Thư Viện Linh Quy
← Danh sách

THỨ TỰ TU TẬP 15

2026-03-03 00:52:14
Kinh Nikāya Giảng Giải

THỨ TỰ TU TẬP 15

Thích Minh Thành

MỤC LỤC

TOC \o "1-3" \h \z \u I.Đạo lộ của bậc Thánh PAGEREF _Toc128838091 \h 1

II.Trình pháp PAGEREF _Toc128838092 \h 3

III.Tất cả Pháp lấy Thế Tôn làm căn bản PAGEREF _Toc128838093 \h 13

1.Y cứ Thánh điển PAGEREF _Toc128838094 \h 13

2.Sự an tịnh của bậc Thánh PAGEREF _Toc128838095 \h 15

Đạo lộ của bậc Thánh

Trong bài kinh Ganaka Moggallana, Đức Thế Tôn đã trình bày về tám chi phần trong đạo lộ tu tập. Nắm vững được tám bước này tức là chúng ta nắm được đạo lộ của bậc Thánh, bao gồm:

Giữ giới hạnh

Hộ trì các căn

Tiết độ trong ăn uống

Chú tâm cảnh giác

Chánh niệm tỉnh giác

Lựa chọn chỗ thanh vắng (sống viễn ly)

Đoạn trừ năm triền cái

Thành tựu thiền định (trong đó, thành tựu bốn tầng thiền sẽ đoạn trừ được các lậu hoặc, chữ thiền này bao gồm thiền định, thiền tuệ và cả thiền quán).

Minh Thành xuất gia năm 1991, đến năm 2000 là dành gần mười năm học Cao đẳng Phật học tại chùa Vĩnh Nghiêm. Khi đó, chúng con được những bậc thượng thủ, tôn túc giảng dạy, như: Hòa Thượng Hiệu trưởng; cố Hòa Thượng Trụ trì chùa Vĩnh Nghiêm – Thượng Thanh Hạ Kiểm; Hòa Thượng Phó Pháp Chủ - Ngài Đức Nghiệp; Hòa Thượng Pháp Chủ hiện tại – Ngài Trí Quảng; Hòa Thượng Chủ Tịch – Ngài Thiện Nhơn… Ngoài ra, Minh Thành còn tìm học với Hòa Thượng Trúc Lâm – Thượng Thanh Hạ Từ, cũng như cố Hòa Thượng Nguyên Ngôn, Hòa Thượng Thiện Trí… Thậm chí, khi đó có những môn Minh Thành phải học các bảng chữ Hán, chứ không được học tiếng Việt. Suốt mười năm ròng rã, mỗi ngày Minh Thành đều nghe Pháp tám tiếng, vài tháng là sắp xếp ra Thiền viện Trúc Lâm một lần, lâu lâu lại lên núi nhập thất...

Đến ngày thi tốt nghiệp Cao đẳng Chuyên Khoa Nội Minh ở chùa Vĩnh Nghiêm thì các huynh đệ hỏi Minh Thành “bây giờ phải tu như thế nào”. Khi nghe mọi người hỏi câu hỏi đó thì Minh Thành thấy rất xót xa, vì ngay chính bản thân Minh Thành lúc đó cũng chưa được vào đạo lộ Nikāya, chưa đi được vào Thánh đạo, chưa thấy được con đường của bậc Thánh nhưng với sự tha thiết tu học nên các huynh đệ cũng tin tưởng và thương mến. Cho đến bây giờ, khi nhìn lại, Minh Thành thấy rằng, sau hai mươi tám năm tu học, mình vẫn không biết bắt đầu từ đâu, chặng giữa như thế nào và kết thúc sự tu học ra sao. Những điều đó vẫn không được minh bạch, rõ ràng, tường tận. Suốt hai mươi tám năm tu trong sự lờ mờ, lơ mơ, tu trong sự mài mò, tìm kiếm một con đường thật sự.

Lí do Minh Thành chia sẻ cho huynh đệ bài kinh Ganaka Moggallana trong suốt một học kỳ là vì Minh Thành rất thương các thầy các cô, thương hơn cả anh em ruột. Minh Thành gửi gắm duy nhất bài kinh này trong suốt 15 buổi học là vì bài kinh này chính là Thánh đạo – đạo lộ của bậc Thánh. Người nào nắm vững con đường này, không chỉ thuộc lòng trên câu chữ, mà còn thuộc lòng phần giảng giải, giải thích, điều này đồng nghĩa chúng ta nắm được bí kíp Chánh Pháp, thấy được đạo lộ của bậc Chánh Đẳng Chánh Giác. Nhờ đó, nếu ai hỏi mình con đường tu học như thế nào thì chúng ta biết cách hướng dẫn, dẫn dắt. Bằng không, khi được hỏi, chúng ta chỉ có thể trả lời con đường tu học là “giới, định, tuệ”, “văn, tư, tu”.

Vì vậy, đối với bài kinh này, chúng ta phải nắm được yếu nghĩa của tám chặng đường trong đạo lộ tu học, sau đó suy nghiệm thật sâu sắc để hiểu ý nghĩa bài kinh và biết cách vận dụng vào sự tu học. Cho nên, việc học thuộc đạo lộ tu học này sẽ mang lại lợi ích không lường. Minh Thành mất ba mươi năm đi khắp trong nước, ngoài nước tìm cầu Chánh Pháp mới thấy được con đường này, bây giờ Minh Thành cúng dường lại cho các thầy cô, mở sẵn đạo lộ pháp hành để quý vị hành trì, nếu quý thầy cô không để tâm vào thì thật uổng phí. Các vị bây giờ không phải mất ba mươi năm để cầu pháp như con, chỉ cần nghe pháp tiếp nhận, ghi nhớ, nắm vững, hành trì là nhìn thấy được Thánh đạo.

Đạo lộ trong bài kinh này chưa phải là tất cả nhưng đây là phần cốt lõi, điều này được chính được Đức Thế Tôn nói ra. Cho nên, đây là bậc thang, là con đường tuần tự, là các bước trong lộ trình tu học của người xuất gia. Chính vì vậy, các thầy cô hãy chiêm nghiệm thật sâu sắc về từng tiến trình trong đạo lộ này để thấy được sự vận dụng trong quá trình tu tập thực tế. Cần lưu ý rằng, những gì chúng ta hiểu phải được y cứ dựa trên kinh tạng, từ đó mới thực hành theo.

Trình pháp

Sư cô 1:

Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.

Cung kính ngưỡng bái bạch trên Thượng tọa giáo thọ, lời đầu tiên con xin gửi lời tri ân đến Thượng tọa đã dành thời gian đến với lớp của chúng con và dành những bài pháp, những kinh nghiệm để hướng dẫn chúng con.

Con xin trình pháp về bài kinh Ganaka Moggallana, trong đó, Đức Phật có dạy: "Hãy đến Tỷ-kheo, hãy giữ giới hạnh, hãy sống chế ngự với sự chế ngự của giới bổn, đầy đủ oai nghi chánh hạnh, thấy sự nguy hiểm trong những lỗi nhỏ nhặt, thọ trì và học tập các học giới". Con thực hành điều này qua những thời kinh và trong những lúc con soạn bài, tìm đọc kinh sách cho những đề tài đang thuyết giảng. Trong những thời kinh, lúc thực hành pháp, nghe pháp, con cảm nhận được sự chỉ dạy của thầy giúp con thấy được những lỗi mình phạm phải hàng ngày rất là vi tế. Chính nhờ những lời kinh câu kệ, những bài pháp đó, giúp con thấy được những lầm lỗi và những thiếu sót. Nhờ đó, con thấy mình có sự dè dặt và mong có được sự hướng dẫn của thầy để con trưởng thành hơn. Bởi vì, dù được học ở các trường Phật học nhưng chúng con vẫn còn yếu kém về nhiều mặt. Nhờ thọ trì, học tập về pháp hành và những bài kinh mà chúng ta con thấy đời tu của mình có vị ngọt ngọt, vị đắng và điều nguy hiểm nhất là sự vô vị của người tu. Chính lúc lên lớp là lúc chúng con được học tập, nghe nhắc lại những lời dạy của Đức Phật qua sự chỉ dạy của Chư tôn đức. Con thấy mình khi đã chọn và học ngành hoằng pháp này thì con cần được bổ sung, cần có thầy, có bạn nhiều hơn. Vì sau khi có được con đường, cách mình đi đúng hay sai có khi mình không tự nhận ra được, hoặc có khi gặp phải những chướng ngại, hoặc những thuận duyên lớn thì những điều này cũng ảnh hưởng đến quá trình tu học, hành pháp và hoằng pháp của mình.

Trước khi dứt lời, con thật sự tri ân về thời gian thầy đã dành tâm huyết dành cho lớp chúng con.

Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.

Sư cô 2:

Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.

Kính bạch Thượng tọa giáo thọ sư, kính thưa toàn thể đại chúng. Trong thời gian học kinh Nikāya, trong bài kinh Ganaka Moggallana có chi phần “hộ trì các căn”, Đức Phật chỉ dạy như sau: “Khi mắt thấy sắc chớ có nắm giữ tướng chung, chớ có nắm giữ tướng riêng. Những nguyên nhân gì, vì nhãn căn không được chế ngự khiến tham ái ưu bi, các ác bất thiện pháp khởi lên, vị Tỷ-kheo tự chế ngự nguyên nhân ấy, hộ trì con mắt, thực hành sự hộ trì con mắt. Khi tai nghe tiếng.... mũi ngửi hương... lưỡi nếm vị.. thân cảm xúc... ý nhận thức các pháp, vị ấy không nắm giữ
tướng chung, không nắm giữ tướng riêng. Những nguyên nhân gì, vì ý căn không được chế ngự, khiến tham ái, ưu bi, các pháp ác bất thiện khởi lên, Tỷ-kheo chế ngự nguyên nhân ấy, hộ trì ý căn, thực hành sự hộ trì ý căn”.

Khi chưa được học bài kinh này, trong đời sống hàng ngày, mắt con ưa nhìn những sắc đẹp. Ví dụ, nếu thấy vị nào đẹp, có tướng hảo, có tướng đẹp thì con đắm nhiễm. Đắm nhiễm ở đây nghĩa là con tự hỏi “tại sao họ đẹp như vậy” và con ưa nhìn những người này. Đối với cảnh vật xung quanh cũng vậy, lúc đi học, con thấy cái gì đẹp, chẳng hạn thấy tiệm gấu bông dễ thương thì con khởi tâm muốn trích một ít tiền để mua con gấu đó về. Đầu tiên là để chưng cho đẹp, thứ hai là con có thể để nó nằm bên cạnh khi ngủ.

Nói về nhĩ căn, trong đời sống, có đôi khi con nghe mọi người nói những lời khó nghe, chửi mắng, hoặc những người góp ý thẳng cho con. Dù biết các vị là người góp ý giúp con sửa đổi nhưng con rất khó chịu, đó là vì con không đồng ý với lời góp ý của các vị. Hơn nữa, đối với những lời chửi mắng, con khởi lên tâm sân hận, phiền não và giữ những điều này trong lòng. Có khi đi ngủ mà con vẫn ôm vào người những lời nói đó và khiến mình bực bội, thậm chí có những lời nói day dẳng trong tâm con từ ngày này qua tháng nọ.

Nói về mũi và lưới, mũi con ưa thích những mùi dễ chịu, muốn ăn đồ ngon, nhất là trong ăn uống, nếu có mùi khó chịu, con sẽ khởi tâm chê khen, nghĩ rằng người ở bếp nấu mùi khó chịu, làm con không ăn được, đôi khi con còn khởi lên bực tức. Hơn nữa, dù món ăn đó không đến nỗi con không ăn được nhưng ý của con khởi lên là không ăn và muốn vứt đi.

Nói về phần thân, khi đi ngủ nếu không có quạt là con không ngủ được. Có lúc ở chùa mất điện hoặc quạt bị hư, thời tiết nóng bức sẽ khiến thân con rất lăng xăng và con nhất định phải tìm được nơi mát mẻ để ngủ. Con không kiềm chế được bản thân để chịu đựng.

Nói về phần ý, trong cuộc sống, ý của con lúc nào cũng lăng xăng, lộn xộn. Có khi đang ngồi học mà con nghĩ đến nhiều vấn đề khác, về những công việc chưa giải đã qua, những việc công việc còn dang dở hoặc nghĩ đến người nào đó làm con bực tức. Trong khi học, thân ngồi lâu mệt mỏi, con mong thời gian mau trôi qua để được đi về. Đi về rồi thì mong tới tối, mong hết ngày, cứ vậy ngày này qua tháng nọ.

Con cứ trải qua một đời sống tu tập như vậy, cho đến khi học xong môn của Thượng tọa thì con cảm giác khi con khởi lên ý gì đó, hoặc tai nghe những điều gì không đúng với Chánh Pháp, con nhớ lại những gì thầy chỉ dạy thì con kiềm chế lại bản thân con. Ví dụ, khi mắt thấy những sắc đẹp, muốn mua gấu bông thì con nhớ lại lời dạy của thầy thì con kiềm lại được, khi đó con tác ý: “Số tiền này mình có thể làm chuyện khác, người tu không được đắm nhiễm vào những thứ này. Khi ngủ thì phải tỉnh thức, không được ôm gấu bông ngủ, ôm ngủ như vậy là khởi lên tham dục, chẳng khác gì cuộc sống của người thế gian”.

Tai, mũi, lưỡi, thân, ý cũng vậy, nhờ học được bài kinh này, khi đời sống tu tập trong chúng có những xích mích không vừa ý con; hay khi mọi người trong chúng, dù lớn hay nhỏ có nhắc nhở, dạy dỗ con thì con sẽ cố gắng lắng nghe. Đối với những lời nói làm con không vừa ý thì con sẽ tác ý trong tâm, kiềm chế lại, nghe pháp của thầy. Cứ thực hành theo đó, tác ý mỗi ngày thì tâm con sẽ được dịu đi, tỉnh giác hơn và sự tu cũng được nhẹ nhàng hơn, vì không còn sân hận trong tâm nhiều nữa.

Từ lúc được học Sư Phụ từ ở học viện cho đến về đây thì con rất tâm đắc những lời dạy của Sư Phụ và con luôn cố gắng áp dụng vào đời sống hàng ngày. Khi chưa được học môn này, tâm con không được bình tĩnh, rất hay lăng xăng. Nhiều lúc tâm con khởi lên là không muốn sống trong sự tu tập, không muốn tu học nữa. Nhờ được học môn của Sư Phụ, con quay lại nhìn tâm này và sự tu học của con dần được tiến bộ hơn, không còn những suy nghĩ về thế gian nữa.

Sự tu của con được như ngày hôm nay là nhờ con nghe pháp của Sư Phụ giảng. Đời tu của con gặp rất nhiều khó khăn, tâm con rất dễ thối lui. Nhờ nghe Sư Phụ giảng về những lời Đức Phật đã dạy, con dường như được tỉnh ngộ và quay lại chánh kiến của bản thân và tiếp tục đi trên con đường tu học đến hôm nay.

Cuối cùng con xin kính tri ân Sư Phụ và đại chúng.

Sư thầy 1:

Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.

Kính bạch trên Giáo thọ sư và toàn thể đại chúng.

Con xin trình bày về phần “chánh niệm tỉnh giác” trong bài kinh Ganaka Moggallana: "Hãy đến Tỷ-kheo, hãy thành tựu chánh niệm tỉnh giác, khi đi tới khi đi lui đều tỉnh giác; khi nhìn thẳng, khi nhìn quanh đều tỉnh giác; khi co tay, khi duỗi tay đều tỉnh giác; khi mang y kép, bình bát, thượng y đều tỉnh giác; khi ăn, uống, nhai, nuốt, đều tỉnh giác; khi đi đại tiện, tiểu tiện đều tỉnh giác; khi đi, đứng, ngồi, nằm, thức, nói, yên lặng đều tỉnh giác".

Con xin được chia sẻ cảm nhận về đoạn kinh này, cũng như cảm nhận từ lúc được tiếp nhận lời dạy của thầy từ năm nhất, từ năm 2019 đến nay.

Thật sự, lúc đầu, khi được tiếp nhận lời thầy dạy, con dường như bị dội ra. Hai, ba tuần đầu con chưa cảm nhận được năng lượng mà thầy truyền tải cho con. Khi đó mặc dù con vẫn nghe nhưng sự tiếp nhận thì con chưa có. Sau đó, từ tuần thứ tư, thầy dạy nhận các pháp, con chỉ dừng lại ở mức độ hiểu. Qua tuần thứ năm, thầy tiếp tục dạy thì lúc đó con mới chịu khó nhìn vào nội tâm để thấy được sự vận hành của thọ, tưởng, hành trong tâm cứ liên tục. Từ lúc đó, tâm con rất hướng đến những lời dạy của thầy. Thậm chí, khi con phải nghỉ học hai buổi trong những năm được học thầy vào ngày giỗ của ba con thì con thấy rất tiếc. Mỗi lần đó, con đều hỏi bài từ các bạn. Khi đó, con tiếp nhận được năng lượng từ thầy.

Sau đó, từng hành động trong đời sống hàng ngày của con, con đều chú tâm, chánh niệm tỉnh giác. Khi ở chùa với chúng, mỗi khi đi đâu, làm gì con cũng theo dõi để biết mình sanh khởi những cảm thọ gì; thứ hai, trong từng việc làm của mình con phải xem lại nó có đúng hay không. Bởi vì con ở trong chúng, con phải làm sao cho hòa nhập với mọi người ở đó.

Hơn nữa, con không chỉ chánh niệm trong đời sống sinh hoạt, mà con con chánh niệm trong khi ăn. Không chỉ khi ăn ở chùa, mà dùng bữa ở đâu con cũng chánh niệm nhìn lại. Hoặc khi có Phật tử mua đồ ăn cho con, ăn vào rất ngon, dù chưa ăn xong là tâm con đã khởi lên phải xin thêm nữa. Khi con chánh niệm như vậy thì con thấy được thọ, tưởng, hành khởi lên từng chút.

Khi đi xe, nhìn những cảnh tượng xung quanh, có điều gì tương tự từng gặp thì hình ảnh đó lập tức hiện lên trong tâm con. Không những chỉ hiện lên mà còn có những cảm thọ sanh khởi, cũng như những ý hành. Con luôn nhận diện như vậy trong lúc ăn, uống, đi, đứng, thậm chí trong thời tụng kinh, con cũng chuyên chú vào lời kinh của mình, vì con muốn nhất tâm tụng đọc những bài kinh. Con thường nguyện cho những lời vô hình, hữu hình, quý Phật tử hiện tiền nghe được những lời kinh con đọc sẽ sanh khởi hoan hỷ. Bởi con nghĩ rằng, lời kinh là lời của bậc Thánh nên con nguyện ai cũng hoan hỷ khi được tiếp nhận.

Khi được học kinh tạng Nikāya từ thầy, con thấy được năng lượng rất thiết thực trong đời sống, vì vậy con luôn cố gắng chánh niệm từng phút từng giờ, mặc dù có những lúc con vẫn bị thất niệm. Con thấy rằng, khi có sự chú tâm thì chánh niệm sẽ xuất hiện và sự tỉnh giác nhận biết được những cảm thọ vui, buồn, khổ, lạc. Khi con bị la rầy hoặc có người không hài lòng với con thì trong con khởi lên thọ khổ, rất bứt rứt, khó chịu, con nhìn thẳng vào cảm thọ và nói: “Đây chỉ là một cảm thọ, thọ này cũng vô thường, thay đổi. Tại sao người ta mới nói một câu khó chịu mà mình lại buồn như vậy. Hơn nữa, đây không phải là mình, không có cái tôi nào ở đây”. Khi tác ý như vậy thì con chú tâm và nói với tâm mình: “Cứ sanh khởi đi, ta xem ngươi như thế nào”. Khi đó, con thấy dần dần tâm con không nghĩ đến chuyện buồn đó nữa. Khi đến lớp học, con cũng luôn chú ý thời gian để đến lớp đúng giờ, không làm phiền lòng thầy.

Con cảm nhận được trong quá trình thực hiện như vậy thì nguồn năng lượng được tiếp nhận từ đại chúng cũng như khi con giảng cũng thay đổi. Trước đây, con thấy con giảng dạy rất bình thường, nhưng về sau con cảm nhận rằng, khi thực tập theo pháp hành này thì lời nói của con luôn đúng theo năng lượng lành để truyền tải cho đại chúng. Mặc dù có khi ngôn từ không sâu sắc nhưng con thấy rằng, nhờ sự bên trong có sự thực hành nên khi nói với ai đó, con thấy rất nhẹ nhàng và con thấy rất bình an khi thực hiện pháp hành Nikāya này. Nhờ đó, con có được những lợi ích ngay trong hiện tại và con thấy rằng pháp này cần được thực hành nhiều hơn thay vì chúng ta chỉ nói. Đó là tất cả cảm nhận của con về pháp hành thầy đã dạy trong thời gian qua. Con xin tri ân thầy rất nhiều.

Tâm nguyện của con là trong năm ba là con muốn thỉnh thầy tiếp tục gieo duyên với lớp chúng con, vì con thấy đây là quá trình cả đời của một hành giả, trong khi chúng con chỉ mới được tiếp nhận giáo lý của thầy được hai năm, con thấy như vậy vẫn chưa đủ. Bởi lẽ, càng học, càng thực hành thì con thấy chiều sâu của pháp này cần được thầy giảng dạy và truyền đạt cho chúng con. Nhờ đó, chúng con mới thấy được tâm hành của mình như thế nào. Trong quá trình được học, con thấy pháp này vô cùng sâu sắc, không có ngôn từ diễn tả. Cũng như con cảm nhận được thọ và tưởng của bản thân con thay đổi liên tục khi con có sự chú tâm nhìn lại. Vì vậy, ước nguyện của chúng con là tiếp tục được thầy giảng giảng. Con xin tri ân tâm huyết, tâm lực của thầy – một người đi trước đã hết lòng truyền dạy cho chúng con. Con xin tri ân hết lòng và con sẽ luôn cố gắng thực hành pháp thầy đã truyền trao. Đây là tất cả những lời thật tâm của con.

Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.

Sư Cô 3:

Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.

Con kính bạch trên Thượng tọa giáo thọ và toàn thể đại chúng.

Con xin được chia sẻ một vài cảm nhận về pháp từ năm nhất cho đến thời điểm hiện tại qua môn kinh tạng Nikāya và gần nhất là bài kinh Ganaka Moggallana mà Thượng tọa đã hướng dẫn. Bài pháp này gồm tám chi phần và chi phần nào cũng rất quan trọng trong sự tu tập trong sự tu học của chúng con. Con xin chia sẻ về chi phần “hộ trì các căn”. Sau khi được thầy hướng dẫn phương pháp hộ trì các căn, tức là sáu căn khi tiếp xúc sau trần thì không nắm giữ tướng chung, không nắm giữ tướng riêng, luôn luôn phải chánh niệm tỉnh giác. Cách đây khoảng một tuần, trong tịnh xá của con, khi mọi người đều bận Phật sự và đi vắng, lúc đó chỉ duy nhất mình con ở tịnh xá, cũng không ai đến viếng chùa. Trong khung cảnh như vậy, con thấy rất thanh tịnh, tâm thức cũng được lắng đọng. Khi đó, con đi xung quanh tịnh xá với một trạng thái an tịnh, khi nhìn lại, con thấy khi mắt thấy ngôi chùa, tức là căn tiếp xúc với trần, con có khởi niệm ý niệm rằng, trong đường sanh tử này, lúc đến với thế gian, mình không mang theo một thứ gì; đến khi ra đi, con cũng sẽ đi một mình, không có một ai đi cùng để nhắc nhở cho con; chỉ có lời dạy của Đức Phật đi theo con trong tâm thức lúc đó. Khi tư duy như vậy, lòng con có sự thúc đẩy cố gắng tu học tại vì tất cả những gì con đang có trong hiện tại, đầu tiên là có được thân người, sau đó là được xuất gia tu học và tiếp tục nhân duyên được các vị giáo thọ, tôn túc truyền dạy nhưng nếu con không thật sự nhiệt huyết, cố gắng để nắm bắt thì khi ra đi thì chỉ có nghiệp theo mình mà thôi.

Khi được học bài kinh này, đối với các căn tiếp xúc với các trần thì con phải biết hộ trì. Ngày trước, khi chưa được học, nếu có chuyện không như ý, hoặc nghe người khác làm chuyện bất thiện, con không biết đó là do căn tiếp xúc với trần nên sanh khởi ý thức, cần phải hộ trì căn; khi đó, con lại tiếp tục nghe xem vì sao mà huynh đệ lại khởi lên ý bất thiện khi thấy những cảnh duyên bên ngoài, tâm con khi đó bị dính mắc và tham chấp vào sáu trần. Con cũng nhận ra rằng, nếu tâm không trở về quán chiếu nguồn gốc sanh khởi của tất cả cảm thọ thì cả cuộc đời này sẽ mãi chạy theo như vậy.

Khi được chỉ dạy thêm về chi phần chú tâm chánh niệm tỉnh giác, con thấy rằng những lời dạy đó là cả một quá trình tu tập pháp hành của Thượng tọa. Nhờ đó mà tâm con được thúc đẩy, phải trở nên dũng mãnh, nắm bắt thời gian tu tập, nhất là trong giai đoạn này là lúc con được học sâu sắc về giáo pháp. Những lời chia sẻ của Thượng tọa đã thúc đẩy tâm con hướng đến sự trở về thể tánh của mình. Tất cả những gì trên cuộc đời này được tiếp xúc, nếu không biết nắm bắt thì chúng ta sẽ bị tuột mất cơ hội đó. Trong bước đường tu tập, không đơn giản chỉ gặp được những bạn hữu và những nhân duyên khác, mà đây là cả một quá trình tu tập để bước vào căn nhà tâm linh thậm thâm vi diệu. Vì chỉ có những người có chí nguyện sâu, có hạnh nguyện lớn mới có thể bước vào được. Ngoài ra, một điều làm con tâm đắc khác là trong tam thiên đại thiên thế giới và cảnh giới của chúng sanh đau khổ rất nhiều, con không biết mình có thể bước vào căn nhà tâm linh đó hay không. Khi được sự chỉ dạy của Thượng tọa, con thấy tâm mình cần phải cố gắng nhiều hơn nữa để nắm bắt giáo pháp của Đức Phật. Nhất là qua những gì Thượng tọa đã dạy, chúng con xác định được con đường mình là đi là như thế nào và thực hành ra sao để xứng đáng là hàng hậu học tiếp nối gia tài Pháp bảo.

Con thành kính niệm ân Tam bảo.

Con thành kính niệm ân trên Thượng tọa giáo thọ sư đã dùng hết tâm huyết trong thân hành, khẩu hành và dùng tất cả trí lực, tâm lực, bi lực để truyền dạy cho chúng con.

Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.

Sư thầy 2:

Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.

Con kính ngưỡng bái bạch trên Thượng tọa giáo thọ, con kính trên toàn thể đại chúng. Qua khoảng thời gian hơn một năm, con đã được học về pháp hành Nikāya với tám điều mà Thượng tọa đã chia sẻ, chỉ dạy. Trong tám điều này, con cảm thấy tâm đắc và thực hành nhiều nhất là ở hai phương diện, gồm “chọn chỗ thanh vắng, sống viễn ly” và “tiết độ trong ăn uống”. Hai chi phần này gắn liền với con trong đời sống nên con luôn cố gắng thực hành hai khía cạnh này. Còn những chi phần còn lại con chưa có sự thực tập nhiều nên chưa có cảm nhận. Vì vậy, con xin chia sẻ về hai phương diện này.

Đầu tiên, về phần chọn chỗ thanh vắng, sống viễn ly, như trong kinh, Đức Thế Tôn dạy rằng: "Hãy đến Tỷ-kheo, hãy lựa một chỗ thanh vắng, tịch mịch như rừng, gốc cây, khe núi, hang đá, bãi tha ma, lùm cây, ngoài trời, đống rơm". Tuy con chưa tiếp xúc được những nơi thế này, nhưng vào những mùa an cư thì con không nhập hạ, mà nhập thất để trưởng dưỡng thân tâm. Đó là con chọn cách sống viễn ly để quay về nội tâm của mình. Trong khi ở thất, lúc ngồi thiền, con thực hành như trong kinh chỉ dạy, đó là ngồi thẳng, kiết già và luôn an trú trong thân và tâm mình, đây là phần thô. Vi tế hơn, khi ở chùa, trong sinh hoạt hàng ngày, thời gian trước, con thường xuyên tiếp xúc với quý huynh đệ qua những buổi uống trà hoặc ngồi nói chuyện vui đùa, không mang lợi ích. Nhờ được học từ Thượng tọa và kinh sách, con đã tránh xa việc nói chuyện không mang lại lợi ích cho sự tu tập. Thay vào đó, có những buổi uống trà, con chỉ ngồi một mình, đây là cách viễn ly cho bản thân con. Ngoài ra, con cũng có công phu riêng cho mình, mỗi ngày con đều thức dậy sớm hơn giờ công phu cùng với chúng để lên sân thượng để an trú tâm mình. Khi đến lớp cũng thế, con cũng chọn cách viễn ly bằng cách hạn chế những cuộc nói chuyện với bạn bè mà không liên quan đến vấn đề học hành và tu tập. Do đó, con ít nói chuyện và cũng không đi tới đi lui nhiều, khi cần thiết con mới đi lại và tiếp xúc. Đó chính là cách sống con chọn cho mình.

Thứ hai, nói về tiết độ trong ăn uống, trong kinh có dạy: "Hãy đến Tỷ-kheo, hãy tiết độ trong ăn uống, chơn chánh giác sát thọ dụng món ăn, không phải để vui đùa, không phải để đam mê, không phải để trang sức, không phải để tự làm đẹp mình, chỉ để thân này được duy trì, được bảo dưỡng, khỏi bị gia hại, để chấp trì Phạm hạnh, nghĩ rằng: "Như vậy ta diệt trừ các cảm thọ cũ và không cho khởi lên các cảm thọ mới; và ta sẽ không phạm lỗi lầm, sống được an ổn". Đối với bản thân con, phải ăn trong thời gian quy định nơi thiền môn, không ăn vào thời gian khác. Con ăn theo buổi sáng, trưa, chiều theo bên Bắc Tông, ngoài những giờ đó thì con hạn chế ăn, không ăn để cho vui. Có những khoảng thời gian ngồi lại với anh em, huynh đệ ở chùa, khi đó mọi người hay bàn tán sẽ mua một món gì đó về ăn cho vui, con thấy như vậy không tốt vì đó là mình đang đắm nhiễm vào thức ăn. Vì vậy, con luôn hạn chế và không bao giờ có điều đó xảy ra. Đó là sự tiết độ trong ăn uống về phần thô. Vi tế hơn, có những lúc người khác nấu không vừa ý mình, có thể mặn, ngọt, lạt nhưng con không nêm thêm để cho đồ ăn vừa miệng hơn; con nhiếp phục ngay lúc đó, ở bếp nấu như thế nào thì con ăn như nấy, không đòi hỏi thêm, dù cho thêm vào một chút nước tương hay một chút gia vị nào đó. Dù món ăn nhạt hay mặn thì con chỉ biết và thọ nhận, không để thức ăn làm cho tâm tham, sân vì thức ăn. Đây là cách con tiết độ trong ăn uống, để tâm không sân hay tham vào thức ăn.

Cuối lời, con xin thành kính tri ân trên Thượng tọa suốt hơn một năm qua đã truyền dạy cho chúng con về pháp học và pháp hành. Với ân đức này, con thành kính mong thành thân được khỏe, tâm được an và luôn thành tựu sở nguyện, thành tựu trong pháp hành.

Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.

Sư phụ: Tất cả chúng ta là đệ tử của Phật Thích Ca Mâu Ni và tất cả giáo pháp chúng ta đang học phải do chính Phật Thích Ca Mâu Ni tuyên thuyết, vì vậy, phải niệm danh hiệu Phật Thích Ca Mâu Ni. Hơn nữa, chúng ta niệm không chỉ trên mặt từ ngữ, mà mỗi lần niệm danh hiệu của Ngài là chúng ta quay về với Đức Thế Tôn – bậc tối tôn tối thượng, bậc đã chứng ngộ sự thật cùng tột. Mỗi khi niệm Phật, chúng ta phải tác ý và quán tưởng như vậy. Nhờ đó, chúng ta nhận được cảm thọ, thần lực từ oai đức của bậc Chánh Đẳng Chánh Giác.

Tất cả Pháp lấy Thế Tôn làm căn bản

Y cứ Thánh điển

Khi học mỗi một chi phần trong đạo lộ này chúng ta đều phải y cứ theo đoạn kinh của Đức Phật, đây là chỗ rất quan trọng. Chính nhờ cách học nghiêm túc thì sự hiểu mới được chính xác những lời dạy của Đức Thế Tôn, nhờ đó chúng ta mới có thể vận dụng vào cuộc sống. Và khi có sự hiểu chính xác thì những gì chúng ta thực hành mới đi đúng đạo lộ của Đức Phật. Đây là cách tu học vô cùng quan trọng. Khi trình pháp, quý thầy cô đều đọc lên đoạn kinh đó, đây là điều rất tốt. Vì nếu không dẫn theo kinh tạng, mà chỉ nói theo ý của mình thì chúng ta sẽ làm mất đi định nghĩa của Đức Phật và như vậy nghĩa là chúng ta đã đi lệch Chánh Pháp.

Sự học mà lệch hướng dù chỉ một chút thì sự thực hành không thể đi đúng được. Hiện nay có rất nhiều người giảng pháp nhưng các vị lại suy diễn theo rất nhiều cách khác nhau, dần dần Chánh Pháp của Thế Tôn chuyển sang giai đoạn tượng pháp và cuối cùng đi đến mạt pháp, đó cũng bởi vì mọi người không bám sát theo lời của Đức Phật.

Vì vậy, kinh nghiệm xương máu của Minh Thành trong sự tu học này là không được tự ý suy diễn theo ý mình hay theo những người khác, mà nhất định phải bám sát vào lời của bậc Chánh Đẳng Chánh Giác hoặc là lời của các bậc Thánh trong tạng kinh Nikāya đã được Đức Phật đồng ý. Ví dụ, có những bài kinh chư Thiên xuống tán thán Đức Phật hoặc trình bày một vấn đề nào đó mà được Đức Phật xác định là đúng thì lúc đó chúng ta mới đi theo. Bằng không, những gì chúng ta học chỉ là suy diễn, không y cứ vào giáo pháp của Đức Phật, chỉ học hiểu theo ý mình, mà ý của chúng ta là ý của phàm phu, của vô minh, tham ái và chấp thủ, do đó, chúng ta không thể ra khỏi luân hồi. Điều này chúng ta phải khắc ghi trong suốt cuộc đời tu này và tuyệt đối tuân thủ theo cho đến ngày ra đi. Thậm chí cho đến đời sau cũng vậy, nếu muốn tu theo đúng Thánh đạo thì nhất định không được để lời Đức Phật dạy qua một bên. Bất cứ điều gì nói ra cũng phải dẫn chứng theo kinh Nikāya. Khi làm bài hay tham gia buổi pháp thoại này cũng phải trùng tuyên lời Đức Phật trước, sau đó mới y căn vào đó giải thích ra, lưu ý là không được giảng giải đi quá xa, lúc nào cũng phải bám sát lời Đức Phật. Như chúng ta thấy, nếu không có các bậc Thánh Tăng giữ gìn cho đến bây giờ thì tạng kinh nguyên chất sẽ không còn nữa. Chính nhờ các Ngài học thuộc lòng mà tạng kinh Nikāya còn cho đến ngày hôm nay. Hơn nữa, mặc dù lời Phật dạy nguyên chất được học thuộc lòng, thậm chí phải khắc lại trên đá nhưng những người sau này vẫn dùng tư kiến cá nhân mình và phán định đó là tiểu thừa, điều này là vô cùng nguy hiểm.

Cho nên, đối với mỗi một chi phần trong Thánh đạo lộ này, chúng ta phải xem Đức Phật giải thích như thế nào. Ví dụ đơn giản, chỉ một câu “thấy nguy hiểm trong những lỗi nhỏ nhặt” thì chúng ta phải chiêm nghiệm thật sâu để hiểu thế nào là “lỗi nhỏ nhặt”, thế nào là “nguy hiểm trong những lỗi nhỏ nhặt”. Chúng ta lấy đó làm đề mục để quán chiếu trong sự tu tập, hoặc khi thuyết giảng, một câu như vậy có thể lấy làm chủ đề chính của một buổi chia sẻ. Những bài giảng, bài luận, bài viết, bài nghiên cứu của mình phải lấy từ những chủ đề trong kinh Nikāya, khi đó mới có sức mạnh, quyền uy của bậc Thánh, như vậy mới thật sự là truyền bá Chánh Pháp. Những gì người nghe được giảng dạy đều từ lời của Đức Phật trong kinh tạng. Tất cả pháp đều của Đức Phật, Ngài là pháp chủ, là pháp bổn, là pháp nhãn, vì vậy mọi lời giảng dạy đều quy về Đức Phật. Bằng không, giảng một lúc là tự “tôi thấy”, “tôi nói”, đó là đang phát huy bản ngã của bản thân. Đây là kinh nghiệm rất quan trọng trong sự học, tu và hoằng pháp.

Đối với từng định nghĩa, từng chi phần, chúng ta phải thuộc lòng và nắm vững được những ý nghĩa cốt lõi nhất. Chẳng hạn, trong phần “hộ trì các căn”, khi mắt thấy sắc, không được nắm giữ tướng chung, không được nắm giữ tướng riêng; những nguyên nhân gì khiến tham ái ưu bi, các bất thiện pháp khởi lên, tức là tham và sân khởi lên: đẹp thì tham, thích; xấu, khó chịu thì sân… thì chúng ta phải nhiếp phục, chế ngự. Nếu lỡ những cảm thọ tham sân, những ác, bất thiện pháp đó đã sanh khởi thì chúng ta phải tác ý, đánh đuổi, trừ diệt; pải chặn đầu, chặn đuôi, đề phòng từ xa, chứ không phải đợi đến khi các cảm thọ sanh khởi mới đánh đuổi thì sẽ không kịp. Vì vậy, phải chặn từ xa, cũng như đừng đợi nhà cháy lên rồi mới chữa thì sẽ không kịp, cần phải có bình phòng cháy chữa cháy, có lối thoát hiểm bằng kiến trúc xây dựng hợp lý.

Trong sự tu học của chúng ta cũng vậy, cần đề phòng từ xa, tác ý từ xa, canh chừng từ xa, bảo vệ từ xa, phòng hộ từ xa, kiểm soát từ xa. Đó ý là nghĩa hộ trì các căn. Không phải đợi đến khi xảy ra chuyện thì mới xử lý, chẳng hạn khi đã nổi sân giận lên thì rất khó để trải tâm từ; hoặc tham dục đã sanh khởi thì rất khó để quán bất tịnh. Cho nên, những nguyên nhân gì khiến các ác, bất thiện pháp, những tham ái, ưu bi khởi lên thì chúng ta phải nhiếp phục, chế ngự.

Tất cả các pháp Đức Phật đều dạy chúng ta rất kỹ. Trong đi, đứng, ngồi nằm phải gột sạch tâm trí khỏi các chướng ngại pháp. Các chướng ngại pháp khi bắt đầu manh nha trong suy nghĩ là chúng ta đã phải dập tắt, thậm chí không để nó phát ra khẩu hành. Khi sanh khởi suy nghĩ thích thích, cảm thọ ái ái thì chúng ta hoàn toàn có thể nhận biết được, quan trọng là sau khi đã biết thì mà không chịu nỗ lực nhiếp phục, chế ngự, tẩy sạch, diệt tận thì Đức Phật gọi người đó là kẻ hạ liệt, thấp hèn, hèn hạ. Nếu đã nhận diện được ác pháp mà thản nhiên để nó hoành hành, xâm chiếm, áp đảo, lật đổ, đè đầu cưỡi cổ mình thì Đức Phật nói đó là người hèn hạ, không biết xấu hổ.

Sự an tịnh của bậc Thánh

Qua đó, ta thấy rằng, Đức Thế Tôn cũng dùng nhiều từ rất mạnh để răn đe, dạy dỗ; chứ không phải lúc nào Ngài cũng nhẹ nhàng. Trong bài kinh Cātumā, Trung Bộ Kinh II, một lần, có 500 vị Tỳ-kheo mới xuất gia, do Ngài Xá Lợi Phất và Mục Kiền Liên dẫn đầu đến yết kiến Phật, tuy nhiên, các vị ồn ào trong lúc chia sàng tọa và y bát. Khi đó, Đức Phật bảo với Ngài Anan rằng: “Này Ānanda, các tiếng náo động ồn ào kia là các tiếng gì, thật giống như tiếng hàng đánh cá tranh giành cá với nhau”; sau đó Đức Phật không tiếp và đuổi các vị ấy: “Hãy đi đi này các Tỷ-kheo, Ta đuổi các Ông. Các Ông chớ có ở gần Ta”.

Lần khác, khi có nhóm 500 gia chủ giàu có, nghe Đức Phật đến, vì lòng hiếu kỳ nên đem những phẩm vật đến, gây ồn ào trước tinh xá. Thế Tôn cũng cho đuổi đi, không tiếp vì họ ồn ào như hàng cá. Ngài nói rằng Ngài không cầu những cung kính, lợi dưỡng như phân đó.

Trong bài Kinh Pháp Trang Nghiêm, Trung Bộ Kinh II, Vua Ba Tư Nặc phải đi bộ vào để gặp Thế Tôn: “Rồi vua Pasenadi nước Kosala im lặng đi đến căn nhà đóng cửa, sau khi đến, bước vào hành lang nhưng không vượt qua, đằng hắng và gõ vào khóa cửa. Thế Tôn mở cửa”. Sau đó tằng hắng, gõ cửa, được Thế Tôn cho vào thì Vua Ba Tư Nặc lạy dưới chân Đức Phật, đây gọi là Đế Vương đảnh lễ Pháp Vương khi cả hai đang tám mươi tuổi.

Vì vậy, đừng tưởng rằng lúc nào Đức Phật cũng im lặng, ai muốn làm gì thì làm. Khi tìm hiểu trong Nikāya, chúng ta mới thấy sự uy nghiêm của bậc Chánh Đẳng Chánh Giác. Nếu không hộ trì các căn thì không thể đến gặp Ngài được, vì Ngài là bậc an tịnh. Vì vậy, “đặc sản” trong đạo tràng Nikāya là an tịnh, lắng dịu, dù một trăm người ngồi ăn cơm cũng không nghe tiếng khua của đũa muỗng. Vì vậy, chúng ta phải tập an tịnh trong mọi lúc, mọi nơi.

Hơn nữa, khi Minh Thành đã vào lớp rồi, mà thầy cô vẫn còn lăng xăng, nói chuyện là Minh Thành không vui, vì khi đó các thầy cô không có sự hộ trì các căn. Chúng ta đang học pháp hành, tức là ngay tại chỗ phải hành pháp mà còn không chịu thực hành thì đi đến chỗ nào chúng ta mới chịu hành! Ngay nơi này, pháp được học là pháp hành, người hướng dẫn đang chỉ rõ pháp hành, chúng ta đang ở trong môi trường hành pháp mà không để tâm thực hành thì đến khi nào chúng ta mới chịu hành! Mỗi khi thấy lớp học yên lặng, thanh tịnh là Minh Thành rất hoan hỷ, biết đây là nơi mình nên đến.

Trong kinh Nikāya có câu, Đức Phật là bậc an tịnh và thuyết pháp hướng dẫn chúng sanh đạt đến chỗ an tịnh. Dòng pháp Nikāya khởi đầu bằng sự an tịnh, cho đến cuối cùng, lúc đạt Thánh quả cứu cánh cùng cực cũng chính là sự an tịnh viên mãn. Cho nên, lăng xăng, trạo cử, dao động là một trong năm triền cái. Khi chưa diệt được một trong năm triền cái là chúng ta không thể đi đến chỗ thân tâm được lắng dịu, tịch tịnh. Chỉ có sự để tâm học hỏi, thực hành thì mới có kết quả.

Chúng ta cần tập sự an tịnh lắng dịu cho thật thuần thục, để khi có những tai nạn, những sự kiện bất thình lình xảy đến, thậm chí lúc đối đầu với cái chết chúng ta cũng được an tịnh lắng dịu, như vậy mới đạt được tâm bất động giải thoát.

Những pháp hành trên chúng ta phải học thuộc lòng. Mỗi khi quét chùa, dọn chánh điện, nấu cơm cứ mở lên nghe để thuộc thật kỹ. Đạo lộ này quan trọng hơn tất cả mọi thứ, khi học được những điều này là chúng ta nắm được bản đồ của Đức Phật, nắm được hành trình của các bậc Thánh, biết được mình đang ở đâu trên chặng đường này.

Minh Thành mong tất cả thầy cô để tâm thật nhiều vào bài kinh Ganaka Moggallana để nắm được đạo lộ pháp hành. Hãy dành thời gian để nghiền ngẫm, quán chiếu, thực tập thật nhiều để cảm thọ được sanh khởi. Chúng ta đừng chỉ học trên sách vở, chữ nghĩa, lời nói, mà hãy thật sự để tâm thực hành để có những cảm thọ sâu sắc trong sự học, chỉ như vậy mới có thể mang lại lợi ích lớn lao cho bản thân và những người có duyên được gặp mình. Đặc biệt chúng ta là những người chia sẻ pháp, vì vậy càng phải cố gắng nắm vững lời dạy của Đức Phật.

Giờ này tuy đang ngồi đây bên nhau, nhưng đến khi tựu trường lại chưa chắc sẽ được đầy đủ như vậy. Hãy quán chiếu rằng bất cứ lúc nào cũng có thể xảy ra những sự vô thường, tan hoại, biến diệt, sống chết. Vì vậy, chúng ta hãy cố gắng an trú vào vô thường tưởng, vô ngã tưởng để cảm thọ ấy thâm nhập vào chúng ta, lúc nào cũng được an tịnh lắng dịu trong trí tuệ về vô thường. Đừng quên! Có thể năm sau chúng ta không còn được đông đủ như bây giờ, cũng có thể lúc đó Minh Thành không còn trên cuộc đời này nữa, đây hoàn toàn là sự thật. Đừng nghĩ năm sau lớp học vẫn giống như cũ, suy nghĩ đó là vô minh, là không thấy pháp. Hãy suy nghĩ tất cả những gì chúng ta đang thấy, đang cảm nhận đều có thể tan rã trong bất cứ lúc nào và bất cứ nơi đâu.

Hãy luôn ghi nhớ lời cuối của Đức Thế Tôn: “Này các Tỷ-kheo, nay Ta khuyên dạy các ngươi: “Các pháp hữu vi là vô thường, hãy tinh tấn, chớ có phóng dật”. Ðó là lời cuối cùng Như Lai”.

Lời tri ân trong buổi học cuối:

Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.

Kính bạch trên Thượng tọa giáo thọ, chúng con hiểu rằng “một chữ cũng là thầy, nửa chữ cũng là thầy”, từng chữ của thầy đều là ân sâu đối với chúng con. Giờ phút này, chúng con ý thức rằng, suốt hơn một năm qua, thầy đã chỉ dạy cho chúng con từ pháp học cho đến pháp hành. Với năng lượng, với ân đức mà thầy đã truyền trao, tất cả đều được lưu giữ trong mỗi chúng con. Chúng con cũng lấy đó là pháp hành trong bước đường học đạo, cũng như lộ trình của sự giải thoát. Ân đức này chúng con không biết có thể lấy gì đền đáp cho xứng đáng với tình thương mà thầy đã trao gửi đến hàng hậu học.

Hôm nay là buổi học cuối cùng, đây là những giây phút chúng con còn được ở bên thầy. Qua những năm học sau, chúng con không biết còn đủ duyên gặp thầy hay không. Giờ đây chúng con thành kính tri ân đến thầy, đồng kính chúc thầy thân được khỏe, tâm được an và thành tựu sở nguyện, thành tựu pháp hành.

./.