, hoan nghênh, đắm trước rồi an trú thức, hỷ khởi lên. Do hỷ đối với thức, thủ đối với thức khởi lên. Do duyên thủ đối với thức, hữu khởi lên. Do duyên hữu, sanh khởi lên. Do duyên sanh, già chết, sầu, bi, khổ, ưu, não khởi lên. Như vậy là sự tập khởi của toàn bộ khổ uẩn này. (Tương Ưng Bộ, Tập III - Thiên Uẩn, Chương I. Tương Ưng Uẩn (a), A. Năm Mươi Kinh Căn Bản, I. Phẩm Nakulapità, V. Thiền Ðịnh)
Hoan hỉ, hoan nghênh, đắm trước và an trú đối với năm uẩn thì khổ tập khởi, thành ra sự tu của chúng ta rất cụ thể, rõ ràng như chỉ trong lòng bàn tay, hễ còn hoan hỉ đối với năm uẩn thì còn luân hồi sanh tử. Nếu người đó tạo bạch nghiệp thì người này sẽ luân hồi sanh tử trong những tấm thân dễ chịu, đỡ khổ. Nhưng nếu người này tạo nhiều ác nghiệp (hắc nghiệp) thì người này sẽ mang các tấm thân thống khổ vì tật bệnh, đau đớn quằn quại. Còn nếu diệt hỷ tiêu tận, tức là sự khoan khoái, thích thú trong năm uẩn được chấm dứt thì người này đi đến tịch tịnh Niết-bàn, ra khỏi năm uẩn. Đây là Thánh Pháp Ấn của Đức Phật cho nên chúng ta đã thực tập nuôi dưỡng tâm viễn ly, nhất hướng nhàm chán và hôm nay phải từ bỏ nhưng cứ làm từ từ, Thánh Pháp Ấn là y chỉ viễn ly, y chỉ ly tham, y chỉ đoạn diệt hướng đến từ bỏ. Nhưng mình đừng sợ, mình nghe để thành tựu trí huệ thì ít nhất cũng có hướng đi ra, dù chưa bỏ hết được nhưng có hướng bỏ những cái thô ác nặng nề, uế trước. Vì vậy một khi sự ưa thích, tham đắm trong năm uẩn chấm dứt thì người này nhất định nhập Niết-bàn, không còn trở lại để tìm thêm cái thân nữa. Quý vị nhàm chán Linh Quy Pháp Ấn tột cùng thì ra đi không bao giờ trở lại nữa, đối với ngũ uẩn cũng giống như vậy. Những vị xuất gia khi ra đi là ba mươi năm không về nhà, có khi cha mẹ chết không hay biết vì họ quyết tâm tu hành, bây giờ các chú tập sự xuất gia tâm rất yếu, hở chút là lo, thậm chí đến các vị xuất gia rồi cũng vậy, tâm đạo không mạnh mẽ, không dứt khoát. Phải ý thức được rằng việc tu hành này tối tôn, tối thượng, thù thắng, có lợi ích cho cả vũ trụ chứ không chỉ có lợi cho vài người trong gia đình mình. Tâm ái luyến của mình rất nặng nề và phải đoạn tận, trừ diệt, tịch tịnh, bây giờ mình đang thực tập nhàm chán để không còn ưa thích nữa, con đã thấy ngán rất nhiều rồi nhưng không biết đại chúng có thấy như vậy không? Mọi người cũng ngán lắm rồi mới lên Linh Quy tu hành, phải nuôi dưỡng, phát huy cái tâm nhàm chán để phá cái tâm hoan hỉ, ưa thích. Cảm thọ diệt, tịch tịnh là đối với ba cảm thọ không còn ưa thích, nó không còn hấp dẫn, lôi kéo được mình nữa, mình không thấy ưa thích trong đó, quán từ từ để thâm nhập thì đến một lúc nào đó tất cả cảm thọ cũng được lắng dịu. Quý vị thấy mình tu trong dòng Pháp này tâm thức mình có chuyển biến nhiều không? Ngày xưa mình thấy cảnh đẹp, đồ đẹp là mình thích thú, say mê còn giờ mình chỉ thấy đó là sắc uẩn vô thường, nó đã giảm bớt rất nhiều, bây giờ cho đi chơi còn không đi, chỉ đi khi đến chỗ đó nghe Pháp còn không là không đi, như vậy mới là sự tiến bộ vì hỷ đã giảm bớt. Tưởng, thức được trừ diệt, cái tưởng cũng là thân kiến và sẽ được phá trừ, cho nên cái Pháp mình đang học rất hiếm được nghe.
Sư Phụ: Con xin hỏi sư cô Hạnh Từ bên Phật giáo nguyên thủy của mình bây giờ học cái gì?
Sư cô Hạnh Từ: Con kính bạch sư phụ, quý thầy, quý sư cô và đại chúng. Bên Phật giáo nguyên thủy chúng con tu bên Phước Sơn là chúng con hành thiền Tứ Niệm Xứ nhưng khi hành thiền lại nhắm mắt theo dõi hơi thở, cảm thọ gì khởi lên chỉ biết là có cảm thọ đó và không có tác ý. Chúng con hành tứ oai nghi đi, đứng, nằm, ngồi, thân khởi lên gì thì biết đó, trong hành động hằng ngày là tiểu oai nghi, làm gì biết đó, không có tác ý, chánh niệm tỉnh giác. Trong cái học thì chúng con học căn bản về Pali, ai muốn nghiên cứu sâu hơn thì đi học lớp chuyên sâu về văn phạm còn con chỉ học về cách đọc tụng. Mỗi tuần có bốn buổi hành thiền chung bao gồm 200 Tăng Ni và cư sĩ hành thiền chung trong không gian rộng, mỗi Chủ Nhật hành chung một lần từ 6h sáng đến 8 giờ tối, xen kẽ một tiếng ngồi thiền một tiếng đi thiền hành. Chúng con chỉ học bao nhiêu đó, không có tác ý diệt ngã, không học tác ý phải nhàm chán cái thân tuy rằng các bài giảng đều dạy điều này nhưng không có sự đốc thúc tác ý, học chỉ để hiểu và tự thân mỗi người thực hành, chúng con không được đốc thúc như sư phụ tận tình chỉ dạy cho chúng con ở đây. Do đó con làm theo đúng những gì chỗ tu tập cũ chỉ dạy và nghĩ rằng như vậy mình được lắm rồi nhưng con không biết suy nghĩ đó là bản ngã, con cảm thụ những nội dung được dạy rất máy móc và tưởng như vậy là đúng cho đến hôm qua nghe sư phụ giảng làm chấn động trái tim con, là tất cả những gì mình làm, mình suy nghĩ đều là ngũ uẩn. Khi mình cảm thụ cái gì thì phải cảm thụ bằng thọ, làm cái gì thì phải biết đó là thọ vận hành, còn trước khi đến đây tu học con làm bằng thức, con cứ học và làm mà không cảm thọ được, con nghĩ đó là con đang làm đúng nhưng hóa ra là do cái ngã nghĩ, cho nên hôm qua con xúc động, sư phụ đã cho con ánh sáng. Ngày trước ở Phước Sơn trước khi vào thiền con đều niệm ba mươi hai thể trược, niệm nhàm chán cái thân và niệm cái chết có thể đến bất kì lúc nào, con nghĩ như vậy là con đang thực hành nhưng đó chỉ là đang trả bài, lập đi lập lại những gì được học, ngay cả tiểu oai nghi lúc đi, ăn, nói chuyện thì con đều làm y như bài học và con tưởng như vậy là con đã thực hành đúng nhưng bài giảng của sư phụ hôm qua cho thấy bản ngã đang làm, bản ngã cho thấy mình giỏi, mình có tiến bộ, có chữ "mình" trong đó, lúc đó con thấy mọi việc ổn nhưng trong lòng lại thúc giục đi đến đích mà mọi người ở đây đều muốn là giải thoát Niết-bàn, dứt khỏi sanh tử luân hồi nhưng trong khi tu tập không ai dạy con được như sư phụ đang dạy, như các quý thầy, quý cô, quý đại chúng ở đây chỉ cho con thấy tất cả những gì trước đây con tu tập chỉ nuôi dưỡng bản ngã. Lúc nào cũng có "mình" trong đây, mình làm cái này, mình làm cái kia.
Kính thưa sư phụ, như bài giảng hôm nay của sư phụ hình ảnh ghi khắc trong tâm con nhiều nhất là hình ảnh con chó bị buộc cọng dây thừng và đi lòng quanh cây cột, trong tâm con lại xuất hiện nó đi vòng lòng một hồi thì cọng dây thừng sẽ bị quấn chặt vào cây cột, như thế con chó sẽ bị kẹt cứng trong đó không có cách thoát ra, nó càng vùng vẫy thì sợi dây thừng càng siết chặt cho đến khi không thể vùng vẫy được nữa. Con liên tưởng đến hình ảnh của con và của các chúng sanh đang mê mờ y như con chó đó, đang bị sự tham đắm của ngũ uẩn siết cho đến chết và cũng không có cách thoát ra, không thấy ánh sáng của Phật Pháp, không thấy ánh sáng của sự giác ngộ. Trong suốt bài giảng của sư phụ, con tưởng đến cuộc đời của mình, từ trước đến giờ mình tham đắm kinh khủng dục lạc, từ chuyện làm đẹp hình sắc bên ngoài, vui chơi, thỏa mãn những gì liên hệ vật chất. Bên ngoài có gì mới là gia đình phải mua sắm cho con để thỏa mãn tiện nghi vật chất, may mắn con được xuống tóc và rời khỏi nơi tiện nghi vật chất đầy đủ không thiếu để đi đến ngôi chùa Q2 nguyên thủy, ở đó con được ở một cốc tu cũng đầy đủ tiện nghi nhưng lúc đó con cũng thấy khổ vì con đang từ chỗ có nhà cửa đầy đủ đi đến nơi ăn uống kham khổ, mỗi ngày lại được sư phụ phát cho bốn mươi ngàn tiền ăn, cuối tháng thì được phát tiền nhưng con chỉ ở được bốn tháng vì con cảm thấy không phát triển được Pháp. Vì con nghĩ con đã từ bỏ căn nhà của con, từ bỏ dục lạc thì phải tìm cái gì có ý nghĩa hơn, con rời đi và nơi đến thứ hai của con là Phước Sơn, đến đó con cũng được phân cho ở một cái cốc nhỏ nhưng không được sạch sẽ như chùa nguyên thủy ở Q2 nhưng con vui thích vì con được học rất nhiều. Bên nguyên thủy của con không được chặt chẽ như ở đây vì ai muốn tu gieo duyên thì cứ tu, từ gieo duyên thì ai muốn tu luôn thì cứ tu, cho nên những người không biết gì Phật Pháp như con đều được xuất gia gieo duyên, con giữ luôn không xả y do đó tình trạng của con là không biết gì. Ở Phước Sơn con được sư phụ thương yêu, một lần sư phụ nói những ai biết từ bỏ cốc tường đi đến cốc cây, cốc gỗ ở thì người đó mới tu tiến bộ, con ghi nhớ lời dạy nên xin từ bỏ cốc tường để xin đến cốc cây tịch lặng hơn, đi vào khất thực bên trong thì hơi xa nhưng con cảm giác rất an tịnh và con vui thích ở đó. Tự nhiên con lại nghĩ "mình đi để từ bỏ tham mà sao giờ lại bị dính vào đây", con bị khựng lại, sự tu tập không phát triển thêm và con cảm thấy phải ra đi nên con xin phép được đi dự khóa thiền của cô Hằng Liên, từ khóa thiền đó con dự định lên Linh Quy Pháp Ấn. Duyên thứ nhất con lên đây vì cảnh đẹp, duyên thứ hai là con thấy trên mạng có bộ phân loại kinh Nikāya sư phụ đưa lên mạng, một người bạn đã cài vào điện thoại cho con, tim con hướng về đây, lòng con rất hoan hỉ và xác định phải đến đây lần hai. Khi đến đây con không nghĩ sẽ được học tập sâu sắc như vầy mà chỉ nghĩ là sẽ đến để tìm hiểu cách sử dụng app phân loại đồng thời đến đảnh lễ sư phụ. Con xin thầy Pháp Nghĩa cho con ở lại 3-4 ngày để tu tập nhưng duyên con ở lại đã được 8 ngày. Con rời bỏ Phước Sơn là nơi có chỗ ở đầy đủ nhưng con dị dính mắc để đến đây ở chung với đại chúng nhưng con lại hoan hỉ, con thực hiện việc không nuôi dưỡng ngũ uẩn, tuy rằng con chưa có năng lực thực hành giỏi như mọi người ở đây nhưng con nghĩ nếu con chịu khó học hỏi thì con cũng tiến đến điều con mong ước là học tập để đi đến giải thoát. Hiện tại ở đây dạy cho con nhận diện năm uẩn, những gì con học lúc trước chỉ phục vụ cho năm uẩn, tôn bản ngã lên cao. Đến đây con thấy được bản ngã của mình "mày xấu xa, mày tệ", tuy rằng con muốn thực hiện nhưng tập khí, vô minh sâu dày nên con còn bị vấp nhiều. Con mong quý thầy, quý cô và quý đại chúng hoan hỉ, con mong sư phụ từ bi, hoan hỉ chấp nhận con hiện giờ, hôm nay con phải quay về Phước Sơn. Con kính cám ơn sư phụ đã cho con cơ hội nói lời tri ân quý thầy, quý cô, quý đại chúng, tri ân Linh Quy Pháp Ấn, tri ân dòng tu Nikāya này. Hôm nay con xuống núi từ giã quý vị nhưng con có quyết tâm sẽ quay lại.
Sư Phụ: Này các Tỳ-kheo, do vì không thắng tri, không liễu tri, không ly tham, không từ bỏ mắt nên không thể đoạn tận khổ đau... tai... mũi... lưỡi... thân... Do vì không thắng tri, không liễu tri, không ly tham, không từ bỏ ý nên không thể đoạn tận khổ đau.
Và này các Tỳ-kheo, do thắng tri, liễu tri, ly tham và từ bỏ mắt nên có thể đoạn tận khổ đau... tai... mũi... lưỡi... thân... Do thắng tri, liễu tri, ly tham và từ bỏ ý nên có thể đoạn tận khổ đau. (Tương Ưng Bộ, Tập IV - Thiên Sáu Xứ, Chương MXX. Tương Ưng Sáu Xứ (d), Phần Ba - Năm Mươi Kinh Thứ Ba, I. Phẩm An Ổn, Khỏi Các Khổ Ách, VIII. Tuệ Tri)
Này các Tỳ-kheo, do không thắng tri, không liễu tri, không ly tham, không từ bỏ các sắc nên không thể đoạn tận khổ đau... các tiếng... các hương... các vị... các xúc... Do không thắng tri, không liễu tri, không ly tham, không từ bỏ các pháp nên không thể đoạn tận khổ đau.
Và này các Tỳ-kheo, do thắng tri, liễu tri, ly tham, từ bỏ các sắc, nên có thể đoạn tận khổ đau... các tiếng... các hương... các vị... các xúc... Do thắng tri, liễu tri, ly tham, từ bỏ các pháp nên có thể đoạn tận khổ đau. (Tương Ưng Bộ, Tập IV - Thiên Sáu Xứ, Chương MXX. Tương Ưng Sáu Xứ (d), Phần Ba - Năm Mươi Kinh Thứ Ba, I. Phẩm An Ổn, Khỏi Các Khổ Ách, IX. Tuệ Tri)
Tuệ tri là biết bằng trí tuệ, nếu thật sự biết bằng trí tuệ thì mình sẽ từ bỏ, còn chưa muốn từ bỏ thì cái biết đó chưa phải là biết bằng trí tuệ, đó là tưởng tri, thức tri chứ không phải tuệ tri. Biết bằng trí tuệ đưa đến ly tham, nhàm chán, đoạn tận, xả ly, từ bỏ. Cái biết nào đưa đến ly tham thì cái biết đó là trí tuệ, cái biết nào đưa đến viễn ly, rời xa thì cái biết đó là trí tuệ, cái biết nào đưa đến sự nhàm chán, chấm dứt thì cái biết đó là trí tuệ, cái biết nào đưa đến sự từ bỏ đối với năm thủ uẩn thì cái biết đó là trí tuệ. Khi đọc bài kinh này con vô cùng xúc động, mình đi tu nửa cuộc đời trong chùa cho đến giờ mới thật sự nghe những lời dạy chân chánh của Đức Phật, mới biết được Đức Phật dạy thực sự cái gì. Nếu không mình chỉ liên tục làm cho sắc hiện hữu, liên tục làm cho thọ; tưởng; hành; thức hiện hữu. Khi mọi người thường nhớ nghĩ đến cha mẹ, gia đình thì có phải liên tục làm cho ngũ uẩn hiện hữu không? Khi tác ý vượt ra tham ái, thành tựu trí tuệ thì không làm cho ngũ uẩn hiện hữu, hình bóng xâm chiếm trong tâm dù là ai thì nó cũng ám ảnh tức là liên tục làm sắc hiện hữu, cảm giác cứ ám ảnh là liên tục làm cho thọ hiện hữu, sắc tưởng hiện hữu trong tâm, suy nghĩ lập tới lập lui là làm cho hiện hữu hành uẩn, nhận thức chỉ biết có bấy nhiêu, không còn biết gì đến xung quanh mình nữa mà suốt ngày chỉ suy nghĩ có bấy nhiêu là hành; thức hiện hữu. Tương Ưng Thọ, Tương Ưng Uẩn, Tương Ưng Sáu Xứ là ba bộ nhất định phải học thuộc, phải đọc tụng và quán chiếu thường xuyên. Không phải dễ để gặp được chánh pháp, không phải dễ để tu được trong chánh pháp, chúng ta đã ở rất xa Đức Phật, con đã đi Myanmar, Sri Lanka, Thái Lan, đã đến các trường thiền lớn nhất thế giới, mình có phước duyên gặp được Chánh Pháp nên phải cố gắng trong pháp học và pháp hành, sau này mình sẽ thấy giá trị siêu việt và vĩ đại của nó, mình tu là đã ngay trong hiện tại thấy được lợi ích của nó rồi nên phải cố gắng nhiều hơn nữa, thường xuyên tác ý viễn ly, nhàm chán, ly tham, từ bỏ ác bất thiện pháp, từ bỏ những sắc pháp, tài sản, vật chất, những cảm giác, nhận thức, nghĩ tưởng, có như vậy mới làm cho tâm được lắng dịu, an tịnh. Phải quán chiếu hình ảnh con chó bị buộc vào cây cột, phải tìm cách mở sợi dây đó để thoát ra.
Chú Sĩ: Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật. Con kính bạch trên sư phụ, con kính thưa quý thầy, quý sư cô cùng toàn thể đại chúng. Con xin chia sẻ sự cảm nhận trong buổi sáng hôm nay khi sư phụ chia sẻ về lời dạy của Đức Phật sự luân hồi của các chúng sanh bị vô minh chi phối. Qua bài kinh đó con thấy được những ví dụ Đức Phật đưa ra rất thực tế để thấy được sự vô minh của chúng sanh và tự thân con, vì mãi mê không có trí tuệ thấy biết được lòng tham ái và vô minh bám chặt vào năm thủ uẩn này. Bài kinh sư phụ chia sẻ sáng nay con vẫn nghe cô Toàn chia sẻ năm ví dụ. Ví dụ thứ nhất là khi mặt nước này khô cạn nhưng chúng sanh vẫn không thể thoát ra khỏi sự đau khổ của luân hồi này. Ví dụ thứ hai là Mặt Trời làm khô cạn nước chỉ còn lại trong dấu chân con trâu. Ví dụ thứ ba là con chó bị cột dính vào cây cột bằng sợi dây và con chó không thể thoát ra khỏi cây cột đó. Ví dụ rất thiết thực là một người họa sĩ, tâm mình vì vô minh không hiểu biết cứ làm cho hiện hữu ra sắc; thọ; tưởng; hành; thức, từ những tư duy đó tạo ra nghiệp. Ví dụ thứ năm là một người thợ nhuộm vải, vì vô minh, chấp thủ cho rằng sắc; thọ; tưởng; hành; thức là mình, là của mình, suốt ngày quây quần trong ngũ uẩn, không có trí tuệ để thoát ra, bị tham sân si, vô minh, bản ngã chi phối nên khổ sở, đau khổ. Ngay cả gặp được Chánh Pháp vẫn chưa chịu thoát ra, chưa chịu gỡ ra sợi dây trói buộc, tự làm khổ mình từ vô lượng kiếp vừa qua cho đến nay. Con chân thành cảm ơn sư phụ, những buổi giảng hôm nay của sư phụ, những buổi chia sẻ từ lúc sư phụ về núi cho đến nay về Tứ Thánh Đế, quán về khổ làm cho con cảm thấy nhàm chán đối với đời sống này, con thấy không có gì sướng bằng việc thoát khỏi khổ, nếu đã thấy khổ mà không chịu thoát ra cứ đi tìm cái khổ khác thì đến khi nào mới chấm dứt được dòng luân hồi này, đến chừng nào mới gỡ ra được sợi dây tham ái trói buộc này. Con xin lỗi sư phụ, thời gian vừa qua con đã không nhìn lại thân tâm, thật sự nếu để tâm quán chiếu thì đó là một vấn đề để soi xét lại các việc làm của mình là đủ để nhận ra cái khổ của cuộc đời này, thế nào con vẫn tham đắm, dính mắc đối với vị ngọt của cuộc đời này, đối với sự tạm bợ, màn diễn của ngũ uẩn này. Con đã không quán chiếu sự nguy hại để thoát ra mà vẫn còn bị trói buộc vào vị ngọt. Con xin lỗi sư phụ vì con đã không hết lòng tôn kính, tôn sùng với những lời chia sẻ tận tình của sư phụ. Con vẫn chưa thoát ra sự luyến ái, trói buộc đối với gia đình, con nghĩ rằng khi gặp được Chánh Pháp với những ngày đầu tiên lên đây con cảm thấy Pháp rất thiết thực và bản thân rất may mắn nhưng sau một thời gian tu tập thì con đã để tâm mình chạy theo những vị ngọt của tham dục, tham ái, cứ nghĩ rằng Pháp này dễ tu nên con đã không tận tình, để cho bản ngã chen vào trong thời gian qua. Con rất đau khổ và ân hận vì đã không nghe theo lời dạy của sư phụ, quý thầy và các bậc thiện tri thức chia sẻ. Ngày hôm nay con chân thành cảm ơn sư phụ đã hết lòng chia sẻ những kinh nghiệm tu học, chia sẻ những lời dạy của Đức Phật giảng dạy rộng ra để con hiểu thêm vô minh và tham ái đối với tự thân. Con cảm ơn sư phụ, quý thầy, quý sư cô và đại chúng. Nhờ có quý thầy, quý sư cô và đại chúng con mới được ở trong một hội chúng tinh ba, có lòng nhiệt huyết thoát ra khỏi sự vô thường của đời sống này. Con hứa sẽ cố gắng nhìn lại bản thân từng ngày để tu tập tiến bộ hơn. Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật.
Sư Phụ: Trong năm ví dụ chú nói thì ba ví dụ sau mới gọi là ví dụ, còn hai cái trước là Đức Phật nói sự thật chứ không phải ví dụ, biển cả sẽ đi đến kiếp hoại sẽ khô cạn không phải ví dụ, bảy Mặt Trời là sự thật chứ không phải ví dụ.
Chú Thiên Cần: Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật. Con cung kính bạch trên sư phụ, con cung kính trên quý thầy, quý sư cô và quý vị Phật tử. Con pháp danh Thiện Cần, con xin chia sẻ những cảm nhận của con trong buổi sáng hôm nay. Trong sáng nay con có khổ thọ vì con bị đau dạ dày, con nhiếp phục và chiến đấu với cái đau đó nên có bị hôn trầm, đúng như lời sư phụ nói con thấy mình cứ lẩn quẩn trong thọ; tưởng; hành, nhất là suy nghĩ về người thân và những cảm thọ trong năm uẩn này không thể thoát ra được. Hôm nay sư phụ đã vén được bức màn vô minh để con có tầm nhìn rộng mở, khi nghe về những lời dạy của Đức Phật, trong vô thỉ kiếp luân hồi này thì con thoát ra được sự gò bó, hạn hẹp của chính mình. Con xét thấy thời gian qua con lên đây tu tập nhưng vẫn còn yếu kém, trong khi quý thầy, quý cô và đại chúng đều tinh tấn, nỗ lực tu tập và học Pháp còn con vẫn buông lung phóng dật, lười biếng, con bị những lậu hoặc, nghiệp quả, vọng tưởng xâm chiếm, làm cản trở con đường tu hành. Con xin sám hối với sư phụ, với quý thầy, quý cô và đại chúng, kính mong được sự chứng minh để con có thể gột rửa lậu hoặc, uế nhiễm trong nội tâm của mình để có thể tiếp tục tiến xa trên con đường tu tập giải thoát. Hôm nay nhìn lại cảm thọ, những bệnh tật trong cơ thể thì con có tưởng về quá khứ, những ác nghiệp sát sanh, giết hại sinh mạng các loài nên bây giờ mình phải chịu sự đau đớn trong cơ thể. Con tác ý nhàm chán, chán ngán cái thân này nhưng sự tác ý của con còn yếu, cũng còn sợi dậy ràng rịt, dính chặt, còn thọ khổ, những cái tưởng ám ảnh, sợi dây luyến ái cứ giày vò nên con rất lo lắng. Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật. Con kính xin sư phụ, quý thầy, quý cô và đại chúng chỉ dạy thêm để con tiến tục tiến sâu hơn trên con đường tu tập thánh pháp này. Con xin tri ân lên sư phụ, quý thầy, quý cô và đại chúng cũng như quý vị công phu, công quả ở đây đã từ bi, dày công có sự tu tập thánh pháp tuyệt vời, vi diệu của Đức Phật. Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật. Con xin đảnh lễ sám hối.
Sư Phụ: Trước khi chúng ta nghỉ, con có vài điều cần chia sẻ. Các thầy, các sư cô, các chú, các cô về đây tu và tất cả những người có mặt ở đây đều rất chân thành, hiền thiện, tha thiết trong sự tu học mới có mặt ở đây, thậm chí là tuyệt vời, chân chất, chân thật. Gặp được dòng Chánh Pháp tối thượng là điều thù thắng trong những điều thù thắng, có khi vô lượng kiếp vừa qua có khi không gặp được Chánh Pháp này. Mình muốn đi xa mà những người thiếu nợ biết mình muốn đi xa thì người ta có để cho mình đi không? Những chủ nợ sẽ kéo nhau đến đòi nợ cho nên có nhiều vị lên đây tu rất tinh tấn, đầy ý chí nhưng hết chuyện này đến chuyện kia kéo đến, người thân bệnh, sư phụ bệnh, cha mẹ ông bà bệnh, tai nạn hoặc tự thân người đó bệnh hoặc nghiệp quá khứ của người đó kéo họ phải xuống núi, đó là những chủ nợ của họ. Nếu lúc đó mình không bình tĩnh, sáng suốt, không kiên trì, vững chí sẽ kéo mình trở lại cho nên không phải mình tu dở, không phải mình làm biếng không chịu tu mà là khi có duyên bên ngoài đến thì mình phải sáng suốt quán chiếu xem đó là gì để có cách ứng phó phù hợp để còn tu được. Nếu không có niệm – định – tuệ, không nhận diện ngũ uẩn khi có chuyện đến, không thấy mục tiêu mình đang làm cao quý như thế nào thì mình sẽ bị quật ngã. Nợ tiền thì chủ nợ đến đòi tiền, nợ tình thì đến đòi tình, nợ ái thì bị đòi ái… vì người này chuẩn bị đi nên phải trả nợ mới cho đi hoặc nợ tình ái, thân ái nên họ không muốn mình đi, muốn mình ở lại cho vui. Cho nên mình phải có chánh niệm, bình tĩnh soi xét sâu sắc, khi có chuyện gì đến với thì mình phải thưa với quý thầy, thưa với quý sư cô, thưa với đại chúng nếu mình thấy trí huệ bản thân không đủ sức giải quyết vấn đề để có những phương pháp hỗ trợ giúp đỡ cho mình. Nếu không có thầy ở nhà thì xin thầy Pháp Nghĩa mở ra pháp đàm "con bị như vậy mong quý thầy, quý cô giúp sức cho con", ra quỳ lạy sám hối trình bày. Tất cả mọi người dùng công lực tu hành truyền nguồn trí huệ, nguồn từ bi và mình hứng lấy sức mạnh đó, tức là niệm – định – tuệ, từ bi trí huệ, hùng lực của đại chúng là sức mạnh tập thể sẽ giúp cho mình. Còn mình im lặng thì nửa đêm lại cuốn gói xuống núi, ma đưa lối quỷ dẫn đường lại tìm những chỗ đoạn trường mà đi. Cho nên có gì xảy ra phải trình, phải thưa, phải cầu thỉnh quý thầy, quý sư cô và đại chúng giúp sức cho con. Nếu chú bệnh mà chú không nói ra, tức là làm cho hiện hành các pháp hữu vi nên gọi là hành, chú không nói thì ai biết chú bị bệnh chỉ thấy chú nghe Pháp bình thường, có người bệnh nặng nếu không la lên thì người kế bên cũng không biết, đó là bệnh thân còn bệnh tâm cũng vậy, có gì phải thưa lên để mọi người giúp mình. Còn mình đã làm hết sức mà vẫn không được thì đó là do nhân duyên tu hành chưa đủ nhưng phải làm hết sức mình, dân gian có câu "30 chưa phải là Tết", chừng nào qua 12h đêm ngày 30 mới gọi là Tết. Người ta nghiên cứu về bộ não con người thì nhận thấy con người chỉ sử dụng có 10% bộ não, người ta khuyến khích hãy suy nghĩ những gì cao siêu, rộng lớn, dồn hết tâm lực vào việc đang làm. Có những người đạt kỉ lục thế giới vì họ sử dụng nhiều hơn 10% của người bình thường còn Đức Thế Tôn là 100%, mình cứ nghĩ làm không được là vĩnh viễn đến chết cũng không làm được. Đừng bao giờ nghĩ mình làm không được, đừng nghĩ rằng mình yếu kém, suy nghĩ đó làm giới hạn bản thân, không bước qua được ranh giới của tự thân, một khi được tiếp nguồn thánh trí huệ này rồi thì không có gì là không được, thánh trí ngũ uẩn này phá tung vũ trụ thì có gì làm không được? Cho nên quan trọng ở chỗ tư duy của mình vì tư duy sanh ra loài người, súc sanh, chư Thiên và tư duy sanh ra bậc Thánh nên mới gọi là Thánh tư duy. Suy nghĩ rất quan trọng nên phải thường xuyên tác ý, dùng Thánh trí huệ tác ý. Đừng suy nghĩ yếu hèn, đừng suy nghĩ chùn chân, đừng suy nghĩ tiêu cực, cứ suy nghĩ phải tiến tới, ly tham, xả ly và phải niệm câu này thay cho câu Niệm Phật "Phải tiến tới, tiến tới", "Tôi phải thành tựu, phải diệt tận cái này, phải xuất ly khỏi nó". Gặp điều gì nặng trong tâm thì phải dồn toàn lực giải quyết cái đó, từ từ tu các pháp khác, nặng về dục thì tập trung vào những bài diệt dục, Quán Bất Tịnh, Quán Ba Mươi Hai Thể Trược để diệt dục, tất cả nghe pháp, thiền định, pháp đàm đều dồn vào diệt dục. Nhớ nhà, tình ái, gia đình thì tập trung vào phá cái này trong các giờ thiền, đi kinh hành, nghe pháp đều tác ý đánh tan cảm giác nhớ nhung đó, xong rồi mới tu qua Pháp khác chứ đừng tu mỗi cái một chút, khối u còn là phải giải phẫu, cắt nó ra cho hết. Không có ai là người thân của mình, chỉ có vô minh, nhân quả và nghiệp, nếu nói người thân thì ai cũng là người thân trong quá khứ, trong Tương Ưng Vô Thỉ Đức Phật đã nói rất khó để tìm một người không phải là mẹ của mình.
Ví như, này các Tỳ-kheo, có người chặt các cành cỏ, khúc cây, nhành cây, nhành lá, trong cõi Diêm-phù-đề này, chất chúng thành một đống, làm chúng thành những que đặt theo hình các ô vuông, cầm từng que đặt xuống và nói: "Ðây là mẹ tôi, đây là mẹ của mẹ tôi". Và không thể cùng tận, này các Tỳ-kheo, là các bà mẹ, mẹ của người ấy. Nhưng nhành cỏ, khúc cây, nhành cây, nhành lá trong cõi Diêm-phù-đề này có thể đi đến đoạn tận, đoạn diệt. (Tương Ưng Bộ, Tập II - Thiên Nhân Duyên, Chương IV. Tương Ưng Vô Thỉ (Anamatagga), I. Phẩm Thứ Nhất, I. Cỏ Và Củi)
Các Ông nghĩ thế nào, này các Tỳ-kheo, cái gì là nhiều hơn, sữa mẹ mà các Ông đã uống trong khi các Ông lưu chuyển luân hồi trong một thời gian dài, hay là nước trong bốn biển?
-- Bạch Thế Tôn, theo như lời Thế Tôn thuyết pháp, chúng con hiểu rằng cái này là nhiều hơn, tức là sữa mẹ mà chúng con đã uống trong khi chúng con lưu chuyển luân hồi trong một thời gian dài chớ không phải nước trong bốn biển!
Cái này là nhiều hơn, này các Tỳ-kheo, tức là sữa mẹ mà các Ông đã uống trong khi các Ông lưu chuyển luân hồi trong một thời gian dài chớ không phải nước trong bốn biển. (Tương Ưng Bộ, Tập II - Thiên Nhân Duyên, Chương IV. Tương Ưng Vô Thỉ (Anamatagga), I. Phẩm Thứ Nhất, IV. Sữa)
Này các Tỳ-kheo, thật không dễ gì tìm được một chúng sanh, trong thời gian dài này, lại không một lần đã làm mẹ... (Tương Ưng Bộ, Tập II - Thiên Nhân Duyên, Chương IV. Tương Ưng Vô Thỉ (Anamatagga), II. Phẩm Thứ Hai, IV. Mẹ)
Trong các vị đang ngồi đây, cực kì khó tìm một vị không phải là mẹ, không phải là ông, không phải là anh chị của con trong đời quá khứ, điều này là cực kì khó trong vòng luân hồi này. Tất cả mọi người đã từng làm cha, làm mẹ, làm anh chị em của con chứ không phải chỉ có ông Pháp An mới là cha con. Chỉ có thể nhập trí huệ mới giải quyết được, còn không thì tất cả mọi chuyện đều không giải quyết được, chỉ có tiếp tục sầu, bi, khổ, ưu, não, tiếp tục sanh, già, bệnh, chết, tiếp tục phân ly đau khổ chỉ trừ khi nào thành tựu chánh kiến. Một câu cuối để kết thúc, khi nãy chú trình pháp có nói một câu khiến con phải suy xét là chú phải nhiếp phục cảm giác đau dạ dày rất khó chịu khi nghe Pháp nhưng người ở ngoài nhìn vào không biết, chẳng hạn Liên Trụ bệnh hoặc Thông Tuệ. Cô Hạnh Trí, Tuệ Tâm nhìn không biết đang bệnh nhưng trong thân mình phải chiến đấu chống lại cảm giác đau đớn, nhức mỏi, tê chân. Như vậy con mắt nhìn không đúng, Khổ Thánh Đế là như vậy cho nên con mới nói với đại chúng là đừng tin vào mắt thấy tai nghe vì sự thật rất khác, người ngoài nhìn vào không biết chú đó đang đau dạ dày hoặc sự đau đớn của Thông Tuệ, Liên Trụ, chỉ thấy ngồi trang nghiêm thanh tịnh chứ không biết người đó đang chịu những cảm giác thống khổ, đau đớn. Thành ra nhìn bằng con mắt cứ tưởng là đúng, thường thì phàm phu khi biểu hiện ra kết quả họ mới biết cho nên quán về Khổ Thánh Đế thâm sâu như vậy đó, không phải nhìn thấy người đó nằm trên gường bệnh mới là khổ, sự quán chiếu mà Đức Phật dạy nó sâu sắc như vậy đó. Con biết đại chúng ngồi đây cũng bị khổ thọ vì lạnh, nhức, mỏi, tê, nhức, buồn ngủ nhưng phải chịu cái khổ này để vượt qua cái khổ lớn.
Nguyên Ngọc: Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật. Kính bạch sư phụ, kính bạch quý thầy, quý sư cô và kính thưa quý đại chúng. Con có một câu hỏi về bài kinh tất cả các chúng sanh do tâm tư mà hiện hữu, bài kinh này con nghe một lần ở Giác Tuệ thì con đã chấn động, hôm nay sư phụ nhắc lại. Con có câu hỏi xin được sư phụ giải đáp: Có khi nào trong tâm tư của con chưa tạo tác mà chúng sanh đã hiện hữu không? Con cảm thấy rất kinh sợ khi ý nghĩ sanh khởi thì con lại thấy nó đúng với thực tại (nghĩ gì có đó) thì đó có phải tự nó hiện hữu hay do nó tương ưng cho nên con rất sợ ý nghĩ của mình. Ví dụ con vừa suy nghĩ thấy cảnh đó, nhà đó mà con chưa tạo tác thì nó đã hiện hữu ra. Con xin đảnh lễ tri ân sư phụ, cám ơn quý thầy, quý sư cô và đại chúng đã dung chứa con thời gian qua, con có rất nhiều lợi lạc làm tư lương để tinh tấn tu tập.
Sư Phụ: Đức Phật nói tất cả đều do tâm tư mình tạo thành để mình cẩn thận trong suy nghĩ, đừng suy nghĩ ác bất thiện pháp, sự tu căn bản là điều đó. Có những điều trùng hợp như khi con nhập thất dưới quê thì con nghĩ phải chi có dưa leo để ăn thì mát trong người, chỉ mới nghĩ vậy thôi mà lát sau có người cúng cả bao dưa leo, không chỉ một lần như vậy mà rất nhiều lần nghĩ gì là có đó, có những cái trùng hợp như vậy, tùy theo phước nghiệp của mình có sự chiêu cảm. Khi mình có phước đức thì suy nghĩ gì thì nó tương thích với suy nghĩ của mình như dân gian có câu chúc "Tâm tưởng sự thành". Có những người họ suy nghĩ cái xấu có khi cũng tương ứng, chính vì vậy phải cẩn thận trong suy nghĩ. Hãy nghĩ thiện pháp chứ đừng nghĩ ác pháp, nghĩ cái tốt chứ đừng nghĩ cái xấu, suy nghĩ theo chiều hướng Đức Phật dạy chứ đừng nghĩ theo chiều vô minh, si ám. Còn thần thông của Đức Phật là ý sanh thân, tức là ngài ở tại đây nhưng ngài muốn lên Phạm thiên thì có một cái thân theo ý muốn của ngài, ngài vừa nghĩ thôi là lập tức có cái thân lập tức xuất hiện ngay tại chỗ đó, còn mình tu chưa tới nổi đâu, Đức Phật muốn hóa hiện cái thân của ngài ở thế giới nào thì ngài biến ra đó vì ngài tự tại đối với ngũ uẩn, ngũ uẩn không còn ràng buộc được ngài cho nên ngài muốn hiện ngàn thân sẽ có ra bấy nhiêu thân ở thế giới khác. Những vị đã vượt ra khỏi ngũ uẩn thì sức lực là bất khả tư nghị, còn mình thì không ra khỏi cục thịt mấy chục kí lô này vì thế dục tham ái làm khổ mình.
- Này Kevaddha, có ba pháp thần thông này Ta đã tự mình giác ngộ và tuyên thuyết. Thế nào là ba? Tức là biến hóa thần thông, tha tâm thần thông, giáo hóa thần thông. (Trường Bộ Kinh, 11. Kinh Kevaddha (Kiên Cố))
Thật vậy, này Bà-la-môn, lời nói của Ông trước như là chống ta, sau xích lại gần ta. Và Ta sẽ trả lời cho Ông. Này Bà-la-môn, Ta chứng được nhiều loại thần thông, một thân hiện ra nhiều thân, ... Này Bà-la-môn, ta thành tựu được định không tầm không tứ, với tâm của mình rõ biết tâm của người khác, tùy theo ý hành của Ta hướng đến chỗ nào, thời tâm của Ta lập tức suy tầm đến chỗ ấy. Này Bà-la-môn, Ta có thể giáo giới như sau: "Hãy suy nghĩ như thế này, chớ suy nghĩ như vậy. Hãy tác ý như vậy, chớ tác ý như vậy! Hãy từ bỏ cái này, hãy đạt được cái này và an trú!".
Thưa Tôn giả Gotama, có một Tỳ-kheo nào khác, cũng thành tựu được ba loại thần thông này, ngoài Tôn giả Gotama?
- Này Bà-la-môn, không phải chỉ có một trăm, hai trăm, ba trăm, bốn trăm, năm trăm mà còn nhiều hơn nữa các Tỳ-kheo thành tựu được ba loại thần thông này.
- Nhưng thưa Tôn giả Gotama, nay các Tỳ kheo ấy hiện ở đâu?
- Này Bà-la-môn, trong chúng Tỳ-kheo này.
- Thật vi diệu thay, Tôn giả Gotama! Thật vi diệu thay, Tôn giả Gotama! Như người dựng đứng những gì bị quăng ngã xuống, hay trình bày cái gì bị che kín, hay chỉ đường cho người bị lạc hướng, hay cầm đèn sáng vào bóng tối để những ai có mắt có thể thấy sắc. Cũng vậy, Chánh pháp đã được Tôn giả Gotama dùng nhiều phương tiện thuyết giảng. Con nay xin quy y Tôn giả Gotama, quy y Pháp, quy y Tăng. Mong Tôn giả Gotama nhận con làm đệ tử cư sĩ, từ nay cho đến mạng chung, con trọn đời quy ngưỡng. (Tăng Chi Bộ, Chương III - Ba Pháp, V. Phẩm Nhỏ, 60.- Sangàrava)
Nguyện đem công đức này hướng về khắp tất cả đệ tử và chúng sanh đều trọn thành Phật đạo.
./.