Thư Viện Linh Quy
← Danh sách

Bến đỗ bình an

2026-03-03 00:53:12
BẾN ĐỖ BÌNH AN

Thích Minh Thành

MỤC LỤC

TOC \o "1-3" \h \z \u I.Ba pháp tỉnh giác PAGEREF _Toc71867836 \h 1

II.Bản chất già, bệnh, chết và khổ nghiệp PAGEREF _Toc71867837 \h 1

III.Năm chỗ trú ẩn an ổn PAGEREF _Toc71867838 \h 7

Ba pháp tỉnh giác

Phương pháp đầu tiên được hướng dẫn ngay sau đây, khi đọc những dòng này, ta ngồi thoải mái, lưng thẳng, cổ thẳng, mắt nhìn xuống về phía trước không tập trung vào một điểm nào, mở rộng tầm nhìn hết mức sang hai bên. Theo lời dạy của Đức Phật, đây gọi là chánh niệm trước mắt. Tiếp theo, ta theo dõi hơi thở, thở vào rõ biết ta đang thở vào, thở ra rõ biết ta đang thở ra. Cảm nhận ba điểm động chuyển của hơi thở là chóp mũi, lồng ngực và bụng; từ ba điểm này mở rộng cảm nhận toàn thân, cảm giác tại đỉnh đầu, mặt, cảm giác hai vai, cánh tay, bàn tay, lòng bàn tay, cảm giác thân, mông, chân, ống chân, bàn chân, lòng bàn chân; cảm nhận cảm giác toàn thân, từ đỉnh đầu đến gót chân. Thở vào làm cho thân lắng dịu, thở ra làm cho tâm an tịnh, lắng dịu an tịnh là cảm giác toàn thân. Giờ phút này thân tâm rất dễ chịu và lắng dịu, thở vào dễ chịu, thở ra lắng dịu. Miệng mỉm một nụ cười nhẹ trên môi, cảm nhận sự dễ chịu tràn ngập thân tâm. Cuối cùng, nội tâm tỉnh giác, sáng tỏ những gì đang hiện hữu trong tâm.

Ba pháp này gồm có, một là chánh niệm trước mặt, hai là cảm nhận hơi thở toàn thân, ba là nội tâm tỉnh giác. Đây là ba pháp cực kỳ trọng yếu của việc thực hành tĩnh tâm, mỗi khi ta áp dụng ba pháp này, dẫu cho bao nhiêu mệt mỏi, bực bội, phiền não cũng đều được tan biến với chỉ mười hay mười lăm phút thực hành. Lưu ý rằng, phương pháp này có thể thực tập mọi lúc mọi nơi, khi đi, đứng, nằm, ngồi đều có thể thực hành đưa đến khỏe mạnh thể chất, sảng khoái nội tâm.

Bản chất già, bệnh, chết và khổ nghiệp

Mọi khi ta thường cầu bình an bằng cách ghi tên của mình cùng người thân vào một tờ giấy gửi lên quý sư thầy vào đầu năm hay mỗi khi có dịp đến chùa. Có một sự thật, rằng ai ai cũng mong muốn bản thân, gia đình được bình an, yên ổn, những điều tốt đẹp thường đến với mình, tuy nhiên ít ai biết được ai là người có khả năng đem đến sự bình an cho họ. Câu hỏi đặt ra ở đây là, “Làm sao có được sự bình an?”, “Cách nào để cho ta an ổn và ai cho ta sự bình an?”, “Liệu Phật có quyền năng này hay không?”.

Ở bài viết ngày hôm nay, Minh Thành đặt cho quý vị một vài câu hỏi là vậy và xin gửi đến quý vị một phương pháp, một con đường, một con thuyền đưa ta đến bến đỗ của bình an. Bởi muốn đến đích bình an, ta cần phải biết con đường dẫn đến sự bình an; muốn đi trên con đường đưa đến bình an, ta phải biết cách đi sao cho đúng (tức phương pháp thực hiện để được bình an), cần phải làm đúng phương pháp thì bình an mới hiện hữu.

Mười hai giờ trưa, ta không đi ăn mà đến lạy Phật, cầu Phật độ cho con no, ta lạy từ trưa đến chiều tối, liệu Phật có thể độ cho ta no được hay không, hay để được no ta phải đi ăn cơm? Hoặc khi ta khát, đến trước bàn Phật lạy lục, cầu Phật độ cho con hết khát, cứ như vậy ba ngày ba đêm thì cơn khát trôi qua, sự chết (vì mất nước) ập đến. Cũng vậy, không thể lạy cầu Phật độ cho ta bình an khi mà bản thân không chịu tu tập, không chịu thực hành, không chịu hành trì chánh pháp của Đức Phật.

Trong kinh Tăng Chi Bộ tập 2, bài kinh “An Toàn”, Đức Phật dạy:

Này các Tỳ-kheo, không một Sa-môn, Bà-la-môn, Thiên, Nhân, Màra, Phạm thiên hay một ai ở đời có được sự an toàn đối với bốn pháp. Thế nào là bốn?

Bản tánh bị già, mong rằng không già, không một Sa-môn, Bà-la-môn, Thiên, Nhân ... đối với pháp này. (Tăng Chi Bộ, Chương IV - Bốn Pháp, XIX. Phẩm Chiến Sĩ, (II) (182) An Toàn) Hiện tại chưa già, nhưng rồi ta sẽ già và có khi ta già mà không chấp nhận ta đã già. Sự già là bản chất của vạn vật, tánh già không một ai trên đời này, dù là Phạm thiên, tu sĩ, thậm chí là phi nhân (ma) ... không một ai trên đời này có được sự an toàn đối với pháp này, đối với sự già chết. Vậy mà bấy lâu ta quên, ta không nhớ sự già là không an toàn, thân này rồi sẽ đến lúc già là bản chất tuyệt đối, không thể thoát khỏi. Trong sự già này không có sự an ổn, trong sự già không có sự an toàn, không có sự bảo an, một khi sự già ập đến, ta không thể phản kháng.

Điều tiếp theo đức Đức Phật dạy rằng:

 Bản tánh bị bệnh, mong rằng không bệnh, không một Sa-môn, Bà-la-môn, Thiên, Nhân ... đối với pháp này. (Tăng Chi Bộ, Chương IV - Bốn Pháp, XIX. Phẩm Chiến Sĩ, (II) (182) An Toàn). Bản tánh bị bệnh mong rằng không bệnh, không có một ai trên đời này mà có sự an toàn đối với sự bệnh. Đây là sự thật rõ ràng mà ai trong số chúng ta đều nhận thức được, ấy vậy mà ta vẫn quên, vẫn không muốn nhớ... ta cần phải lo sợ với sự bệnh, bởi đây là điều đáng lo sợ hơn hết của đời người chỉ sau cái chết; vậy mà ta lại nhởn nhơ, tâm trí lúc nào cũng lo sợ những chuyện vặt vãnh, viễn vông mà quên đi nỗi sợ với sự bệnh.

Pháp thứ ba Đức Phật dạy chúng ta:

Bản tánh bị chết, mong rằng không bị chết, không một Sa-môn, Bà-la-môn, Thiên, Nhân ... đối với pháp này. (Tăng Chi Bộ, Chương IV - Bốn Pháp, XIX. Phẩm Chiến Sĩ, (II) (182) An Toàn). Bản tánh bị chết mong rằng không chết, không một ai trên đời này có được sự an ổn với cái chết. Đức Phật dạy các đệ tử: “Này các tỷ kheo nếu mà không có ba pháp này xuất hiện ở cuộc đời này thì Như Lai, Thế Tôn không có mặt tại thế gian.”. Ba pháp này bao gồm sự sanh, sự già và sự chết; do sự hiện hữu ba pháp này trong vạn vật nên Như Lai mới có mặt tại thế gian. Thuở xưa, vì chứng kiến cảnh tượng của sự già, bệnh, chết mà lúc bấy giờ thái tử Tất Đạt Đa mới đi cầu đạo tìm được giải thoát. Một chi tiết mà Minh Thành muốn nhắc nhở đến quý vị, lúc thái tử quyết định xuất gia cầu đạo, vua Tịnh Phạn khuyên ngăn với đại ý rằng: thái tử ở lại hoàng cung muốn gì vua Tịnh Phạn đều có thể ban cho; lúc này thái tử đáp với đại ý rằng: nếu phụ vương ban cho con không già, không bệnh, không chết thì con xin ở lại. Điều này liệu quốc vương có thể ban cho thái tử? Chúng ta cần phải chiêm nghiệm thật sâu sắc điều này, một cá nhân với thật nhiều tiền bạc, quyền lực, sắc đẹp và thành công… liệu có bị ba pháp này chi phối, tấn công? Ta cần phải nhớ, đây là pháp sống, chân lý sống, là sự thật đang diễn ra xung quanh và trong ta hằng ngày, hằng giờ.

Điều thứ tư Đức Phật dạy, rằng: Khổ quả của những ác nghiệp ấy (những nghiệp) tạp nhiễm, đưa đến tái sanh, đem lại phiền muộn, đem lại khổ quả dị thục sanh, già, chết trong tương lai, kết quả của những nghiệp ấy mong rằng không có hiện hữu. Không một Sa-môn, Bà-la-môn, Thiên, Nhân, Màra, Phạm thiên hay một ai ở đời có được sự an toàn đối với bốn pháp này (Tăng Chi Bộ, Chương IV - Bốn Pháp, XIX. Phẩm Chiến Sĩ, (II) (182) An Toàn). Lời dạy này có nghĩa rằng, khổ quả của những ác nghiệp mà ta đã gây ra, những pháp tạp nhiễm đưa đến quả tái sanh, đưa đến phiền não, đưa đến khổ đau trong tương lai; những quả nghiệp này không một ai được an toàn đối với chúng; những điều xấu ác mà ta đã, đang và sẽ tạo ra ở quá khứ, hiện tại và tương lai, ta phải gánh chịu trọn vẹn quả khổ của những ác nghiệp đó, không thể mong cầu sự an ổn từ những ác nghiệp này.

Chính vì lẽ đó, một khi ta nhận ra trong tâm khởi lên một suy nghĩ xấu ác của bất thiện pháp thì ta phải cảm thấy sợ hãi, kinh sợ, khiếp sợ. Mỗi khi ta thốt ra một lời xấu ác, làm khổ đau cho mình và cho người, ta cần phải sợ hãi; mỗi khi có suy nghĩ không tốt về người, làm hành động sai trái, lầm lỗi đi ngược giới luật của Đức Phật đã dạy, ta cần phải cảm thấy bất an, lo lắng, sợ hãi. Nếu không khởi lên những sự sợ hãi này, thì chúng ta thoải mái gieo tạo những ác nghiệp để rồi phải gánh chịu quả khổ của chúng. Đức Phật dạy rằng, bốn pháp này không an toàn và không an ổn, không ai trong số chúng ta có thể tránh khỏi sự tấn công của sự già, sự bệnh và sự chết.

Tuy nhiên, ta có thể tránh được những khổ quả của ác nghiệp, bằng cách tránh không tạo tác những ác nghiệp, khi đó sự già khi đến với ta sẽ là một vẻ đẹp lão, già mà không mang bệnh tật hoặc chỉ là những bệnh nhẹ, ra đi trong thanh thản bình an của một giấc ngủ, ra đi trong chánh niệm tỉnh giác an tường. Muốn vậy, ta cần phải tránh, không tạo tác ba ác nghiệp về thân, miệng và lời nói. Không thể muốn an ổn, bình an mà không dốc lòng thực hành, quý vị cần phải luôn luôn sống với tâm thái dốc lòng tránh ác tìm thiện. Một khi ta thường sống trong thiện nghiệp, tuy không thoát ra khỏi sanh, già, bệnh, chết nhưng những điều này không thể khiến ta khốn khổ, đau đớn, mê man, nơi bản thân ta không có sự bất tỉnh, mê man, không có những tai nạn bất thường.

Bấy lâu, khi đọc báo chí, tin tức về những tai nạn bất thường, ta có sinh tâm sợ hãi đối với những điều này? Một khi sợ thì ta phải tìm cách tránh và liệu cầu nguyện có giúp ta tránh khỏi những điều này? Đây là điều không thể xảy ra, thay vào đó ta cần phải tránh né những điều xấu ác và thực hành sự thiện lương. Giống như một con gà lùi nhẹ né tránh chiếc xe máy khi băng qua đường lớn một cách nhẹ nhàng, cũng vậy người tu cần phải kéo léo né tránh những ác bất thiện pháp, né tránh những nguyên nhân gây ra sự đau khổ, tránh xa điều xấu, điều tội lỗi, không để nó cuốn ta theo. Cần phải biết sợ hãi trong những lỗi nhỏ nhặt, sợ hãi và hổ thẹn sâu sắc đối với những lỗi lầm của chính mình; đây chính là con đường đưa ta đến bậc thánh.

Hổ thẹn là con đường Đức Phật dạy đưa ta đến quả thánh. Những khi Minh Thành đi hoằng pháp ở Úc Châu, Mỹ Châu; khi đi trên đường, Minh Thành vô tình va phải người dân nơi đây, lúc bấy giờ người ta xin lỗi mình trước, Minh Thành cảm thấy rất ngại. Ấy vậy mà có trường hợp nhiều người có lỗi rõ ràng mà còn không chịu nhận lỗi và xin lỗi, càng ngại ngùng hơn nữa. Trước tiên, ta cần phải học cách thường thường vận dụng bốn chữ cảm ơn và xin lỗi trong đời sống của mình hằng ngày một cách chân thành và sâu sắc. Đức Phật đã dạy rằng bậc chân nhân là người có hai đức tính là biết ơn và nhớ ơn người có ơn với mình. Câu cảm ơn cực kỳ hữu dụng và diệu dụng trong cuộc sống, ấy thế mà ta lại thường quên mất. Ngay trong những điều nhỏ nhặt nhất, trong lúc quý phật tử đang ngồi nghe pháp, trời mưa, có người mang đôi dép của ta vào trong mái hiên khô ráo, một lúc đi ra, trong tâm ta có khởi lên sự biết ơn đối với người đã giúp ta? Đến việc xin lỗi cũng vậy, ngày xưa lúc mới quen nhau, chúng ta xin lỗi đối phương trong từng hành vi sai lầm vụn vặt, đôi lúc không có lỗi cũng đi xin; nhưng đến lúc về ở chung thì thi nhau bắt lỗi trong từng điều nhỏ nhất rồi thì chống cự, không chịu nhận lỗi, mâu thuẫn bất hòa bắt nguồn từ đây vậy.

Ta tiến tới một điều cực kỳ sâu sắc mà Đức Phật đã dạy: Vô thỉ là luân hồi này, này các Tỷ-kheo, khởi điểm không thể nêu rõ đối với lưu chuyển luân hồi của các chúng sanh bị vô minh che đậy, bị tham ái trói buộc (Tương Ưng Bộ, Tập II - Thiên Nhân Duyên, Chương IV. Tương Ưng Vô Thỉ (Anamatagga), I. Phẩm Thứ Nhất, I. Cỏ Và Củi) 

Đã lâu ngày chúng ta đã chịu đựng khổ, chúng ta đã chịu đựng sự thống khổ, đã chịu đựng tai họa và các mộ phần ngày một lớn lên cho đến như vậy. Này các đệ tử, cho đến như vậy, này các Tỳ-kheo, là vừa đủ để các Ông nhàm chán, là vừa đủ để các Ông từ bỏ, là vừa đủ để các Ông giải thoát đối với tất cả các hành (Tương Ưng Bộ, Tập II - Thiên Nhân Duyên, Chương IV. Tương Ưng Vô Thỉ (Anamatagga), I. Phẩm Thứ Nhất, I. Cỏ Và Củi). Ta đã trôi lăn trong vòng luân hồi bất tận này không có điểm bắt đầu, trôi lăn trăm kiếp, ngàn kiếp, tỷ kiếp ở trong vòng sinh sinh tử tử này. Mỗi khi trải nghiệm bất kỳ sự đau khổ hay vui sướng nào trong đời, ta cần phải suy xét rằng “ta đã chịu đựng, trải nghiệm chúng trong một thời gian rất dài”. Mỗi khi ta gặp một chuyện đau lòng, khổ não thì ngay tại lúc đó ta cần phải quán rằng, “ta đã chịu đựng hoàn cảnh này không phải là mới đây, không phải là lần đầu”, “ta đã chịu đựng trước đây rất nhiều lần, lúc trung niên, thanh niên, thơ ấu ta đã trải qua”, “đời trước, nhiều đời trước và trong vòng luân hồi bất tận này ta đã chịu đựng chúng vô số lần”. Loanh quanh, qua lại, vòng tới vòng lui mãi vẫn không ra khỏi vòng luân hồi này.

Đức Phật dạy rằng, Ví như, này các Tỳ-kheo, có người chặt các cành cỏ, khúc cây, nhành cây, nhành lá, trong cõi Diêm-phù-đề này, chất chúng thành một đống, làm chúng thành những que đặt theo hình các ô vuông, cầm từng que đặt xuống và nói: "Ðây là mẹ tôi, đây là mẹ của mẹ tôi". Và không thể cùng tận, này các Tỳ-kheo, là các bà mẹ, mẹ của người ấy. Nhưng nhành cỏ, khúc cây, nhành cây, nhành lá trong cõi Diêm-phù-đề này có thể đi đến đoạn tận, đoạn diệt. (Tương Ưng Bộ, Tập II - Thiên Nhân Duyên, Chương IV. Tương Ưng Vô Thỉ (Anamatagga), I. Phẩm Thứ Nhất, I. Cỏ Và Củi). Theo lời Đức Phật, đặt hết các cành cây hiện hữu trên trái đất này thì ta cũng không thể đếm hết những người mẹ mà ta đã đầu thai được họ thọ sanh trong vòng luân hồi bất tận này. Cũng vậy với những người cha, người chồng, người con, người anh, người em ta trong vòng luân hồi đảo lộn dài vô lượng, vô biên a tăng tỳ kiếp, bất tận này.

Rồi mỗi khi trải nghiệm sự vui sướng, ta cũng cần phải quán xét rằng ta đã trải qua chúng không biết bao nhiêu lần. Không phải là vừa mới trải qua đây thôi đâu, chẳng có gì mới mẻ hết. Chính vì không biết điều này, nên Đức Phật mới dạy rằng chúng ta đều bị vô minh che đậy, bị tham ái trói buộc. Theo đó, “vô minh” là sự đen tối che đậy sự thật, nó khiến ta không hay không biết; tham ái là yêu thích những sự giả dối khiến ta bị dính mắc, trói buộc, phụ thuộc vào chúng, không khi nào được thanh thản và xuất ly khỏi chúng. Tại sao ta không đi tu được? Có phải vì bận trông chừng nhà, sợ mất đồ, sợ không có người cho chó ăn, tội nghiệp mấy con chó? Vậy mà chưa từng tự hỏi ai sẽ tội nghiệp bản thân ta? Vì nhớ người này người kia, vướng bận vào vật này vật nọ, không thể sắp xếp được 3, 7 ngày ngắn ngủi đến chùa nhưng ta cứ luôn mong cầu niết bàn, mong cầu giải thoát, mong cầu cực lạc, những điều hết sức xa xôi như vậy; liệu có khả thi chăng? Chính vì lẽ đó mà Đức Phật dạy, mộ phần ngày một lớn lên.

Đức Phật dạy ta phải biết tỉnh thức, tỉnh giác, khai mở con mắt trí tuệ để nhìn nhận rõ bản chất thực sự của sinh mạng, nhận rõ bản chất thực sự của kiếp người là gì. Nhìn lại mà xem, ngày qua ngày chúng ta đang làm gì, ta cứ ngủ mê trong vòng sinh tử luân hồi, lo ăn, lo ngủ, lo quần áo đẹp, lo nhà ở cao sang, lo tìm kiếm thú vui ở trần gian để rồi sự bệnh, sự già, sự chết kéo đến vây kín hoặc chỉ một tai nạn bất ngờ cũng đưa đến tan hoại xác thân yếu ớt. Thử hỏi, ta có cảm thấy đau lòng, buồn bã, xót thương cho bản thân chính mình hay không?

Năm chỗ trú ẩn an ổn

Thấu hiểu được sự bất an này của cuộc đời, trong kinh Tăng Chi Bộ tập 2 Đức Phật dạy có năm chỗ an ổn rằng:

 Này các Tỳ-kheo, có năm an ổn trú này, Thế nào là năm?

Ở đây, này các Tỳ-kheo, Tỳ-kheo an trú từ thân nghiệp đối với các đồng Phạm hạnh, cả trước mặt và sau lưng.

An trú từ khẩu nghiệp đối với các đồng Phạm hạnh, trước mặt và sau lưng;

An trú từ ý nghiệp đối với các đồng Phạm hạnh, trước mặt và sau lưng. (Tăng Chi Bộ, Chương V - Năm Pháp, XI. Phẩm An Ổn Trú, (V) (105) An Ổn Trú)

Nơi trú ẩn an ổn đầu tiên Đức Phật dạy chúng ta là “thân nghiệp từ hòa”, nghĩa là hành động của ta cần phải luôn luôn đi kèm với tình thương yêu. Lời nói thốt ra khỏi miệng của ta luôn luôn là những lời từ ái, đây là chỗ trú ẩn an ổn thứ hai “lời nói từ hòa”. Và trong từng ý nghĩ của ta về người, về vật đều phải chất chứa một tấm lòng thân thương rộng mở, đây là nơi trú ẩn thứ ba “ý nghiệp từ hòa” vậy. Tại sao Đức Phật dạy ba nghiệp này là chỗ trú ẩn an ổn? Thử nghĩ, một khi ta nghĩ về bất kỳ người nào, vật nào ta luôn nghĩ với tấm lòng từ bi, với một tình thương và sự cảm thông sâu sắc thì liệu ta có được an ổn ngay trong lúc nghĩ không? Khi nói về người về vật dù là trước mặt hay là sau lưng, lời nói của ta luôn hiền hòa, từ ái, dễ thương, từ bi thì ta có bị lời nói đó làm cho bất ổn? Và đến những hành động, việc làm của ta nếu được đặt trên một nền móng của sự từ ái với vạn vật thì chúng có giúp ta và người đều được an ổn? Đây là hình thức siêu cầu an được Đức Phật dạy vậy. Nếu một người cứ hễ mở miệng là nói lời thô ác, nghĩ xấu về người và vật, làm những việc khiến mọi người xích mích, đau lòng… và người đó mỗi tháng đến chùa ghi tên cầu an suốt 27 ngày. Liệu người này có được an hay không? Suy ngẫm như vậy ta mới nhận ra, bấy lâu ta chỉ lo chữa cái ngọn mà không biết chăm lo cái gốc của sự an ổn.

Ta cần khắc cốt ghi tâm những lời dạy vàng ngọc này của Đức Phật, mỗi khi suy nghĩ khởi lên trong tâm, ta cần hướng nó nghĩ bằng tình thương, mỗi câu nói ra khỏi miệng đều phải là lời nói của sự từ ái dẫu cho bao nhiêu bực dọc, khó chịu. Đặc biệt với người đang giận ta thì ta càng nên nói lời hiền hòa đối với họ nhiều hơn nữa, bởi vì người ta đang giận mà ta đáp trả bằng lời nói, hành vi oán hận thì kết cục là không thể tưởng tượng nổi, chẳng khác nào ta cho thêm xăng vào trong một đám lửa đang phừng cháy. Muốn thực tập rốt ráo được những điều này, Đức Phật dạy rằng mỗi cá nhân trong sự tu học cần luôn luôn thường xuyên nhìn nhận lại cảm giác của bản thân. Mỗi khi ta cảm giác nóng nảy trong người, ta cần phải nhận rõ đây là lửa sân hận, ngay tại đó ta lấy nước từ hòa dập tắt, tránh khỏi nguy hiểm, tránh khỏi cháy nổ nội tâm. Ta cần nhận rõ, cảm giác nóng nảy này là điều kiện để một ngọn lửa hừng hừng bừng cháy trong nội tâm; chính vì lẽ đó ngay từ khi điều này vừa khởi phát trong tâm, ta cần nhận ra sự nguy hiểm, cần phải tránh ra rồi dùng tình thương dập tắt, cách ly xăng và lửa với nhau. Ngoài xã hội, hiếm khi ta gặp một trường hợp hỏa hạn, cháy nhà cháy cửa như những vụ cháy chung cư mà báo chí đưa tin hay vụ cháy dãy nhà gần cây xăng ở Bình Phước; ấy thế mà ở trong tâm, lửa cháy liên miên không dứt mà ta không hề nhận ra. Vì vậy mà kể từ bây giờ, ta phải nhớ trang bị cho mình một bình phòng cháy chữa cháy, luôn luôn mang theo trong tâm. Mỗi khi cảm giác tâm nóng nảy, bực bội thì ngay tại lúc đó, cần tách rời cơn giận với tâm ta, không để cho nó cuốn đi mà hãy mắng chửi nó, từ bỏ nó, không chấp nhận nó thêm nữa, không bị nó dụ dỗ thêm nữa, nhiếp phục cơn giận, đánh cho nó biến khỏi tâm ta, cho nó tan tành. Rồi ra mang tấm lòng yêu thương vạn vật, tâm từ rải ra, mang nước mát mà dập lấy lửa nóng. Được vậy, cơn giận sẽ xẹp xuống, tắt ngay tắp lự.

Một cá nhân khéo tu tập ba nơi trú ẩn an toàn này, tâm nghĩ về tình thương, nói lời yêu thương, làm việc thiện lương, lúc nào cũng nghĩ mọi người dễ thương, đến từng hành động, cơ thể của họ cũng toát lên sự yêu thương, vui vẻ, toát ra nguồn năng lượng của tình thương, của từ bi. Được vậy, người này bất cứ đi đến đâu cũng được người khác yêu thương, quý mến. Dẫu cho có người rất ghét họ, nhưng do không phản ứng trả đũa, thay vào đó đáp trả lại tình thương, tâm từ thì mọi hiềm khích, hiểm lầm, ghen ghét sẽ được dẹp bỏ, đến khi người ghét chuyển thành người thương lúc nào không hay biết.

Tiếp theo Đức Phật dạy về chỗ trú ẩn thứ tư:

Đối với các giới không bị bể vụn, không bị sứt mẻ, không bị nhiễm ô, không bị uế nhiễm, đem lại giải thoát, được người trí tán thán, không bị chấp thủ, đưa đến Thiền định, vị ấy sống thành tựu các giới như vậy đối với các đồng Phạm hạnh, trước mặt và sau lưng. (Tăng Chi Bộ, Chương V - Năm Pháp, XI. Phẩm An Ổn Trú, (V) (105) An Ổn Trú)

Năm giới này là điều kiện đưa ta đến bến bờ của bình an và hạnh phúc. Năm giới này bao gồm: từ bỏ việc sát sanh, từ bỏ việc lấy của không cho, từ bỏ tà hạnh trong các dục (ngoại tình), từ bỏ nói dối (nói lưỡi đôi chiều, nói lời hung ác, nói lời thiêu dệt), từ bỏ sử dụng những chất say sưa khiến ta si mê.

Sự bất an sẽ luôn luôn hiện hữu trong đời chừng nào ta còn phạm vào năm điều giới luật căn bản này của Đức Phật. Thật vậy, vì thích vật của người khác mà ta trộm về, rồi tâm ta có được an? Vì dục vọng lôi kéo mà ta đeo đuổi người khác khi đã có gia đình, tâm ta có được an? Ta ăn uống say sưa rồi điều khiển phương tiện giao thông, liệu có cảm thấy tâm được an ổn? Chính vì vậy mà Đức Phật dạy đại từ, đại bi mới đem lại cho ta sự bình an, hạnh phúc tuyệt vời ngay trong khiếp nhân thiên hiện tại mà ta không hay biết, cứ ngỡ ở đâu xa vời.

Năm điều giới này là chìa khóa để ta sở hữu một cuộc sống bình an, hạnh phúc ngay trong đời này. Năm việc này cần phải luôn luôn nhắc nhớ mỗi ngày trước bàn phật, luôn luôn đọc tụng để ta không bao giờ quên đi. Bởi lẽ đây là bí quyết, là bí kiếp là phương pháp đưa ta đến bến đỗ bình an, chính năm giới luật này cho ta sự bình an ở hiện tại và trong tương lai. Rõ ràng ngay trước mắt mà ta không xem trọng và thực hành, cứ đi cầu tìm xa xôi nơi thầy này bà kia, đang được sống vui vẻ, an ổn; thầy bà nào đó phán rằng trong nhà có người bị ám, nếu không cúng ngay thì rất nguy hiểm; về đến nhà là lo lắng, băn khoăn, ăn không ngon, ngủ không yên, không biết ai trong nhà bị ám… Những điều này nguyên nhân nằm ở sự không có chánh tín, không có chánh kiến rồi bị si mê dẫn dắt. Đức Phật đã dạy một cách tường tận và rõ ràng là vậy, nhưng ở nơi ta lòng tin yếu ớt nên ta đi theo những điều tà mê ở bên ngoài. Đức Phật đã dạy chúng ta, không tin thần quỷ vật, không đi theo ngoại đạo tà giáo. Chính năm điều giới này là tối thượng, thù thắng nhất trong cõi Chư Thiên và loài người. Chính nhờ vì từ bỏ năm điều này mà ta được bình an hạnh phúc, chính vì thực hiện năm điều này mà bất hạnh kéo đến bao phủ đời ta. Ta cần thường thường đọc lại năm giới này, thường thường nhắc nhớ, thường thường thực hành, cố gắng tu tập mọi lúc mọi nơi.

Bến đỗ thứ năm, nơi trú ẩn thù thắng, tối thượng hơn cả được Đức Phật dạy:

Đối với tri kiến này, thuộc bậc Thánh đưa đến xuất ly, được người thực hành chân chánh đoạn diệt khổ đau, vị ấy sống thành tựu tri kiến như vậy đối với các đồng Phạm hạnh, trước mặt và sau lưng. (Tăng Chi Bộ, Chương V - Năm Pháp, XI. Phẩm An Ổn Trú, (V) (105) An Ổn Trú)

Bến đỗ bình an tối thượng này là “Chánh Tri Kiến”, là sự thấy biết chính xác chân chánh theo lời Đức Phật dạy đưa đến sự đoạn tận, chấm dứt đoạn diệt tất cả khổ đau. Thế nào là một cá nhân thành tựu “Chánh Tri Kiến” theo lời Phật dạy, là khi họ thấy biết chính xác, rõ ràng, xác quyết rằng bản thân của họ được cấu thành từ năm thành phần, gọi là năm uẩn, cũng giống như bàn tay được cấu thành từ năm ngón tay. Năm uẩn này gồm có: sắc uẩn (tức thân thể vật lý, thân thể này lại được cấu thành từ đất, nước, gió, lửa); thọ uẩn (tức những cảm giác của thân và tâm); tưởng uẩn (tức những hình bóng mập mờ trong nội tâm); hành uẩn (tức những giọng nói thì thầm, bình luận, tư duy trong nội tâm); thức uẩn (tức sự rõ biết).

Để nhận rõ năm uẩn này đang hiện hữu trong ta, Minh Thành trình bày quý vị nghe một câu chuyện như sau (quý Phật tử đọc kỹ để chiêm nghiệm): có một chú đệ tử của Minh Thành là đầu bếp nấu bún măng cực kỳ ngon, có thể nói là ngon nhất thế giới, khách đến ăn xong luôn mua thêm nước bún mang về, bún chú nấu với: măng tươi, dừa tươi, nấm tươi, gừng tươi, nước tương tươi, ớt tươi,.. tất cả chúng hòa quyện vào nhau tạo nên một hương vị cực kỳ đặc trưng mà không đâu có được. Chắc hẳn sau khi đọc những dòng này, trong thâm tâm quý vị sẽ khởi lên những cảm giác nôn nao nhẹ trong miệng, đây là thọ uẩn. Cùng với đó là hình ảnh búp măng tươi, trái dừa, tô bún hoặc là nồi nước lèo hiện lên trong tâm, đây là tưởng uẩn. Theo sau là những giọng nói thì thầm, có thể là “ai mà nấu ngon quá”, “để khi nào ăn thử”, “bún măng ngon nhất thế giới ư…? đây là hành uẩn. Khi những điều này khởi lên trong tâm, ta nhận rõ có cảm giác, có hình ảnh, có giọng nói thì thầm, đây là thức uẩn vậy.

Năm uẩn này theo ta từ sáng sớm đến tối mịt, từ chiều hoàng hôn đến sớm bình minh, lúc ngủ nằm chiêm bao ta cũng không thoát ra khỏi sự vận hành của năm uẩn này. Vậy mà bấy lâu ta vẫn không nhận ra sự thật này, cứ để chúng làm khổ mãi; sự không nhận ra sự thật này theo lời Đức Phật là “vô minh”, không biết, không nhận ra chính mình. Một khi còn ở trong vô minh, ta sẽ luôn luôn bị chúng chi phối, ảnh hưởng. Quý vị cùng xem qua hai hoàn cảnh dưới đây để nhận ra sự chi phối của chúng đối với đời sống hằng ngày của ta.

Hoàn cảnh một: ta vừa bước vào chùa, có người bạn bước đến khen nức nở: “sao hôm nay trắng trẻo, trẻ trung, đẹp gái quá thế kia”, ngay lập tức trong nội tâm ta khởi lên cảm giác phơi phới, dễ chịu, thinh thích (tức cảm thọ lạc của tâm); và ta muốn người đó tiếp tục khen, khen thêm nữa, muốn cảm giác dễ chịu đó nhiều thêm nữa (đây là tham). Không dừng lại ở đó, lúc sau vào chùa ta tiếp tục kể cho người khác nghe, về nhà cũng đem ra kể, cứ mỗi lần kể lại cảm giác khoan khoái đó lại khởi lên, hình bóng của người khen ta khởi lên (tức tưởng uẩn), rồi sự bình luận ngầm trong nội tâm về tất cả những việc này khởi lên (tức hành uẩn).

Hoàn cảnh hai: ta vừa bước vào chùa, có người bạn bước đến chê ta: “hôm nay sao mặt sưng quá vậy, sao già hơn mà tái mét vậy…”, tức thì trong tâm ta khởi lên cảm giác khó chịu, không thích (khổ thọ của tâm); và ta cảm thấy bức bội, tức tối vì lời chê của người này (đây là sân). Theo sau đó là những suy nghĩ “sao vô duyên dữ vậy”, “ta xấu thì kệ ta...” (tức hành uẩn). Nếu người kia còn tiếp tục chê, thì cảm giác bực bội sẽ ngày một tăng, tức tối, ấm ức rồi bùng cháy.

Sắc, thọ, tưởng, hành, thức luôn luôn vậy hành trong ta là vậy. Do có cảm giác dễ chịu mà tham ái nổi lên, do có cảm giác khó chịu mà sân tâm bùng phát và do có cảm giác không dễ chịu không khó chịu mà si hiện hữu. Si hiện hữu khi ta không nhận ra năm uẩn này đang vận hành trong tâm, ta luôn nghĩ rằng ta mà một thực thể trọn vẹn, luôn nghĩ ta là một bàn tay nguyên khối chứ không phải do năm ngón tay kết hợp. Do si mê mà ta cho rằng ta và vạn vật xung quanh ta là thật, là nguyên khối, nên ta bám chặt, say mê, yêu thích, thích thú ở tấm thân và những vật ta sở hữu này; không may có sự hư hao của những vật ta sở hữu tức thì ta khổ tâm, ăn không ngon ngủ không yên đưa đến mệt mỏi thân tâm, bệnh tật. Đây mới chỉ là món đồ ở bên ngoài, chưa bàn đến thân xác tứ đại kết hợp “của ta”; thân xác này càng gây cho ta gấp nhiều lần đau khổ so với những thứ bên ngoài (ví như mất một chi, mất nhiều chi, bị đánh, bị xúc phạm…). Sự chấp ngã này của ta cực kỳ sâu dày và kiên cố. Tuy nhiên, khi thành tựu Chánh Tri Kiến, ta sẽ nhận ra tất cả thân và tâm ta chỉ là do duyên hợp, tất cả năm uẩn này là vô thường, có thể tan rã bất cứ lúc nào, tất cả chỉ là giả tạo, là giả dối, là đồ lắp ráp.

Ta cần phải luôn luôn quán xét, nhìn nhận rõ sự thật này, thường tư duy nghiền ngẫm như vậy để ta gỡ ra khỏi những lầm tưởng, lầm lạc cho rằng mấy chục ký lô này là tôi, là của tôi, là tự ngã của tôi, thấy rõ xác thân này là do đất, nước, gió, lửa kết hợp tạo thành. Vì bám chấp vào xác thân này mà bao nhiêu đau khổ ập đến với ta, vì bám chấp những cảm giác, tư tưởng, suy nghĩ trong tâm mà phát sinh bao nhiêu phiền não. Vì cảm giác mà tham, sân, si khởi lên; vì tưởng uẩn mà chuyện nhỏ ta tưởng thành chuyện lớn; vì hành uẩn mà ta chấp thủ, chạy theo và quyết định làm những điều lầm lỗi.

Thật may mắn cho ta, vì có Tam Bảo mà ta nhận ra được những sự thật vĩ đại này. Nhận ra rồi, ta phải cảnh giác chú ý những lời nói thì thầm, thủ thỉ, thở than trong tâm ta để không còn bị nó đánh lừa. Phải quán chiếu sâu sắc rằng tấm thân này của ta rồi một ngày kia sẽ nằm dài trên mặt đất như một khúc cây vô dụng không biết gì; bốn người khiêng để nó vào cái lỗ; một ngày, hai ngày, ba ngày, bốn ngày sau nó sình lên, nứt vỡ, máu mủ từ đó chảy ra; bên trong bị dòi đục khoét, ăn hết lục phủ ngũ tạng, ăn tràn lên hai khóe mắt… Sau một năm, hai năm, ba năm lớp da bên ngoài từ từ khô kiệt, tan ra để lại bên trong là một bộ xương trắng màu vỏ ốc. Hai, ba năm sau nữa bộ xương này rời ra, phân tán mỗi chỗ một bộ phận, đây là xương sọ, kia là xương cẳng tay, cẳng chân… Theo năm tháng dài lâu, tất cả đều về với cát bụi. Cay đắng cho một kiếp người, xót thương cho một chung kịch hạ màn như thế. Vậy mà bấy lâu ta vẫn tham lam, sân hận, sống trong tự cao tự đại, tật đố, khen mình chê người gây ra bao nhiêu nghiệp ác để làm khổ mình, khổ người, khổ nhau. Đáng thương xót cho khối vô minh này, thương xót cho tâm tham dục, tham ái, chấp ngã này của ta. Tỉnh lên hỡi ta ơi, tỉnh lên hỡi tâm ơi, mở ra con mắt trí huệ, thắp lên ngọn đèn sáng của Đức Phật để nhìn thấu bản chất của cuộc đời này, của tấm thân này, của đống thịt bầy nhầy, của đống xương trắng phếu. Thấu rõ bản chất cát bụi sỏi đá của ta, thấu rõ chẳng gì là tôi, là của tôi để mà tham đắm, để mà si mê…

Thường thường ngẫm lại những điều này,

Cảm nhận sâu sắc sự thật của cuộc đời.

Quyết thành tựu trí huệ tột cùng của Đức Phật.

Đưa đến bình an tối thượng thừa.

./.