Thư Viện Linh Quy
← Danh sách

Thứ Tự Tu Tập 14

2026-03-03 00:53:13
Kinh Nikāya Giảng Giải

Thứ Tự Tu Tập 14

Thích Minh Thành

MỤC LỤC

TOC \o "1-3" \h \z \u I. Diệu hạnh – trực hạnh – chân chánh hạnh PAGEREF _Toc139394767 \h 1

II. Tha thiết học tập – tôn kính pháp PAGEREF _Toc139394768 \h 4

I. Diệu hạnh – trực hạnh – chân chánh hạnh

Bên A-hàm dịch là "Toán số Mục-liên".

"Khi nghe nói vậy, Bà-la-môn Ganaka Moggalana bạch Thế Tôn:

-- Thưa Tôn giả Gotama, đối với những người không phải vì lòng tin, chỉ vì sinh kế, xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình, những người xảo trá, lường gạt, hư ngụy, mất thăng bằng, cao mạn, dao động, nói phô tạp nhạp, không hộ trì các căn, ăn uống không tiết độ, không chú tâm cảnh giác, thờ ơ với Sa-môn hạnh, không tôn kính học tập, sống quá đầy đủ, uể oải, đi đầu trong thối thất, từ bỏ gánh nặng viễn ly, biếng nhác, tinh cần thấp kém, thất niệm, không tỉnh giác, không định tâm, tâm tán loạn, liệt tuệ, câm ngọng; Tôn giả Gotama không thể sống với những người như vậy

Còn những Thiện gia nam tử vì lòng tin xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình, không xảo trá, không lường gạt, không hư ngụy, không mất thăng bằng, không cao mạn, không dao động, không nói phô tạp nhạp, hộ trì các căn, ăn uống có tiết độ, chú tâm tỉnh giác, không thờ ơ với Sa-môn hạnh, tôn kính học tập, sống không quá đầy đủ, không uể oải, từ bỏ thối thất, đi đầu trong viễn ly, tinh cần, tinh tấn, chánh niệm, an trú, tỉnh giác, định tĩnh, nhứt tâm, có trí tuệ, không câm ngọng; Tôn giả Gotama sống hòa hợp với những vị ấy.

Ví như Tôn giả Gotama, trong các loại căn hương, hắc chiên đàn hương được gọi là tối thượng; trong các loại lõi cây hương, xích chiên đàn hương được gọi là tối thượng; trong các loại hoa hương, vũ quý hương (jasmine) được gọi là tối thượng. Cũng vậy là lời khuyến giáo của Tôn giả Gotama được xem là cao nhất trong những lời khuyến giáo hiện nay.

Thật vi diệu thay, thưa Tôn giả Gotama! Thật vi diệu thay, thưa Tôn giả Gotama! Như người dựng đứng lại những gì bị quăng ngã xuống, phơi bày những gì bị che kín, chỉ đường cho những người bị lạc hướng, đem đèn sáng vào trong bóng tối để những ai có mắt có thể thấy sắc; cũng vậy, Chánh pháp đã được Tôn giả Gotama dùng nhiều phương tiện trình bày giải thích. Con xin quy y Tôn giả Gotama, quy y Pháp và chúng Tỳ-kheo Tăng. Mong Tôn giả Gotama nhận con làm đệ tử, từ nay cho đến mạng chung, con trọn đời quy ngưỡng. (Trung Bộ Kinh, 107. Kinh Ganaka Moggallàna)

Sau khi ông thầy dạy toán tên là Mục-kiền-liên này nghe Đức Phật thuyết bài kinh này xong thì vị này quy y tam bảo, vị Bà-la-môn này đổi đạo làm đệ tử tại gia của Đức Phật. Qua đây chúng ta được thấy trí tuệ, đức độ, tâm từ, tài hùng biện của Đức Phật, ngài dùng chánh lý bẻ hết tất cả những tà kiến vô minh, chấp thủ của những hàng tà giáo ngoại đạo thì lúc đó oai lực của ngài vô cùng lớn, ai nghe cũng chấn động thân tâm, lông tóc dựng đứng, tất cả chấp thủ trong lòng đều rung chuyển, nghe xong là chỉ có sụp xuống lạy và xin làm đệ tử, trọn đời quy ngưỡng, đây là câu trong nghi thức quy y tại Linh Quy.

Tất cả nghi thức ở Linh Quy Pháp Ấn đều lấy trong kinh Nikāya, hoàn toàn mới và cũng hoàn toàn cổ xưa 2600 năm trước, không ai theo ai ngoài Phật, những điều này cần chiêm nghiệm sâu sắc chứ không phải dễ để biết được nguyên do tại sao, nghi thức quy y ở Linh Quy là đọc 3 lần câu "Như người dựng đứng lại những gì bị quăng ngã xuống, phơi bày những gì bị che kín, chỉ đường cho những người bị lạc hướng, đem đèn sáng vào trong bóng tối để những ai có mắt có thể thấy sắc; cũng vậy, Chánh pháp đã được Tôn giả Gotama dùng nhiều phương tiện trình bày giải thích. Con xin quy y Tôn giả Gotama, quy y Pháp và chúng Tỳ-kheo Tăng. Mong Tôn giả Gotama nhận con làm đệ tử, từ nay cho đến mạng chung, con trọn đời quy ngưỡng".

Đây là câu phơi bày tâm cấu uế, uế nhiễm của chúng ta, tức là ông giáo sư toán học tên Mục-kiền-liên này nói rằng những người không phải vì lòng tin mà chỉ vì sinh kế nên đi tu, không phải tin Phật, tin pháp, tin Tăng mà vào tu để có cái ăn, bên ngoài khổ cực phải làm thuê vác mướn nên vào tu cho khỏe, đó là vì sanh kế mà đi tu thì tôn giả Gotama không thể sống chung với họ.

Chỉ có kinh Nikāya mới phơi bày những gì bị che kín, những cái tâm cấu nhiễm, cấu uế của chúng sanh được Đức Phật, các ngài Mục-kiền-liên, Xá-lợi-phất, ngài Ca-diếp và các bậc Thánh chúng khác phơi bày ra hết, có khi cả 2-3 trang kinh đều nói về tâm cấu uế, ô nhiễm của chúng sanh vì các ngài nhận diện ngũ uẩn mới thấy được những cái tâm đó, còn mình nói ra là chối ngay "không có", tâm không chân thật nên không tu được chánh pháp. Cái tâm không chân thì không tu được pháp chánh, từ từ chúng ta mới hiểu được điều này, mình đang giận rõ ràng nhưng nói mình sân là mình cãi "tôi giận hồi nào", "tôi không có giận", đó là sự ngụy biện quanh co giấu lỗi lầm, cái tâm không chánh trực, không chân chánh, không ngay thẳng, không thật thà nên không tu được.

Lỗi sai rành rành ra đó được chỉ lỗi mà cũng sân si lên, bản ngã lên, không chấp nhận sự thật nên không tu chánh pháp được. Mình tham ra đó nhưng có người chỉ mình tham là mình bực, khó chịu hay là mình cúi đầu cám ơn hiền giả chỉ lỗi? Cho nên người xuất gia phải có bốn đức hạnh sau đây:

"Diệu hạnh là chúng đệ tử của Thế Tôn. Trực hạnh là chúng đệ tử của Thế Tôn. Ứng lý hạnh là chúng đệ tử của Thế Tôn. Chơn chánh hạnh là chúng đệ tử của Thế Tôn. Tức là bốn đôi tám chúng. Chúng đệ tử của Thế Tôn là đáng cung kính, đáng cúng dường, đáng tôn trọng, đáng được chấp tay, là phước điền vô thượng ở đời". (Tương Ưng Bộ, Tập V- Thiên Đại Phẩm, Chương XI. Tương Ưng Dự Lưu (a), I. Phẩm Veludvàra, I. Vua) 

Chúng ta phải có được đầy đủ bốn đức hạnh này của một người tu, còn không đủ bốn đức hạnh này là không tu được, nếu có cũng chỉ trên hình thức, muốn đi sâu vào cái lõi để trở thành hiền Thánh thì không thể được vì tâm không chân thật nên nó trườn uốn, lạng lách như con lươn, con rắn, người không có tâm chánh trực, chân chánh thì nói chuyện cũng cong quẹo, đó là cái tâm không ngay thẳng cho nên học cái này là một cuộc đại phẫu. Khi đó con ở Úc Châu thì qua chùa Hoa Nghiêm thăm hòa thượng thì hòa thượng nói rằng mình vừa trải qua cuộc đại phẫu mổ tim, do mở lồng ngực để mổ tim nên trên ngực đầy những vết chỉ may chạy dài trên đó. Sự tu học Nikāya này là giải phẫu toàn diện, người nào chấp nhận chịu đau thì mới trở thành hiền Thánh Tăng, còn người có bản ngã sẽ không vào được dòng pháp này.

"Xảo trá, lường gạt, hư ngụy, mất thăng bằng, cao mạn, dao động, nói phô tạp nhạp, không hộ trì các căn, ăn uống không tiết độ, không chú tâm cảnh giác, thờ ơ với Sa-môn hạnh, không tôn kính học tập, sống quá đầy đủ, uể oải, đi đầu trong thối thất, từ bỏ gánh nặng viễn ly, biếng nhác, tinh cần thấp kém, thất niệm, không tỉnh giác, không định tâm, tâm tán loạn, liệt tuệ, câm ngọng", những thứ này đều có trong con người mình, nếu không có thì làm sao trong kinh có? Nếu không có thì tại sao Đức Phật và các bậc Thánh hiền lại nói? Tại sao được ghi lại trong kinh tồn tại đến mấy ngàn năm? Nhưng muốn thấy được những cấu uế này thì cả một vấn đề, nếu không nhận diện ngũ uẩn một cách nghiêm túc và sâu sắc thì không thấy được hoặc nếu có thấy cũng không thấy đủ, không thấy được hết, chỉ thấy một vài góc độ, phương diện thôi chứ không thể thấy được hết tất cả mọi phương diện, khía cạnh, góc độ. Cái tâm của mình không phải dễ thấy, phải thành tựu chánh kiến mới thấy được nó.

Khi đã thấy được tâm sẽ rất ê chề, ngao ngán, cảm thấy sợ hãi, chỉ cúi đầu xuống chứ không dám khinh khi bất cứ một ai. Những bậc nào đã thấy được tâm đều sống trong tàm quý, trú thường xuyên trong tàm quý, không dám kiêu căng, hống hách với bất kì ai. Còn những ai chưa thấy được tâm thì hách dịch, ngạo mạn, còn thấy tâm rồi chỉ toàn dục, ái, tham, sân, si, bản ngã thì thấy ê chề, não nề, chán chê, ngao ngáo cho một cái thân tâm đầy bất tịnh, cấu nhiễm, cái gì cũng dục, cái gì cũng tham, hở chút là sân hận, ghim gút, cay cú, cay nghiệt, cay độc, trong người chất chứa những chất dễ cháy, dễ bốc hỏa, đúng thời đúng lúc là tung ra làm khổ mình khổ người, đó là cái tâm cấu uế, lậu hoặc của chúng sanh, chỉ khi nào thành tựu chánh tri kiến mới bắt đầu gọi là thấy tương đối đầy đủ, còn phàm phu chỉ thấy mình giỏi, mình hay, mình tốt, còn người ta là xấu, dở.

Mất thăng bằng nghĩa là tâm này là tâm khập khiễng, không cân bằng, mỗi chữ trong kinh đều là huyết lệ, là xương máu của bậc chí Thánh cho nên không thể đọc kinh giống như xem báo được. Thờ ơ với Sa-môn hạnh nghĩa là thờ ơ với đức hạnh của người tu, không để tâm, không nhiệt tâm, không nhiệt tình với đức hạnh của người tu, được nhắc nhở thì giận, được sư phụ, giáo thọ sư nhắc nhở thì ngoài miệng dạ thưa nhưng trong tâm không biết đang nghĩ gì, chỉ có nhận diện ngũ uẩn mới thấy được hết trong nội tâm.

Nay con xin tập hạnh hiền nhân,

Chẳng để hơn thua dẫn dắt mình.

Lắng nghe thọ, tưởng, hành thật kỹ

Nghe rồi dẫn chúng đến hiền tâm.

Lúc nào cũng phải lắng nghe cảm giác trong con người mình hiện giờ thuộc loại cảm giác gì, trong đó đang có gì, dễ chịu, khó chịu hay lờ đờ, phải lắng nghe cảm giác đó và phải xem đang có hình bóng gì trong tâm, phải xem xét, nhìn ngó đang nói cái gì trong tâm. Mình phải quán sát trong tâm, soi rọi trong tâm, theo dõi trong tâm, mình quản lý và xử lý trong tâm, khi đã nghe rồi thì dẫn chúng đến tâm hiền, mình phải nhắc nhở tâm "cái tâm này phải hiền, cảm thọ này phải ngọt ngào, lành thiện", mình phải chăm sóc, tưới tẩm, huấn luyện cái tâm mình, nếu không mình sẽ chết với những cái tâm ác độc này.

II. Tha thiết học tập – tôn kính pháp

Ngược lại với không tôn kính học tập là phải tôn kính học tập, trước giờ chúng ta hay nghe tôn kính bậc trưởng thượng, kính Phật, kính pháp, kính Tăng chứ ít khi nào nghe nói đến tôn kính học tập. Tôn kính học tập còn gọi là tôn kính học pháp, tức là khi nghe pháp phải trang nghiêm, thanh tịnh, cung kính, không được vừa học vừa uống nước, thưa với quý thầy quý cô nhiều khi cổ họng khó chịu lắm hoặc bị khan tiếng thì con mới cầm ly nước lên uống vì đây không phải là giờ uống nước, phải uống trước giờ học hoặc chờ đến khi ra chơi uống, không được trong giờ học lấy chai nước ra uống. Những điều này mà không thành tựu thì không chứng đắc pháp, cái tâm tôn kính pháp không đủ, tâm tôn kính Phật không đủ, tâm tôn kính Tăng không đủ thì không thành tựu pháp. Trong lúc nghe pháp không được vừa nghe vừa làm chuyện khác, trừ khi nào mình muốn nghe thêm thì không nói, còn khi nghe pháp phải trang nghiêm, thanh tịnh, lúc nghe phải lắng tâm, chú ý đưa lời kinh vào những dòng cảm thọ để phá cảm xúc si mê, vô minh, tham ái, chấp thủ, đây là cách nghe của thiền quán.

Mình hướng vào lồng ngực để gọi cảm thọ, trong đó có một cảm giác dâng lên hiền lành, dễ chịu, đó là tùy văn nhập quán, tức là mình theo lời nói đó, theo câu chữ đó để mình đi vào quán chiếu, cái nghe đó làm mình thay đổi guồng máy vô minh, tham ái, chấp thủ trong nội tâm chúng ta chứ không phải chỉ nghe bằng lỗ tai thôi. Ví dụ mình nghe "tâm sân si này cứ đốt cháy, làm khổ mình mãi chưa đủ hay sao hỡi tâm sân si, ngu si?", khi nghe như vậy thì mình đưa câu chữ đó đánh thẳng vào cảm giác ngu si, sân si để dập nó chứ không phải nghe rồi hướng ra ngoài rồi bực bội người nói câu đó, đó là không tôn kính pháp và Tăng, cũng không tôn kính Phật. Bây giờ chúng ta sẽ nói cái dễ trước, đó là cách ngồi, cách nghe, cử chỉ thái độ ngoài thân là những cái dễ, ví dụ mình ngồi nghe pháp mà ngáp là phải che miệng, hoặc khi muốn hắt hơi thì phải hãm âm thanh lại nhỏ hết mức còn không thì phải đi ra ngoài vì một sự dao động của mình sẽ làm động niệm những người xung quanh, làm gián đoạn thiện pháp vì lúc đó dòng cảm thọ; tưởng; hành thức chuẩn bị Nhập Lưu mà mình hắt hơi làm người ta trở lại, người ta nổi sân lên thì mình có tội.

Mình không biết trạng thái tâm của các bậc đồng phạm hạnh do mình chưa chứng đắc tha tâm thông, mình không biết tâm của họ đang ở mức độ nào, trong thời Đức Phật có rất nhiều vị khi nghe pháp là từ Nhập Lưu cho đến chứng quả A-la-hán thì cái nghe đó phải rất tập trung cao độ chứ không như mình nghe như nghe tin tức, thời sự. Cái tâm nghe pháp khi đó phải vô cùng tôn kính Đức Phật, giáo pháp và chúng Tăng, cái tâm phải ngoan hiền, mềm mại, nhu nhuyến, dễ sử dụng, không có sự chống đối. Ví dụ khi nghe "cái tâm có bản ngã cao ngạo như vậy là đọa làm súc sanh" thì mình bực bội "nói tôi làm súc sanh hả", mình có ý nghĩ chống đối thì đó là bất kính với pháp, ý nghĩ đó làm chướng ngại nguồn thánh trí huệ chiếu vào tâm mình, đúng ra lúc đó đã phá được một phần chấp ngã trong tâm nhưng mình lại chặn đứng lại, mình chống đối, những điều này cần phải nhận diện ngũ uẩn mới thấy được, còn không là không thể thấy được thọ; tưởng; hành, thậm chí cả buông lung phóng dật cũng không thấy, mình chỉ biết "mình ăn bình thường, uống bình thường, nói chuyện cũng bình thường, có gì mà la, sao khó khăn quá vậy?", những cái tâm như vậy là không tu được.

Chúng ta chỉ mới nói đến tôn kính học chứ chưa nói đến phần tập, chữ "tập" trong tiếng Nho nghĩa là làm tới làm lui, làm đi làm lại chừng nào được thì thôi, mới gọi là tập. Học tập nghĩa là pháp học và pháp hành, thế nào là tôn kính học tập? Ví dụ không bỏ giờ ngồi thiền, mình cung kính thiền định, phải tôn thờ thiền định thì chánh pháp mới được cửu trụ, không phải chỉ trong giờ thiền mới vào ngồi thiền mà phải thường xuyên ngồi thiền, phải thấy thiền định là một cái gì đó linh thiêng, cao quý, thần thánh, phải đội trên đầu, hễ có thời gian rỗi là thiền định, phải xem nó là báu vật, là gia tài, chỗ tôn thờ linh thiêng, mình mong muốn thiền định trong con người mình tăng trưởng lên thêm nữa thì gọi là tăng thượng tâm học, nếu không có cái này thì Đức Phật nói giống như con lừa đi theo sau một đàn bò.

"Này các Tỳ-kheo, có ba hạnh Sa-môn cần phải làm này của Sa-môn. Thế nào là ba?

Thọ trì tăng thượng giới học, thọ trì tăng thượng định học, thọ trì tăng thượng tuệ học. Ðây là ba hạnh Sa-môn cần phải làm này của Sa-môn. Ở đây vậy, này các Tỳ-kheo, hãy học tập như sau: 'Sắc bén sẽ là ước muốn chúng ta để thọ trì tăng thượng giới học. Sắc bén sẽ là ước muốn chúng ta để thọ trì tăng thượng định học. Sắc bén sẽ là ước muốn chúng ta để thọ trì tăng thượng tuệ học'. Như vậy, này các Tỳ-kheo, các Thầy cần phải học tập.

Ví như, này các Tỳ-kheo, một con lừa đi theo sau lưng một đàn bò nghĩ rằng: 'a cũng là con bò, ta cũng là con bò', nhưng nó không có màu sắc giống như con bò. Nó không có tiếng giống như con bò. Nó không có chân giống như con bò. Tuy vậy, nó vẫn đi theo đàn bò, nghĩ rằng: 'Ta cũng là con bò, ta cũng là con bò'. Cũng vậy, này các Tỳ-kheo, ở đây Tỳ-kheo đi theo sau lưng chúng Tỳ-kheo, nghĩ rằng: 'Ta cũng là Tỳ-kheo, ta cũng là Tỳ-kheo'. Nhưng vị ấy không có ước muốn thọ trì tăng thượng giới học như các Tỳ-kheo khác. Vị ấy không có ước muốn thọ trì tăng thượng định học như các Tỳ-kheo khác. Vị ấy không có ước muốn thọ trì tăng thượng tuệ học như các Tỳ-kheo khác. Tuy vậy, vị ấy vẫn đi theo sau lưng chúng Tỳ-kheo, nghĩ rằng: 'Ta cũng là Tỳ-kheo, ta cũng là Tỳ-kheo'". (Tăng Chi Bộ, Chương III. Ba Pháp, IX. Phẩm Sa-Môn, Sa Môn)

Thọ là tiếp nhận, trì là giữ, mình nhận và giữ pháp đó, làm cho pháp đó lớn mạnh trong con người mình thì gọi là thọ trì tăng thượng. Mình ước muốn giới đức của mình ngày càng viên mãn, trong Quy Sơn Cảnh Sách có đoạn "Nhược hữu trung lưu chi sĩ, vị năng đốn siêu, thả ư giáo pháp lưu tâm, ôn tầm bối diệp, tinh sưu nghĩa lý, truyền xướng phu dương, tiếp dẫn hậu lai, báo Phật ân đức. Thời quang diệc bất hư khí, tất tu dĩ thử phù trì. Trú chỉ uy nghi, tiện thị Tăng trung pháp khí. Khởi bất kiến ỷ tùng chi cát, thượng túng thiên tầm, phụ thác thắng nhân phương năng quảng ích. Khẩn tu trai giới, mạc man khuy du. Thế thế sanh sanh thù diệu nhân quả", nghĩa là khuyên mình tìm chỗ bạn lành cho tốt để nương tựa, "há chẳng thấy dây sắn nương cây tùng mà vươn lên cao ngàn thước, nương nhờ cái nhân thù thắng mới có thể đạt được nhiều lợi ích". Tất cả các kinh điển trong các tông phái là con soi kinh nấu sử mấy chục năm, mình phải có con mắt tinh minh, tinh ba, tinh túy chứ không được học phất phơ.

Trong bài kinh Sa-môn nói về con lừa đi theo sau đàn bò, con bò là một linh vật thần thánh bên Ấn Độ, nó đi cùng đường cùng phố ị đầy đường không ai dám làm gì, bên Việt Nam mình có câu nói "ngu như bò" là tiếng nặng nhưng bên Ấn Độ nói đến con bò là một sự tôn kính, do tập quán, văn hóa của mỗi nước là khác nhau cho nên ở đây Đức Phật ví dụ con bò là một ví dụ cho sự tốt đẹp, con lừa đi theo sau đàn bò rồi cho rằng nó cũng là con bò nhưng nó không có màu sắc của con bò, không có đôi chân của con bò, không có tiếng của con bò, tức là không có giới – định – tuệ, không có cái tâm tha thiết, khát ngưỡng, mong muốn tăng trưởng giới đức, thiền định, trí tuệ. Tự mình phải kiểm tra lại mình có tâm khao khát, tha thiết, mong muốn, tâm ưu tư làm sao để giới đức của mình được viên mãn, thiền định được thành tựu, trí tuệ của mình được tỏ sáng không và có bao nhiêu, đó là ý nghĩa của bài kinh đó, cho nên một người hiểu được chánh pháp đúng như chánh pháp là một báu vật ở đời, thuyết giảng đúng chánh pháp của Phật là báu vật hiếm có khó tìm thứ hai, thực hành đúng chánh pháp thì lại càng hiếm có hy hữu khó gặp trên đời và cuối cùng là sự biết ơn, nhớ ơn.

"Sự xuất hiện của Như Lai, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác khó tìm được ở đời. Người thuyết được Pháp Luật do Như Lai tuyên bố khó tìm được ở đời. Người hiểu được Pháp Luật do Như Lai tuyên bố khó tìm được ở đời. Người thực hành pháp và tùy pháp, sau khi đã hiểu rõ lời thuyết giảng về Pháp và Luật do Như Lai tuyên thuyết, khó tìm được ở đời. Người biết ơn, nhớ ơn khó tìm được ở đời.

Này các Licchavi, sự xuất hiện của năm loại châu báu này khó tìm được ở đời" (Tăng Chi Bộ, Chương V. Năm Pháp, XIX. Phẩm Rừng, (V). Bà La Môn Pingiyani)

Sự tu học của chúng ta hiện nay hết sức kém cỏi, hết sức cạn cợt, hết sức qua loa cho nên cần để tâm thật nhiều, phải tăng thượng thêm nữa. Vị thầy toán số nói chúng ta sống quá đầy đủ, uể oải, đi đầu trong các thối thất và được Đức Phật xác nhận như vậy vì nếu nói sai là Đức Phật đã chỉnh lại. Mình có uể oải không? Vào học thấy mệt mỏi nhưng ra về là cái mặt tươi tỉnh, phơi phới, phấn khởi, hí ha hí hửng, hoặc bắt ngồi thiền, nghe pháp là ngồi thấy nhạt nhẽo, mệt mỏi, uể oải, đó là thức ăn của vô minh, của si mê nhưng chúng ta lại không biết những điều này, không nhận diện ngũ uẩn, không tinh minh, tinh vi, không tinh tế thì làm sao thấy được. Tu học thì thấy uể oải còn ăn uống, đi chơi thì thấy khỏe khoắn, sung mãn, đó là sự thất bại, sống quá đầy đủ thì thấy uể oải, ăn nhiều thì thấy buồn ngủ, trong Bách Tượng thanh quy có ghi nếu bệnh thì giảm thực vi lương dược nghĩa là bệnh thì lấy giảm ăn làm thuốc hay. Cái bệnh của chúng ta hết 80% xuất phát từ cái ăn, nếu khó tiêu thì đừng ăn nhiều, đằng này khó tiêu thì đi mua thuốc tiêu uống để ăn cho được, cái tham này làm khổ mình, tất cả mọi khía cạnh đau khổ trên cuộc đời này bắt đầu từ cái tham.

Gần tới giờ ngồi thiền thì ăn 2 gói mì cho đầy bụng thì làm sao ngồi nổi? Làm sao có thể sống độc cư thiền định được? Đó là lý đo Đức Thế Tôn không thể sống chung những người này được, chỉ riêng việc tiết độ trong ăn uống nếu làm được thì khỏe biết bao nhiêu, không có mệt mỏi, không có phiền não, có nhiều thời gian ngồi thiền, đi kinh hành, nghe pháp. Lúc mình còn nhỏ thì ông bà ăn uống đơn sơ, cơm canh đạm bạc mà ngon lành, đầy bổ dưỡng, sống 80-90 tuổi, còn bây giờ ăn đồ bổ, đồ ăn làm sẵn rồi mang bệnh vào thân, như vậy ăn uống đơn giản, đơn sơ, nhẹ nhàng, thanh đạm, thanh bần, nhẹ nhành tu học, chứng đắc thiền định, trí tuệ thì không muốn, cứ muốn làm cho nặng nề, mệt mỏi nhưng mình không thấy điều này mà cứ đổ thừa tại người này người kia, do vô minh không thấy mà cứ tưởng là thông minh.

"Người ngu nghĩ mình ngu,

Nhờ vậy thành có trí.

Người ngu tưởng có trí,

Thật xứng gọi chí ngu"

(Kinh Pháp Cú 05 – Phẩm Ngu, kệ 63)

Học cái này nếu để tâm vào và học với tấm lòng chân thật, chân thành thì mình sẽ học được chánh pháp, mình sẽ sửa chỉnh được thân tâm của mình, nó có kết quả thiết thực, hiện tại thật sự, không có ảo tưởng, không có mộng mơ, không có viễn vông gì cả, nó thiết thực hiện tại, có hiệu quả tức thời, đến để mà thấy, có khả năng hướng thượng, được người trí tự mình giác hiểu. Đó là Thánh pháp vi diệu, tối thượng ly tham.

Tâm thương này tỏa rộng

Cùng khắp thế giới này

Tâm thương này tỏa rộng

Khắp trời đất bao la.

./.