Thư Viện Linh Quy
← Danh sách

Tương Ưng KOSALA 9 - Từ Bóng Tối Hướng Đến Ánh Sáng

2026-03-03 00:53:12
Kinh Nikāya Giảng Giải

TƯƠNG ƯNG KOSALA 9

TỪ BÓNG TỐI HƯỚNG ĐẾN ÁNH SÁNG

Thích Minh Thành

MỤC LỤC

TOC \o "1-3" \h \z \u I. Từ bóng tối vào bóng tối PAGEREF _Toc113980424 \h 1

II. Từ ánh sáng vào bóng tối PAGEREF _Toc113980425 \h 5

III. Từ ánh sáng vào trong ánh sáng PAGEREF _Toc113980426 \h 7

IV. Bài kệ PAGEREF _Toc113980427 \h 8

V. Bố thí PAGEREF _Toc113980428 \h 12

VI. Ăn uống chừng mực PAGEREF _Toc113980429 \h 18

I. Từ bóng tối vào bóng tối

Chúng ta còn một buổi nữa là học xong Tương Ưng Kosala, hôm nay chúng ta sẽ học bài kinh Người và bài kinh Cung thuật.

"Ở tại Sàvatthi.

Rồi vua Pasenadi nước Kosala đi đến Thế Tôn, sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Thế Tôn nói với vua Pasenadi nước Kosala đang ngồi một bên:

-- Thưa Ðại vương, có bốn loại người này có mặt, hiện diện ở đời.

Thế nào là bốn?

Sống trong bóng tối và hướng đến bóng tối,

Sống trong bóng tối hướng đến ánh sáng,

Sống trong ánh sáng hướng đến bóng tối,

Sống trong ánh sáng hướng đến ánh sáng". 

(Tương Ưng Bộ, Tập I - Thiên Có Kệ, Chương III. Tương Ưng Kosala, III. Phẩm Thứ Ba, I. Người)

Thế Tôn rất là khéo thuyết, khi ngài nói một điều gì thì ngài sẽ giải thích điều đó rất đầy đủ, rõ ràng, ngài nói có bốn hạng người thì ngài sẽ định nghĩa, giải thích rõ ràng, đầy đủ về bốn hạng người đó.

"Thưa Ðại vương, và thế nào là người sống trong bóng tối hướng đến bóng tối? Ở đây, thưa Ðại vương, có một số người sanh trong gia đình hạ tiện, gia đình kẻ Chiên-đà-la hay gia đình người đan rổ, hay gia đình người làm bẫy sập, hay gia đình người làm xe, hay gia đình người đổ rác nghèo đói, ăn uống thiếu thốn, sanh kế khó khăn, khó kiếm đồ ăn mặc, và người ấy xấu xí khó nhìn, còm lưng, nhiều bệnh, mù lòa, quẹo tay, bại chân, hay nửa thân tê liệt".

(Tương Ưng Bộ, Tập I - Thiên Có Kệ, Chương III. Tương Ưng Kosala, III. Phẩm Thứ Ba, I. Người)

Chiên-đà-la là giai cấp thấp kém nhất thời Đức Phật còn tại thế, vừa khổ sở, khó khăn, kiếm ăn cực nhọc, đói khát lại còn xấu xí, khó nhìn, chẳng những vậy lại còn mù lòa, quẹo tay, bại chân, bệnh tật. Khi đọc như vậy chúng ta phải tưởng tượng ra những cảnh đó, phải có những cảm xúc, cảm thọ để thấy được sự xót xa của những hoàn cảnh đó, phải làm cho những hình ảnh này hiện ra trong tâm và cảm nhận được cảm giác của những người khổ sở đó

"Người ấy không nhận được đồ ăn, đồ uống, vải mặc, xe cộ, vòng hoa, hương liệu, phấn sáp, không nhận được chỗ nằm, chỗ ở, đèn đuốc. Người ấy thân làm ác, miệng nói ác, ý nghĩ ác. Do thân làm ác, miệng nói ác, ý nghĩ ác, sau khi thân hoại mạng chung, người ấy sanh vào cõi dữ, ác thú, đọa xứ, địa ngục. Thưa Ðại vương, ví như một người đi từ tối tăm này đến tối tăm khác, hay đi từ hắc ám này đến hắc ám khác, hay từ vết máu đỏ này đến vết máu đỏ khác. Thưa Ðại vương, Ta nói người ấy với ví dụ như vậy. Thưa Ðại vương, như vậy là người sống trong bóng tối, hướng đến bóng tối".

(Tương Ưng Bộ, Tập I - Thiên Có Kệ, Chương III. Tương Ưng Kosala, III. Phẩm Thứ Ba, I. Người)

Đã khó khăn, thiếu thốn như vậy rồi mà còn làm ác, ý nghĩ ác, miệng nói lời đâm thọc, ác độc, nói những lời gây chia rẽ, nói những lời làm người nghe phải đau lòng, đau khổ, trong lòng đầy rẫy tham lam, tham dục, sân hận, tức giận, tà kiến, sau khi chết sanh vào đường ác, đọa xứ, địa ngục. Như vậy là từ chỗ đen đúa, hắc ám này đi đến chỗ đen đúa, hắc ám hơn nữa, từ vết máu đỏ này đi đến vết máu đỏ khác, đó là người sống trong bóng tối hướng đến bóng tối. Dạng người này có rất nhiều trong đời sống này, nghèo khổ, bệnh tật nhưng đầy rẫy sân hận, tật nguyền, thấp kém, hèn hạ nhưng bản ngã rất cao, hung dữ, hống hách, kiêu căng, tàn bạo, đó là từ chỗ tối tăm này đi đến chỗ tăm tối khác, từ hắc này đi đến hắc ám khác, từ vết máu đỏ này đi đến vết máu đỏ khác.

"Và thưa Ðại vương, thế nào là người sống trong bóng tối hướng đến ánh sáng? Ở đây, thưa Ðại vương, có một số người sanh trong gia đình hạ tiện, gia đình kẻ chiên-đà-la, hay gia đình người đan rổ, hay gia đình người làm bẫy sập, hay gia đình người làm xe, hay gia đình người đổ rác, nghèo đói, ăn uống thiếu thốn, sanh kế khó khăn, khó kiếm đồ ăn mặc. Và người ấy xấu xí, khó nhìn, còm lưng, nhiều bệnh, mù lòa, quẹo tay, bại chân hay nửa thân tê liệt. Người ấy không nhận được đồ ăn, đồ uống, vải mặc, xe cộ, vòng hoa, hương liệu, phấn sáp, không nhận được chỗ nằm, chỗ ở, đèn đuốc. Người ấy thân làm thiện, miệng nói thiện, ý nghĩ thiện. Do thân làm thiện, miệng nói thiện, ý nghĩ thiện, sau khi thân hoại mạng chung người ấy được sanh lên thiện thú, Thiên giới, cõi đời này.”

(Tương Ưng Bộ, Tập I - Thiên Có Kệ, Chương III. Tương Ưng Kosala, III. Phẩm Thứ Ba, I. Người)

Đó là người sanh ra trong gia đình nghèo khổ, phải đi nhặt phế liệu, ve chai, mua gánh bán bưng, đi làm thuê làm mướn, đi ở đợi, làm người giúp việc, làm thuê vác mướn, thân hình xấu xí, dị dạng, dị tật nhưng bản tánh hiền lương, thân làm thiện, miệng nói thiện, ý nghĩ thiện. Người này nghèo khó, khổ sở, bệnh hoạn nhưng người này ba nghiệp đều thiện, từ bỏ sát sanh, biết chia sẻ, phóng sanh, ăn chay, từ bỏ trộm cắp, biết bố thí, cúng dường, san sẻ cho người nghèo khổ, thấy bà cụ già qua đường khó khăn thì người này sẵn sàng dẫn qua, thấy một người đói nghèo thì người này sẵn sàng chia sẻ gói mì, tô cơm, thấy người này gặp tai nạn thì người này sẵn sàng cứu giúp. Như vậy người này nhắm mắt ra đi sẽ được sanh lên cõi lành, thiên giới hoặc ở cõi người nhưng thân phận sẽ thay đổi, dung sắc thay đổi, phước báo thay đổi.

"Thưa Ðại vương, ví như một người từ đất leo lên kiệu, hay từ kiệu leo lên lưng ngựa, hay từ lưng ngựa leo lên thân voi, hay từ thân voi leo lên lầu. Thưa Ðại vương, Ta nói người ấy với ví dụ như vậy. Thưa Ðại vương, như vậy là người sống trong bóng tối hướng đến ánh sáng".

(Tương Ưng Bộ, Tập I - Thiên Có Kệ, Chương III. Tương Ưng Kosala, III. Phẩm Thứ Ba, I. Người)

Đây là bài kinh Thế Tôn nói cho nhà vua nên ngài nói khác đi, ngày trước học bên nghiệp không có ví dụ này nhưng vì nhà vua chuyên sử dụng những thứ này nên Đức Phật lấy ra ví dụ. Một người tuy rằng nghèo khổ, xấu xí, tật nguyền, bệnh hoạn nhưng người này biết suy nghĩ những việc lành, nói lời lành, làm việc thiện nên sau khi thân hoại mạng chung nếu sanh lại cõi người sẽ ở đỉnh cao của cõi người, thân hình đẹp đẽ, khỏe mạnh, giàu có, địa vị cao quý, từ dung sắc cho đến sức khỏe, tài sản, y thực, cơm áo đều đầy đủ hoặc người này sẽ được sanh lên thiên giới.

Thú là thú hướng, chỗ hướng đến chứ không phải thú là thú vật, thiện là lành, thiện thú là chỗ lành, chỗ thiện, chỗ cao đẹp, ngược lại ác thú là con đường xấu ác. Con đường mà người đó hướng đến là cảnh giới lành, cảnh giới cao thượng, đẹp đẽ, phước báo, Đức Phật ví dụ giống như người đang đứng dưới đất được leo lên kiệu ngồi, từ kiệu leo lên lưng ngựa, từ ngựa lên ngồi trên thân voi, từ voi leo lên lầu cao, đây là những cảnh giới của phước đức trong các cõi giới của nhân thiên.

Kiệu đó là của vua chúa, quan quyền đầy phước báo, lưng ngựa là của chư thiên nhưng ở tầng thấp, sau đó lên lưng voi cũng là cảnh giới chư thiên nhưng ở cao cấp, sau đó lên lầu cao là phạm thiên Đế-thích, thiên chủ, chính vì vậy không thể nào tưởng tượng được quả dị thục của nghiệp, còn sống là con người tật nguyền, câm ngọng, đui mù vậy mà chết đi đời sau sanh lên cõi trời.

Thế giới vô thường này biến huyễn theo nghiệp nghiệp, nghiệp ác của chúng sanh, theo suy nghĩ lành hoặc suy nghĩ dữ, theo hành động lành hoặc hành động dữ, theo lời nói lành hoặc lời nói dữ, thế giới biến huyễn theo đó để tạo ra những thân tướng, hình hài, những đời sống tương xứng với nghiệp, tuy bán thân bất toại nhưng biết nghĩ đều lành, nói lời lành thì đời sau sẽ sanh lên chư thiên hoặc lên cõi này cũng ở trên đỉnh cao, có thể là vua chúa, hoàng hậu, công chúa, tướng quân. Mình thấy họ nghèo khổ rồi khinh thường vậy mà mấy năm sau gặp lại thì họ đã là giám đốc thì còn dám khinh thường họ không?

Như vậy đừng khinh thường người ta trong khi họ còn khó khổ cũng đừng vội tâng bốc khi họ giàu có, hãy nhìn sâu vào bên trong thiện nghiệp và ác nghiệp của họ để mình lo tu, nhìn thấy một người tật nguyền, bệnh hoạn để thấy sợ hãi với quả báo của ác nghiệp, nhìn sâu xa vào nguyên nhân tạo ra kết quả đó mà mình đang thấy, đang nghe, đang cảm thọ chứ đừng nhìn vẻ bề ngoài, nhìn sâu vào thứ bên trong đã tạo nên hình hài đó, vóc dáng đó, đẳng cấp đó, con người đó, bệnh tật đó, sắc tướng tật nguyền xấu xí đó, nhìn sâu vào để thấy sợ hãi đối với nghiệp ác, bất thiện pháp.

Nhìn vào con rắn không chỉ sợ con rắn mà phải biết sợ ác nghiệp, tâm độc ác, tâm lươn lẹo, luồn lách không chánh trực, không ngay thẳng cộng với sự sân hận nên tạo nên thân tướng trườn uốn không ngay thẳng, nghe tiếng chó sủa thấy xót xa vì đó là quả báo của ác nghiệp, của tâm sân hận gặp ai cũng sủa lên, la lên, chiêm nghiệp cho sâu sắc như vậy mới có cái thọ trong người, có cảm xúc, cảm nhận khi thấy, khi nghe, khi tiếp xúc như vậy thì bên trong mình sẽ tăng trưởng thiện pháp, thích thú với thiện pháp, sợ ác nghiệp, còn nhìn con chó là con chó, con rắn là con rắn thì đó là cái nhìn của phàm phu, nếu không nhìn đúng theo nghiệp sẽ sanh ra tham, sân, si, nghe tiếng chim hót lại thấy thích, dễ chịu, đó là tham ái, khoái, dục, muốn nghe hót thêm nữa chứ không biết rằng đó là tấm thân lông lá của nghiệp quả, đau khổ.

Nhìn những thân tướng dị hình, dị dạng, có những người bị dị dạng mang gương mặt chảy xệ như "mặt quỷ", có rất nhiều hình dạng nhìn rất khủng khiếp, giòi ăn hết lỗ mũi, miệng, không thể tưởng tượng được có những nghiệp quả đến mức độ như vậy, đó chỉ mới là thế giới của loài người và loài vật, mình vẫn chưa nhìn thấy được thế giới của ma, quỷ thần, nó còn khủng khiếp, dị hình hơn nữa.

Tất cả những cái đó là ác nghiệp, mà ác nghiệp được Đức Phật nói giống như đi từ bóng tối này đến bóng tối khác, sống trong bóng tối và hướng tới bóng tối. Thứ hai là người từ bóng tối hướng đến ánh sáng như người từ dưới đất lên kiệu, từ kiệu lên lưng ngựa, từ lưng ngựa lên lưng voi, từ lưng voi lên lầu cao, đó là nhờ lời nói lành, ý nghĩ lành, thân làm lành. Chúng ta cần cám ơn, tri ơn ba thiện hạnh này, phải cảm ơn suy nghĩ lành của mình, mình biết ơn lời nói thiện, nói nghe dễ thương, cảm ơn những hành động san sẻ, bao dung, tha thứ, giúp đỡ mọi người mà mình đã làm.

Đức Thế Tôn rất thương chúng sanh, ngài dạy từng chút một, ngài dùng biết bao ngôn ngữ, ví dụ rất nhiều hình ảnh để mình thấy được giá trị, lợi ích của thiện pháp, phước báo, ngài dùng vô số phương tiện, vô số pháp nghĩa để mình thấy sợ hãi đối với ác nghiệp, tránh xa ác nghiệp, từ bỏ ác nghiệp, viễn ly ác nghiệp, biết bao lời dạy, bao nhiêu ví dụ, bao nhiêu hình ảnh, bao nhiêu phương tiện, ngài gặp biết bao nhiêu người đủ mọi tầng lớp thì ngài đều dạy về nhân quả ác nghiệp.

II. Từ ánh sáng vào bóng tối

"Và thưa Ðại vương, thế nào là người sống trong ánh sáng hướng đến bóng tối? Ở đây, thưa Ðại vương, có số người sanh ra trong gia đình cao quý, trong gia đình Sát-đế-lỵ đại phú, hay trong gia đình Bà-la-môn đại phú, hay trong gia đình gia chủ đại phú, phú hào có tiền của lớn, có tài sản lớn, có nhiều vàng và bạc, có nhiều tài sản vật dụng, nhiều tiền của, ngũ cốc. Người ấy đẹp trai, dễ nhìn, dễ thương, với màu da tuyệt đẹp, mỹ miều. Người ấy lại nhận được đồ ăn, đồ uống, áo mặc, xe cộ, vòng hoa, hương liệu, phấn sáp, chỗ nằm, chỗ trú, đèn đuốc. Người ấy, thân làm ác, miệng nói ác, ý nghĩ ác. Do thân làm ác, miệng nói ác, ý nghĩ ác, sau khi thân hoại mạng chung, người ấy sanh vào cõi dữ, ác thú, đọa xứ, địa ngục". 

(Tương Ưng Bộ, Tập I - Thiên Có Kệ, Chương III. Tương Ưng Kosala, III. Phẩm Thứ Ba, I. Người)

Gia đình Sát-đế-lỵ đại phú là gia đình quan quyền, vua chúa, danh gia vọng tộc, như vậy là sanh trong gia đình phú quý biết tu hành, đó là gia đình Bà-la-môn và Sát-đế-lỵ có nhiều vàng bạc, tài sản, lương thực, dung sắc đẹp đẽ, dễ nhìn. Có dung sắc đẹp đẽ, quyền uy, có đầy đủ phương tiện vật chất sinh hoạt hằng ngày nhưng thân làm ác, miệng nói ác, ý nghĩ ác nên khi chết đi phải vào ba đường ác.

"Ví như, thưa Ðại vương, một người từ lầu leo xuống thân voi, hay từ thân voi leo xuống lưng ngựa, hay từ lưng ngựa leo xuống chiếc kiệu, hay từ chiếc kiệu leo xuống đất, hay từ đất leo xuống lòng đất tối tăm. Thưa Ðại vương, Ta nói người ấy với ví dụ như vậy. Thưa Ðại vương, như vậy là người sống trong ánh sáng hướng đến bóng tối".

(Tương Ưng Bộ, Tập I - Thiên Có Kệ, Chương III. Tương Ưng Kosala, III. Phẩm Thứ Ba, I. Người)

Xuống tới đất vẫn chưa hết mà còn phải rớt xuống lòng đất tối tăm cho nên nhân quả rất huyễn hóa, ảo hóa, vô lường, mới làm vua, làm tướng, làm hoàng hậu, đệ nhất phu nhân hoặc là vương tử, ở trong địa vị cao tột nhưng chỉ trong tích tắc, vừa nhắm mắt là rơi xuống vực sâu tăm tối, hố đen của hắc ám, nguyên nhân chỉ vì sát sanh, trộm cắp, lấy của không cho, tà dâm, tà hạnh trong các dục, nói dối, nói đâm thọc, nói lời ác độc, thiêu dệt, chuyện có nói không, chuyện không nói có, chuyện phải nói trái, chuyện trái nói phải, thấy thì nói không thấy, không thấy lại nói thấy làm cho sanh khởi lên sự oán hận, thù hằn lẫn nhau, trong tâm lại đầy rẫy sự tham muốn, bực bội, sân hận, cau có, hơn thua, ganh tỵ, đố kỵ, tranh đấu, cướp đoạt.

Từ dưới đất leo lên kiệu, từ kiệu lên lưng ngựa, từ lưng ngựa lên lưng voi, từ lưng voi leo lên lầu cao là khó khăn, gian khổ biết bao nhiêu nhưng đến chừng rớt xuống rất dễ dàng, từ lầu cao xuống thẳng lòng đất chứ không cần qua từng chặng, từ địa vị nhân chủ vua chúa, quan quyền hoặc từ chư thiên có thể rơi thẳng xuống địa ngục, cũng hoàn toàn là do ý nghĩ ác, nói lời ác, thân làm ác. Nếu muốn lên lầu cao thì phải quán xét, canh chừng, quản lý ý nghĩ, lời nói, hành động, chế ngự, đoạn tận những ác bất thiện pháp bên trong nội tâm, phải nhìn thấy những cảm giác, nghĩ tưởng, suy tư, hình bóng trong nội tâm mình, thấy được cái nào là thiện cái nào bất thiện, cái nào lành cái nào dữ, cái nào tội cái nào phước, cái nào nên làm cái nào không nên làm, nếu không nhắm mắt là dễ dàng rơi xuống vực thẳm tăm tối. Trong kinh đã ghi lại khi còn sống là một đệ nhất phu nhân nhưng lại ghen tuông, đổ than nóng lên một phụ nữa khác, lập tức đời sau sanh ra trở thành cô hồn, ngạ quỷ đi vất vơ vất vưởng, bị lửa than đổ lên mình kêu gào thảm thiết trong hư không.

"Ở đây, này Hiền giả, khi tôi từ núi Gijjhakùta bước xuống, tôi thấy một người đàn bà cằn cỗi, khô héo, dính đầy than mồ hóng, đang đi trên hư không... Người ấy kêu lên những tiếng kêu đau đớn.

Người đàn bà ấy, này các Tỳ-kheo, là đệ nhất phu nhân của vua xứ Kalinga. Bà ta vì ghen tức nên đã đổ lò than hồng lên trên một vương nữ khác".

(Tương Ưng Bộ, Tập II - Thiên Nhân Duyên, Chương VIII. Tương Ưng Lakkhana, II. Phẩm Thứ Hai, V. Người Ðàn Bà Khô Héo Ðã Rải Than Ðỏ trên Một Người Ðàn Bà)

Bây giờ nhan nhản trước mắt chúng ta có biết bao vụ đánh ghen, tạt Axit, lột đồ, đánh đập, cắt tóc giữa đường, ngoài ra còn biết bao ác nghiệp khác. Thật là khủng khiếp! Chúng ta không được để bản thân rơi xuống vực sâu hắc ám tối tăm đó. Như vậy sanh ra đẹp đẽ, có địa vị cao quý mà lại tạo ra ba nghiệp ác cho nên rơi xuống chỗ tăm tối, đó là sống trong ánh sáng mà hướng đến bóng tối.

III. Từ ánh sáng vào trong ánh sáng

"Và thưa Ðại vương, thế nào là người sống trong ánh sáng hướng đến ánh sáng? Ở đây, thưa Ðại vương, có người sanh ra trong gia đình cao quý, trong gia đình Sát-đế-lỵ đại phú, hay trong gia đình Bà-la-môn đại phú, hay trong gia đình gia chủ đại phú, phú hào, có tiền của lớn, có tài sản lớn, có nhiều vàng và bạc, có nhiều tài sản vật dụng, có nhiều tiền của, ngũ cốc. Và người ấy đẹp trai, dễ nhìn, dễ thương, với màu da tuyệt đẹp, mỹ miều. Người ấy lại nhận được đồ ăn, đồ uống, vải mặc, xe cộ, vòng hoa, hương liệu, phấn sáp, chỗ nằm, chỗ trú, đèn đuốc. Người ấy thân làm thiện, miệng nói thiện, ý nghĩ thiện. Do thân làm thiện, miệng nói thiện, ý nghĩ thiện, người ấy khi thân hoại mạng chung được sanh lên thiện thú, Thiên giới, cõi đời này. Ví như, thưa Ðại vương, một người từ chiếc kiệu này bước qua chiếc kiệu khác, hay từ lưng ngựa này bước qua lưng ngựa khác, hay từ thân voi này bước qua thân voi khác, hay từ lầu này bước qua lầu khác. Thưa Ðại vương, Ta nói người ấy với ví dụ như vậy. Thưa Ðại vương, như vậy là người sống trong ánh sáng, hướng đến ánh sáng".

(Tương Ưng Bộ, Tập I - Thiên Có Kệ, Chương III. Tương Ưng Kosala, III. Phẩm Thứ Ba, I. Người)

Đã giàu có, quyền quý lại biết lo tu tập những nghiệp lành, biết làm điều phước, tu tập thân, tu tập giới, tu tập tuệ, như vậy giống như từ chiếc kiệu này bước qua chiếc kiệu kia, từ lưng ngựa này bước qua lưng ngựa kia, từ lưng voi này bước qua lưng voi kia hay từ lầu này bước qua lầu kia.

IV. Bài kệ

"Thưa Ðại vương, những người như vậy có mặt, hiện diện trong đời.

Thưa Ðại vương, người nghèo đói bất tín và xan tham:

Keo kiết, ác tư duy,

Tà kiến, thiếu lễ nghĩa,

Nhiếc mắng và mạ lỵ

Sa-môn, Bà-la-môn,

Cùng các khất sĩ khác;

Không cho, làm phiền nhiễu,

Ngăn chận sự bố thí,

Cơm nước cho người xin;

Ðại vương, người như vậy,

Khi thân hoại mạng chung,

Sanh địa ngục hãi hùng.

Ôi Nhân chủ, người vậy,

Ðược gọi sanh bóng tối,

Và hướng đến bóng tối".

(Tương Ưng Bộ, Tập I - Thiên Có Kệ, Chương III. Tương Ưng Kosala, III. Phẩm Thứ Ba, I. Người)

Cách thuyết pháp của Đức Phật rất vi diệu, sau khi Đức Phật nói có bốn hạng thì ngài sẽ giải thích từng hạng người ra sao, giải thích xong hết ngài còn nói thêm cho mỗi hạng người một bài kệ để tóm tắt ý nghĩa đó. Ở đây Đức Phật đang giải thích người từ bóng tối đi vào bóng tối, đó là người vừa nghèo đói, bất tín và xan tham lại còn không có lòng tin nhân quả, không có lòng tin nghiệp báo, tội phước, không có lòng tin đối với tam bảo, suy nghĩ theo chiều tội lỗi, trong tâm là cái nhìn lệch lạc, tà kiến, còn bên ngoài là một đời sống không biết lễ giáo, không tình nghĩa cho nên khi chết là chắc chắn vào ba đường ác. Khi Minh Thành thấy những buổi lễ tôn nghiêm, trang trọng thường hay xúc động, rơi nước mắt, những người biết cung kính, lễ nghĩa thường sanh ra trong dòng dõi cao quý, họ rất chú trọng lễ nghĩa. Trong hoàng gia Anh Quốc, thời gian để đào tạo người trong hoàng gia rất dài, học từng cách đi, cách nói, từng cử chỉ hành động, thời xưa cung nữ vào cung phải học rất nhiều lễ nghi phép tắc, chào như thế nào, hành lễ ra sao, hành lễ với người nào đều có từng cấp độ khác nhau. Cho nên những người có lễ nghĩa, phép tắc thường sanh ra trong địa vị cao quý vì chỉ có địa vị cao thì người ta mới quen với lễ nghi đó, còn người phi lễ không biết giữ gìn, buông thả, bông đùa thì người đó không thể ở vị trí cao được nên tập khí quen như vậy. Những gia đình Nho giáo có cả một quyển lễ nghi để con cháu học theo, gọi là ngũ kinh, trong đó có kinh thi (thơ ca), kinh thư (truyền thuyết và biến cố về các đời vua cổ), kinh lễ (lễ nghi), kinh nhạc (nhạc kí), kinh dịch (âm dương, bát quái), năm bộ kinh này rất quan trọng, ngày xưa người ta vô cùng trú trọng lễ nghĩa nhưng bây giờ càng ngày càng mai một. Những người thiếu lễ nghĩa này còn sỉ nhục, mắng nhiếc các bậc tu hành Sa-môn, Bà-la-môn, chẳng những không bố thí mà còn ngăn chặn sự bố thí của những người khác, người như vậy chết đi sanh vào địa ngục hãi hùng, đó là người sanh trong bóng tối hướng đến bóng tối.

"Ðại vương, người nghèo đói

Có tín, không xan tham,

Bố thí, thiện tư duy,

Có chí, tâm không loạn,

Ðứng dậy và chào đón

Sa-môn, Bà-la-môn,

Cùng các khất sĩ khác,

Tu học hạnh thăng bằng;

Không ngăn sự bố thí,

Cơm nước cho người xin;

Ðại vương, người như vậy,

Khi thân hoại mạng chung,

Ðược sanh lên Thiên giới,

Ôi Nhân chủ, người vậy,

Ðược gọi sanh bóng tối,

Nhưng hướng đến ánh sáng". (Tương Ưng Bộ, Tập I - Thiên Có Kệ, Chương III. Tương Ưng Kosala, III. Phẩm Thứ Ba, I. Người)

Hạng người thứ hai này tuy đói thiếu nhưng có lòng tin, không có xan tham, làm hạnh bố thí, suy nghĩ điều hiền thiện, gặp các bậc tu hành có đức hạnh thì người này đứng dậy chào đón, cung kính, không ngăn người khác bố thí, người như vậy nhắm mắt ra đi được sanh vào cõi trời, đó là người sanh trong bóng tối nhưng hướng đến ánh sáng.

"Ðại vương, người hào phú,

Bất tín và xan tham,

Keo kiết, ác tư duy,

Tà kiến, không lễ nghĩa,

Nhiếc mắng và mạ lỵ.

Sa-môn, Bà-la-môn,

Cùng các khất sĩ khác,

Không cho, làm phiền nhiễu,

Ngăn chận sự bố thí,

Cơm nước cho người xin.

Ðại vương, người như vậy,

Khi thân hoại mạng chung,

Phải sanh vào địa ngục.

Ôi Nhân chủ, người vậy,

Ðược gọi sanh ánh sáng,

Và hướng đến bóng tối". (Tương Ưng Bộ, Tập I - Thiên Có Kệ, Chương III. Tương Ưng Kosala, III. Phẩm Thứ Ba, I. Người)

Người hào phú, giàu có nhưng không có lòng tin, không tin nhân quả, tội phước, tam bảo gì cả, giàu nhưng keo kiệt, xan tham, không bố thí lại còn gây phiền nhiễu cho những người tu hành, lại ngăn cản không cho người khác bố thí, chết đi phải sanh vào địa ngục, đó là người từ ánh sáng lại hướng vào bóng tối.

"Ðại vương, người hào phú,

Có tín, không xan tham,

Bố thí, thiện tư duy,

Có chí, tâm không loạn.

Ðứng dậy và chào đón,

Sa-môn, Bà-la-môn,

Cùng các khất sĩ khác,

Tu học hạnh hòa bình,

Không ngăn sự bố thí,

Cơm nước cho người xin.

Ðại vương, người như vậy,

Khi thân hoại mạng chung,

Ðược sanh lên Thiên giới,

Ôi Nhân chủ, người vậy,

Ðược gọi sanh ánh sáng,

Và hướng đến ánh sáng".

(Tương Ưng Bộ, Tập I - Thiên Có Kệ, Chương III. Tương Ưng Kosala, III. Phẩm Thứ Ba, I. Người)

V. Bố thí

Hạnh hòa hình là luôn hòa hợp, hòa kính, hòa ái, không ngăn sự bố thí của người khác, chào đón cung kính những người tu hành, người như vậy được sanh lên thiên giới, đó là người từ sánh sáng hướng đến ánh sáng. Bài kinh cuối cùng tên là Cung thuật nhưng lại nói về bố thí.

"Ở tại Sàvatthi.

Ngồi xuống một bên, vua Pasenadi nước Kosala bạch Thế Tôn:

-- Chỗ nào, bạch Thế Tôn, bố thí cần phải đem cho?

Thưa Ðại vương, tại chỗ nào, tâm được hoan hỉ".

(Tương Ưng Bộ, Tập I - Thiên Có Kệ, Chương III. Tương Ưng Kosala, III. Phẩm Thứ Ba, IV. Cung Thuật)

Nhà vua hỏi Thế Tôn nên bố thí ở chỗ nào, Thế Tôn trả lời rằng bố thí ở chỗ mà nhà vua thích, nhà vua vui thích chỗ nào thì đem cho chỗ đó. Khi bố thí mình vui thích thì mình mới đem cho, còn bị ép làm sẽ không muốn cho, mình đang có công việc gấp mà có người ăn xin cứ nài nỉ xin hoài, nhiều người khó chịu sẽ không cho nhưng người ăn xin không xin mà mình thích là đem cho, vì thế khi nhà vua hỏi nên bố thí chỗ nào thì Đức Phật nói nhà vua thấy chỗ nào mình thích, mình hoan hỉ thì bố thí ở chỗ đó.

Điều này rất đặc sắc mà từ người cho đến người nhận đều phải học, người ta thích, người ta hoan hỉ thì người ta cúng dường, nhất là người tu đừng nên vận động kêu gọi, đừng nên đưa ra chương trình này chương trình kia nhiều, người ta ở nhà khổ đau, khó khăn quá nên muốn vào chùa tìm chốn bình yên mà thấy kêu gọi đóng góp nhiều quá nên người ta sợ, đây là chỗ khéo léo mà Đức Phật dạy rất hay, người ta hoan hỉ thì người ta bố thí, người ta thích thì người ta làm, làm như vậy mới đúng nghĩa bố thí.

“Bạch Thế Tôn, chỗ nào cho được quả lớn?

-- Thưa Ðại vương, câu : 'Chỗ nào bố thí cần phải đem cho' khác với câu: 'Chỗ nào cho được quả lớn'. Thưa Ðại vương, cho người trì giới được quả báo lớn. Cho người không giữ giới không được như vậy".”

(Tương Ưng Bộ, Tập I - Thiên Có Kệ, Chương III. Tương Ưng Kosala, III. Phẩm Thứ Ba, IV. Cung Thuật)

Khi nãy nhà vua hỏi nên bố thí ở chỗ đâu, bây giờ hỏi cho chỗ nào được lợi ích lớn. Đức Phật nói rằng hai câu hỏi này khác nhau, nếu cho người trì giới sẽ có quả báo lớn, còn cho người không trì giới sẽ không được quả báo như vậy. Đây là những góc độ của sự bố thí, đầu tiên nhà vua hỏi nên bố thí chỗ nào, Thế Tôn trả lời chỗ nào nhà vua thích, nhà vua hoan hỉ thì hãy bố thí, sau đó nhà vua hỏi tiếp bố thí chỗ nào có lợi ích lớn, quả báo lớn thì Thế Tôn trả lời bố thí cho người giữ giới, người có giới hạnh, giới đức sẽ có quả báo lớn, ngược lại sẽ không được như vậy.

"Về vấn đề này, thưa Ðại vương, Ta sẽ hỏi Ðại vương, Ðại vương kham nhẫn như thế nào, hãy trả lời câu hỏi ấy như vậy.

Thưa Ðại vương, Ðại vương nghĩ thế nào? Ở đây, Ðại vương đang lâm chiến, và cuộc giao tranh đang tiếp diễn dữ dội. Rồi một thanh niên Sát-đế-lỵ đến, không có học tập, không có huấn luyện, không có thực tập, không có phục vụ, rụt rè, sợ hãi, run sợ. Ðại vương có chấp nhận người ấy không? Ðại vương có ủng hộ người ấy không, và một người như vậy có lợi ích gì cho Ðại vương không?

-- Bạch Thế Tôn, con không ủng hộ người ấy và một người như vậy không có lợi ích gì cho con cả.

Rồi một thanh niên Bà-la-môn, không có học tập... Rồi một thanh niên Vessa (thương gia) đến... Rồi một thanh niên Sudda (Thủ-đà: cùng đinh) đến, không có học tập...,... và một người như vậy không có lợi ích gì cho con cả.

-- Thưa Ðại vương, Ðại vương nghĩ thế nào? Ở đây, Ðại vương đang lâm chiến, và cuộc giao tranh đang tiếp diễn dữ dội. Rồi một thanh niên Sát-đế-lỵ đến, có học tập, có huấn luyện, có thực tập, có phục vụ, không rụt rè, không sợ hãi, không run sợ. Ðại vương có chấp nhận người ấy không? Ðại vương có ủng hộ người ấy không, và một người như vậy có lợi ích gì cho Ðại vương không?

-- Bạch Thế Tôn, con ủng hộ người ấy. Và một người như vậy có lợi ích cho con.

-- Rồi một thanh niên Bà-la-môn đến, có học tập... Rồi một thanh niên Vessa đến... Rồi một thanh niên Sudda đến có học tập..,.... và một người như vậy có ích lợi gì cho Ðại vương không?

-- Bạch Thế Tôn, con ủng hộ người ấy và một người như vậy có lợi ích cho con.

-- Cũng vậy, thưa Ðại vương, dầu cho một người có xuất gia từ một gia đình nào, từ bỏ gia đình, sống không gia đình, vị ấy đoạn trừ năm chi và hội đủ năm chi. Bố thí cho một người như vậy có quả báo lớn".

(Tương Ưng Bộ, Tập I - Thiên Có Kệ, Chương III. Tương Ưng Kosala, III. Phẩm Thứ Ba, IV. Cung Thuật)

Khi nói chuyện với vua, Đức Phật lấy những ví dụ trong triều đình, hoàng cung hoặc là chiến trận, quân lính nên nhà vua rất dễ hiểu.

"Thế nào là năm chi được đoạn trừ?

Tham dục được đoạn trừ,

Sân được đoạn trừ,

Hôn trầm thụy miên được đoạn trừ,

Trạo hối được đoạn trừ,

Nghi được đoạn trừ.

Năm chi này được đoạn trừ".

(Tương Ưng Bộ, Tập I - Thiên Có Kệ, Chương III. Tương Ưng Kosala, III. Phẩm Thứ Ba, IV. Cung Thuật)

Bố thí cho người đã đoạn tận năm triền cái tham, sân, hôn trầm, trạo cử và hoài nghi sẽ có lợi ích lớn, quả báo lớn.

"Thế nào là năm chi được hội đủ?

Vô học giới uẩn được hội đủ,

Vô học định uẩn được hội đủ,

Vô học tuệ uẩn được hội đủ,

Vô học giải thoát uẩn được hội đủ,

Vô học giải thoát tri kiến uẩn được hội đủ.

Năm chi này được hội đủ.

Chính một người như vậy, năm chi được đoạn trừ, năm chi được hội đủ, bố thí cho người như vậy được quả báo lớn".

(Tương Ưng Bộ, Tập I - Thiên Có Kệ, Chương III. Tương Ưng Kosala, III. Phẩm Thứ Ba, IV. Cung Thuật)

Ở trên Đức Phật nói đoạn trừ năm triền cái, ở dưới Đức Phật mở rộng ra thành tựu năm pháp giới, định, tuệ, giải thoát và giải thoát tri kiến của bậc A-la-hán Thánh Tăng. Phải hội đủ giới của bậc vô học, định của bậc vô học, tuệ của bậc vô học, giải thoát của bậc vô học, giải thoát tri kiến của bậc vô học, như vậy gọi là năm chi được hội đủ, bố thí và cúng dường cho những vị đó sẽ có quả báo lớn, lợi ích lớn. Chúng ta thấy có ba cấp độ, thứ nhất là giới, kế đó là người đoạn trừ năm triền cái và sau cùng là người thành tựu được năm vô học uẩn, mình chưa tu tới đâu hết nên phải cố gắng thêm rất nhiều.

"Thế Tôn nói như vậy. Rồi bậc Ðạo Sư lại nói thêm:

Vị vua đang lâm chiến,

Sẽ giữ lại thanh niên,

Cung thuật được thiện xảo,

Dõng mãnh đầy khí lực.

Nhà vua không tuyển chọn,

Theo tiêu chuẩn thọ sanh.

Cũng vậy, người có trí,

Kính lễ bậc hạ sanh,

Bậc này sống Thánh hạnh,

Nhẫn nhục và hiền hòa.

Hãy làm cốc thoải mái

Dựng nhà cho đa văn,

Rừng khô làm bể nước,

Hiểm trở, mở đường đi.

Với tâm tư thanh tịnh,

Hãy cho kẻ trực tâm,

Cho đồ ăn, đồ uống,

Cho vải mặc, trú xá.

Như mây giông gầm thét,

Chớp sáng trăm đầu mây,

Nước mưa ào ào xuống,

Tràn đầy đất thấp cao.

Cũng vậy, bậc thiện tín,

Ða văn, trữ đồ ăn,

Thỏa mãn kẻ khất sĩ.

Kẻ trí tâm hoan hỉ,

Phân phát vật ăn uống,

Nói 'Cho, hãy đem cho'.

Như vậy, la, gầm, thét,

Mưa móc như thần mưa,

Các công đức to lớn,

Do bố thí mang lại,

Ðem mưa ân, mưa móc,

Trên những người bố thí".

(Tương Ưng Bộ, Tập I - Thiên Có Kệ, Chương III. Tương Ưng Kosala, III. Phẩm Thứ Ba, IV. Cung Thuật)

Vị vua ra chiến trường lâm trận sẽ giữ lại người thanh niên biết bắn cung khéo léo, tức là biết võ nghệ trong chiến trận, giữ lại người mạnh mẽ đầy khí lực chứ nhà vua không tuyển chọn theo tiêu chuẩn của thọ sanh, không chọn theo giai cấp mà chọn theo tài năng, thực lực của người đó. Cũng vậy, người có trí sẵn sàng kính lễ, cung kính những người nhỏ hơn mình (hạ sanh) vì những người này sống thánh hạnh, không cần quan tâm địa vị, tuổi tác mà chú trọng vào đức hạnh hiền thiện, cao thượng, thánh thiện nên cung kính, đảnh lễ cho nên Đức Phật nói "hãy làm cốc thoải mái, dựng nhà cho đa văn", dựng nhà, làm cốc cho những bậc Đa văn Thánh đệ tử, những người tu hành nghe nhiều Thánh pháp của Đức Phật. "Rừng khô làm bể nước, hiểm trở, mở đường đi", nếu rừng khô nước thì đào giếng, dẫn nước vào cho các vị đó dùng, hiểm trở thì mở đường để các vị đó đi thông thoáng. "Với tâm tư thanh tịnh, hãy cho kẻ trực tâm, cho đồ ăn, đồ uống, cho vải mặc, trú xá", hãy bố thí, cúng dường cho người có tâm ngay thẳng, cho họ đồ ăn, đồ uống, vải mặc, phòng ốc, tịnh thất.

"Như mây giông gầm thét,

Chớp sáng trăm đầu mây,

Nước mưa ào ào xuống,

Tràn đầy đất thấp cao".

Đây là ví dụ mà Đức Phật dùng để nói lên lòng tin, cung kính, cúng dường, bố thí với những vị có đức hạnh tu hành. Những vị thiện nam tín nữ có lòng tin thì hãy đem đồ ăn để bố thí, cúng dường những vị khất sĩ sẽ có công đức to lớn do bố thí mang lại, công đức của những việc làm đó nhiều như mưa đổ ào ạt xuống đất. Trí tuệ của Đức Phật rất tuyệt diệu, gọi là khế lý khế cơ, khi nhà vua trình bày pháp gì thì Đức Phật lấy cái đó để giảng pháp, Đức Phật thường nói nhà vua về cái thiện, cái ác, cái phước, Đức Phật nói về cái vô thường, sanh tử.

Đức Phật khuyến khích để nhà vua biết cung kính, đảnh lễ, cúng dường những bậc hành, dù cho những người đó sanh trong giai cấp thấp, nghèo hoặc nhỏ tuổi nhưng vì người đó tu Thánh hạnh, cuộc sống cao thượng vì thế Đức Phật khuyến khích để nhà vua gieo trồng ruộng phước vô thượng ở đời để nhà vua có lợi ích trong hiện tại và tương lai.

VI. Ăn uống chừng mực

Trong bài kinh Đại thực Thế Tôn đọc cho nhà vua bài kệ, nhà vua gọi một thanh niên đứng đó học thuộc để đọc lên trong mỗi bữa ăn của nhà vua sẽ được thưởng một trăm đồng tiền vàng.

"Trú ở Sàvatthi.

Lúc bấy giờ, vua Pasenadi nước Kosala thường ăn bữa ăn thịnh soạn.

Rồi vua Pasenadi nước Kosala sau khi ăn xong, no đủ, thỏa thích, đi đến Thế Tôn sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn và ngồi xuống một bên.

Rồi Thế Tôn sau khi biết vua Pasenadi nước Kosala đã ăn xong, no đủ, thỏa thích, ngay lúc ấy nói lên bài kệ:

Con người thường chánh niệm,

Ðược ăn, biết phải chăng,

Chừng mực, cảm thọ mạnh,

Già chậm, tuổi thọ dài.

Lúc bấy giờ, thanh niên Bà-la-môn Sudassana đứng sau lưng vua Pasenadi nước Kosala.

Rồi vua Pasenadi nước Kosala gọi thanh niên Sudassana:

-- Này Bạn, hãy đi đến và học thuộc lòng bài kệ từ Thế Tôn và trong khi dọn ăn cho ta, hãy đọc lên bài kệ ấy. Ta sẽ cấp thường nhật cho ông một trăm đồng tiền vàng.

-- Thưa vâng, Ðại vương.

Thanh niên Sudassana vâng đáp vua Pasenadi nước Kosala, học thuộc lòng bài kệ này từ Thế Tôn, và trong khi dọn cơm cho vua Pasenadi nước Kosala, đọc lên bài kệ này:

'Con người thường chánh niệm,

Ðược ăn, biết phải chăng,

Chừng mực, cảm thọ mạnh,

Già chậm, tuổi thọ dài'.

Rồi vua Pasenadi nước Kosala tuần tự hạn chế, cho đến chỉ ăn nhiều nhất là một nàlika.

Vua Pasenadi sau một thời gian, thân thể được khỏe mạnh, tự tay thoa bóp chân tay và nói lên lời cảm hứng sau đây: 'Ôi, thật sự Thế Tôn đã thương tưởng nghĩ đến lợi ích cho ta, cả hai đời hiện tại và vị lai!'"

(Tương Ưng Bộ, Tập I - Thiên Có Kệ, Chương III. Tương Ưng Kosala, II. Phẩm Thứ Hai, III. Ðại Thực: Ăn nhiều)

Cuối cùng nhà vua có lời cảm thán về Đức Thế Tôn đã có lòng thương tưởng ngài trong đời hiện tại và tương lai, đó là tình nghĩa của hai vị Đế Vương và Pháp Vương, một người là vua của pháp, còn một người là vua ở đời. Trong bài kinh Pháp trang nghiêm, vua Ba-tư-nặc lạy dưới chân Đức Phật, xoa bóp bàn chân, Thế Tôn thấy vậy liền hỏi tại sao nhà vua làm thế thì vua Ba-tư-nặc hết lời xưng tán, chúc tụng Đức Thế Tôn.

"Vua Pasenadi nước Kosala bước vào căn nhà, cúi đầu đảnh lễ chân Thế Tôn, miệng hôn xung quanh chân Thế Tôn, tay xoa rờ xung quanh chân và tự xưng tên:

-- Bạch Thế Tôn, con là vua Pasenadi nước Kosala. Bạch Thế Tôn, con là vua Pasenadi nước Kosala.

- Thưa Ðại vương, do thấy nguyên nhân gì, Ðại vương lại hạ mình tột bực như vậy đối với thân này và biểu lộ tình thân ái như vậy?

-- Bạch Thế Tôn, con có pháp truyền thống (Dhammanvaya) này đối với Thế Tôn. 'Thế Tôn là bậc Chánh Ðẳng Giác, Pháp được Thế Tôn khéo giảng, chư Tăng đệ tử của Thế Tôn khéo tu tập hành trì'. Ở đây, bạch Thế Tôn, con thấy nhiều vị Sa-môn, Bà-la-môn hành trì Phạm hạnh có giới hạn trong mười năm, hai mươi năm, ba mươi năm, bốn mươi năm. Những vị này, sau một thời gian, khéo tắm, khéo phấn sáp, với râu tóc khéo chải chuốt, sống thụ hưởng một cách sung mãn, đầy đủ năm dục trưởng dưỡng. Ở đây, Bạch Thế Tôn, con thấy các Tỳ-kheo sống hành trì Phạm hạnh viên mãn, thanh tịnh cho đến trọn đời, cho đến hơi thở cuối cùng. Bạch Thế Tôn, con không thấy ngoài đây ra có một Phạm hạnh nào khác viên mãn, thanh tịnh như vậy. Bạch Thế Tôn, đây là pháp truyền thống của con đối với Thế Tôn. 'Thế Tôn là bậc Chánh Ðẳng Giác. Pháp được Thế Tôn khéo giảng, chư Tăng đệ tử của Thế Tôn khéo tu tập, hành trì'".

(Trung Bộ Kinh, 89. Kinh Pháp trang nghiêm)

Qua đây chúng ta học được rất nhiều điều, nhất là các vị cư sĩ hoặc tu sĩ, cuộc đối thoại của hai ngài đem lại lợi lạc cho 2600 năm sau. Có bốn hạng người, thứ nhất là từ bóng tối hướng đến bóng tối, thứ hai là từ bóng tối hướng đến ánh sáng, thứ ba là từ ánh sáng hướng đến bóng tối, thứ tư là từ ánh sáng hướng đến ánh sáng, sau đó Đức Phật ví dụ từ dưới đất leo lên kiệu, từ kiệu lên lưng ngựa, từ ngựa lên lên voi, từ lưng voi lên lầu cao, ngược lại từ ánh sáng hướng đến bóng tối giống như từ lầu cao xuống lưng voi, từ lưng voi xuống lưng ngựa, từ lưng ngựa xuống đất, từ đất xuống vực sâu.

Nếu muốn hướng đến ánh sáng thì phải suy nghĩ thiện, nói lời thiện, làm việc thiện, thầy Thiện Tuệ nói với Minh Thành thầy về đây ở bốn tháng mà thấy trong chúng không hề có xích mích, cự cãi, điều này hiếm có khó gặp, là điều hiền thiện, đây là điều làm cho Minh Thành rất an ủi, hoan hỉ, thầy nói công việc ai người đó làm, đúng giờ lên học, lên tu, tất cả đều hài hòa, ấm êm, tương kính nhau. Chúng ta hãy cố gắng giữ gìn sự hòa hợp này, cùng nhau hướng đến ánh sáng, đi vào ánh sáng, leo lên cao chứ đừng để rơi xuống vực sâu. Bên ngoài mưa bão nhưng trong lòng vẫn an trú vào pháp, chúng ta vẫn cố gắng tinh tấn học pháp, tu hành. Kính chúc tất cả quý vị dù bên ngoài có mưa bão đến đâu nhưng trong tâm vẫn được bình yên trong pháp.

./.