LÀM SAO THOÁT NGHIỆP NGƯỜI NỮ_ 5 SỰ XUẤT LY
Nikāya Giảng Giải
LÀM SAO THOÁT NGHIỆP NGƯỜI NỮ?
NĂM SỰ XUẤT LY
Thích Minh Thành
MỤC LỤC
TOC \o "1-3" \h \z \u I.Trình Pháp PAGEREF _Toc148806671 \h 1
II.Hệ lụy của nữ nhân và nam nhân PAGEREF _Toc148806672 \h 6
III. Năm sự xuất ly PAGEREF _Toc148806673 \h 9
1.Xuất ly khỏi Các Dục PAGEREF _Toc148806674 \h 10
2.Xuất ly khỏi Sân PAGEREF _Toc148806675 \h 13
3.Xuất ly khỏi Hại PAGEREF _Toc148806676 \h 16
4.Xuất ly khỏi Sắc PAGEREF _Toc148806677 \h 18
5.Xuất ly khỏi Có Thân PAGEREF _Toc148806678 \h 18
Trình Pháp
Giới Tử:
Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật!
Con kính bạch Sư Phụ! Con kính bạch quý Thầy, quý Ni Sư, quý Sư Cô cùng toàn thể đại chúng!
Kính thưa Sư Phụ, con rất xúc động khi nghe những lời Sư Phụ giảng dạy các bài kinh trong tạng kinh Nikāya.
Bản thân con là người nữ cũng có rất nhiều mặc cảm tự ti, bởi vì con cũng gặp được rất nhiều cảnh đau khổ trong đời sống. con luôn so sánh chính mình với những người nam nhưng sau một thời gian tu tập, sau một thời gian nội soi chính mình thì con thấy được những nhược điểm, cũng như ưu điểm của chính mình, con cảm thấy tự tin hơn.
Con cảm thấy biết ơn hơn, biết ơn những nghịch cảnh mà con gặp phải, biết ơn những lời dạy mà con đã được nghe và thực hành theo, cũng như sự thay đổi nhận thức trong mình, nhờ sự thay đổi nhận thức đó con cảm thấy rất hạnh phúc.
Con xin thành kính tri ân Sư Phụ, quý Thầy, quý Ni sư, quý Sư cô cùng toàn thể đại chúng.
Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật!
Phật Tử:
Con chân thành đảnh lễ Đức Phật Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni!
Con kính bạch Sư Phụ! Con kính thưa quý Thầy, quý Ni Sư, quý Sư Cô cùng toàn thể các bậc Hiền trí!
Con nghe Sư Phụ nói hôm nay chúng ta tiếp tục chiêm nghiệm những lời Phật dạy và Sư Phụ giảng tiếp chuỗi bài về “Làm sao thoát nghiệp người nữ?” trong con trào dâng một cảm xúc xúc động về trí tuệ vô thượng, tối thượng của Đức Thế Tôn, tâm thương bao la rộng lớn của Người đối với chúng sanh trong đó có chúng con là những thân phận đàn bà với một cái tâm xấu xa, đê tiện, bẩn thỉu, tật đố, gian tham. Ngài đã chỉ ra rất tường tận tại sao chúng con lại mang thân nữ đau khổ như vậy. Con có nghĩ về lời của một Phật tử băn khoăn về lời Phật dạy là con dao hai lưỡi nhưng đã được Sư Phụ chỉ dạy từ rất lâu rồi, cái thân dơ bẩn, hôi thối, ghê tởm này nó là mồi nhử của ác ma, những thân đàn bà là mồi nhử của đàn ông, những thân đàn ông là mồi nhử của đàn bà, vì sự ngu si, vô minh mà có những chúng sanh là những Phật tử, là những cư sĩ đã phạm giới, sống không chung thủy thì ắt phải chịu những ác nghiệp đau khổ, vào địa ngục.
Như trong bài kinh Thập Thiện Giới Ngài chỉ dạy rất đầy đủ, cho nên nếu nghe cẩn thận, tỉ mỉ lời dạy của Đức Thế Tôn và quán chiếu đầy đủ thì sẽ thấy được những ác nghiệp phải chịu đựng trong vô lượng, vô biên kiếp, phải đọa trong địa ngục bởi những hành vi sống không chung thủy làm đau khổ cho người khác chứ không hề đơn giản. Con có một cảm thọ đặc biệt rất hạnh phúc từ khi con về Linh Quy tu tập, lòng tin của con đối với Tam Bảo, cũng như lời Sư Phụ đã chỉ dạy bởi những pháp cung kính; cung kính tùy thuận bậc Đạo sư, cung kính tùy thuận Chánh Pháp, cung kính tùy thuận Chúng Tăng, cung kính tùy thuận Học Giới, cung kính tùy thuận Thiền Định, cung kính tùy thuận không phóng dật, cung kính tùy thuận nghênh đón. Trong những ngày vừa qua con thấy ngay những Phật tử cao tuổi về đây tu tập cũng đã dạy cho con rất nhiều điều bổ ích cho sự tu tập, không nói gì đến bậc Trưởng Thượng. Con rất hạnh phúc con có thể khẳng định rằng niềm tin của con đối với Tam Bảo, đối với Thánh Giới, đối với sự chỉ dạy của Đạo Sư, của Sư Phụ là tối thượng tối thắng ở đời này. Điều đó con đã thấy rất rõ trong con, có thể nói là tu không tính thời gian.
Người ngu dù trọn đời
Thân cận người có trí
Không biết được chánh pháp
Như muỗng với vị canh
Người trí dù một khắc
Thân cận người có trí
Biết ngay chân diệu pháp
Như lưỡi với vị canh
(Kinh Pháp Cú – Phẩm Ngu)
Chính con đã cảm nhận được điều này, cho nên khi bước về Linh Quy Pháp Ấn tu tập được nghe Sư Phụ giảng bài pháp đầu tiên là con đã dừng lại tại nơi này để con tu tập, con thấy đây là điều tối thượng, tối thắng duy nhất ở cuộc đời này. Trong khi đó con đã già, con nhiều bệnh sắp chết và từng ngày một con cảm nhận được sự tu học của con ngày càng tinh tấn, tất nhiên trong quá trình tu tập con cũng nhận ra có những lúc con cần phải tinh tấn hơn, có những lúc chưa theo được ý nguyện của mình. Những ngày được Sư Phụ chỉ dạy, những lời chỉ dạy của Sư Phụ đã giảng giảng rất nhiều những bài về thân phận phụ nữ của chúng con, con lại càng trào dâng niềm biết ơn đối với Đức Phật, con biết ơn Tam Bảo, con biết ơn bậc Đạo sư, và Sư Phụ cũng như quý Thầy, quý Ni sư, quý Sư cô cùng toàn thể các bậc Hiền trí rất nhiều.
Nhờ sự tu tập Chánh Pháp tối thượng ở nơi này mà con từ một người vô minh, mù, trước đây con cứ cho cái thân này là của con, con tham lam, con sân hận, con ngu si, con phóng giật, bản ngã và con đã phải chịu rất nhiều sự đau khổ, dằn vặt, con làm đau khổ cho con, làm đau khổ cho những người xung quanh, kể cả những người con thân yêu nhất. Nhưng nhờ con học được Thánh Pháp tối thượng, Thánh trí Năm uẩn, nhận diện được thân tâm của mình, Sư Phụ chỉ dạy rất cặn kẽ, cẩn thận.
Những giây phút còn ở đây, ngoài những bài giảng của Sư Phụ, những giây phút con được gặp Sư Phụ đều là những bài pháp đặc biệt sâu sắc dành cho con, chính nhờ như vậy mà con đã tập nhìn thân tâm của con, con đã biết nhiếp phục dục và tham, bản ngã trong thâm tâm của mình. Con còn nhớ lần đầu tiên Sư Phụ dừng lại không giảng vì con quá ngu si, con ngu đến mức mà con không biết được rằng Sư Phụ nói con phải viết nhật ký tu học mà con không biết viết nhật ký là cái gì, con cũng không biết đó là sự chống đối, con ngu đến như vậy. Chính vì nhờ cái buổi đầu tiên Sư Phụ dừng lại không giảng là vì quá thương chúng con, sao chúng con có thể vô minh đến như vậy? Vô minh đến như vậy thì sự chỉ dạy của Sư Phụ cũng là vô ích nó không mang lại hiệu quả trong tu tập, làm cho Sư Phụ rất buồn, con đã suy ngẫm về điều đó và con đã có bài trình pháp đầu tiên. Chính bài trình pháp với Sư Phụ đã giúp con có một định hướng rất đúng đắn trong quá trình tu tập, con từ một người bị vô minh bao vây, bủa vây, vây hãm, làm nô lệ, làm tôi đòi cho những tham ái đối với thân bẩn thỉu này, dần dần trí tuệ của con được mở, nhờ con mắt trí tuệ của bậc Đạo sư, của Sư Phụ đã mở cho con, càng ngày con càng nhìn rõ hơn về thân tâm của mình, con không chỉ nhìn những rác thô mà con đã nhìn thấy được những rác ngầm ở bên trong. Thật sự trong những ngày vừa rồi cũng là một tình huống để con tu. Sư Phụ nói là phải tu để khi có hữu sự thì lúc đó mới biết tâm của mình như thế nào? Và hữu sự đối với con trong thời gian vừa qua là bố con bị bệnh, ông đã 92 tuổi rất thương nhớ con nhưng con biết đó cũng là tình thương của tham ái, Sư Phụ đã dạy chúng con, chính con cảm nhận được là con ở đây tu tập tâm của con nó hiền dần, tập tu Bốn tâm vô lượng, tập nhiếp phục dục, tham, sân, si và bản ngã, mà cội gốc của sinh tử luân hồi đó là tham ái. Con phải diệt trừ được, càng thương cha mẹ bao nhiêu con học tập tấm gương của Sư Phụ là phải tu tập tinh tấn, tu tập tinh tấn là luôn phải nhớ thân này là bất tịnh, là vô thường, là khổ đau và vô ngã. Chính vì vậy trong những ngày vừa rồi nhìn lại thân tâm của mình và có nhắc nhở con an tâm trong tu tập.
Lời Sư Phụ đã dạy cho chúng con lúc này con rất nhớ từ khi bố còn ốm con càng nhớ hơn; báo đáp cho mẹ, biết ơn cha mẹ đó chính là tu tập trong Thánh Pháp tối thượng này, con cảm nhận được chính bố con cũng đang rất hạnh phúc bởi vì mặc dù bố rất nhớ con nhưng tâm của bố con rất hướng thượng, mong con về sống với con làm sao tình cảm của bố con thật là tốt đẹp, đó cũng là cảm thọ hiền thiện của bố con, dù bố con có ra đi mà con không có mặt ở nhà thì con vẫn thấy hạnh phúc, những cảm thọ hiền thiện của bố con rất có lợi ích trong hiện tại và cũng như trong tương lai và con đã an trú trong những ngày tu vừa rồi.
Dốc một lòng quyết chí tiến tu đi
Mẹ cha già cội sắp ra đi
Làm con báo hiếu bằng giác ngộ
Ân nghĩa sinh thành mãi khắc ghi
Trong những ngày vừa rồi con đã cảm nhận được con rất hoan hỷ, con không bị vô minh bủa vây, bao vây, vây hãm nữa. Con thấy năm uẩn trong con đang dần bao vây vô minh, bủa vây vô minh, con sẽ vây hãm vô minh và chắc chắn đến lúc con sẽ đâm thủng vô minh. Lòng biết ơn của con đối với Tam Bảo và Thánh Giới cũng như bậc Đạo sư và Sư Phụ là vô tận và vô biên. Con biết mình còn nhiều rác bẩn trong tâm, có những rác con còn chưa nhiếp phục, đoạn tận được, nhưng bản thân con sẽ cố gắng. Con cảm ơn Phật rất nhiều, con thật là hạnh phúc, sao con có thể có những hạnh phúc to lớn vô thượng, tối thượng đến như vậy? Mỗi khi con nghĩ về bậc Đạo sư con trào dâng nước mắt, con cảm ơn người rất nhiều, Sư Phụ cũng vậy đã chỉ dạy cho chúng con, con tin tưởng rằng con không những thoát khỏi thân nữ bẩn thỉu, tật đố, gian tham, ích kỷ, hẹp hòi, nhỏ mọn, ghim gút và con rất hi vọng con có một ước muốn một niềm tin là con sẽ thoát khỏi sinh tử luân hồi, nhờ sự chỉ dạy của Sư Phụ, của bậc Đạo sư, những lời dạy tối thượng của Đức Thế Tôn. Lời cuối con muốn nói lên lòng biết ơn Sư Phụ rất nhiều, con biết ơn bậc Đạo sư rất nhiều, con mong người được mạnh khỏe chỉ dạy cho chúng con, cứu vớt chúng con những tâm mê đã chìm đắm trong sinh tử, của lòng tham, lòng dục trong sự ngu si, trong sự vô minh, phóng giật và bản ngã.
Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật!
Hệ lụy của nữ nhân và nam nhân
Chúng ta tiếp tục chủ đề Làm Sao Thoát Ra Nghiệp Người Nữ? Đây là chủ đề rất lớn, rất lợi ích cho Ni chúng và nữ giới, cũng như cho nam nhân. Thế Tôn nói không cái gì thừa và cũng không nói gì thiếu.
Và này các Tỷ-kheo, như thế nào là không hệ lụy?
Một nữ nhân, này các Tỷ-kheo, không tác ý nội nữ căn, nữ hành, nữ y phục, nữ loại, nữ dục, nữ thanh, nữ trang sức thời nữ nhân ấy không tham đắm trong ấy, không thích thú tại đấy.
Một nữ nhân, này các Tỷ-kheo, không tác ý nội nữ căn, nữ hành, nữ y phục, nữ loại, nữ dục, nữ thanh, nữ trang sức thời nữ nhân ấy không tham đắm trong ấy, không thích thú tại đấy.
Do không tham đắm trong ấy, không thích thú tại đấy nữ nhân ấy không muốn có sự hệ lụy ở ngoài. Do duyên hệ lụy ấy, khởi lên lạc, hỷ, nữ nhân ấy không ước muốn lạc, hỷ ấy.
Này các Tỷ-kheo, do không thích thú trong nữ tánh của mình, các loài hữu tình không đi đến hệ lụy với những người đàn ông.
Như vậy, này các Tỷ-kheo, nữ nhân thoát được nữ tánh của mình.
Một nam nhân, này các Tỷ-kheo, không tác ý đến nội nam căn, nam hành, nam y phục, nam loại, nam dục, nam thanh, nam trang sức mà nữ nhân ấy không tham đắm trong ấy, không thích thú tại đấy.
Do không tham đắm trong ấy, không thích thú tại đấy nên không tác ý đến nữ căn ở ngoài, nữ hành, nữ y phục, nữ loại, nữ dục, nữ thanh, nữ trang sức mà nam nhân ấy không tham đắm trong ấy, không thích thú tại đấy.
Do không tham đắm trong ấy, không thích thú tại đấy nên nam nhân ấy không ước muốn có sự hệ lụy ở ngoài. Do duyên với hệ lụy ấy, khởi lên lạc, hỷ nên nam nhân ấy ước muốn lạc, hỷ ấy.
Này các Tỷ-kheo, do không thích thú trong nam tánh của mình, các loài hữu tình không đi đến hệ lụy với những nữ nhân.
Như vậy, này các Tỷ-kheo, nam nhân thoát được nam tánh của mình. Như vậy, này các Tỷ-kheo, là không hệ lụy.
Này các Tỷ-kheo, đây là pháp môn hệ lụy và ly hệ lụy.
(Tăng Chi Bộ Kinh tập III, Chương Bảy Pháp. V. Phẩm Đại Tế Đàn, bài kinh Hệ Lụy)
---
Bài kinh này rất thâm sâu, phá sự tham ái và chấp thủ tự thể. Khi được bậc Đạo Sư hướng dẫn phần này này, Minh Thành vô cùng sửng sốt, bàng hoàng, kinh ngạc; hiện tại vẫn đang cố gắng thực tập. Bậc Đạo Sư dạy rằng, khi quán diệt dục, ta cần thường hướng vào chỗ phát dục và tác ý đây là súc sanh, thú vật; vì cái chỗ này mà mình không tu hành được. Tại sao trên con người chúng ta lại có bộ phận này? Chính chỗ bẩn thỉu, nhơ nhớp, hèn hạ, xấu hổ này đã ràng buộc cả thế giới. Tất cả hữu tình không đi ra khỏi chỗ nhỏ bé đó. Nó làm cho chúng sanh say mê, điên đảo, điên loạn, đốt nhà, giết người; làm cho người tu phá vỡ đạo nghiệp; người đời tan nhà nát cửa; vợ chồng phân ly, tà dâm, ngoại tình, bứt tóc, đấm ngực, bất tỉnh, tạt axit, đâm, chém, giết hại, ghen tuông cũng vì chỗ đó gây nên.
Cho nên, chúng ta phải thường hướng vào chỗ phát dục để tác ý diệt dục trước khi đi ngủ và lúc mới vừa thức dậy. Bất cứ lúc nào nhớ nghĩ tới dục là không được chấp nhận, không được ưa thích. Từ khi hiểu điều này, Minh Thành rất thấy chấn động, đồng thời thấy được nguyên lý trong nhân quả hệ và trong Thánh trí thật là sâu sắc. Tức là khi mình không còn ham, không còn thích, không còn ưa, không còn muốn thì mình sẽ giải thoát, từ bỏ.
Người nam cũng vậy và người nữ cũng vậy, đều vì một chút dục ái mà dẫn đến đau khổ, tan nát, sụp đổ, điên loạn hết cả thế giới này. Cho nên chúng ta phải quán dục ái này là hèn hạ, bẩn thỉu, tồi bại, xấu hổ, nhục nhã, nhơ nhớp, chẳng khác gì loài súc sanh. Chúng ta cần phải tác ý một cách mạnh mẽ, mãnh liệt như vậy để diệt dục.
---
Những lời Đức Phật dạy về người nữ trong kinh tạng Nikāya là đại trí tuệ thậm thâm toàn diện. Ngài nói rằng: Một nữ nhân, này các Tỷ-kheo, không tác ý nội nữ căn, nữ hành, nữ y phục, nữ loại, nữ dục, nữ thanh, nữ trang sức thời nữ nhân ấy không tham đắm trong ấy, không thích thú tại đấy. Trong đó:
Nữ căn tức là chỉ cho bộ phận sinh dục của người nữ; nữ hành tức là cử chỉ, hành động của người nữ; nữ y phục tức là y phục của người nữ; nữ loại là những gì thuộc về người phụ nữ; nữ dục là những gì ham muốn của người phụ nữ.
Đầu tiên, là sự diệt dục như đã trình bày ở trên.
Kế tiếp là những hành động của người con gái, phải có sự chánh niệm tỉnh giác. Người tu cũng vậy, đôi khi vì không có sự chánh niệm nên cũng tạo dáng, cũng tỏ vẻ ẻo lả, yếu đuối, đó là những hành động để cho người khác chú ý. Hoặc trong suy nghĩ cho rằng mình là người nữ yếu đuối, cần người khác giúp… Những suy nghĩ đó là suy nghĩ hệ lụy, suy nghĩ lệ thuộc, suy nghĩ không tự chủ.
Như đã biết, bậc Đạo sư chúng ta là một người nữ. Nhưng Ngài vẫn có thể thành tựu Thánh Pháp tối thượng trong một thời đại xa Phật đã mấy ngàn năm. Những lời chỉ dạy của Ngài là tuyệt đối không có thể khác được, một người đã thành tựu pháp rồi thì những sự thấy biết của vị đó là tuyệt đối. Sự tu tập của chúng ta là một cuộc chiến đấu dữ dội, trường kỳ kháng chiến trong từng ý niệm, từng suy nghĩ nơi nội tâm, nếu mình thực sự xuất ly ngũ uẩn đoạn tận sanh tử.
Người nam cũng vậy, nhìn lại xem tập khí của mình là gì? Thông thường tập khí của người nam là bản ngã, hơn thua, sân hận, ương ngạnh, cứng cỏi. Tập khí của người nữ là ghim gút, tật đố, nhỏ hẹp, nhỏ mọn. Cho nên, nam hay nữ đều có ưu điểm và khuyết điểm; không phải chỉ có người nữ mới xấu, còn người nam thì tốt, vì nếu điều gì của người nam cũng tốt thì đã sanh thiên hết rồi, đâu phải trôi lăn trong sanh tử và ngày giờ này còn ngồi đây nghe pháp.
Tiếp theo là Nữ y phục, nữ loại, nữ trang sức, người nữ thường rất phiền não về những vật dụng này. Người tu chúng ta thì y áo như nhau, không phải lo nhiều về y áo. Xả được mái tóc xuống là cả một sự chiến đấu tư tưởng không phải là chuyện dễ. Nhưng nhờ mình xuống tóc, xuất gia, buông bỏ những vật chất bên ngoài nên mình được nhẹ bớt rất nhiều mặt. Còn người ngoài đời không biết đủ, họ cứ tham muốn, chạy đuổi theo những vật chất bên ngoài nên rất phiền não về y phục và rất nhiều thứ khác.
Qua đoạn kinh trên, chúng ta thấy rằng, Đức Phật nói đến từng chân tơ kẽ tóc, từng phương diện, khía cạnh về người nữ, không còn sót một điều gì. Một khi Thánh trí của Ngài hướng tâm tới một chỗ nào thì tất cả các pháp đều hiển lộ ra. Chúng ta cần nghiên cứu kỹ những bài kinh như thế này để hiểu được tâm tư, tập khí, tính tình của người nữ, nhờ vậy mai sau có thể nối gót theo Thánh Nữ Kiều Đàm Di, lãnh đạo được Nữ chúng. Hơn nữa, người đã thể nhập Thánh trí thì không còn phân biệt nam nữ, không còn tâm phàm phu nữa. Vì những người đã thành tựu pháp đã vượt thoát khỏi tập khí, nghiệp lực của nam và nữ, trong tâm họ chỉ còn Thánh trí mà thôi.
III. Năm sự xuất ly
Sau khi đã tìm hiểu những tập khí, những sự hệ lụy của người nữ. Chúng ta sẽ tìm hiểu về cách xuất ly, thoát ra khỏi những tập khí ấy qua bài kinh Xuất Ly – Tăng Chi Bộ Kinh tập II:
Này các Tỷ-kheo, có năm giới đưa đến xuất ly này. Thế nào là năm?
Năm giới xuất ly ở đây nghĩa là năm phạm trù đưa đến sự giải thoát.
Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo tác ý về dục, tâm không phấn chấn trong các dục, không tịnh tín, không an trú, không quyết định. Nhưng khi tác ý đến viễn ly, tâm liền phấn chấn trong viễn ly, được tịnh tín, được an trú, được quyết định. Tâm ấy của vị ấy là khéo làm, khéo tụ tập, khéo tăng trưởng, khéo giải thoát, khéo không liên hệ đến dục. Và do duyên với dục, khởi lên các lậu hoặc não hại, nhiệt não, vị ấy giải thoát khỏi chúng, không cảm giác thọ ấy. Đây gọi là xuất ly khỏi các dục.
Xuất ly khỏi Các Dục
Đầu tiên là xuất ly khỏi các dục, Đức Phật dạy rằng: “Tỷ-kheo tác ý về dục thì tâm không phấn chấn ở trong các dục”. Nghĩa là một người tu tập tinh tấn sẽ không thấy phấn chấn khi thân tâm sanh khởi những sự ham muốn, ưa thích về dục; không phấn khởi trước những hình ảnh về dục ám ảnh trong tưởng; không ưa thích đối với những cảm giác về dục, suy nghĩ về dục trong thọ và hành. Người này cũng “không tịnh tín vào các dục”, tức là không đặt niềm tin cho rằng dục là vui sướng; “không an trú vào các dục”, tức là khi những suy nghĩ, cảm giác, tư tưởng, hình bóng về dục sanh khởi lên thì tâm người này không an trú vào đó, không đặt mình vào đó, không đi theo nó; “không quyết định trong các dục”, nghĩa là không ưa thích, tham đắm trong dục, không nghĩ nó là vui sướng.
Trong kinh Đức Phật dạy rằng tâm không phấn chấn trong các dục, không tịnh tín, không an trú, không quyết định. Nhưng khi tác ý đến viễn ly, tâm liền phấn chấn trong viễn ly, được tịnh tín, được an trú, được quyết định. Như giữa tối và sáng, giữa đen và trắng, giữa nhiễm và tịnh: tịnh sẽ mạnh hơn nhiễm, trắng nhiều hơn đen, sáng xóa tan tối. Cũng vậy, người tinh tấn tu tập khi tác ý về viễn ly thì tâm liền phấn chấn trong viễn ly, được tịnh tín, được an trú, được quyết định. Tâm về ly dục của người này mạnh hơn những cảm thọ của dục, Đức Phật nói rằng tâm ấy của vị ấy là khéo làm, khéo tụ tập, khéo tăng trưởng, khéo giải thoát, khéo không liên hệ đến dục. Thế Tôn khen vị ấy là người khéo làm, khéo tu tập.
Nghĩa rộng của tu tập tức là tích tập những pháp quán, tích tập những sự tác ý, tích tập công phu trong quán bất tịnh, tức là thường xuyên thực tập quán bất tịnh, quán tứ đại, quán 32 thể trược, quán 9 giai đoạn tử thi. Nhờ nghe đi nghe lại nhiều lần những lời dạy của Đức Phật; sau đó nghiền ngẫm, suy xét tới lui, mà chúng ta dần dần chất chứa, tích tụ trí tuệ; đó gọi là tâm khéo tu tập. Cho nên, sự tu của ta là sự lặp tới lặp lui, nghe đi nghe lại, quán tới quán lui, thiền quán xuyên suốt về những pháp hành trong kinh tạng Nikāya. Lúc đầu thì mình thấy chưa quen, nhưng từ từ sẽ thích nghi dần với những gì được học, cuối cùng trí tuệ này sẽ thẩm thấu và trở thành xác quyết trong tâm mình. Lúc đó là thể nhập Thánh trí, nghĩa là cái nhìn của mình không còn phàm phu như trước, mà ta sẽ nhìn mọi thứ bằng trí tuệ của Đức Phật nên được gọi là thể nhập Thánh trí.
Tâm khéo tăng trưởng nghĩa là ngày nào vị này cũng nghe pháp, ngày nào cũng suy tư, ngày nào cũng quán chiếu, tác ý theo chiều hướng ly dục. Khi mình soi gương sẽ sanh khởi những thọ, tưởng, hành, trong đó có tâm ái vào tự ngã. Hoặc là thầm thầm, hoặc là thô, hoặc là tế mà trong thọ, tưởng, hành đó có sự chấp nhận, hài lòng hay bằng lòng về tự ngã, về sắc thân, về hình hài của chính mình. Lúc đó ta phải phá tư tưởng đó bằng cách tác ý: “Chính vì gương mặt này mà mình khổ đau, mình bị tham ái, mình bị trói cột, mình bị hệ lụy trong gương mặt này. Chính vì chấp nhận gương mặt này, mà đời đời kiếp kiếp mình chịu cảnh nước mắt giàn giụa, bệnh hoạn, khốn khổ, tai họa, tai nạn”. Hãy giải phẫu gương mặt này, hãy lột da mặt này ra, để nhìn thấy cái đầu lâu. Hãy bỏ hai con ngươi này xuốn, lấy hai tròng mắt bỏ xuống, bứt hết tóc bỏ xuống, gỡ lớp da ra, mở hộp sọ ra, sẽ nhìn thấy khối óc. Chúng ta cần thường thực tập quán sát và giải phẫu chính mình như vậy.
Lúc bắt đầu thực tập pháp này, Minh Thành rất bất ngờ khi hiểu được hình ảnh tự thân của chính mình ở trong tâm chính là ngã kiến, là thân kiến. Giai đoạn đầu Minh Thành chưa quen, chưa chấp nhận được, nhưng khi đã có sự thực tập và quán sát nhất định, mình mới thật sự thấy đúng. Tức là khi chúng ta nghĩ về chính mình thì sẽ có một hình bóng của mình ở trong tâm và hình bóng ở trong tâm đó là thân kiến. Ví dụ, khi chuẩn bị đi xuống ăn sáng, chúng ta thấy có hình bóng của mình đi xuống ăn sáng, hình bóng đó là thân kiến. Tại vì trong tâm mình luôn nắm giữ hình bóng về tự thân, luôn cho đó là mình, điều này hết sức là thâm sâu. Chúng ta cho rằng hình bóng trong tâm là mình thì làm sao thoát khỏi tứ đại này được, làm sao thoát khỏi sắc, thọ, tưởng, hành, thức này. Tới khi tứ đại tan rã ra thì mất thân, mình sẽ đau khổ, hoảng loạn; sẽ đi tìm một “cái mình” mới, đó là sắc thủ ẩn, đó là thân kiến. Cho nên, chúng ta phải tu cho đến lúc nào không thấy hình bóng tự ngã của mình, không có cái tôi ở đây, mà tất cả đều là trống rỗng, không có hình bóng nào trong tâm, không có hình bóng nào mà ta tự cho đó là mình nữa thì khi ấy ta mới phá nổi được thân kiến, kiến chấp về thân.
Đó là lý do chúng ta để bộ xương ở ngay trước mặt, tức là lấy hình ảnh bộ xương để phá kiến chấp về thân. Quán bất tịnh cũng là cách đem sự thật hiện thực, thực tại, thực tế vào tâm để phá ảo tưởng về tự ngã. Đó là phá kiến chấp về thân, phá sắc thủ uẩn, phá thân kiến, phá vỡ hình bóng ảo tưởng về tự ngã bên trong. Đây cũng chính là mục đích thâm sâu của phương pháp tu Tứ Niệm Xứ, mà đầu tiên là quán thân trên thân. Đi từ bên ngoài vào bên trong, từ cái thô như đi, đứng, ngồi, nằm, hơi thở, hành động; sau đó mới đi vào những thành phần cơ bản cấu tạo sắc thân này là đất nước gió lửa; sau đó là 32 bộ phận trong thân và chỉ ra cái tôi ở bên trong sự vận hành hoạt động của nó, tính chất dơ bẩn của nó như thế nào? Bất tịnh cấu nhiễm như thế nào? Rồi nó trải qua sự hủy hoại nó tan vỡ, tất cả quá trình của nó.
Trong Trưởng Lão Tăng Kệ, có một vị Tỳ-kheo đang đi khất thực trên đường thì có một cô dâu xinh đẹp giận nhà chồng nên bỏ về nhà cha mẹ đi ngang qua. Sau đó có người chạy lại hỏi vị Tỷ-kheo rằng Ngài có thấy cô gái nào đi ngang qua đây không? Ngài nói có thấy người đi qua đây nhưng Ngài thấy chỉ là bộ xương, không thấy cô gái nào hết, tại Ngài đang tu bạch cốt tưởng. Ngài đang quán và an trú vào bộ xương, vào quán bất tịnh và đã chứng quả A-la-hán. Khi đọc Trưởng Lão Tăng Kệ, chúng ta sẽ thấy các thầy Tỳ-kheo bất cứ lúc nào cũng thiền quán, đang đi trên đường, đang đi khất thực, đang nằm trên giường bệnh, đang gặp tai nạn, chứng nhập Thánh quả, đoạn tận tham sân si. Trong sinh hoạt thường ngày, các Ngài an trú liên tục trong thiền quán. Còn chúng ta chỉ cần buông thiền quán ra là lại trở về buông lung, phóng dật. Mình không quen với Thượng nhân pháp, mà quen với hạ nhân pháp, tiểu nhân pháp, quen với tâm hèn hạ, thấp kém, nhỏ hẹp, sân si, bắt bẻ, ghim gút, dòm ngó, phê phán, chỉ trích người khác. Nhiều khi Minh Thành đem cả một tấm lòng, một tình thương muốn giúp đỡ, nghĩ biết bao nhiêu cách để chỉ bảo nhưng nhiều vị cho rằng Minh Thành lên giảng pháp để chĩa mũi dùi vào họ.
Tu học theo tinh thần kinh tạng Nikāya đòi hỏi phải rất thâm sâu, nhỏ nhiệm, kỹ càng, miên mật, khít khao. Từng suy nghĩ, từng cảm xúc, từng tư tưởng, từng nhận thức phải được kiểm tra chặt chẽ thì mới đi đến lậu tận. Nhìn lại tự thân mình, có khi thân tâm đang bị tss làm chủ, mình được chỉ lỗi mà còn không thấy, thậm chí còn cãi lại thì làm sao mà tu Nikāya? Lý do tại sao Thánh pháp không còn, một phần cũng chính là do chúng sanh không có tâm hướng thượng. Chính bản thân Minh Thành có khi cũng thấy tâm tu của mình còn yếu kém, đúng ra mình phải thành tựu sớm hơn nữa nhưng tâm hướng thượng lại không đủ. Tâm hướng thượng là lúc nào cũng hướng lên, đi lên, phát triển, tăng thượng, tinh cần, tinh tấn, không bao giờ chấp nhận dừng lại, đứng lại. Đa số người tu bây giờ, hễ được ít liền cho là đủ, tu được chút thì cứ nghĩ là được nhiều và bằng lòng với hiện tại, nghĩ như vậy là được rồi, không muốn vươn lên. Nhà Thiền gọi đó là “đóng bít cửa ngộ”, nghĩa là cánh cửa giác ngộ bị đóng lại, bị gài chốt
Xuất ly khỏi Sân
Lại nữa, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo tác ý về sân, tâm không phấn chấn trong sân, không tịnh tín, không an trú, không quyết định. Nhưng khi tác ý đến vô sân, tâm liền phấn chấn trong vô sân, được tịnh tín, được an trú, được quyết định.
Vô sân ở đây phải hiểu là tâm từ. Khi nổi lên một cơn giận ở trong cảm thọ thì mình không thấy thích thú, không chấp nhận, không đi theo cảm thọ bực bội sân hận đó, chán ghét đó. Cần nhận thức rõ ràng rằng, khi nổi sân lên thì mình nhập cuộc với nó, hay phải cố gắng từ bỏ nó? Chúng ta phải thấy tâm sân là không tốt, cần phải từ bỏ thì mới là người có tu; còn nếu sân vẫn sanh khởi lên tức là mình tu tâm hiền chưa thành tựu, như vậy là không xuất ly, không viễn ly, không xả ly tâm sân. Cho nên, Đức Phật dạy rằng, khi tác ý đến vô sân, tác ý đến tâm từ thì vị này liền phấn chấn trong tâm từ; chỉ cần mở bài tâm từ lên cảm xúc dâng trào, thậm chí là nước mắt tuôn trào, tịnh tín, an trú, quyết định trong tâm từ đó. Trong tâm có sự xác quyết mình phải ly sân mới là đúng, mình phải đi theo con đường này, tâm mình phải như vậy, phải quyết định an trú trong đó.
Tâm ấy của vị ấy là khéo làm, khéo tụ tập, khéo tăng trưởng, khéo giải thoát, khéo không liên hệ đến sân. Và do duyên với sân, khởi lên các lậu hoặc não hại, nhiệt não, vị ấy giải thoát khỏi chúng, không cảm giác thọ ấy. Đây gọi là xuất ly khỏi sân.
Tùy theo ngữ cảnh, mà những từ Đức Phật sử dụng sẽ chỉ đúng trạng thái của tâm: khéo tăng trưởng ở đây là khéo tăng trưởng tâm từ, khéo tụ tập là khéo tụ tập tâm từ, khéo giải thoát là khéo giải thoát tâm sân, khéo tịnh tín là đặt hết niềm tin vào tâm từ, xác quyết quyết định đối với tâm từ, chỉ có tâm này mới đem lại hạnh phúc an lạc gọi là an trú, tịnh tín, quyết định. Khéo giải thoát, khéo không liên hệ đến sân là không còn liên hệ đến sân giận nữa.
Vì sao? Vì do duyên với sân, khởi lên các lậu hoặc não hại, nhiệt não, vị ấy giải thoát khỏi chúng, không cảm giác thọ ấy. Đây gọi là xuất ly khỏi sân. Không cảm giác thọ ấy tức là cảm giác sanh khởi lên mà vị ấy không chấp nhận. Dục khởi lên không chấp nhận, sân khởi lên không chấp nhận, đó gọi là không cảm giác thọ ấy. Ví dụ người ta nấu một món cháo đặc sánh, mình thấy ngán không ăn, đó là mình không thọ nhận.
Tuy có khởi lên bực bội nhưng mình không nhận, không chấp nhận. Để có thể không chấp nhận nó là mình là nhờ mình có nhận diện ngũ uẩn, cho nên mình không cảm giác thọ ấy; cụm từ này là pháp hành mà chúng ta cần phải nhớ. Còn đằng này khi vừa khởi lên bực bội thì mình nhận ngay là mình giận, mình bực như vậy là mình không xuất ly, không giải thoát, không có tu tập.
Minh Thành vẫn thường kể câu chuyện về Đức Phật và các vị Bà-la-môn.
Khi còn tại thế, một lần, Đức Phật đi giáo hóa tại vùng Bà-la-môn.
Khi đến đây, các tu sĩ Bà-la-môn thấy đệ tử của mình đi theo Đức Phật nhiều quá nên sinh lòng ghen ghét. Họ ra đón đường và mắng chửi Đức Phật.
Trước những lời nhiếc móc, sỉ nhục khó nghe, Đức Phật vẫn đi thong thả, còn những người kia cứ tiếp tục đi theo sau chửi.
Thấy Đức Phật thản nhiên làm thinh, các tu sĩ Bà-la-môn càng thêm tức giận, chặn phật lại hỏi:
– Cù-đàm có điếc không?
– Ta không điếc.
– Ngài không điếc sao không nghe tôi chửi?
– Này Bà-la-môn, nếu nhà ông có đám tiệc, thân nhân tới dự, mãn tiệc họ ra về, ông lấy quà tặng họ không nhận thì quà đấy về tay ai?
– Quà ấy về tôi chứ ai.
– Cũng vậy, ông chửi ta, ta không nhận thì thôi.
Còn mình ai cho gì cũng nhận, đưa bánh cũng nhận, mà đưa thuốc độc cũng lấy, cho nên mình khổ. Do vậy, mình phải biết tập không phải cái gì cũng nhận; vì cái gì cũng nhận thì trúng độc mà không hay. Chẳng hạn, có ai gửi tin nhắn chửi mình thì tâm trạng mình ra sao? Do duyên có con mắt, có sắc là dòng tin nhắn, làm sanh khởi lên sự rõ biết dòng tin nhắn. Sự hội tụ của ba pháp này là nhãn xúc, từ xúc sanh ra cảm thọ, cảm thọ đó được thọ nhận và sanh ra sân giận. Thay vào đó, mình phải tập không nhận, đóng cảm thọ lại, để im ở đó, chừng nào cảm thọ trong tâm bình tĩnh, bình ổn, bình yên thì lúc đó tính sau. Còn khi sân đang sanh khởi thì không tiếp tục đọc nữa. Nếu cần thiết mình phải tác ý: “Mù đi đừng thấy nữa, thấy sân si, khó chịu thì thấy làm gì?”.
Như hình tượng ba chú khỉ tam không: bịt hai con mắt, bịt hai lỗ tai, bịt cái miệng lại. Tức là, có những điều mình thấy mà giống như không thấy, thấy mà như mù, nghe mà như điếc, có miệng như câm… thì mình tu sẽ ổn; bằng không, cái gì mình thấy mình cũng thấy, cũng nghe, cũng nói thì mình sẽ mệt mỏi. Cho nên, người tu phải thu thúc lục căn. Minh Thành thường phải nghe nhiều người bày tỏ, chia sẻ chuyện này, chuyện kia và hóa giải giúp họ, nhưng nói xong Minh Thành quên hết, vì tâm này là dành để tu họ; còn nghe mà sân si, khó chịu thì nghe làm gì, cho điếc luôn, điếc trong vô lượng kiếp rồi bây giờ điếc thêm chút cũng không sao.
Trong việc gì cũng vậy, người nhanh nhạy quá cũng khổ, chậm quá cũng khổ, tốt nhất là tùy chỗ nhanh tùy chỗ chậm. Ngay cái chỗ cần chậm thì nhanh nhạy, ngay cái chỗ cần nhanh nhạy thì lại chậm thì không ổn. Cũng như nhà đang cháy mà mình lại đi thiền hành, cần cứu hỏa thì nói “tôi đang ngồi thiền”; hoặc chỗ mọi người đang thiền hành thì mình làm việc này việc kia; thân tâm cứ làm ngược lại với việc trước mắt, không đúng thời. Cho nên, tâm mình phải khéo léo để học pháp, bằng không, việc học không có kết quả, học bị sai, học bị nghiêng lệch, thiên chấp; không rõ biết trường hợp trong bài kinh đó Đức Phật dạy cho ai? Trong hoàn cảnh nào? Sự việc đó như thế nào Đức Phật nói điều đó? Và do đó mà ta thực hành pháp không đúng, không mang lại lợi ích, hiệu quả cho tự thân và mọi người.
Xuất ly khỏi Hại
Lại nữa, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo tác ý về hại, tâm không phấn chấn trong hại, không tịnh tín, không an trú, không quyết định. Nhưng khi tác ý đến vô hại, tâm liền phấn chấn trong vô hại, được tịnh tín, được an trú, được quyết định. Tâm
ấy của vị ấy là khéo làm, khéo tụ tập, khéo tăng trưởng, khéo giải thoát, khéo không liên hệ đến hại. Và do duyên với hại, khởi lên các lậu hoặc não hại, nhiệt não, vị ấy giải thoát khỏi chúng, không cảm giác thọ ấy. Đây gọi là xuất ly khỏi
hại.
Tác ý về hại tức là sanh khởi ý muốn làm hại người khác. Dục, sân, hại cũng chính là ba pháp tà tư duy. Còn khi tác ý về vô hại, tức là tu tập tâm bi thì tâm liền phấn chấn trong vô hại, được tịnh tín, được an trú, được quyết định. Khi tâm sanh khởi ý muốn làm hại người khác thì mình tác ý điều này là khổ đau, là tai họa, là thứ tồi bại, ác độc và mình không chấp nhận ý nghĩ muốn làm hại người khác.
Ví dụ, mình nhìn thấy con gì ở dưới chân là liền bực bội; đôi khi trong nhà có nhiều kiến, gián, côn trùng khiến mình khó chịu thì mình đổ dầu lửa cho những con vất đó chết hết. Hoặc những khi bị kiến và muỗi cắn, đốt làm mình ngứa ngáy, bực tức, sân giận thì mình tìm cách bắt nó lại và chà cho nó chết, những hành động trên chính là hại tâm, đồng thời hại luôn cả thân vì trong đó có thân hành. Đi đụng vào cạnh cửa mình cũng sân với cánh cửa, lỗi rõ ràng của mình không quan sát, không cẩn thận nhưng đổ thừa cho những đối tượng khác. Từ những chuyện đơn giản này, mình nhìn ra được nhiều chuyện khác. Khi có chuyện xảy ra, chúng ta thường đổ lỗi cho người khác, chứ không nhìn lại mình; đây là chỗ thất bại. Tâm hại của chúng ta rất khủng khiếp, nó nằm im trong tâm, chỉ cần đủ cơ hội, đủ nhân duyên là nó liền bùng phát, mình phải đề phòng hết sức cẩn thận. Chính vì vậy mình phải tu tập tâm bi, nuôi dưỡng lòng xót thương.
Khi khởi tâm đổ dầu hoặc đổ những chất độc cho những con kiến chết, vì nó cắn mình đau, làm mình bực tức thì mình phải tâm xót thương, thấy tội nghiệp nó. Vì nó cũng là ngũ uẩn, cũng có sắc, thọ, tưởng, hành, thức nhưng vì ác nghiệp phải chịu quả báo nên mới phải sanh vào những cái thân nhỏ bé như vậy, mình cũng từng ở trong những cái thân như vậy, bây giờ mình giết 100 con, 100 sinh mạng đền trả cái nghiệp quả đó như thế nào? Trả 100 mạng của mình có xứng đáng không? Có xứng đáng vì một hành động trong cơn sân nhất thời, để rồi phải chuốc lấy một quả báo khủng khiếp và hãi hùng, kinh sợ như vậy hay không? Thay vào đó, khi bị những con vật ấy cắn, chúng ta phải quán nghiệp quả, trải tâm bi mẫn, lòng từ thì mình sẽ làm dừng tâm hại lại. Mình có thể dùng cây chổi lau quét những con vật đó vào đồ hốt rác, rồi đem đổ ra ngoài, đâu nhất thiết phải làm hại nó.
Thế nên, tâm bi rất quan trọng, lòng bi mẫn xót thương rất quan trọng, phải tu tập tâm bi nhiều. Đức Phật nói Tứ vô lượng tâm là cỗ xe, là căn cứ địa bảo vệ, bảo hộ mình, mình cứ mua bảo hiểm ở bên ngoài thế gian nhưng không biết Tứ vô lượng tâm cùng với tâm hiền thiện là tối thượng bảo hiểm của Đức Thế Tôn truyền lại cho mình. Tâm hiền và Bốn vô lượng tâm là bảo hiểm tối thượng của Nhân Thiên, không có bảo hiểm nào trên thế giới này có thể so sánh được tâm hiền và Bốn tâm vô lượng: từ, bi, hỷ, xả. Chính tâm hiền và bốn tâm vô lượng này sẽ bảo vệ mình.
Xuất ly khỏi Sắc
Lại nữa, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo tác ý về sắc, tâm không phấn chấn trong sắc, không tịnh tín, không an trú, không quyết định. Nhưng khi tác ý đến vô sắc, tâm liền phấn chấn trong vô sắc, được tịnh tín, được an trú, được quyết định. Tâm ấy của vị ấy là khéo làm, khéo tụ tập, khéo tăng trưởng, khéo giải thoát, khéo không liên hệ đến sắc. Và do duyên với sắc, khởi lên các lậu hoặc não hại, nhiệt não, vị ấy giải thoát khỏi chúng, không cảm giác thọ ấy. Đây gọi là xuất ly khỏi sắc.
Tác ý về sắc là tác ý về vườn hoa của mình, tịnh thất của mình… tức là gắn chữ “của mình” vào tất cả mọi thứ, từ chỗ ngủ, món đồ, ngôi chùa, cho đến thân xác này.
Xuất ly khỏi Có Thân
Lại nữa, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo tác ý về có thân, tâm không phấn chấn trong có thân, không tịnh tín, không an trú, không quyết định. Nhưng khi tác ý đến đoạn diệt có thân, tâm liền phấn chấn trong đoạn diệt có thân, được tịnh tín, được an trú, được quyết định.
Khi tác ý như vậy thì tâm vị này không phấn chấn, không hoan hỷ trong đó, nhưng khi tác ý để lìa khỏi sắc thì vị này phấn chấn, gọi là phấn chấn trong vô sắc; tức là không muốn có cái thân này, không ưa thân, không thích thân, không mến thân, không khoái thân, không ham thân, không nắm giữ thân, mà rất ngao ngán, nhàm chán thân. Họ vui thích khi không có sắc thân này, từ bỏ kiến chấp có thân này.
Hiện giờ trong tâm của Minh Thành hiện lên trong tâm nhiều thân què quặt, bò lết, ghẻ lở, cùi hủi, hết hình bóng này lại đến hình bóng kia, đui, điếc, câm, ngọng. Ngán, ngán, ngán… ngán cái thân đầy ung hôi này.
Ai nhàm, ai chán nhìn thân xác,
Phiền não, khổ đau sẽ cạn dần.
Ai nhàm, ai chán nhìn thân xác,
Tử thần sẽ nản chí, buông tay.
(Đảnh Lễ Đức Hạnh Ngài Xá-Lợi-Phất)
Minh Thành có nghe một số người trình pháp họ ngao ngán với thân này muốn nhảy xuống giếng nhưng nghĩ lại cái giếng này là của cả xóm dùng cho nên không dám nhảy. Có người đã lấy miếng kính vỡ cắt vào động mạch chủ ở tay, từ bỏ thân xác này vì cuộc đời quá đau khổ. Cũng có người muốn kết thúc đời sống mặc dù họ được sống ở một xứ gọi là thần tiên, ai cũng muốn đặt chân đến, đó là Mỹ quốc. Cho nên Khổ Thánh Trí tràn ngập khắp mọi nơi trong đời sống này, không phải chỉ có trong Kinh.
Thân này là ung nhọt, bệnh tật, lo lắng, sợ hãi, bất an, tai nạn, nhớ nhớp, bẩn thỉu là khu rừng của tội lỗi. Vậy mà chỉ cần người nào có hành động không kính thân, không thương thân, không trọng thân, không quý thân của mình thì mình liền oán thù người đó, như vậy là không tốt. Chúng ta cần thường xuyên thiền quán bài Xả vô lượng tâm để xả bớt chấp thân này. Thân này đáng ngao ngán, đáng nhàm chán, bao nhiêu là bệnh hoạn, bệnh tật, nói một chút cũng có chuyện, nói qua nói lại cũng có chuyện, hành động một chút cũng có chuyện. Chính vì vậy các bậc Thánh nhìn cái thân này là nùi giẻ rách, cái thân này là ung nhọt, nhìn cái thân này là cái thùng rác, cái cầu tiêu bẩn thỉu, là cái bao đầy rác. Vậy mà lại vỗ ngực xưng tên, kiêu căng, kiêu ngạo, nghĩ mình còn trẻ là kiêu ngạo, có sức khỏe thì kiêu ngạo với sức khỏe, có chút sắc đẹp thì kiêu ngạo với sắc đẹp, có một chút sự sống thì kiêu ngạo với sự sống đó.
Thật là ngao ngán, nhàm chán, xấu hổ và nhục nhã đối với sắc thân bẩn thỉu, hôi tanh, rỉ chảy, nhơ nhớp, xú uế, đầy kiêu căng, kiêu ngạo. Thế Tôn nói cái thân này khung làm bằng xương, quét tô bằng thịt máu, ở trong đây già nua, bệnh tật, chết chóc, lừa đảo, chất chứa ngã mạn, gian dối, xảo trá. Mình phải làm cho mình sanh khởi cảm giác này thật là nhiều, an trú trong đây, lớn mạnh trong đây, sung mãn trong những cảm giác này, để nó đánh đuổi những cảm giác hỷ lạc, yêu thích, tham ái, chấp ngã, chấp thủ.
Minh Thành vô tình xem một nhà tù trên thế giới có nhốt một số băng đảng săm kín đầy mặt nhìn không giống con người, còng tay, còng chân. Nhìn ánh mắt của họ tóe lửa, rực lửa, ánh mắt như hổ báo, những con người ở trong đó bị hành hạ như thú vật, bị còng chân lại. Thậm chí có cầu tiêu ngay bên cạnh những người tù phạm tội nghiêm trọng, phạm nhân giết người. Không những bị nhốt ở trong nhà giam mà còn họ bị còng chân nên đi lại không được. Lúc nào sống cũng trong nỗi sợ hãi, vì không được biết thời gian mình ra pháp trường là khi nào, mỗi đêm nghe gõ cửa là hồi hộp tim đập mạnh, không biết tử thần đến phòng kế bên hay phòng mình. Khi người ta tới, tù nhân bị trùm đầu và lôi đi ra xử bắn hoặc tiêm thuốc độc, có một số nước cho nằm giường điện.
Cũng vậy, thân này là tù ngục giam hãm tâm thức của chúng ta, khiến mình cứ xoay quanh trong sắc, thọ, tưởng, hành, thức; rồi lẩn quẩn trong dục, tham, ái, sân, si, vô minh, bản ngã, hơn thua, ích kỷ, hẹp hòi, ganh tị, đố kỵ, hận thù, không đi ra được như rơi vào ma trận. Cũng vì cái thân này mà tham dục; sân hận, hơn thua, ganh tỵ, tật đố sanh khởi cũng vì thân này. Cho nên, hướng đến sự chấm dứt thân này thì tâm của người tu phấn chấn, hoan hỷ.
Tâm ấy của vị ấy là khéo làm, khéo tụ tập, khéo tăng trưởng, khéo giải thoát, khéo không liên hệ đến có thân. Và do duyên với có thân, khởi lên các lậu hoặc não hại, nhiệt não, vị ấy giải thoát khỏi chúng, không cảm giác thọ ấy. Đây gọi là xuất ly khỏi có thân.
---
Đối với vị ấy, dục hỷ không có tùy miên, sân hỷ không có tùy miên, hại hỷ không có tùy miên, sắc hỷ không có tùy miên, hữu thân hỷ không có tùy miên.
Vị ấy không có tùy miên đối với dục hỷ, không có tùy miên đối với sân hỷ, không có tùy miên đối với hại hỷ, không có tùy miên đối với sắc hỷ, không có tùy miên đối với hữu thân hỷ.
Này các tỷ-kheo, đây gọi là tỷ-kheo được giải thoát khỏi tùy miên, đã chặt đứt khát ái, giải tỏa kiết sử, do chánh quán nhiếp phục kiêu mạn, đoạn tận khổ đau.
Này các tỷ-kheo, có năm giới đưa đến xuất ly này.
(Tăng Chi Bộ Kinh tập II, Chương Năm Pháp, XX. Phẩm Bà-La-Môn, bài kinh Xuất Ly)
Dục hỷ không có tùy miên: dục hỷ là sự vui sướng, thích thú trong dục; nhưng vị này không có tùy miên đối với dục hỷ, nghĩa là vị này không có khoan khoái, không còn yêu thích đối với dục. Sự hoan hỷ đối với dục đi theo trong tâm miên man bây giờ không còn nữa. Dục này không chỉ riêng là dục nam nữ; mà đó là năm dục trưởng dưỡng đối với sắc, đối với thanh, đối với hương, đối với vị, đối với xúc.
Sân hỷ không có tùy miên: nghĩa là vị này không còn tâm ưa thích tức giận. Sân hỷ tức là muốn cơn giận đó còn ở trong tâm mình mà không muốn bỏ đi. Ví dụ khi giận ai, mình không muốn chất chứa cơn giận đó, khi cơn giận nổi lên thì mình xả ra tất cả. Thế nhưng bảy ngày sau vẫn còn giận, vẫn muốn giận người đó, không quên, đó gọi là sân hỷ. Tức là mình ưa thích cơn giận đó, không muốn từ bỏ cơn giận đó, cho nên có những người giận nhau 10 năm, 20 năm, giận cả đời cũng bởi vì người ta muốn giận, thích giận, muốn giữ cảm giác sân giận đó. Những bộ phim kiếm hiệp ngày xưa dạy: “Quân tử trả thù 10 năm chưa muộn” đó là dạy hư người xem, dạy để tăng trưởng tham sân si. Nếu ta không ưa thích cơn giận thì làm sao giữ nó được trong suốt 10 năm? Những câu nói này hết sức là nguy hiểm, độc hại, đó chính là thuốc độc. Cho nên, người tu là phải triệt hạ sân hận, diệt tận sân hận.
Hại hỷ không có tùy miên: nghĩa là tâm hại không còn đi theo vị này miên man, vị này không ưa thích những tâm hại người, xấu ác.
Sắc hỷ không có tùy miên: nghĩa là không có sự yêu thích các sắc trong tâm, nhờ không còn thích bất cứ sắc nào cho nên mới ra khỏi sắc, nếu còn ưa thích sắc thì không thể đi ra khỏi sắc. Ví dụ cho rằng “Linh Quy đẹp quá, thích Linh Quy quá, nhận là chùa tôi, chỗ tôi tu rất đẹp, trời đất bao la, mây bay đỉnh núi…”, do chấp thủ vào sắc như vậy mà sau khi chết, nếu được làm người thì đầu thai quay trở lại Linh Quy để tu nữa; còn nếu không đủ phước làm người thì làm cô hồn ở đây, vì mình yêu thích cảnh sắc ở đây. Cho nên, nếu hiểu “xuất ly khỏi sắc” một cách thâm sâu của Thánh Trí Tuệ nghĩa là không còn yêu thích bất cứ sắc chất nào. Làm được điều này không phải dễ dàng, nếu không nỗ lực thì rất khổ để thể nhập dòng Thánh Trí Tuệ.
Hữu thân hỷ không có tùy miên: nghĩa là vị Thánh Đệ Tử, vị thành tựu Chánh tri kiến không yêu thích sự có thân này, không thích sự hiện hữu trong năm uẩn. Những điều này là Tối Tôn Tối Thượng, Chánh Biến Chi, Vô Thượng Giác; chúng ta vô cùng phước báu mới nghe được những từ này, những chữ này, những nghĩa lý này.
Ngoài đời, tại sao có nhiều người đi tự vẫn? Bởi vì họ không muốn cái thân này nữa nhưng người ta không biết cách nào để thoát ra. Người ta bế tắc hoàn toàn, không có lối thoát, không biết làm sao để giải quyết tất cả những nỗi khổ đang dồn dập đến họ, đó là ngõ cụt của phàm phu vô minh ở trong bóng đêm.
Còn không muốn có thân theo Thánh trí không phải như vậy; mà bởi vì biết có cái thân này là có khổ, sanh, già, bệnh, chết, sầu, bi, khổ, ưu não, tham, sân, si, dục, ái, vô minh, bản ngã; biết cái thân này là hang ổ cho các lậu hoặc tăng trưởng; cho nên các Ngài muốn phá vỡ hang ổ luân hồi này để thoát ra sinh tử. Sự xuất ly khỉ có thân của Đa văn Thánh đệ tử rất khác so với Vô văn phàm phu. Vì khi các Ngài nhìn tận cùng thấu đáo bản chất đời sống này, của tứ đại này, của ngũ uẩn này, của thế giới này, của thế gian này cho nên các Ngài vượt thoát ra đó mới gọi là đạo lộ giải thoát tối thượng của bậc Thánh, tức là không yêu thích có thân.
Người tu rất cần cố gắng tăng trưởng trí tuệ này. Những người mắc bệnh nặng mà có tu tập sự nhàm chán, từ bỏ ngũ uẩn thì lúc chết sẽnhẹ nhàng lên thẳng Tịnh Cư Thiên. Nhờ quán chiếu điều này thâm sâu, nhuần nhuyễn nên đến khi phải rời bỏ thân xác này thì lúc đó mình chỉ mỉm cười, tâm nhẹ tênh vì sắp bỏ được gánh nặng xuống. Chỉ có người yêu thích có thân, nắm giữ thân, ái luyến thân, chấp thủ thân nên lúc cái thân sắp sửa tan rã thì rất đau khổ. Còn gười muốn từ bỏ thân thì sẽ vứt bỏ cái thân này như quăng cái bị rác vào thùng, thấy rất nhẹ nhàng, vui khỏe, không phải suy nghĩ nhiều. Có nhiều vị chứng được Thánh quả lúc sắp ra đi là nhờ an trú trong những pháp quán mà Đức Thế Tôn đã truyền trao, đặc biệt là quán từ bỏ ngũ uẩn. Hơn thế nữa, lúc bình thường các Ngài đã không ưa thích có thân. Như câu chuyện về Ngài Phú-Lâu-Na được tôn xưng là Đệ nhất thuyết pháp, cũng là người đầy ắp tình thương. Khi Ngài đi giảng pháp Đức Thế Tôn nói:
– Này Phú Lâu Na! Người ở nước Du Na rất hung bạo, nếu ông đến đó, họ mắng chửi ông thì sao
– Bạch Thế Tôn, họ thật hiền thiện vì chỉ mắng chửi con; họ vẫn chưa dùng đá, dùng gậy để đánh con.
– Nếu họ dùng đá, dùng tay chân, dùng gậy gộc đánh ông thì sao?
– Bạch Thế Tôn, họ còn chưa đến nỗi ác tâm, chưa hủy hoại sinh mạng của con.
– Nếu người ta hủy hoại sinh mạng của ông thì sao?
– Bạch Thế Tôn, các Tỳ-kheo khi đã quán bất tịnh thâm sâu, nhàm chán thân này, thấy nó bất tịnh, dơ bẩn, đáng nhờm tởm nên các ngài còn muốn từ bỏ sớm. Bây giờ có người giải thoát thân hôi hám, bất tịnh này cho con, như vậy, con phải cảm ơn họ để con được giải thoát khỏi thân tứ đại, ngũ uẩn, vô thường, bất tịnh này.
– Này Phú Lâu Na, Ông nay hãy làm những gì Ông nghĩ là hợp thời.
Trong mùa mưa Ngài đã độ cho 500 vị chứng Thánh quả và Ngài cũng nhập Niết-bàn tại đó.
(trích Trung Bộ Kinh III, 145.Kinh Giáo Giới Phú Lâu Na)
Khi đã thể nhập vào Thánh trí tuệ này thì khó có gì làm cho mình đau khổ nữa, chết cũng không sợ thì sợ gì trên cuộc đời này?! Phải tu đến chỗ không còn ưa thích cái thân này, mỗi lần nghĩ đến cái thân là thấy xấu hổ, thấy nhàm chán, thấy nghiệp quả cho nên mới có cái thân như thế này, vậy nên có gì đâu mà tự phụ, tự kiêu, cao ngạo, có gì đâu mà ta đây hãnh diện, đi đâu cũng cúi đầu xuống. Nhìn vào trong thân này thấy thối từ trong ra ngoài, từ nghĩa đen cho đến nghĩa bóng, vậy mà còn chưa đủ để khiêm hạ, khiêm cung, khiêm nhường, xấu hổ hay sao. Vậy mà hở chút là kiếm chuyện, hở chút là sân si, gây sự, nhục nhục nhục… Tôn giả dẫn dắt chúng ta còn dùng cả từ “đội quần” để tác ý đánh tan cái bản ngã này. Dùng những từ như vậy thì cảm thọ mới mạnh, còn dùng từ nhẹ thì nó không chịu cúi đầu. Mình sân si hơn thua với huynh đệ, trong gia đình, chồng con. Tác ý: “Mày đội cái quần mày chui xuống đất, mày độn thổ giùm tao, xứng đáng là Thánh đệ tử không? Xứng đáng là một người tu không? Sao tối ngày kiếm chuyện vậy?”. Sau đó mở tâm rộng ra, an trú vào Bốn tâm vô lượng, trải rộng khắp mười phương. Thực tập như vậy, đại chúng sẽ thường trú trong tâm hiền thiện, tinh ba, ngọt ngào, dễ chịu, dễ thương, dễ mến, hiền hòa.
Này các Tỷ-kheo, đây gọi là Tỷ-kheo được giải thoát khỏi tùy miên, đã chặt đứt khát ái, giải tỏa kiết sử, do chánh quán nhiếp phục kiêu mạn, đoạn tận khổ đau.
Giải thoát khỏi tùy miên nghĩa là thoát ra được những cái đi theo miên man trong tâm mình, chặt đứt khát ái, giải tỏa kiết sử. Do chánh quán nhiếp phục kiêu mạn, đoạn tận khổ đau, nghĩa là nhiếp phục được bản ngã, đoạn tận đống khổ to lớn, vĩ đại mấy chục ký đang ngồi đây. Khi đó ta thấy rõ rằng đây là đống khổ đau, vác cái đống này mệt mỏi vô cùng. Đã mấy mươi năm phải mang vác cái đống tai nạn, nghiệp quả, nghiệp báo, ác nghiệp. Chặt đứt khát ái tức là tháo gỡ hết tất cả các trói buộc. Quán chiếu một cách sâu sắc để bẻ gãy sự kiêu mạn trong cái ngũ uẩn này, đoạn tận dứt hết tất cả cái đống khổ đau to lớn này, diệt tận một cách hoàn toàn từ bỏ một cách trọn vẹn, buông xuống một cách nhẹ nhàng, bỏ gánh nặng xuống nhẹ tênh, thảnh thơi và bình an./.
LÀM SAO THOÁT NGHIỆP NGƯỜI NỮ?
NĂM SỰ XUẤT LY
Thích Minh Thành
MỤC LỤC
TOC \o "1-3" \h \z \u I.Trình Pháp PAGEREF _Toc148806671 \h 1
II.Hệ lụy của nữ nhân và nam nhân PAGEREF _Toc148806672 \h 6
III. Năm sự xuất ly PAGEREF _Toc148806673 \h 9
1.Xuất ly khỏi Các Dục PAGEREF _Toc148806674 \h 10
2.Xuất ly khỏi Sân PAGEREF _Toc148806675 \h 13
3.Xuất ly khỏi Hại PAGEREF _Toc148806676 \h 16
4.Xuất ly khỏi Sắc PAGEREF _Toc148806677 \h 18
5.Xuất ly khỏi Có Thân PAGEREF _Toc148806678 \h 18
Trình Pháp
Giới Tử:
Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật!
Con kính bạch Sư Phụ! Con kính bạch quý Thầy, quý Ni Sư, quý Sư Cô cùng toàn thể đại chúng!
Kính thưa Sư Phụ, con rất xúc động khi nghe những lời Sư Phụ giảng dạy các bài kinh trong tạng kinh Nikāya.
Bản thân con là người nữ cũng có rất nhiều mặc cảm tự ti, bởi vì con cũng gặp được rất nhiều cảnh đau khổ trong đời sống. con luôn so sánh chính mình với những người nam nhưng sau một thời gian tu tập, sau một thời gian nội soi chính mình thì con thấy được những nhược điểm, cũng như ưu điểm của chính mình, con cảm thấy tự tin hơn.
Con cảm thấy biết ơn hơn, biết ơn những nghịch cảnh mà con gặp phải, biết ơn những lời dạy mà con đã được nghe và thực hành theo, cũng như sự thay đổi nhận thức trong mình, nhờ sự thay đổi nhận thức đó con cảm thấy rất hạnh phúc.
Con xin thành kính tri ân Sư Phụ, quý Thầy, quý Ni sư, quý Sư cô cùng toàn thể đại chúng.
Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật!
Phật Tử:
Con chân thành đảnh lễ Đức Phật Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni!
Con kính bạch Sư Phụ! Con kính thưa quý Thầy, quý Ni Sư, quý Sư Cô cùng toàn thể các bậc Hiền trí!
Con nghe Sư Phụ nói hôm nay chúng ta tiếp tục chiêm nghiệm những lời Phật dạy và Sư Phụ giảng tiếp chuỗi bài về “Làm sao thoát nghiệp người nữ?” trong con trào dâng một cảm xúc xúc động về trí tuệ vô thượng, tối thượng của Đức Thế Tôn, tâm thương bao la rộng lớn của Người đối với chúng sanh trong đó có chúng con là những thân phận đàn bà với một cái tâm xấu xa, đê tiện, bẩn thỉu, tật đố, gian tham. Ngài đã chỉ ra rất tường tận tại sao chúng con lại mang thân nữ đau khổ như vậy. Con có nghĩ về lời của một Phật tử băn khoăn về lời Phật dạy là con dao hai lưỡi nhưng đã được Sư Phụ chỉ dạy từ rất lâu rồi, cái thân dơ bẩn, hôi thối, ghê tởm này nó là mồi nhử của ác ma, những thân đàn bà là mồi nhử của đàn ông, những thân đàn ông là mồi nhử của đàn bà, vì sự ngu si, vô minh mà có những chúng sanh là những Phật tử, là những cư sĩ đã phạm giới, sống không chung thủy thì ắt phải chịu những ác nghiệp đau khổ, vào địa ngục.
Như trong bài kinh Thập Thiện Giới Ngài chỉ dạy rất đầy đủ, cho nên nếu nghe cẩn thận, tỉ mỉ lời dạy của Đức Thế Tôn và quán chiếu đầy đủ thì sẽ thấy được những ác nghiệp phải chịu đựng trong vô lượng, vô biên kiếp, phải đọa trong địa ngục bởi những hành vi sống không chung thủy làm đau khổ cho người khác chứ không hề đơn giản. Con có một cảm thọ đặc biệt rất hạnh phúc từ khi con về Linh Quy tu tập, lòng tin của con đối với Tam Bảo, cũng như lời Sư Phụ đã chỉ dạy bởi những pháp cung kính; cung kính tùy thuận bậc Đạo sư, cung kính tùy thuận Chánh Pháp, cung kính tùy thuận Chúng Tăng, cung kính tùy thuận Học Giới, cung kính tùy thuận Thiền Định, cung kính tùy thuận không phóng dật, cung kính tùy thuận nghênh đón. Trong những ngày vừa qua con thấy ngay những Phật tử cao tuổi về đây tu tập cũng đã dạy cho con rất nhiều điều bổ ích cho sự tu tập, không nói gì đến bậc Trưởng Thượng. Con rất hạnh phúc con có thể khẳng định rằng niềm tin của con đối với Tam Bảo, đối với Thánh Giới, đối với sự chỉ dạy của Đạo Sư, của Sư Phụ là tối thượng tối thắng ở đời này. Điều đó con đã thấy rất rõ trong con, có thể nói là tu không tính thời gian.
Người ngu dù trọn đời
Thân cận người có trí
Không biết được chánh pháp
Như muỗng với vị canh
Người trí dù một khắc
Thân cận người có trí
Biết ngay chân diệu pháp
Như lưỡi với vị canh
(Kinh Pháp Cú – Phẩm Ngu)
Chính con đã cảm nhận được điều này, cho nên khi bước về Linh Quy Pháp Ấn tu tập được nghe Sư Phụ giảng bài pháp đầu tiên là con đã dừng lại tại nơi này để con tu tập, con thấy đây là điều tối thượng, tối thắng duy nhất ở cuộc đời này. Trong khi đó con đã già, con nhiều bệnh sắp chết và từng ngày một con cảm nhận được sự tu học của con ngày càng tinh tấn, tất nhiên trong quá trình tu tập con cũng nhận ra có những lúc con cần phải tinh tấn hơn, có những lúc chưa theo được ý nguyện của mình. Những ngày được Sư Phụ chỉ dạy, những lời chỉ dạy của Sư Phụ đã giảng giảng rất nhiều những bài về thân phận phụ nữ của chúng con, con lại càng trào dâng niềm biết ơn đối với Đức Phật, con biết ơn Tam Bảo, con biết ơn bậc Đạo sư, và Sư Phụ cũng như quý Thầy, quý Ni sư, quý Sư cô cùng toàn thể các bậc Hiền trí rất nhiều.
Nhờ sự tu tập Chánh Pháp tối thượng ở nơi này mà con từ một người vô minh, mù, trước đây con cứ cho cái thân này là của con, con tham lam, con sân hận, con ngu si, con phóng giật, bản ngã và con đã phải chịu rất nhiều sự đau khổ, dằn vặt, con làm đau khổ cho con, làm đau khổ cho những người xung quanh, kể cả những người con thân yêu nhất. Nhưng nhờ con học được Thánh Pháp tối thượng, Thánh trí Năm uẩn, nhận diện được thân tâm của mình, Sư Phụ chỉ dạy rất cặn kẽ, cẩn thận.
Những giây phút còn ở đây, ngoài những bài giảng của Sư Phụ, những giây phút con được gặp Sư Phụ đều là những bài pháp đặc biệt sâu sắc dành cho con, chính nhờ như vậy mà con đã tập nhìn thân tâm của con, con đã biết nhiếp phục dục và tham, bản ngã trong thâm tâm của mình. Con còn nhớ lần đầu tiên Sư Phụ dừng lại không giảng vì con quá ngu si, con ngu đến mức mà con không biết được rằng Sư Phụ nói con phải viết nhật ký tu học mà con không biết viết nhật ký là cái gì, con cũng không biết đó là sự chống đối, con ngu đến như vậy. Chính vì nhờ cái buổi đầu tiên Sư Phụ dừng lại không giảng là vì quá thương chúng con, sao chúng con có thể vô minh đến như vậy? Vô minh đến như vậy thì sự chỉ dạy của Sư Phụ cũng là vô ích nó không mang lại hiệu quả trong tu tập, làm cho Sư Phụ rất buồn, con đã suy ngẫm về điều đó và con đã có bài trình pháp đầu tiên. Chính bài trình pháp với Sư Phụ đã giúp con có một định hướng rất đúng đắn trong quá trình tu tập, con từ một người bị vô minh bao vây, bủa vây, vây hãm, làm nô lệ, làm tôi đòi cho những tham ái đối với thân bẩn thỉu này, dần dần trí tuệ của con được mở, nhờ con mắt trí tuệ của bậc Đạo sư, của Sư Phụ đã mở cho con, càng ngày con càng nhìn rõ hơn về thân tâm của mình, con không chỉ nhìn những rác thô mà con đã nhìn thấy được những rác ngầm ở bên trong. Thật sự trong những ngày vừa rồi cũng là một tình huống để con tu. Sư Phụ nói là phải tu để khi có hữu sự thì lúc đó mới biết tâm của mình như thế nào? Và hữu sự đối với con trong thời gian vừa qua là bố con bị bệnh, ông đã 92 tuổi rất thương nhớ con nhưng con biết đó cũng là tình thương của tham ái, Sư Phụ đã dạy chúng con, chính con cảm nhận được là con ở đây tu tập tâm của con nó hiền dần, tập tu Bốn tâm vô lượng, tập nhiếp phục dục, tham, sân, si và bản ngã, mà cội gốc của sinh tử luân hồi đó là tham ái. Con phải diệt trừ được, càng thương cha mẹ bao nhiêu con học tập tấm gương của Sư Phụ là phải tu tập tinh tấn, tu tập tinh tấn là luôn phải nhớ thân này là bất tịnh, là vô thường, là khổ đau và vô ngã. Chính vì vậy trong những ngày vừa rồi nhìn lại thân tâm của mình và có nhắc nhở con an tâm trong tu tập.
Lời Sư Phụ đã dạy cho chúng con lúc này con rất nhớ từ khi bố còn ốm con càng nhớ hơn; báo đáp cho mẹ, biết ơn cha mẹ đó chính là tu tập trong Thánh Pháp tối thượng này, con cảm nhận được chính bố con cũng đang rất hạnh phúc bởi vì mặc dù bố rất nhớ con nhưng tâm của bố con rất hướng thượng, mong con về sống với con làm sao tình cảm của bố con thật là tốt đẹp, đó cũng là cảm thọ hiền thiện của bố con, dù bố con có ra đi mà con không có mặt ở nhà thì con vẫn thấy hạnh phúc, những cảm thọ hiền thiện của bố con rất có lợi ích trong hiện tại và cũng như trong tương lai và con đã an trú trong những ngày tu vừa rồi.
Dốc một lòng quyết chí tiến tu đi
Mẹ cha già cội sắp ra đi
Làm con báo hiếu bằng giác ngộ
Ân nghĩa sinh thành mãi khắc ghi
Trong những ngày vừa rồi con đã cảm nhận được con rất hoan hỷ, con không bị vô minh bủa vây, bao vây, vây hãm nữa. Con thấy năm uẩn trong con đang dần bao vây vô minh, bủa vây vô minh, con sẽ vây hãm vô minh và chắc chắn đến lúc con sẽ đâm thủng vô minh. Lòng biết ơn của con đối với Tam Bảo và Thánh Giới cũng như bậc Đạo sư và Sư Phụ là vô tận và vô biên. Con biết mình còn nhiều rác bẩn trong tâm, có những rác con còn chưa nhiếp phục, đoạn tận được, nhưng bản thân con sẽ cố gắng. Con cảm ơn Phật rất nhiều, con thật là hạnh phúc, sao con có thể có những hạnh phúc to lớn vô thượng, tối thượng đến như vậy? Mỗi khi con nghĩ về bậc Đạo sư con trào dâng nước mắt, con cảm ơn người rất nhiều, Sư Phụ cũng vậy đã chỉ dạy cho chúng con, con tin tưởng rằng con không những thoát khỏi thân nữ bẩn thỉu, tật đố, gian tham, ích kỷ, hẹp hòi, nhỏ mọn, ghim gút và con rất hi vọng con có một ước muốn một niềm tin là con sẽ thoát khỏi sinh tử luân hồi, nhờ sự chỉ dạy của Sư Phụ, của bậc Đạo sư, những lời dạy tối thượng của Đức Thế Tôn. Lời cuối con muốn nói lên lòng biết ơn Sư Phụ rất nhiều, con biết ơn bậc Đạo sư rất nhiều, con mong người được mạnh khỏe chỉ dạy cho chúng con, cứu vớt chúng con những tâm mê đã chìm đắm trong sinh tử, của lòng tham, lòng dục trong sự ngu si, trong sự vô minh, phóng giật và bản ngã.
Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật!
Hệ lụy của nữ nhân và nam nhân
Chúng ta tiếp tục chủ đề Làm Sao Thoát Ra Nghiệp Người Nữ? Đây là chủ đề rất lớn, rất lợi ích cho Ni chúng và nữ giới, cũng như cho nam nhân. Thế Tôn nói không cái gì thừa và cũng không nói gì thiếu.
Và này các Tỷ-kheo, như thế nào là không hệ lụy?
Một nữ nhân, này các Tỷ-kheo, không tác ý nội nữ căn, nữ hành, nữ y phục, nữ loại, nữ dục, nữ thanh, nữ trang sức thời nữ nhân ấy không tham đắm trong ấy, không thích thú tại đấy.
Một nữ nhân, này các Tỷ-kheo, không tác ý nội nữ căn, nữ hành, nữ y phục, nữ loại, nữ dục, nữ thanh, nữ trang sức thời nữ nhân ấy không tham đắm trong ấy, không thích thú tại đấy.
Do không tham đắm trong ấy, không thích thú tại đấy nữ nhân ấy không muốn có sự hệ lụy ở ngoài. Do duyên hệ lụy ấy, khởi lên lạc, hỷ, nữ nhân ấy không ước muốn lạc, hỷ ấy.
Này các Tỷ-kheo, do không thích thú trong nữ tánh của mình, các loài hữu tình không đi đến hệ lụy với những người đàn ông.
Như vậy, này các Tỷ-kheo, nữ nhân thoát được nữ tánh của mình.
Một nam nhân, này các Tỷ-kheo, không tác ý đến nội nam căn, nam hành, nam y phục, nam loại, nam dục, nam thanh, nam trang sức mà nữ nhân ấy không tham đắm trong ấy, không thích thú tại đấy.
Do không tham đắm trong ấy, không thích thú tại đấy nên không tác ý đến nữ căn ở ngoài, nữ hành, nữ y phục, nữ loại, nữ dục, nữ thanh, nữ trang sức mà nam nhân ấy không tham đắm trong ấy, không thích thú tại đấy.
Do không tham đắm trong ấy, không thích thú tại đấy nên nam nhân ấy không ước muốn có sự hệ lụy ở ngoài. Do duyên với hệ lụy ấy, khởi lên lạc, hỷ nên nam nhân ấy ước muốn lạc, hỷ ấy.
Này các Tỷ-kheo, do không thích thú trong nam tánh của mình, các loài hữu tình không đi đến hệ lụy với những nữ nhân.
Như vậy, này các Tỷ-kheo, nam nhân thoát được nam tánh của mình. Như vậy, này các Tỷ-kheo, là không hệ lụy.
Này các Tỷ-kheo, đây là pháp môn hệ lụy và ly hệ lụy.
(Tăng Chi Bộ Kinh tập III, Chương Bảy Pháp. V. Phẩm Đại Tế Đàn, bài kinh Hệ Lụy)
---
Bài kinh này rất thâm sâu, phá sự tham ái và chấp thủ tự thể. Khi được bậc Đạo Sư hướng dẫn phần này này, Minh Thành vô cùng sửng sốt, bàng hoàng, kinh ngạc; hiện tại vẫn đang cố gắng thực tập. Bậc Đạo Sư dạy rằng, khi quán diệt dục, ta cần thường hướng vào chỗ phát dục và tác ý đây là súc sanh, thú vật; vì cái chỗ này mà mình không tu hành được. Tại sao trên con người chúng ta lại có bộ phận này? Chính chỗ bẩn thỉu, nhơ nhớp, hèn hạ, xấu hổ này đã ràng buộc cả thế giới. Tất cả hữu tình không đi ra khỏi chỗ nhỏ bé đó. Nó làm cho chúng sanh say mê, điên đảo, điên loạn, đốt nhà, giết người; làm cho người tu phá vỡ đạo nghiệp; người đời tan nhà nát cửa; vợ chồng phân ly, tà dâm, ngoại tình, bứt tóc, đấm ngực, bất tỉnh, tạt axit, đâm, chém, giết hại, ghen tuông cũng vì chỗ đó gây nên.
Cho nên, chúng ta phải thường hướng vào chỗ phát dục để tác ý diệt dục trước khi đi ngủ và lúc mới vừa thức dậy. Bất cứ lúc nào nhớ nghĩ tới dục là không được chấp nhận, không được ưa thích. Từ khi hiểu điều này, Minh Thành rất thấy chấn động, đồng thời thấy được nguyên lý trong nhân quả hệ và trong Thánh trí thật là sâu sắc. Tức là khi mình không còn ham, không còn thích, không còn ưa, không còn muốn thì mình sẽ giải thoát, từ bỏ.
Người nam cũng vậy và người nữ cũng vậy, đều vì một chút dục ái mà dẫn đến đau khổ, tan nát, sụp đổ, điên loạn hết cả thế giới này. Cho nên chúng ta phải quán dục ái này là hèn hạ, bẩn thỉu, tồi bại, xấu hổ, nhục nhã, nhơ nhớp, chẳng khác gì loài súc sanh. Chúng ta cần phải tác ý một cách mạnh mẽ, mãnh liệt như vậy để diệt dục.
---
Những lời Đức Phật dạy về người nữ trong kinh tạng Nikāya là đại trí tuệ thậm thâm toàn diện. Ngài nói rằng: Một nữ nhân, này các Tỷ-kheo, không tác ý nội nữ căn, nữ hành, nữ y phục, nữ loại, nữ dục, nữ thanh, nữ trang sức thời nữ nhân ấy không tham đắm trong ấy, không thích thú tại đấy. Trong đó:
Nữ căn tức là chỉ cho bộ phận sinh dục của người nữ; nữ hành tức là cử chỉ, hành động của người nữ; nữ y phục tức là y phục của người nữ; nữ loại là những gì thuộc về người phụ nữ; nữ dục là những gì ham muốn của người phụ nữ.
Đầu tiên, là sự diệt dục như đã trình bày ở trên.
Kế tiếp là những hành động của người con gái, phải có sự chánh niệm tỉnh giác. Người tu cũng vậy, đôi khi vì không có sự chánh niệm nên cũng tạo dáng, cũng tỏ vẻ ẻo lả, yếu đuối, đó là những hành động để cho người khác chú ý. Hoặc trong suy nghĩ cho rằng mình là người nữ yếu đuối, cần người khác giúp… Những suy nghĩ đó là suy nghĩ hệ lụy, suy nghĩ lệ thuộc, suy nghĩ không tự chủ.
Như đã biết, bậc Đạo sư chúng ta là một người nữ. Nhưng Ngài vẫn có thể thành tựu Thánh Pháp tối thượng trong một thời đại xa Phật đã mấy ngàn năm. Những lời chỉ dạy của Ngài là tuyệt đối không có thể khác được, một người đã thành tựu pháp rồi thì những sự thấy biết của vị đó là tuyệt đối. Sự tu tập của chúng ta là một cuộc chiến đấu dữ dội, trường kỳ kháng chiến trong từng ý niệm, từng suy nghĩ nơi nội tâm, nếu mình thực sự xuất ly ngũ uẩn đoạn tận sanh tử.
Người nam cũng vậy, nhìn lại xem tập khí của mình là gì? Thông thường tập khí của người nam là bản ngã, hơn thua, sân hận, ương ngạnh, cứng cỏi. Tập khí của người nữ là ghim gút, tật đố, nhỏ hẹp, nhỏ mọn. Cho nên, nam hay nữ đều có ưu điểm và khuyết điểm; không phải chỉ có người nữ mới xấu, còn người nam thì tốt, vì nếu điều gì của người nam cũng tốt thì đã sanh thiên hết rồi, đâu phải trôi lăn trong sanh tử và ngày giờ này còn ngồi đây nghe pháp.
Tiếp theo là Nữ y phục, nữ loại, nữ trang sức, người nữ thường rất phiền não về những vật dụng này. Người tu chúng ta thì y áo như nhau, không phải lo nhiều về y áo. Xả được mái tóc xuống là cả một sự chiến đấu tư tưởng không phải là chuyện dễ. Nhưng nhờ mình xuống tóc, xuất gia, buông bỏ những vật chất bên ngoài nên mình được nhẹ bớt rất nhiều mặt. Còn người ngoài đời không biết đủ, họ cứ tham muốn, chạy đuổi theo những vật chất bên ngoài nên rất phiền não về y phục và rất nhiều thứ khác.
Qua đoạn kinh trên, chúng ta thấy rằng, Đức Phật nói đến từng chân tơ kẽ tóc, từng phương diện, khía cạnh về người nữ, không còn sót một điều gì. Một khi Thánh trí của Ngài hướng tâm tới một chỗ nào thì tất cả các pháp đều hiển lộ ra. Chúng ta cần nghiên cứu kỹ những bài kinh như thế này để hiểu được tâm tư, tập khí, tính tình của người nữ, nhờ vậy mai sau có thể nối gót theo Thánh Nữ Kiều Đàm Di, lãnh đạo được Nữ chúng. Hơn nữa, người đã thể nhập Thánh trí thì không còn phân biệt nam nữ, không còn tâm phàm phu nữa. Vì những người đã thành tựu pháp đã vượt thoát khỏi tập khí, nghiệp lực của nam và nữ, trong tâm họ chỉ còn Thánh trí mà thôi.
III. Năm sự xuất ly
Sau khi đã tìm hiểu những tập khí, những sự hệ lụy của người nữ. Chúng ta sẽ tìm hiểu về cách xuất ly, thoát ra khỏi những tập khí ấy qua bài kinh Xuất Ly – Tăng Chi Bộ Kinh tập II:
Này các Tỷ-kheo, có năm giới đưa đến xuất ly này. Thế nào là năm?
Năm giới xuất ly ở đây nghĩa là năm phạm trù đưa đến sự giải thoát.
Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo tác ý về dục, tâm không phấn chấn trong các dục, không tịnh tín, không an trú, không quyết định. Nhưng khi tác ý đến viễn ly, tâm liền phấn chấn trong viễn ly, được tịnh tín, được an trú, được quyết định. Tâm ấy của vị ấy là khéo làm, khéo tụ tập, khéo tăng trưởng, khéo giải thoát, khéo không liên hệ đến dục. Và do duyên với dục, khởi lên các lậu hoặc não hại, nhiệt não, vị ấy giải thoát khỏi chúng, không cảm giác thọ ấy. Đây gọi là xuất ly khỏi các dục.
Xuất ly khỏi Các Dục
Đầu tiên là xuất ly khỏi các dục, Đức Phật dạy rằng: “Tỷ-kheo tác ý về dục thì tâm không phấn chấn ở trong các dục”. Nghĩa là một người tu tập tinh tấn sẽ không thấy phấn chấn khi thân tâm sanh khởi những sự ham muốn, ưa thích về dục; không phấn khởi trước những hình ảnh về dục ám ảnh trong tưởng; không ưa thích đối với những cảm giác về dục, suy nghĩ về dục trong thọ và hành. Người này cũng “không tịnh tín vào các dục”, tức là không đặt niềm tin cho rằng dục là vui sướng; “không an trú vào các dục”, tức là khi những suy nghĩ, cảm giác, tư tưởng, hình bóng về dục sanh khởi lên thì tâm người này không an trú vào đó, không đặt mình vào đó, không đi theo nó; “không quyết định trong các dục”, nghĩa là không ưa thích, tham đắm trong dục, không nghĩ nó là vui sướng.
Trong kinh Đức Phật dạy rằng tâm không phấn chấn trong các dục, không tịnh tín, không an trú, không quyết định. Nhưng khi tác ý đến viễn ly, tâm liền phấn chấn trong viễn ly, được tịnh tín, được an trú, được quyết định. Như giữa tối và sáng, giữa đen và trắng, giữa nhiễm và tịnh: tịnh sẽ mạnh hơn nhiễm, trắng nhiều hơn đen, sáng xóa tan tối. Cũng vậy, người tinh tấn tu tập khi tác ý về viễn ly thì tâm liền phấn chấn trong viễn ly, được tịnh tín, được an trú, được quyết định. Tâm về ly dục của người này mạnh hơn những cảm thọ của dục, Đức Phật nói rằng tâm ấy của vị ấy là khéo làm, khéo tụ tập, khéo tăng trưởng, khéo giải thoát, khéo không liên hệ đến dục. Thế Tôn khen vị ấy là người khéo làm, khéo tu tập.
Nghĩa rộng của tu tập tức là tích tập những pháp quán, tích tập những sự tác ý, tích tập công phu trong quán bất tịnh, tức là thường xuyên thực tập quán bất tịnh, quán tứ đại, quán 32 thể trược, quán 9 giai đoạn tử thi. Nhờ nghe đi nghe lại nhiều lần những lời dạy của Đức Phật; sau đó nghiền ngẫm, suy xét tới lui, mà chúng ta dần dần chất chứa, tích tụ trí tuệ; đó gọi là tâm khéo tu tập. Cho nên, sự tu của ta là sự lặp tới lặp lui, nghe đi nghe lại, quán tới quán lui, thiền quán xuyên suốt về những pháp hành trong kinh tạng Nikāya. Lúc đầu thì mình thấy chưa quen, nhưng từ từ sẽ thích nghi dần với những gì được học, cuối cùng trí tuệ này sẽ thẩm thấu và trở thành xác quyết trong tâm mình. Lúc đó là thể nhập Thánh trí, nghĩa là cái nhìn của mình không còn phàm phu như trước, mà ta sẽ nhìn mọi thứ bằng trí tuệ của Đức Phật nên được gọi là thể nhập Thánh trí.
Tâm khéo tăng trưởng nghĩa là ngày nào vị này cũng nghe pháp, ngày nào cũng suy tư, ngày nào cũng quán chiếu, tác ý theo chiều hướng ly dục. Khi mình soi gương sẽ sanh khởi những thọ, tưởng, hành, trong đó có tâm ái vào tự ngã. Hoặc là thầm thầm, hoặc là thô, hoặc là tế mà trong thọ, tưởng, hành đó có sự chấp nhận, hài lòng hay bằng lòng về tự ngã, về sắc thân, về hình hài của chính mình. Lúc đó ta phải phá tư tưởng đó bằng cách tác ý: “Chính vì gương mặt này mà mình khổ đau, mình bị tham ái, mình bị trói cột, mình bị hệ lụy trong gương mặt này. Chính vì chấp nhận gương mặt này, mà đời đời kiếp kiếp mình chịu cảnh nước mắt giàn giụa, bệnh hoạn, khốn khổ, tai họa, tai nạn”. Hãy giải phẫu gương mặt này, hãy lột da mặt này ra, để nhìn thấy cái đầu lâu. Hãy bỏ hai con ngươi này xuốn, lấy hai tròng mắt bỏ xuống, bứt hết tóc bỏ xuống, gỡ lớp da ra, mở hộp sọ ra, sẽ nhìn thấy khối óc. Chúng ta cần thường thực tập quán sát và giải phẫu chính mình như vậy.
Lúc bắt đầu thực tập pháp này, Minh Thành rất bất ngờ khi hiểu được hình ảnh tự thân của chính mình ở trong tâm chính là ngã kiến, là thân kiến. Giai đoạn đầu Minh Thành chưa quen, chưa chấp nhận được, nhưng khi đã có sự thực tập và quán sát nhất định, mình mới thật sự thấy đúng. Tức là khi chúng ta nghĩ về chính mình thì sẽ có một hình bóng của mình ở trong tâm và hình bóng ở trong tâm đó là thân kiến. Ví dụ, khi chuẩn bị đi xuống ăn sáng, chúng ta thấy có hình bóng của mình đi xuống ăn sáng, hình bóng đó là thân kiến. Tại vì trong tâm mình luôn nắm giữ hình bóng về tự thân, luôn cho đó là mình, điều này hết sức là thâm sâu. Chúng ta cho rằng hình bóng trong tâm là mình thì làm sao thoát khỏi tứ đại này được, làm sao thoát khỏi sắc, thọ, tưởng, hành, thức này. Tới khi tứ đại tan rã ra thì mất thân, mình sẽ đau khổ, hoảng loạn; sẽ đi tìm một “cái mình” mới, đó là sắc thủ ẩn, đó là thân kiến. Cho nên, chúng ta phải tu cho đến lúc nào không thấy hình bóng tự ngã của mình, không có cái tôi ở đây, mà tất cả đều là trống rỗng, không có hình bóng nào trong tâm, không có hình bóng nào mà ta tự cho đó là mình nữa thì khi ấy ta mới phá nổi được thân kiến, kiến chấp về thân.
Đó là lý do chúng ta để bộ xương ở ngay trước mặt, tức là lấy hình ảnh bộ xương để phá kiến chấp về thân. Quán bất tịnh cũng là cách đem sự thật hiện thực, thực tại, thực tế vào tâm để phá ảo tưởng về tự ngã. Đó là phá kiến chấp về thân, phá sắc thủ uẩn, phá thân kiến, phá vỡ hình bóng ảo tưởng về tự ngã bên trong. Đây cũng chính là mục đích thâm sâu của phương pháp tu Tứ Niệm Xứ, mà đầu tiên là quán thân trên thân. Đi từ bên ngoài vào bên trong, từ cái thô như đi, đứng, ngồi, nằm, hơi thở, hành động; sau đó mới đi vào những thành phần cơ bản cấu tạo sắc thân này là đất nước gió lửa; sau đó là 32 bộ phận trong thân và chỉ ra cái tôi ở bên trong sự vận hành hoạt động của nó, tính chất dơ bẩn của nó như thế nào? Bất tịnh cấu nhiễm như thế nào? Rồi nó trải qua sự hủy hoại nó tan vỡ, tất cả quá trình của nó.
Trong Trưởng Lão Tăng Kệ, có một vị Tỳ-kheo đang đi khất thực trên đường thì có một cô dâu xinh đẹp giận nhà chồng nên bỏ về nhà cha mẹ đi ngang qua. Sau đó có người chạy lại hỏi vị Tỷ-kheo rằng Ngài có thấy cô gái nào đi ngang qua đây không? Ngài nói có thấy người đi qua đây nhưng Ngài thấy chỉ là bộ xương, không thấy cô gái nào hết, tại Ngài đang tu bạch cốt tưởng. Ngài đang quán và an trú vào bộ xương, vào quán bất tịnh và đã chứng quả A-la-hán. Khi đọc Trưởng Lão Tăng Kệ, chúng ta sẽ thấy các thầy Tỳ-kheo bất cứ lúc nào cũng thiền quán, đang đi trên đường, đang đi khất thực, đang nằm trên giường bệnh, đang gặp tai nạn, chứng nhập Thánh quả, đoạn tận tham sân si. Trong sinh hoạt thường ngày, các Ngài an trú liên tục trong thiền quán. Còn chúng ta chỉ cần buông thiền quán ra là lại trở về buông lung, phóng dật. Mình không quen với Thượng nhân pháp, mà quen với hạ nhân pháp, tiểu nhân pháp, quen với tâm hèn hạ, thấp kém, nhỏ hẹp, sân si, bắt bẻ, ghim gút, dòm ngó, phê phán, chỉ trích người khác. Nhiều khi Minh Thành đem cả một tấm lòng, một tình thương muốn giúp đỡ, nghĩ biết bao nhiêu cách để chỉ bảo nhưng nhiều vị cho rằng Minh Thành lên giảng pháp để chĩa mũi dùi vào họ.
Tu học theo tinh thần kinh tạng Nikāya đòi hỏi phải rất thâm sâu, nhỏ nhiệm, kỹ càng, miên mật, khít khao. Từng suy nghĩ, từng cảm xúc, từng tư tưởng, từng nhận thức phải được kiểm tra chặt chẽ thì mới đi đến lậu tận. Nhìn lại tự thân mình, có khi thân tâm đang bị tss làm chủ, mình được chỉ lỗi mà còn không thấy, thậm chí còn cãi lại thì làm sao mà tu Nikāya? Lý do tại sao Thánh pháp không còn, một phần cũng chính là do chúng sanh không có tâm hướng thượng. Chính bản thân Minh Thành có khi cũng thấy tâm tu của mình còn yếu kém, đúng ra mình phải thành tựu sớm hơn nữa nhưng tâm hướng thượng lại không đủ. Tâm hướng thượng là lúc nào cũng hướng lên, đi lên, phát triển, tăng thượng, tinh cần, tinh tấn, không bao giờ chấp nhận dừng lại, đứng lại. Đa số người tu bây giờ, hễ được ít liền cho là đủ, tu được chút thì cứ nghĩ là được nhiều và bằng lòng với hiện tại, nghĩ như vậy là được rồi, không muốn vươn lên. Nhà Thiền gọi đó là “đóng bít cửa ngộ”, nghĩa là cánh cửa giác ngộ bị đóng lại, bị gài chốt
Xuất ly khỏi Sân
Lại nữa, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo tác ý về sân, tâm không phấn chấn trong sân, không tịnh tín, không an trú, không quyết định. Nhưng khi tác ý đến vô sân, tâm liền phấn chấn trong vô sân, được tịnh tín, được an trú, được quyết định.
Vô sân ở đây phải hiểu là tâm từ. Khi nổi lên một cơn giận ở trong cảm thọ thì mình không thấy thích thú, không chấp nhận, không đi theo cảm thọ bực bội sân hận đó, chán ghét đó. Cần nhận thức rõ ràng rằng, khi nổi sân lên thì mình nhập cuộc với nó, hay phải cố gắng từ bỏ nó? Chúng ta phải thấy tâm sân là không tốt, cần phải từ bỏ thì mới là người có tu; còn nếu sân vẫn sanh khởi lên tức là mình tu tâm hiền chưa thành tựu, như vậy là không xuất ly, không viễn ly, không xả ly tâm sân. Cho nên, Đức Phật dạy rằng, khi tác ý đến vô sân, tác ý đến tâm từ thì vị này liền phấn chấn trong tâm từ; chỉ cần mở bài tâm từ lên cảm xúc dâng trào, thậm chí là nước mắt tuôn trào, tịnh tín, an trú, quyết định trong tâm từ đó. Trong tâm có sự xác quyết mình phải ly sân mới là đúng, mình phải đi theo con đường này, tâm mình phải như vậy, phải quyết định an trú trong đó.
Tâm ấy của vị ấy là khéo làm, khéo tụ tập, khéo tăng trưởng, khéo giải thoát, khéo không liên hệ đến sân. Và do duyên với sân, khởi lên các lậu hoặc não hại, nhiệt não, vị ấy giải thoát khỏi chúng, không cảm giác thọ ấy. Đây gọi là xuất ly khỏi sân.
Tùy theo ngữ cảnh, mà những từ Đức Phật sử dụng sẽ chỉ đúng trạng thái của tâm: khéo tăng trưởng ở đây là khéo tăng trưởng tâm từ, khéo tụ tập là khéo tụ tập tâm từ, khéo giải thoát là khéo giải thoát tâm sân, khéo tịnh tín là đặt hết niềm tin vào tâm từ, xác quyết quyết định đối với tâm từ, chỉ có tâm này mới đem lại hạnh phúc an lạc gọi là an trú, tịnh tín, quyết định. Khéo giải thoát, khéo không liên hệ đến sân là không còn liên hệ đến sân giận nữa.
Vì sao? Vì do duyên với sân, khởi lên các lậu hoặc não hại, nhiệt não, vị ấy giải thoát khỏi chúng, không cảm giác thọ ấy. Đây gọi là xuất ly khỏi sân. Không cảm giác thọ ấy tức là cảm giác sanh khởi lên mà vị ấy không chấp nhận. Dục khởi lên không chấp nhận, sân khởi lên không chấp nhận, đó gọi là không cảm giác thọ ấy. Ví dụ người ta nấu một món cháo đặc sánh, mình thấy ngán không ăn, đó là mình không thọ nhận.
Tuy có khởi lên bực bội nhưng mình không nhận, không chấp nhận. Để có thể không chấp nhận nó là mình là nhờ mình có nhận diện ngũ uẩn, cho nên mình không cảm giác thọ ấy; cụm từ này là pháp hành mà chúng ta cần phải nhớ. Còn đằng này khi vừa khởi lên bực bội thì mình nhận ngay là mình giận, mình bực như vậy là mình không xuất ly, không giải thoát, không có tu tập.
Minh Thành vẫn thường kể câu chuyện về Đức Phật và các vị Bà-la-môn.
Khi còn tại thế, một lần, Đức Phật đi giáo hóa tại vùng Bà-la-môn.
Khi đến đây, các tu sĩ Bà-la-môn thấy đệ tử của mình đi theo Đức Phật nhiều quá nên sinh lòng ghen ghét. Họ ra đón đường và mắng chửi Đức Phật.
Trước những lời nhiếc móc, sỉ nhục khó nghe, Đức Phật vẫn đi thong thả, còn những người kia cứ tiếp tục đi theo sau chửi.
Thấy Đức Phật thản nhiên làm thinh, các tu sĩ Bà-la-môn càng thêm tức giận, chặn phật lại hỏi:
– Cù-đàm có điếc không?
– Ta không điếc.
– Ngài không điếc sao không nghe tôi chửi?
– Này Bà-la-môn, nếu nhà ông có đám tiệc, thân nhân tới dự, mãn tiệc họ ra về, ông lấy quà tặng họ không nhận thì quà đấy về tay ai?
– Quà ấy về tôi chứ ai.
– Cũng vậy, ông chửi ta, ta không nhận thì thôi.
Còn mình ai cho gì cũng nhận, đưa bánh cũng nhận, mà đưa thuốc độc cũng lấy, cho nên mình khổ. Do vậy, mình phải biết tập không phải cái gì cũng nhận; vì cái gì cũng nhận thì trúng độc mà không hay. Chẳng hạn, có ai gửi tin nhắn chửi mình thì tâm trạng mình ra sao? Do duyên có con mắt, có sắc là dòng tin nhắn, làm sanh khởi lên sự rõ biết dòng tin nhắn. Sự hội tụ của ba pháp này là nhãn xúc, từ xúc sanh ra cảm thọ, cảm thọ đó được thọ nhận và sanh ra sân giận. Thay vào đó, mình phải tập không nhận, đóng cảm thọ lại, để im ở đó, chừng nào cảm thọ trong tâm bình tĩnh, bình ổn, bình yên thì lúc đó tính sau. Còn khi sân đang sanh khởi thì không tiếp tục đọc nữa. Nếu cần thiết mình phải tác ý: “Mù đi đừng thấy nữa, thấy sân si, khó chịu thì thấy làm gì?”.
Như hình tượng ba chú khỉ tam không: bịt hai con mắt, bịt hai lỗ tai, bịt cái miệng lại. Tức là, có những điều mình thấy mà giống như không thấy, thấy mà như mù, nghe mà như điếc, có miệng như câm… thì mình tu sẽ ổn; bằng không, cái gì mình thấy mình cũng thấy, cũng nghe, cũng nói thì mình sẽ mệt mỏi. Cho nên, người tu phải thu thúc lục căn. Minh Thành thường phải nghe nhiều người bày tỏ, chia sẻ chuyện này, chuyện kia và hóa giải giúp họ, nhưng nói xong Minh Thành quên hết, vì tâm này là dành để tu họ; còn nghe mà sân si, khó chịu thì nghe làm gì, cho điếc luôn, điếc trong vô lượng kiếp rồi bây giờ điếc thêm chút cũng không sao.
Trong việc gì cũng vậy, người nhanh nhạy quá cũng khổ, chậm quá cũng khổ, tốt nhất là tùy chỗ nhanh tùy chỗ chậm. Ngay cái chỗ cần chậm thì nhanh nhạy, ngay cái chỗ cần nhanh nhạy thì lại chậm thì không ổn. Cũng như nhà đang cháy mà mình lại đi thiền hành, cần cứu hỏa thì nói “tôi đang ngồi thiền”; hoặc chỗ mọi người đang thiền hành thì mình làm việc này việc kia; thân tâm cứ làm ngược lại với việc trước mắt, không đúng thời. Cho nên, tâm mình phải khéo léo để học pháp, bằng không, việc học không có kết quả, học bị sai, học bị nghiêng lệch, thiên chấp; không rõ biết trường hợp trong bài kinh đó Đức Phật dạy cho ai? Trong hoàn cảnh nào? Sự việc đó như thế nào Đức Phật nói điều đó? Và do đó mà ta thực hành pháp không đúng, không mang lại lợi ích, hiệu quả cho tự thân và mọi người.
Xuất ly khỏi Hại
Lại nữa, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo tác ý về hại, tâm không phấn chấn trong hại, không tịnh tín, không an trú, không quyết định. Nhưng khi tác ý đến vô hại, tâm liền phấn chấn trong vô hại, được tịnh tín, được an trú, được quyết định. Tâm
ấy của vị ấy là khéo làm, khéo tụ tập, khéo tăng trưởng, khéo giải thoát, khéo không liên hệ đến hại. Và do duyên với hại, khởi lên các lậu hoặc não hại, nhiệt não, vị ấy giải thoát khỏi chúng, không cảm giác thọ ấy. Đây gọi là xuất ly khỏi
hại.
Tác ý về hại tức là sanh khởi ý muốn làm hại người khác. Dục, sân, hại cũng chính là ba pháp tà tư duy. Còn khi tác ý về vô hại, tức là tu tập tâm bi thì tâm liền phấn chấn trong vô hại, được tịnh tín, được an trú, được quyết định. Khi tâm sanh khởi ý muốn làm hại người khác thì mình tác ý điều này là khổ đau, là tai họa, là thứ tồi bại, ác độc và mình không chấp nhận ý nghĩ muốn làm hại người khác.
Ví dụ, mình nhìn thấy con gì ở dưới chân là liền bực bội; đôi khi trong nhà có nhiều kiến, gián, côn trùng khiến mình khó chịu thì mình đổ dầu lửa cho những con vất đó chết hết. Hoặc những khi bị kiến và muỗi cắn, đốt làm mình ngứa ngáy, bực tức, sân giận thì mình tìm cách bắt nó lại và chà cho nó chết, những hành động trên chính là hại tâm, đồng thời hại luôn cả thân vì trong đó có thân hành. Đi đụng vào cạnh cửa mình cũng sân với cánh cửa, lỗi rõ ràng của mình không quan sát, không cẩn thận nhưng đổ thừa cho những đối tượng khác. Từ những chuyện đơn giản này, mình nhìn ra được nhiều chuyện khác. Khi có chuyện xảy ra, chúng ta thường đổ lỗi cho người khác, chứ không nhìn lại mình; đây là chỗ thất bại. Tâm hại của chúng ta rất khủng khiếp, nó nằm im trong tâm, chỉ cần đủ cơ hội, đủ nhân duyên là nó liền bùng phát, mình phải đề phòng hết sức cẩn thận. Chính vì vậy mình phải tu tập tâm bi, nuôi dưỡng lòng xót thương.
Khi khởi tâm đổ dầu hoặc đổ những chất độc cho những con kiến chết, vì nó cắn mình đau, làm mình bực tức thì mình phải tâm xót thương, thấy tội nghiệp nó. Vì nó cũng là ngũ uẩn, cũng có sắc, thọ, tưởng, hành, thức nhưng vì ác nghiệp phải chịu quả báo nên mới phải sanh vào những cái thân nhỏ bé như vậy, mình cũng từng ở trong những cái thân như vậy, bây giờ mình giết 100 con, 100 sinh mạng đền trả cái nghiệp quả đó như thế nào? Trả 100 mạng của mình có xứng đáng không? Có xứng đáng vì một hành động trong cơn sân nhất thời, để rồi phải chuốc lấy một quả báo khủng khiếp và hãi hùng, kinh sợ như vậy hay không? Thay vào đó, khi bị những con vật ấy cắn, chúng ta phải quán nghiệp quả, trải tâm bi mẫn, lòng từ thì mình sẽ làm dừng tâm hại lại. Mình có thể dùng cây chổi lau quét những con vật đó vào đồ hốt rác, rồi đem đổ ra ngoài, đâu nhất thiết phải làm hại nó.
Thế nên, tâm bi rất quan trọng, lòng bi mẫn xót thương rất quan trọng, phải tu tập tâm bi nhiều. Đức Phật nói Tứ vô lượng tâm là cỗ xe, là căn cứ địa bảo vệ, bảo hộ mình, mình cứ mua bảo hiểm ở bên ngoài thế gian nhưng không biết Tứ vô lượng tâm cùng với tâm hiền thiện là tối thượng bảo hiểm của Đức Thế Tôn truyền lại cho mình. Tâm hiền và Bốn vô lượng tâm là bảo hiểm tối thượng của Nhân Thiên, không có bảo hiểm nào trên thế giới này có thể so sánh được tâm hiền và Bốn tâm vô lượng: từ, bi, hỷ, xả. Chính tâm hiền và bốn tâm vô lượng này sẽ bảo vệ mình.
Xuất ly khỏi Sắc
Lại nữa, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo tác ý về sắc, tâm không phấn chấn trong sắc, không tịnh tín, không an trú, không quyết định. Nhưng khi tác ý đến vô sắc, tâm liền phấn chấn trong vô sắc, được tịnh tín, được an trú, được quyết định. Tâm ấy của vị ấy là khéo làm, khéo tụ tập, khéo tăng trưởng, khéo giải thoát, khéo không liên hệ đến sắc. Và do duyên với sắc, khởi lên các lậu hoặc não hại, nhiệt não, vị ấy giải thoát khỏi chúng, không cảm giác thọ ấy. Đây gọi là xuất ly khỏi sắc.
Tác ý về sắc là tác ý về vườn hoa của mình, tịnh thất của mình… tức là gắn chữ “của mình” vào tất cả mọi thứ, từ chỗ ngủ, món đồ, ngôi chùa, cho đến thân xác này.
Xuất ly khỏi Có Thân
Lại nữa, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo tác ý về có thân, tâm không phấn chấn trong có thân, không tịnh tín, không an trú, không quyết định. Nhưng khi tác ý đến đoạn diệt có thân, tâm liền phấn chấn trong đoạn diệt có thân, được tịnh tín, được an trú, được quyết định.
Khi tác ý như vậy thì tâm vị này không phấn chấn, không hoan hỷ trong đó, nhưng khi tác ý để lìa khỏi sắc thì vị này phấn chấn, gọi là phấn chấn trong vô sắc; tức là không muốn có cái thân này, không ưa thân, không thích thân, không mến thân, không khoái thân, không ham thân, không nắm giữ thân, mà rất ngao ngán, nhàm chán thân. Họ vui thích khi không có sắc thân này, từ bỏ kiến chấp có thân này.
Hiện giờ trong tâm của Minh Thành hiện lên trong tâm nhiều thân què quặt, bò lết, ghẻ lở, cùi hủi, hết hình bóng này lại đến hình bóng kia, đui, điếc, câm, ngọng. Ngán, ngán, ngán… ngán cái thân đầy ung hôi này.
Ai nhàm, ai chán nhìn thân xác,
Phiền não, khổ đau sẽ cạn dần.
Ai nhàm, ai chán nhìn thân xác,
Tử thần sẽ nản chí, buông tay.
(Đảnh Lễ Đức Hạnh Ngài Xá-Lợi-Phất)
Minh Thành có nghe một số người trình pháp họ ngao ngán với thân này muốn nhảy xuống giếng nhưng nghĩ lại cái giếng này là của cả xóm dùng cho nên không dám nhảy. Có người đã lấy miếng kính vỡ cắt vào động mạch chủ ở tay, từ bỏ thân xác này vì cuộc đời quá đau khổ. Cũng có người muốn kết thúc đời sống mặc dù họ được sống ở một xứ gọi là thần tiên, ai cũng muốn đặt chân đến, đó là Mỹ quốc. Cho nên Khổ Thánh Trí tràn ngập khắp mọi nơi trong đời sống này, không phải chỉ có trong Kinh.
Thân này là ung nhọt, bệnh tật, lo lắng, sợ hãi, bất an, tai nạn, nhớ nhớp, bẩn thỉu là khu rừng của tội lỗi. Vậy mà chỉ cần người nào có hành động không kính thân, không thương thân, không trọng thân, không quý thân của mình thì mình liền oán thù người đó, như vậy là không tốt. Chúng ta cần thường xuyên thiền quán bài Xả vô lượng tâm để xả bớt chấp thân này. Thân này đáng ngao ngán, đáng nhàm chán, bao nhiêu là bệnh hoạn, bệnh tật, nói một chút cũng có chuyện, nói qua nói lại cũng có chuyện, hành động một chút cũng có chuyện. Chính vì vậy các bậc Thánh nhìn cái thân này là nùi giẻ rách, cái thân này là ung nhọt, nhìn cái thân này là cái thùng rác, cái cầu tiêu bẩn thỉu, là cái bao đầy rác. Vậy mà lại vỗ ngực xưng tên, kiêu căng, kiêu ngạo, nghĩ mình còn trẻ là kiêu ngạo, có sức khỏe thì kiêu ngạo với sức khỏe, có chút sắc đẹp thì kiêu ngạo với sắc đẹp, có một chút sự sống thì kiêu ngạo với sự sống đó.
Thật là ngao ngán, nhàm chán, xấu hổ và nhục nhã đối với sắc thân bẩn thỉu, hôi tanh, rỉ chảy, nhơ nhớp, xú uế, đầy kiêu căng, kiêu ngạo. Thế Tôn nói cái thân này khung làm bằng xương, quét tô bằng thịt máu, ở trong đây già nua, bệnh tật, chết chóc, lừa đảo, chất chứa ngã mạn, gian dối, xảo trá. Mình phải làm cho mình sanh khởi cảm giác này thật là nhiều, an trú trong đây, lớn mạnh trong đây, sung mãn trong những cảm giác này, để nó đánh đuổi những cảm giác hỷ lạc, yêu thích, tham ái, chấp ngã, chấp thủ.
Minh Thành vô tình xem một nhà tù trên thế giới có nhốt một số băng đảng săm kín đầy mặt nhìn không giống con người, còng tay, còng chân. Nhìn ánh mắt của họ tóe lửa, rực lửa, ánh mắt như hổ báo, những con người ở trong đó bị hành hạ như thú vật, bị còng chân lại. Thậm chí có cầu tiêu ngay bên cạnh những người tù phạm tội nghiêm trọng, phạm nhân giết người. Không những bị nhốt ở trong nhà giam mà còn họ bị còng chân nên đi lại không được. Lúc nào sống cũng trong nỗi sợ hãi, vì không được biết thời gian mình ra pháp trường là khi nào, mỗi đêm nghe gõ cửa là hồi hộp tim đập mạnh, không biết tử thần đến phòng kế bên hay phòng mình. Khi người ta tới, tù nhân bị trùm đầu và lôi đi ra xử bắn hoặc tiêm thuốc độc, có một số nước cho nằm giường điện.
Cũng vậy, thân này là tù ngục giam hãm tâm thức của chúng ta, khiến mình cứ xoay quanh trong sắc, thọ, tưởng, hành, thức; rồi lẩn quẩn trong dục, tham, ái, sân, si, vô minh, bản ngã, hơn thua, ích kỷ, hẹp hòi, ganh tị, đố kỵ, hận thù, không đi ra được như rơi vào ma trận. Cũng vì cái thân này mà tham dục; sân hận, hơn thua, ganh tỵ, tật đố sanh khởi cũng vì thân này. Cho nên, hướng đến sự chấm dứt thân này thì tâm của người tu phấn chấn, hoan hỷ.
Tâm ấy của vị ấy là khéo làm, khéo tụ tập, khéo tăng trưởng, khéo giải thoát, khéo không liên hệ đến có thân. Và do duyên với có thân, khởi lên các lậu hoặc não hại, nhiệt não, vị ấy giải thoát khỏi chúng, không cảm giác thọ ấy. Đây gọi là xuất ly khỏi có thân.
---
Đối với vị ấy, dục hỷ không có tùy miên, sân hỷ không có tùy miên, hại hỷ không có tùy miên, sắc hỷ không có tùy miên, hữu thân hỷ không có tùy miên.
Vị ấy không có tùy miên đối với dục hỷ, không có tùy miên đối với sân hỷ, không có tùy miên đối với hại hỷ, không có tùy miên đối với sắc hỷ, không có tùy miên đối với hữu thân hỷ.
Này các tỷ-kheo, đây gọi là tỷ-kheo được giải thoát khỏi tùy miên, đã chặt đứt khát ái, giải tỏa kiết sử, do chánh quán nhiếp phục kiêu mạn, đoạn tận khổ đau.
Này các tỷ-kheo, có năm giới đưa đến xuất ly này.
(Tăng Chi Bộ Kinh tập II, Chương Năm Pháp, XX. Phẩm Bà-La-Môn, bài kinh Xuất Ly)
Dục hỷ không có tùy miên: dục hỷ là sự vui sướng, thích thú trong dục; nhưng vị này không có tùy miên đối với dục hỷ, nghĩa là vị này không có khoan khoái, không còn yêu thích đối với dục. Sự hoan hỷ đối với dục đi theo trong tâm miên man bây giờ không còn nữa. Dục này không chỉ riêng là dục nam nữ; mà đó là năm dục trưởng dưỡng đối với sắc, đối với thanh, đối với hương, đối với vị, đối với xúc.
Sân hỷ không có tùy miên: nghĩa là vị này không còn tâm ưa thích tức giận. Sân hỷ tức là muốn cơn giận đó còn ở trong tâm mình mà không muốn bỏ đi. Ví dụ khi giận ai, mình không muốn chất chứa cơn giận đó, khi cơn giận nổi lên thì mình xả ra tất cả. Thế nhưng bảy ngày sau vẫn còn giận, vẫn muốn giận người đó, không quên, đó gọi là sân hỷ. Tức là mình ưa thích cơn giận đó, không muốn từ bỏ cơn giận đó, cho nên có những người giận nhau 10 năm, 20 năm, giận cả đời cũng bởi vì người ta muốn giận, thích giận, muốn giữ cảm giác sân giận đó. Những bộ phim kiếm hiệp ngày xưa dạy: “Quân tử trả thù 10 năm chưa muộn” đó là dạy hư người xem, dạy để tăng trưởng tham sân si. Nếu ta không ưa thích cơn giận thì làm sao giữ nó được trong suốt 10 năm? Những câu nói này hết sức là nguy hiểm, độc hại, đó chính là thuốc độc. Cho nên, người tu là phải triệt hạ sân hận, diệt tận sân hận.
Hại hỷ không có tùy miên: nghĩa là tâm hại không còn đi theo vị này miên man, vị này không ưa thích những tâm hại người, xấu ác.
Sắc hỷ không có tùy miên: nghĩa là không có sự yêu thích các sắc trong tâm, nhờ không còn thích bất cứ sắc nào cho nên mới ra khỏi sắc, nếu còn ưa thích sắc thì không thể đi ra khỏi sắc. Ví dụ cho rằng “Linh Quy đẹp quá, thích Linh Quy quá, nhận là chùa tôi, chỗ tôi tu rất đẹp, trời đất bao la, mây bay đỉnh núi…”, do chấp thủ vào sắc như vậy mà sau khi chết, nếu được làm người thì đầu thai quay trở lại Linh Quy để tu nữa; còn nếu không đủ phước làm người thì làm cô hồn ở đây, vì mình yêu thích cảnh sắc ở đây. Cho nên, nếu hiểu “xuất ly khỏi sắc” một cách thâm sâu của Thánh Trí Tuệ nghĩa là không còn yêu thích bất cứ sắc chất nào. Làm được điều này không phải dễ dàng, nếu không nỗ lực thì rất khổ để thể nhập dòng Thánh Trí Tuệ.
Hữu thân hỷ không có tùy miên: nghĩa là vị Thánh Đệ Tử, vị thành tựu Chánh tri kiến không yêu thích sự có thân này, không thích sự hiện hữu trong năm uẩn. Những điều này là Tối Tôn Tối Thượng, Chánh Biến Chi, Vô Thượng Giác; chúng ta vô cùng phước báu mới nghe được những từ này, những chữ này, những nghĩa lý này.
Ngoài đời, tại sao có nhiều người đi tự vẫn? Bởi vì họ không muốn cái thân này nữa nhưng người ta không biết cách nào để thoát ra. Người ta bế tắc hoàn toàn, không có lối thoát, không biết làm sao để giải quyết tất cả những nỗi khổ đang dồn dập đến họ, đó là ngõ cụt của phàm phu vô minh ở trong bóng đêm.
Còn không muốn có thân theo Thánh trí không phải như vậy; mà bởi vì biết có cái thân này là có khổ, sanh, già, bệnh, chết, sầu, bi, khổ, ưu não, tham, sân, si, dục, ái, vô minh, bản ngã; biết cái thân này là hang ổ cho các lậu hoặc tăng trưởng; cho nên các Ngài muốn phá vỡ hang ổ luân hồi này để thoát ra sinh tử. Sự xuất ly khỉ có thân của Đa văn Thánh đệ tử rất khác so với Vô văn phàm phu. Vì khi các Ngài nhìn tận cùng thấu đáo bản chất đời sống này, của tứ đại này, của ngũ uẩn này, của thế giới này, của thế gian này cho nên các Ngài vượt thoát ra đó mới gọi là đạo lộ giải thoát tối thượng của bậc Thánh, tức là không yêu thích có thân.
Người tu rất cần cố gắng tăng trưởng trí tuệ này. Những người mắc bệnh nặng mà có tu tập sự nhàm chán, từ bỏ ngũ uẩn thì lúc chết sẽnhẹ nhàng lên thẳng Tịnh Cư Thiên. Nhờ quán chiếu điều này thâm sâu, nhuần nhuyễn nên đến khi phải rời bỏ thân xác này thì lúc đó mình chỉ mỉm cười, tâm nhẹ tênh vì sắp bỏ được gánh nặng xuống. Chỉ có người yêu thích có thân, nắm giữ thân, ái luyến thân, chấp thủ thân nên lúc cái thân sắp sửa tan rã thì rất đau khổ. Còn gười muốn từ bỏ thân thì sẽ vứt bỏ cái thân này như quăng cái bị rác vào thùng, thấy rất nhẹ nhàng, vui khỏe, không phải suy nghĩ nhiều. Có nhiều vị chứng được Thánh quả lúc sắp ra đi là nhờ an trú trong những pháp quán mà Đức Thế Tôn đã truyền trao, đặc biệt là quán từ bỏ ngũ uẩn. Hơn thế nữa, lúc bình thường các Ngài đã không ưa thích có thân. Như câu chuyện về Ngài Phú-Lâu-Na được tôn xưng là Đệ nhất thuyết pháp, cũng là người đầy ắp tình thương. Khi Ngài đi giảng pháp Đức Thế Tôn nói:
– Này Phú Lâu Na! Người ở nước Du Na rất hung bạo, nếu ông đến đó, họ mắng chửi ông thì sao
– Bạch Thế Tôn, họ thật hiền thiện vì chỉ mắng chửi con; họ vẫn chưa dùng đá, dùng gậy để đánh con.
– Nếu họ dùng đá, dùng tay chân, dùng gậy gộc đánh ông thì sao?
– Bạch Thế Tôn, họ còn chưa đến nỗi ác tâm, chưa hủy hoại sinh mạng của con.
– Nếu người ta hủy hoại sinh mạng của ông thì sao?
– Bạch Thế Tôn, các Tỳ-kheo khi đã quán bất tịnh thâm sâu, nhàm chán thân này, thấy nó bất tịnh, dơ bẩn, đáng nhờm tởm nên các ngài còn muốn từ bỏ sớm. Bây giờ có người giải thoát thân hôi hám, bất tịnh này cho con, như vậy, con phải cảm ơn họ để con được giải thoát khỏi thân tứ đại, ngũ uẩn, vô thường, bất tịnh này.
– Này Phú Lâu Na, Ông nay hãy làm những gì Ông nghĩ là hợp thời.
Trong mùa mưa Ngài đã độ cho 500 vị chứng Thánh quả và Ngài cũng nhập Niết-bàn tại đó.
(trích Trung Bộ Kinh III, 145.Kinh Giáo Giới Phú Lâu Na)
Khi đã thể nhập vào Thánh trí tuệ này thì khó có gì làm cho mình đau khổ nữa, chết cũng không sợ thì sợ gì trên cuộc đời này?! Phải tu đến chỗ không còn ưa thích cái thân này, mỗi lần nghĩ đến cái thân là thấy xấu hổ, thấy nhàm chán, thấy nghiệp quả cho nên mới có cái thân như thế này, vậy nên có gì đâu mà tự phụ, tự kiêu, cao ngạo, có gì đâu mà ta đây hãnh diện, đi đâu cũng cúi đầu xuống. Nhìn vào trong thân này thấy thối từ trong ra ngoài, từ nghĩa đen cho đến nghĩa bóng, vậy mà còn chưa đủ để khiêm hạ, khiêm cung, khiêm nhường, xấu hổ hay sao. Vậy mà hở chút là kiếm chuyện, hở chút là sân si, gây sự, nhục nhục nhục… Tôn giả dẫn dắt chúng ta còn dùng cả từ “đội quần” để tác ý đánh tan cái bản ngã này. Dùng những từ như vậy thì cảm thọ mới mạnh, còn dùng từ nhẹ thì nó không chịu cúi đầu. Mình sân si hơn thua với huynh đệ, trong gia đình, chồng con. Tác ý: “Mày đội cái quần mày chui xuống đất, mày độn thổ giùm tao, xứng đáng là Thánh đệ tử không? Xứng đáng là một người tu không? Sao tối ngày kiếm chuyện vậy?”. Sau đó mở tâm rộng ra, an trú vào Bốn tâm vô lượng, trải rộng khắp mười phương. Thực tập như vậy, đại chúng sẽ thường trú trong tâm hiền thiện, tinh ba, ngọt ngào, dễ chịu, dễ thương, dễ mến, hiền hòa.
Này các Tỷ-kheo, đây gọi là Tỷ-kheo được giải thoát khỏi tùy miên, đã chặt đứt khát ái, giải tỏa kiết sử, do chánh quán nhiếp phục kiêu mạn, đoạn tận khổ đau.
Giải thoát khỏi tùy miên nghĩa là thoát ra được những cái đi theo miên man trong tâm mình, chặt đứt khát ái, giải tỏa kiết sử. Do chánh quán nhiếp phục kiêu mạn, đoạn tận khổ đau, nghĩa là nhiếp phục được bản ngã, đoạn tận đống khổ to lớn, vĩ đại mấy chục ký đang ngồi đây. Khi đó ta thấy rõ rằng đây là đống khổ đau, vác cái đống này mệt mỏi vô cùng. Đã mấy mươi năm phải mang vác cái đống tai nạn, nghiệp quả, nghiệp báo, ác nghiệp. Chặt đứt khát ái tức là tháo gỡ hết tất cả các trói buộc. Quán chiếu một cách sâu sắc để bẻ gãy sự kiêu mạn trong cái ngũ uẩn này, đoạn tận dứt hết tất cả cái đống khổ đau to lớn này, diệt tận một cách hoàn toàn từ bỏ một cách trọn vẹn, buông xuống một cách nhẹ nhàng, bỏ gánh nặng xuống nhẹ tênh, thảnh thơi và bình an./.