Tất Cả Là Mù Lòa 2
Kinh Nikāya Giảng Giải
TẤT CẢ LÀ MÙ LÒA 2
Thích Minh Thành
MỤC LỤC
TOC \o "1-3" \h \z \u I. Mù lòa PAGEREF _Toc72394086 \h 1
II. Nhàm chán PAGEREF _Toc72394087 \h 3
III. Hổ thẹn và sợ hãi PAGEREF _Toc72394088 \h 5
IV. Nhiếp phục ác bất thiện pháp PAGEREF _Toc72394089 \h 7
V. Tiến trình giải thoát: Tàm quý – các căn được chế ngự … PAGEREF _Toc72394090 \h 9
VI. Nhàm chán PAGEREF _Toc72394091 \h 12
VII. Năm châu báu khó tìm được ở đời PAGEREF _Toc72394092 \h 14
VIII. Phàm cái gì được cảm thọ, cái ấy nằm trong đau khổ PAGEREF _Toc72394093 \h 16
I. Mù lòa
“Tất cả, này các Tỳ-kheo, là mù lòa. Và này các Tỳ-kheo, cái gì mù lòa?
Mắt, này các Tỳ-kheo, là mù lòa. Các sắc là mù lòa. Nhãn thức là mù lòa. Nhãn xúc là mù lòa. Do duyên nhãn xúc khởi lên cảm thọ gì, lạc, khổ, hay bất khổ bất lạc; cảm thọ ấy là mù lòa. Mù lòa bởi cái gì? Ta nói rằng mù lòa bởi sanh, già, chết, sầu, bi, khổ, ưu, não... Tai... Mũi...
Lưỡi là mù lòa. Các vị là mù lòa. Thiệt thức là mù lòa. Thiệt xúc là mù lòa. Do duyên thiệt xúc khởi lên cảm thọ gì, lạc, khổ, hay bất khổ bất lạc; cảm thọ ấy mù lòa. Mù lòa bởi cái gì? Ta nói rằng mù lòa bởi sanh, già, chết, sầu, bi, khổ, ưu, não.
Thân là mù lòa...
Ý là mù lòa. Các pháp là mù lòa. Ý thức là mù lòa. Ý xúc là mù lòa. Do duyên ý xúc khởi lên cảm thọ gì, lạc, khổ hay bất khổ bất lạc; cảm thọ ấy là mù lòa. Mù lòa bởi cái gì? Ta nói rằng mù lòa bởi sanh, già, chết, sầu, bi, khổ, ưu, não.
Thấy vậy, này các Tỳ-kheo, vị Ða văn Thánh đệ tử nhàm chán đối với mắt, nhàm chán đối với các sắc, nhàm chán đối với nhãn thức, nhàm chán đối với nhãn xúc. Do duyên nhãn xúc khởi lên cảm thọ gì, lạc, khổ, hay bất khổ bất lạc; vị ấy nhàm chán cảm thọ ấy. Do nhàm chán, vị ấy ly tham. Do ly tham, vị ấy được giải thoát. Trong sự giải thoát, trí khởi lên biết rằng: "Ta đã được giải thoát". Vị ấy biết rõ rằng: "Sanh đã tận, Phạm hạnh đã thành, những việc nên làm đã làm, không còn trở lui trạng thái này nữa".
(Tương Ưng Bộ, Tập IV – Thiên Sáu Xứ, Chương I – Tương Ưng Sáu Xứ (a), Phần Một – Năm Mươi Kinh Thứ Nhất, III. Phẩm Tất Cả, VII. Mù Lòa)
Con mắt này của chúng ta bị các sắc, bị tiền bạc, nhà cửa vật chất, tài sản làm cho con mắt này mù lòa, bị sự lòe loẹt của những màu sắc làm cho mù lòa. Lỗ tai của chúng ta bị những âm thanh tác động, những cảm thọ làm mù lòa. Mũi, lưỡi bị những thức ăn, nước uống độc hại làm mù lòa. Những cảm giác ưa thích và ghét bỏ làm thành không mắt, si mê, vô trí, làm thành bóng đêm. Thân xác này bị những sự tiếp xúc, đụng chạm làm mù lòa. Tâm thức này bị những hình bóng, cảm giác, nghĩ tưởng bên trong làm cho mù lòa. Nội tâm bị bao phủ bởi bóng đêm của vô minh và tham ái, một nội tâm trong trường dạ đêm dài. Ý mù lòa, các Pháp mù lòa, ý xúc mù lòa, bao phủ mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý này là si mê, vô minh, bóng tối, bao trùm toàn bộ thân tâm này là bóng đêm của sự mù lòa.
Mù lòa bởi lòng tham ái, tham muốn, tham dục, tham vọng, bóng đêm của lòng tham, lòng dục, lòng ái, lòng dân giận, hơn thua, nhân ngã bỉ thử, so sánh, hay dở, cao thấp… đã che kín bầu trời này. Mù lòa trong bản ngã của thân kiến, mù lòa trong bản ngã của hơn thua, mù lòa trong bản ngã của đúng sai, dục tham, cảm thọ, cảm xúc, mù lòa trong bản ngã của thói quen, nghiệp lực. Cứ vậy mà tiếp tục cho sự tái sanh, tiếp tục cho bị sanh, bị già, bị bệnh, bị chết, tiếp tục tiếp nối những đời sống trong sự mù lòa và bốc cháy, tiếp tục trong những suy nghĩ, toan tính lo âu, sợ hãi, sầu đau, tiếp tục trong sự đau khổ, thống khổ, khổ nạn, tai họa trong cảnh mù lòa của tâm thức, của bóng đêm.
Chúng ta tự hỏi mục đích thật sự của đời sống này là gì? Là ăn những món ngon, mặc đồ đẹp, ở trong những căn nhà đầy đủ tiện nghi vật chất hay vun vén, tô bồi cho xác thân vô thường, tạm bợ, bất cứ lúc nào cũng có thể ngã xuống? Hay chạy theo tham dục, những ham muốn, đuổi tìm những tham vọng hay phụng sự, phục dịch cho tham ái?
Mục đích của đời sống này là bốc lên những ngọn lửa tự thiêu đốt mình và thiêu đốt những người khác hay sao? Hay là gắt gỏng, cau có, bực dọc, sân hận, làm khổ mình khổ người? Hay là ganh tị, đố kị, hơn thua, giành giật, tranh đấu, chiến tranh? Mục đích của đời sống này là buông lung phóng dật, buông thả để rồi rơi tự do xuống vực sâu ư? Mục đích của đời sống này là tưới tẩm cho một cái tôi to lớn, cho một cái ta ngã mạn không xem ai ra gì hay sao? Mục đích của cuộc đời này là nuôi lớn những ảo tưởng về tự ngã hay tô thêm cái ta huyễn hóa hay sao?
Cuối cùng thân xác này nằm xuống với những dòng nước mắt của chính mình và những người đưa tiễn mình, nếu không nhìn ra được mục đích thật sự của cuộc sống này thì mãi mãi chúng ta ở trong sự mù lòa của bóng đêm, si mê, vô minh hắc ám. Một chiếc máy bay vừa rơi làm chết bảy em bé, hơn bốn mươi người lớn. Những người tên tuổi lẫy lừng bất thình lình đột quỵ ra đi, hơn sáu mươi tuổi có, bốn mươi tuổi đó và mới đây là đứa bé mới hơn ba tuổi cũng đột quỵ chết. Chúng ta hãy nhìn lên mái tóc chính mình, có người bạc đầu trắng xóa, có người đã điểm sương và những người tóc còn đen nhánh cũng không có gì là chắc chắn trước thế giới vô thường này.
II. Nhàm chán
Thế Tôn đã dạy Thánh Pháp Ấn là y chỉ viễn ly, y chỉ ly tham, y chỉ đoạn diệt hướng đến từ bỏ.
“Và này các Tỳ-kheo, thế nào là tinh cần tu tập? Ở đây, này các Tỳ-kheo, Tỳ-kheo tu tập niệm giác chi, y chỉ viễn ly, y chỉ ly tham, y chỉ đoạn diệt, đưa đến xả ly; tu tập trạch pháp giác chi ... tu tập tinh tấn giác chi ... tu tập hỷ giác chi ... tu tập khinh an giác chi ... tu tập định giác chi ... tu tập xả giác chi, y chỉ viễn ly, y chỉ ly tham, y chỉ đoạn diệt, đưa đến xả ly. Này các Tỳ-kheo, đây gọi là tinh cần tu tập.”
(Tăng Chi Bộ Kinh, Chương IV – Bốn Pháp, II. Phẩm Hành,
(IV) (14) Chế Ngự).
Sự tu của chúng ta là nhàm chán những thứ vô thường này. Hãy đoạn trừ lòng dục, lòng tham, đoạn trừ ý nghĩ đây là tôi, đây là của tôi đối với những thứ vô thường, rã nát, bất tịnh này. Hãy nuôi dưỡng tâm viễn ly, xuất ly. Hai mắt nhìn nhau rồi trừng lên, sân si lên thì hai mắt đó có phải mù lòa không mọi người? Lỗ tai nghe tiếng rồi bốc cháy thì có phải mù lòa không? Nếm đồ ăn rồi sân hận, khó chịu, khen chê để người nấu phiền não, khổ đau thì cái lưỡi đó có mù lòa không?
Thân tiếp xúc rồi bị dính mắc, ràng buộc, trói cột, thậm chí có những người phải mất mạng vì tự vẫn với lý do gia đình cấm cản thì thân đó có phải mù lòa không? Chúng ta bị sợi dây gia đình buộc chặt có thấy khổ không, có muốn thoát ra không? Cảm xúc đó nhìn lại là mù lòa, ngồi nhớ người này người kia, những chuyện bực bội thì tâm ý đó có phải mù lòa không? Không phải tức giận những người dưng mà là những người thân thương nhất trong gia đình mình, là cha mẹ, vợ chồng, anh chị em ruột, ý thức mù lòa này vẫn cố chấp không chịu nhả ra, những cảm giác thiêu đốt, nhiệt não đó làm chúng ta đau khổ, đó là những cảm giác mù lòa làm người thân khổ đau, làm chính mình đau khổ.
Chúng ta phải tập nhàm chán những cảm giác thiêu đốt, nung nấu, hủy hoại cơ thể, thân tâm mình. Tại sao lại chấp nhận nuôi dưỡng nó? Tại mình mù lòa, mình không biết sự nguy hiểm và tác hại của nó, mình không biết nó giày xéo, hành hạ mình, mình đau khổ vì nó trong trăm ngàn vạn kiếp rồi. Chúng ta đã đau khổ vì những hình bóng đó, chúng ta đã sầu bi bởi những cảm giác đó, chúng ta bị hủy hoại bởi những suy nghĩ của tham sân si, bản ngã, chấp thủ.
Chúng ta phải tập nhàm chán những cảm giác hơn thua, sân hận đó, phải từ bỏ và chấm dứt, không chất chứa, tăng trưởng, phát triển nó trong tâm nữa, chỉ muốn đào thải, đoạn tận và chấm dứt khỏi nó. Chúng ta nhìn từ ngoài vào trong, cả thế giới đang ở trong đại thảm họa của dịch bệnh, các nước phương Tây, Âu Mĩ và các nước lân cận chúng ta hiện tại đang rất khổ sở, gần hai triệu người chết, chín mươi triệu người nhiễm bệnh, ngoài ra còn bị ung thư mà không chỉ có một loại ung thư: Ưng thư phổi, ung thư gan, ung thư vòm họng… chỗ nào trên cơ thể cũng có thể bị ung thư và những chứng bệnh khác.
Khí hậu thì ô nhiễm vì khói bụi, nhất là những thành phố lớn, chúng ta đang hít khí độc, thở trong khí độc, ăn thức ăn độc, tắm và uống trong nguồn nước ô nhiễm, xung quanh chúng ta là những sự ô nhiễm. Hoàn cảnh xung quanh thì đâm chém, cướp giật, hãm hại, giết người, mang thân xác già nua, bệnh tật, lo lắng và sợ hãi còn bên trong nội tâm đầy rẫy dục vọng, sân hận, si mê, vô minh, bản ngã. Vậy mà không lo lắng, không thấy sợ hãi, vậy mà không mưu cầu thoát ra xuất ly đạo lộ.
III. Hổ thẹn và sợ hãi
Cho nên mục đích đời sống này là thể nhập Chánh Pháp, thành tựu Chánh kiến, thấy được con đường thoát ra. Mọi người đã thấy con đường thoát ra chưa? Chúng ta nhìn bằng trí tuệ, nhìn bằng chánh tri kiến, nhìn bằng Thánh Pháp thì thấy toàn thể thế giới, hoàn cảnh xã hội, thân xác và tâm niệm chúng ta đều ở trong vô thường, khổ đau, vô ngã, trống rỗng. Tất cả nền tảng đều sụp đổ trong Thánh trí tuệ của Đức Phật, chính chỗ này chúng ta mới có tâm nhàm chán, từ nhàm chán mới có ly tham, không tham muốn nên từ bỏ, giải thoát. Đức Phật dạy tiến trình giải thoát là phải có sự hổ thẹn và sợ hãi đối với những các ác và bất thiện pháp của chính mình.
“Và này các Tỳ-kheo, thế nào là sự sợ hãi tự mình trách?
Ở đây, này các Tỳ-kheo, có hạng người suy xét: "Nếu thân ta làm ác, lời nói ta ác, ý nghĩa ta ác, thời tự ngã có thể trách ta về phương diện giới: "Sao lại làm nghiệp ấy?". Người ấy do sợ hãi tự trách, đoạn tận thân làm ác, tu tập thân làm lành, đoạn tận lời nói ác, tu tập lời nói lành, đoạn tận ý nghĩ ác, tu tập ý nghĩ lành; sống tự ngã trong sạch. Này các Tỳ-kheo, đây gọi là sợ hãi tự trách. (Tăng Chi Bộ, Chương IV – Bốn Pháp, XIII. Phẩm Sợ Hãi, (I) Tự Trách)
Hai pháp này, này các Tỳ-kheo, là pháp trắng. Thế nào là hai? Tàm và quý. Các pháp này, này các Tỳ-kheo, là hai pháp trắng.
Hai pháp trắng này, này các Tỳ-kheo, che chở cho thế giới. Thế nào là hai? Tàm và quý. Nếu hai pháp trắng này, không che chở cho thế giới, thời không thể chỉ được đây là mẹ hay là em, chị của mẹ, hay đây là vợ của anh hay em của mẹ, hay đây là vợ của Thầy hay đây là vợ của các vị tôn trưởng. Và thế giới sẽ đi đến hỗn loạn như giữa các loài dê, loài gà vịt, loài heo, loài chó, loài dã can. Vì rằng, này các Tỳ-kheo, có hai pháp trắng này che chở cho thế giới, nên mới có thể chỉ được đây là mẹ hay đây là chị em của mẹ, hay đây là vợ của anh hay em của mẹ, hay đây là vợ của Thầy hay đây là vợ của các vị tôn trưởng.”
(Tăng Chi Bộ, Chương II – Hai Pháp, Chương I. Phẩm Hình Phạt,
1-10 Hai Loại Tội)
Khi tham sân si sanh khởi lên mình thấy nhục nhã, tội lỗi, đau buồn. Tại sao mình đã học, đã hiểu rồi mà dục cứ hành hạ, dẫn dắt, đày đọa mình? Không chiến thắng được nó nên cảm thấy ray rứt, băn khoăn, trắc trở, điều này rất tốt, ai sanh khởi được tâm tàm quý rất tốt vì đây là cánh cửa đi vào Niết-bàn. Sanh khởi lên bản ngã thấy thấp hèn, hạ liệt, tại sao lại sanh bản ngã với những người thân trong gia đình hoặc huynh đệ, bạn đồng tu, người chia sẻ Pháp với mình?
Khi sanh bản ngã, sự sân hận thì mình khổ và người kia cũng khổ nên phải thấy xấu hổ, buồn khổ, sau đó phải lạy sám hối hoặc nghe bài thiền quán Sám Hối Diệt Ngã và thực hành theo đó "Con kém cỏi, thấp hèn quá". Phải biết lo lắng và sợ hãi với những ác bất thiện pháp sanh khởi trong tâm, khi sân hận khởi lên thì phải dập đầu lạy sám hối.
IV. Nhiếp phục ác bất thiện pháp
Tự mình đi đến mình, tự mình dò xét mình tự mình chỉ trích mình bằng sự tác động tâm ý mạnh mẽ (Như lý tác ý) để nhắc nhở, rầy ra, quở trách tâm cứng đầu, ương ngạnh, mù lòa, vô minh, si mê này "Tâm si mê này ngươi tỉnh ra chưa?". Trong Tương Ưng Bộ kinh, Đức Phật dùng hình ảnh lấy cây roi đánh con bò một trận nên thân vì ăn trộm lúa mì.
“Ví như, này các Tỳ-kheo, lúa mì đã chín và một người giữ lúa mì phóng dật (lơ đãng). Có con bò ăn lúa mì, xâm phạm lúa mì, xâm phạm lúa mì ấy và mê say ăn một cách thỏa thích. Cũng vậy, này các Tỳ-kheo, kẻ vô văn phàm phu không hộ trì đối với sáu xúc xứ, mê say thọ dụng một cách thỏa thích đối với năm dục công đức.
Ví như, này các Tỳ-kheo, lúa mì đã chín và một người giữ lúa mì không phóng dật. Có con bò ăn lúa mì, xâm phạm lúa mì ấy. Người giữ lúa mì nắm chắc cái lỗ mũi của con bò; sau khi nắm chắc cái lỗ mũi, người ấy rị chặt trên cái trán. Sau khi rị chặt trên cái trán, với cái gậy, người ấy đánh con bò một trận nên thân. Sau khi lấy gậy đánh cho một trận nên thân, người ấy thả con bò đi.
Lần thứ hai, này các Tỳ-kheo...
Lần thứ ba, này các Tỳ-kheo, có con bò ăn lúa mì, xâm phạm lúa mì ấy. Người giữ lúa mì nắm chặt cái mũi con bò; sau khi nắm chắc cái mũi, người ấy rị chặt trên cái trán. Sau khi rị chặt trên cái trán, với cái gậy, người ấy đánh con bò một trận nên thân. Sau khi lấy gậy đánh con bò một trận nên thân, người ấy thả con bò đi. Như vậy, này các Tỳ-kheo, con bò ăn lúa mì ấy đi vào làng, hay đi vào rừng, hay khi đứng, hay ngồi, nó không xâm phạm lúa mì ấy, vì nó nhớ đến cảm xúc cái gậy lần trước. Cũng vậy, này các Tỳ-kheo, khi nào Tỳ-kheo có tâm chơn trực, chánh trực đối với sáu xúc xứ, thời nội tâm được an trú, tịnh chỉ, nhứt tâm, Thiền định”
(Tương Ưng Bộ, Tập IV – Thiên Sáu Xứ, Chương I. Tương Ưng Sáu Xứ (g), IX. Ðờn Tỳ Bà).
Đánh một trận nên thân cho đau nhức để sau này nhìn thấy sự kiện tương đồng như vậy xuất hiện sẽ nhớ đến trận đòn đau đớn trước đó nên sẽ không dám nữa. Phải lo lắng và sợ hãi trước những ác bất thiện pháp còn tồn tại trong tâm, toàn bộ sự tu tập của chúng ta là nhiếp phục dục, tham sân si, vô minh và bản ngã.
Vì sao phải nhiếp phục và diệt tận nó? Vì nó là nguyên nhân làm mình khổ, không muốn khổ phải diệt tận, chấm dứt nó. Phải soi rọi, nhìn lại từng cảm giác, nghĩ tưởng, hành động, lời nói nếu thấy rơi vào ác bất thiện pháp thì phải xử lý nó, la mắng, chỉ trích, quở trách nó, cảm thấy lo lắng và sợ hãi khi những thứ này còn tồn tại trong tâm như rắn hổ mang ở trong nhà. Trong nhà biết có con rắn mà không biết nó ở đâu thì làm sao ngủ yên được? Phải thao thức, ray rứt, trăn trở vì những ác bất thiện pháp còn tồn động, xâm chiếm áp đảo trong ta. Ta chưa được bình an, Ngài Trần Tôn Túc, đệ tử lớn của Tổ Hoàng Bá, Sư huynh của Tổ Lâm Tế có nói:
Đại sự vị minh như táng khảo tỷ,
Đại sự dĩ minh như táng khảo tỷ.
Việc lớn chưa sáng như đưa ma mẹ,
Việc lớn đã sáng như đưa ma mẹ.
Việc lớn chưa sáng, chúng ta phải cố gắng nỗ lực tiến tu để sáng. Nếu việc lớn đã sáng rồi không phải ngang đó chúng ta dừng lại mà còn phải tiếp tục hơn nữa. Mục đích duy nhất của cuộc đời này là diệt tận và nhiếp phục tham sân si, vô minh và bản ngã. Chết thì ai cũng chết, ăn thì ai cũng ăn, ngủ thì ai cũng ngủ nhưng nhiếp phục và diệt tận tham sân si này là đời sống tối thượng, đời sống cao thượng, hi hữu, thù thắng hiếm có, sinh mạng này trở nên quý báu khi biết làm điều này.
Phải làm cho mình nhức nhối, đau khổ, ăn không ngon ngủ không yên khi còn dục tham, sân hận, bản ngã, cấu uế, lậu hoặc, mình thấy nó rõ ràng mà mình thua nó thì mình phải đau đớn, nỗ lực, quyết tâm phát nguyện sám hối trước Tam Bảo, hứa tự tín tinh cần, tinh tấn, khởi lên ý muốn sắc bén phải hạ gục được những tên giặc cấu uế, đuổi được con rắn hổ mang chúa ra khỏi nhà thì lúc đó ăn mới ngon, ngủ mới yên.
Năm con rắn hổ mang chúa trong nhà tượng trương cho tham, sân, si, vô minh, bản ngã, năm con rắn này quay lại cắn mình chết trước, không phải ai ở bên ngoài giết mình mà chính là những cảm giác, bản ngã ác độc đó giết mình, không phải ai ở bên ngoài hại mình mà chính những sân hận, bực bội đó hủy hoại đời mình, không phải ai ở bên ngoài dụ dẫn, lôi kéo, quyến rũ mình mà chính cảm giác tham dục xúi giục, thúc giục mình chạy theo nó rồi nó đẩy mình xuống vực sâu.
V. Tiến trình giải thoát: Tàm quý – các căn được chế ngự …
Cho nên phải có sự tàm quý, lo lắng, xấu hổ và sợ hãi, lo lắng suy nghĩ và tìm đủ mọi cách hạ gục hết những tên giặc ác độc này trong tâm ta, mỗi ngày đều phải dò xét, kiểm tra trong bất cứ mọi chỗ mọi nơi, mọi thời mọi khắc, phòng hộ mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý. Vì thế bước thứ hai là chế ngự các căn.
“Khi tàm quý có mặt, này các Tỳ-kheo, với người đầy đủ tàm quý, chế ngự các căn đi đến đầy đủ.”
(Tăng Chi Bộ, Chương VII - Bảy Pháp, VII. Đại Phẩm, (I) Xấu Hổ)
Người lúc nào cũng thấy xấu hổ khi bản thân còn đầy cấu uế, lậu hoặc thì người này sẽ chế ngự các căn, không buông lung phóng dật, không vênh váo vì xấu hổ, khi mình còn dở thì vênh váo, ta đây với ai?
“Ví như, bạch Thế Tôn, một miếng vải lau chùi lau các đồ tịnh, lau các đồ bất tịnh, lau phẩn uế, lau nước tiểu, lau nước miếng, lau mủ, lau máu; tuy vậy miếng vải lau chùi không lo âu, không xấu hổ, không nhàm chán. Cũng vậy, bạch Thế Tôn, con an trú với tâm như miếng vải lau chùi, rộng rãi, rộng lớn, vô lượng, không hận, không sân.”
(Tăng Chi Bộ, Chương IX - Chín Pháp, II. Phẩm Tiếng Rống Con Sư Tử, (I) (11) Sau Khi An Cư)
Đó là tâm hiền mà hằng ngày chúng ta trì tụng, đó là đức hạnh ngài Xá-lợi-phất. Nhìn vào nùi giẻ rách này mà hơn thua, cống cao ngã mạn, hống hách với ai? Khi sự sợ hãi và xấu hổ có mặt thì người này tự động biết kiềm chế, điều phục, thu thúc sáu căn chính mình.
“Khi chế ngự các căn có mặt, với người đầy đủ chế ngự các căn, giới đi đến đầy đủ.”
(Tăng Chi Bộ, Chương VII - Bảy Pháp, VII. Đại Phẩm, (I) Xấu Hổ)
Lúc nào cũng thấy xấu hổ, sợ hãi những ác bất thiện pháp, lúc nào cũng lo kiểm soát sáu căn, không dám buông trôi, phóng túng nên giới được đầy đủ.
“Khi giới có mặt, với người đầy đủ giới, chánh định đi đến đầy đủ.”
(Tăng Chi Bộ, Chương VII - Bảy Pháp, VII. Đại Phẩm, (I) Xấu Hổ)
Sự giữ gìn, đề phòng, soi xét, chế ngự, thu thúc, bảo vệ từ mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý sẽ đưa đến nội tâm an định, chánh định được đầy đủ. Sở dĩ tâm chúng ta dao động, bất an là vì dục, sân, bản ngã, những sai phạm trong giới Pháp, trong khi giới nhằm ngăn chặn dục tham vì thế khi giữ được giới tức là giữ được tâm không chạy theo dục tham nên tâm được yên định. Người sai phạm về giới khi ngồi thiền tâm sẽ bị trạo hối, những hình bóng, cảm giác, suy nghĩ sẽ hiện khởi lại làm tâm bất an, còn người giữ được giới an tịnh thì tâm sẽ an định.
“Khi chánh định có mặt, với người đầy đủ chánh định, tri kiến như thật đi đến đầy đủ.”
(Tăng Chi Bộ, Chương VII - Bảy Pháp, VII. Đại Phẩm, (I) Xấu Hổ)
Sự thấy biết đúng sự thật sẽ được viên mãn. Thấy được ngũ uẩn này, cái tổ hợp sắc thân bất tịnh sẽ được hiện ra đúng như sự thật của nó. Sự thật về khổ đau của đống sắc pháp, của những đống cảm giác, những tổ hợp hình bóng, suy tưởng, nhận thức này sẽ hiện ra đúng như thật, gọi là Khổ Thánh Đế, không còn bất cứ thứ gì ngăn chặn, che đậy nữa. Lúc xưa bị tham dục che đậy, ngày trước bị vô minh trùm phủ, còn giờ mắt đã mở ra sáng tỏ, minh bạch, minh sanh, trí sanh, không còn mù lòa nữa.
“Khi tri kiến như thật có mặt, với người đầy đủ tri kiến như thật, nhàm chán, ly tham đi đến đầy đủ. Khi nhàm chán, ly tham có mặt, với người đầy đủ nhàm chán, ly tham, giải thoát tri kiến đi đến đầy đủ.”
(Tăng Chi Bộ, Chương VII - Bảy Pháp, VII. Đại Phẩm, (I) Xấu Hổ)
Đây là tiến trình giải thoát của Đức Phật. Ở đây chúng ta nói những điều gần gũi trong đời sống của cư sĩ, mình đang thành tựu từng phần. Quý vị có thấy xấu hổ khi khởi tham sân si, bản ngã không? Có xấu hổ nhưng không kéo dài được lâu vì mình bị ngoại cảnh tác động nên cảm thọ tàm quý bị gián đoạn hoặc trong các vị xuất gia sanh lên tàm quý hổ thẹn nhưng không được duy trì lâu dài và liên tục, dòng cảm thọ bị gián đoạn, sau đó cũng khởi lên sự xấu hổ nhưng lại bị ngưng.
Bây giờ chúng ta cố gắng duy trì, phát triển nhiều thêm vì cái này không phải chỉ trong một ngày hay một vài năm mà phải kiên trì, bền bỉ giữ gìn, tăng trưởng phát triển nhiều năm cho nên chúng ta phải cảm thấy xấu hổ và sợ hãi, sau đó phải có sự chế ngự các căn nhưng không phải chỉ chế ngự các căn trong khóa tu, trên thiền đường, lúc tụng kinh niệm Phật mà cần phải chế ngự trong mọi lúc mọi nơi.
Chúng ta nhớ kéo dài và duy trì nó, khi chúng ta có sự tàm quý, chế ngự thì các giới được đầy đủ, năm giới nhưng chỉ giữ được ba giới nhưng bây giờ nhờ tu học tác ý, quán chiếu nên giữ được bốn giới hoặc lúc trước mình hay phạm giới lớn nhưng bây giờ nhờ tu tập tác ý, quán chiếu tàm quý nên giữ được giới lớn, phạm giới vừa. Mình tiếp tục tăng trưởng phát triển, tu tập quán chiếu tác ý thì không phạm giới vừa mà phạm giới nhỏ.
Vì trong đời sống cư sĩ tại gia gặp rất nhiều duyên cảnh bên ngoài, thêm vào đó mình không có đầy đủ trí huệ, sự tỉnh thức chánh niệm để thấy hết được sự diễn biến của ngũ uẩn, các lậu hoặc cho nên cứ duy trì, nuôi dưỡng nghe Pháp, thực tập thiền định, thiền quán, giữ giới bằng những buổi tu tập trong đạo tràng, vào chùa tu tập với bạn đồng tu là để mồi lửa sau đó đem ngọn lửa này về nhà để sử dụng chứ không phải vào tu rồi ra khỏi chùa là quên hết.
VI. Nhàm chán
Những bài thiền quán Minh Thành hướng dẫn mọi người là những bài rất sâu sắc, nhìn thẳng vào bản chất thân tâm, mọi người cố gắng tập trung tâm ý tác ý theo lời của bậc Chánh Đẳng Giác để sanh khởi lên những cảm xúc của trí tuệ, cảm giác của sự thật, của sự chạm đến Thánh trí để sanh khởi lên những cảm giác đau khổ, cảm giác vô thường, nhàm chán. Mỗi lần như vậy sanh khởi lên sự nhàm chán, từ bỏ một chút, sau đó mọi người phải giữ gìn cảm thọ này đồng thời phải phát triển thêm, đến một lúc sẽ có dòng cảm thọ vô thường, khổ trong người mình không bị mất đi, dòng cảm thọ đó được nuôi lớn, tăng trưởng cho đến một ngày nó đầy đủ thì lúc đó mọi người đại thành tựu, tức là mục đích của đời này thành công.
Gần đây Minh Thành có chia sẻ tâm xuất ly nhàm chán, đây là tâm của bậc Thánh, chúng ta tập theo dù chưa trọn vẹn nhưng dù sao có thực tập vẫn hơn, phải từ sự nảy mầm ban đầu chứ đừng nghĩ làm không được, cho nên phải tăng trưởng phát triển cảm thọ nhàm chán, yểm ly, ly tham. Phải ghê tởm đối với những thứ vô thường, đau khổ, biến hoại, bệnh tật, tham sân si, không muốn nhìn mặt những thứ này nữa.
Khi tâm khởi lên cơn sân thì tác ý "Ta không muốn nhìn mặt ngươi nữa, nhàm chán ngươi quá rồi", khởi tâm bản ngã lên thì thấy đê hèn, quở trách thật nặng, sau đó giả từ tham sân si, vô minh, bản ngã thì tâm hoàn toàn giải thoát, tuệ giải thoát. Còn tâm không giải thoát được do bị tham ái, suy nghĩ, cảm giác, nhận thức đều bị bao phủ bởi tham ái vì thế sự vận hành của mình là sự vận hành trong dục tham ái, đừng nghĩ những sự nhận thứ, nghĩ tưởng là đúng vì nó ở trong tham ái thì làm sao đúng được?
“Vô thỉ là luân hồi này, này các Tỳ-kheo, khởi điểm không thể nêu rõ đối với lưu chuyển luân hồi của các chúng sanh bị vô minh che đậy, bị tham ái trói buộc.”
(Tương Ưng Bộ, Tập II - Thiên Nhân Duyên, Chương IV. Tương Ưng Vô Thỉ (Anamatagga), I. Phẩm Thứ Nhất, III. Nước Mắt)
Có thể những ngọn núi lớn sụp đổ, thế giới hoại diệt, Trái Đất không còn nhưng ta không tuyên bố chúng sanh có thể chấm dứt được khổ đau vì đã từ rất lâu tâm này bị ô nhiễm bởi vô minh che đậy, tham ái trói buộc. Vô minh đối với năm uẩn, đối với thân xác, cảm giác, nghĩ tưởng và sự nhận thức này, mình không biết từ đâu nó sanh khởi, tại sao nó an trú và chấm dứt, mình không biết sự nguy hiểm và tác hại của nó, không biết sự thoát ra khỏi nó cho nên có những người quá đau khổ rồi tìm cách tự vẫn bằng cách cắt mạch máu tay, treo cổ, nhảy cầu, nhảy lầu… vì người ta không biết đạo lộ để xuất ly.
Khổ bủa vây mọi lối, muốn thoát ra khỏi nó nhưng không biết đường thoát ra thì chết đi cho rồi, đó là bị vô minh che đậy, bị tham ái trói cột. Tham ái thể xác này, đống thịt này, tham ái tài sản xung quanh, khao khát, thèm khát những cảm giác, nghĩ tưởng, sự rõ biết. Chúng ta bị bao trùm trong năm uẩn, tất cả những cảm giác, nghĩ tưởng của chúng ta đều lòng vòng trong vô minh và tham ái đối với năm uẩn, nếu không có bậc Chánh Đẳng Giác xuất hiện ở thế gian này thì không có bất kì chúng sanh nào trong tam giới có thể thấy được đạo lộ xuất ly.
VII. Năm châu báu khó tìm được ở đời
Nếu không có bậc A-la-hán Chánh Đẳng Giác Thế Tôn xuất hiện trên cõi này thì không có bất kì ai trong cõi sắc, dục, và vô sắc có thể biết được con đường thoát ra thật sự, đây là sự vĩ đại của Đức Thế Tôn. Chúng ta đã bắt đầu nhìn thấy được ngũ uẩn, bắt đầu thấy được tham sân si, bản ngã, bắt đầu thấy sự tàm quý, bất tịnh và thấy được con đường thoát ra. Đây là phước lành của chúng ta, đại phước đức nhân duyên thù thắng hiếm có, hy hữu khó gặp trên đời, Đức Thế Tôn nói thế gian này có năm báu vật hiếm có khó gặp, thứ nhất là Như Lai xuất hiện, thứ hai là bậc có thể giảng thuyết được lời dạy của Đức Thế Tôn, thứ ba là người hiểu được lời dạy Thế Tôn đúng đắn và chính xác, thứ tư là người tùy Pháp và hành Pháp, thứ năm là người biết ơn và nhớ ơn.
“Này các Licchavì, sự xuất hiện của năm châu báu khó tìm được ở đời. Thế nào là năm?
Sự xuất hiện của Như Lai, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác khó tìm được ở đời.
Người thuyết được Pháp Luật do Như Lai tuyên bố khó tìm được ở đời.
Người hiểu được Pháp Luật do Như Lai tuyên bố khó tìm được ở đời.
Người thực hành pháp và tùy pháp, sau khi đã hiểu rõ lời thuyết giảng về Pháp và Luật do Như Lai tuyên thuyết, khó tìm được ở đời.
Người biết ơn, nhớ ơn khó tìm được ở đời.
Này các Licchavi, sự xuất hiện của năm loại châu báu này khó tìm được ở đời.”
(Tăng Chi Bộ, Chương V - Năm Pháp, XX. Phẩm Bà-La-Môn,
(V) Bà La Môn Pingiyani)
Cho nên trong thời đại gần ba ngàn năm sau khi Phật nhập diệt mà mình gặp được bậc thiện tri thức có thể tuyên thuyết, hiểu được lời dạy của Đức Phật, thực hành có kết quả là chúng ta đang tiếp xúc với báu vật trong Phật Giáo, báu vật vĩ đại xuất thế gian. Chúng ta phải sanh tâm hiếm có khó gặp, cung kính, tôn trọng, khát ngưỡng, chân thành tha thiết, ngày đêm nỗ lực tu tập thiện pháp. Những lời dạy này bây giờ cực kì khó để được nghe, được hiểu, càng khó để thực hành, bản thân Minh Thành đi khắp mọi nơi cầu Pháp nhưng vẫn không được nghe những lời dạy như vậy, đây là lối thoát độc nhất và duy nhất.
Căn nhà thế giới này đang rực cháy, những ngọn lửa của tham dục, sân hận đang hỏa thiêu hành tinh này, bất cứ lúc nào cũng có thể đưa chúng ta đến sự chết chóc, thảm họa sợ hãi và chúng ta có được lối thoát tối thượng của Đức Phật nên chúng ta không được quyền xem thường. Chúng ta không thể học lơ là, tu qua loa bằng hình thức bên ngoài mà phải tu bằng tất cả tấm lòng tha thiết, chân thành cung kính của mình, con nghĩ rằng đây chiếc thuyền cuối cùng, đây là những ánh chớp sau cùng của Chánh Pháp, không biết chúng ta còn sống được bao lâu nữa nên khó có khả năng chúng ta được nghe, được học, được tu theo lời dạy nguyên chất này nữa. Cả thế giới đi tìm dục tham, những cảm giác vui sướng rồi khổ đau, đây là con đường thoát ra khỏi thế giới này: Tịnh chỉ tất cả hành, chấm dứt sanh y, đoạn diệt kiết sử, diệt tận khổ đau.
VIII. Phàm cái gì được cảm thọ, cái ấy nằm trong đau khổ
Chỗ dựa của tái sanh là sự tham ái trong ngũ uẩn này, cắt đứt sợi dây tái sanh là sự đoạn tận những tham ái đối với thân xác, nghĩ tưởng, nhận thức này, đó là Thánh đạo lộ, là Thánh đạo Tám Ngành, là con đường Tám Đúng tối thượng duy nhất và độc nhất, chúng ta đang tu tập chánh kiến, nhìn thấy tường tận tất cả khía cạnh, gốc độ, phương diện của đời sống của thân tâm này. Nếu không chúng ta sẽ bị tai họa, bị vây hãm trong gánh nặng của ngũ uẩn, vô lượng kiếp sau không có đường ra cho nên mục đích là đưa đến sự nhàm chán với sắc. Ba mươi hai thể trược, chín giai đoạn tử thi, bất tịnh quán đều để nhàm chán với sắc uẩn, ly tham khỏi nó.
“Lành thay, lành thay, này Tỳ-kheo! Này Tỳ-kheo, Ta nói rằng có ba thọ này: lạc thọ, khổ thọ, bất khổ bất lạc thọ. Ba thọ này được Ta nói đến. Nhưng này Tỳ-kheo, Ta lại nói: "Phàm cái gì được cảm thọ, cái ấy nằm trong đau khổ". Chính vì liên hệ đến tánh vô thường của các hành mà lời ấy được Ta nói lên: "Phàm cái gì được cảm thọ, cái ấy nằm trong đau khổ". Chính vì liên hệ đến tánh đoạn tận, tánh tiêu vong, tánh ly tham, tánh đoạn diệt, tánh biến hoại của các hành mà lời ấy được Ta nói lên: "Phàm cái gì được cảm thọ, cái ấy nằm trong đau khổ".”
(Tương Ưng Bộ, Tập IV – Thiên Sáu Xứ, Chương II. Tương Ưng Thọ, Phần Hai - Phẩm Sống Một Mình, I. Sống Một Mình)
Hãy quán những cảm thọ vui sướng đó là khổ đau vì cảm thọ vui sướng sẽ trói cột làm không thoát ra được. Tất cả chúng sanh đều yêu thích cảm giác vui sướng còn mình tu là thoát ra khỏi nó vì nó sanh diệt, vô thường, nhàm chán những hình bóng của sân hận, hơn thua, ngã kiến, cái ta ảo tưởng. Những suy nghĩ lôi kéo, thôi thúc, đày đọa mình phải từ bỏ nó.
“Phàm sắc gì quá khứ, vị lai, hiện tại, thuộc nội hay ngoại, thô hay tế, liệt hay thắng, xa hay gần; tất cả sắc cần phải như thật quán với chánh trí tuệ: "Cái này không phải của tôi, cái này không phải là tôi, cái này không phải tự ngã của tôi".
Phàm thọ gì... phàm tưởng gì... phàm các hành gì...
Phàm thức gì quá khứ, vị lai, hiện tại, thuộc nội hay ngoại, thô hay tế, liệt hay thắng, xa hay gần; tất cả thức cần phải như thật quán với chánh trí tuệ: "Cái này không phải của tôi, cái này không phải là tôi, cái này không phải tự ngã của tôi".”
(Tương Ưng Bộ, Tập III. Thiên Uẩn, Chương I. Tương Ưng Uẩn (b), V. Phẩm Tự Mình Làm Hòn Ðảo, VIII. Sona).
Cần phải quán nó là ung nhọt, là mũi tên, là kẻ giết người nên phải tránh xa. Thức cũng vậy, biết để tham sân si, biết rồi khẩu tranh, đấu tranh nên cần nhàm chán. Nuôi lớn tâm nhàm chán, xa lìa là nuôi lớn tâm của bậc Thánh hay còn gọi là Thánh tâm, phàm tâm không nhàm chán năm uẩn mà chỉ có Thánh tâm, Thánh đạo, Thánh Pháp, Thánh trí. Lúc ăn cơm phải thấy nhàm chán vì đã ăn mấy chục năm nay rồi, khởi cảm giác dục ưa thích là đánh đuổi cảm giác đó rồi sau đó mới ăn, mình vẫn ăn nhưng không để cảm giác đó lôi kéo, áp đảo làm dục tham ái dính mắc, chấp thủ trong cảm thọ đó, đó là cái ăn của Thánh đệ tử.
Đứa con mua nhà mới tặng mình thì lúc đó thọ; tưởng; hành sanh khởi ra sao? Lúc đó cần nhớ đến câu "phàm cái gì sanh khởi thì nhất định phải hoại diệt", sắc này là vô thường, là tan hoại, "có thể trong nhà này là bàn thờ của mình", sau khi tác ý vẫn vào ở vì con có hiếu, mình ở để đáp đền tâm hiếu của nó nhưng tâm không tham đắm, dính mắc vào căn nhà đó. Người ta xây chùa, mời quý sư cô đến tác bạch cúng dường cho nguyên cái chùa mới thì phải tác ý ly tham, nhàm chán, chấm dứt "mình muốn giải thoát thì tại sao lại mê những thứ này", phải nhớ tác động tâm ý khổ đau, vô thường, bại hoại đối với ngũ uẩn này. Ngay cả cục thịt ngồi đây cũng vô thường, có thể Minh Thành bước ra rồi không trở về nữa, phải thường suy tư, quán chiếu như vậy mới nhả được tâm tham ái, chấp thủ vào tấm thân gân xương này, phải nhìn thấy tính chất đồ gốm dễ vỡ là thân này, dù cho làm đồng cũng sẽ bị tan hoại.
“Tất cả chúng sanh đều phải chết, đều kết thúc trong sự chết, đều không vượt qua sự chết. Ví như, thưa Đại Vương, tất cả đồ gốm do người thợ gốm làm ra, chưa nung chín hay đã nung chín, tất cả đồ gốm ấy đều phải bể, đều kết thúc trong sự bể, đều không vượt qua sự bể. Cũng vậy, thưa Ðại Vương, tất cả chúng sanh đều phải chết, đều kết thúc trong sự chết, đều không vượt qua sự chết.”
(Tương Ưng Bộ, Tập I – Thiên Có Kệ, Chương III. Tương Ưng Kosala,
III Phẩm Thứ Ba, II. Tổ Mẫu)
Chúng ta hãy cảm thông cho nhau vì tất cả chúng sanh đều chìm trong cái khổ, mình tu, biết Chánh Pháp còn khổ như vậy cho nên người không tu, không biết Chánh Pháp còn khổ đến mức nào thì tại sao lại không cảm thông cho họ? Tại sao mình nói "tôi tu còn mấy người đó không tu nên thấy họ bực quá", đó là bản ngã của người tu. Mình tu thì càng phải cảm thông cái khổ vì chính mình là người thấy khổ đau rõ ràng hơn ai hết, còn họ khổ mà không thấy trong khi mình thấy mà sao lại không thương họ? Tại sao mình tu mà còn bắt bẻ còn hơn chưa tu?
Ngày xưa là bản ngã của người không tu, "tôi biết Chánh Pháp còn mấy người kia không phải Chánh Pháp", vào tu rồi lại trở thành bản ngã của người biết tu, tạo thêm bản ngã mới và đau khổ mới xuất hiện. Hãy nhìn tất cả bộ mặt của bản ngã và chỉ thẳng vào mặt nó nói rằng "Ta li dị ngươi", rời xa tất cả bản ngã, nếu không nó biến hình, biến thể như virus hiện tại đã biến thể có khả năng lây lan nhanh hơn 70%.
Hãy canh chừng những virus biến thể của sân hận, si mê, bản ngã trong nội tâm mình, nó đổi hình, biến dị. Phải nhớ càng tu càng phải biết cảm thông, thấu hiểu, bao dung và tha thứ cho những người thân thương nhất trong gia đình mình, hãy làm cho họ cảm nhận được tình thương của mình, cảm nhận được giá trị của Chánh Pháp, cảm nhận được lợi ích thiết thực của từ tâm, trí tuệ, của sự thấu hiểu của sự thật cuộc đời này. Như vậy quý vị sẽ đem ngọn lửa trí tuệ Thánh Pháp Nikāya này trở về gia đình làm đèn, làm đuốc, làm ánh sáng cho những người thân yêu. Hãy thắp sáng ngọn đèn, mồi ngọn đuốc xua đuổi bóng đêm cho thân tộc, phải gánh người thân (dù cho nặng) bằng từ tâm, bằng tình thương, bằng ánh mắt của tuệ nhãn Chánh Pháp, không phải là ánh mắt mù lòa mà là mắt sáng của trí tuệ được mở ra, được tỏa chiếu. Hãy nhớ làm người bạn thân thương của những người trong gia đình mình!
TẤT CẢ LÀ MÙ LÒA 2
Thích Minh Thành
MỤC LỤC
TOC \o "1-3" \h \z \u I. Mù lòa PAGEREF _Toc72394086 \h 1
II. Nhàm chán PAGEREF _Toc72394087 \h 3
III. Hổ thẹn và sợ hãi PAGEREF _Toc72394088 \h 5
IV. Nhiếp phục ác bất thiện pháp PAGEREF _Toc72394089 \h 7
V. Tiến trình giải thoát: Tàm quý – các căn được chế ngự … PAGEREF _Toc72394090 \h 9
VI. Nhàm chán PAGEREF _Toc72394091 \h 12
VII. Năm châu báu khó tìm được ở đời PAGEREF _Toc72394092 \h 14
VIII. Phàm cái gì được cảm thọ, cái ấy nằm trong đau khổ PAGEREF _Toc72394093 \h 16
I. Mù lòa
“Tất cả, này các Tỳ-kheo, là mù lòa. Và này các Tỳ-kheo, cái gì mù lòa?
Mắt, này các Tỳ-kheo, là mù lòa. Các sắc là mù lòa. Nhãn thức là mù lòa. Nhãn xúc là mù lòa. Do duyên nhãn xúc khởi lên cảm thọ gì, lạc, khổ, hay bất khổ bất lạc; cảm thọ ấy là mù lòa. Mù lòa bởi cái gì? Ta nói rằng mù lòa bởi sanh, già, chết, sầu, bi, khổ, ưu, não... Tai... Mũi...
Lưỡi là mù lòa. Các vị là mù lòa. Thiệt thức là mù lòa. Thiệt xúc là mù lòa. Do duyên thiệt xúc khởi lên cảm thọ gì, lạc, khổ, hay bất khổ bất lạc; cảm thọ ấy mù lòa. Mù lòa bởi cái gì? Ta nói rằng mù lòa bởi sanh, già, chết, sầu, bi, khổ, ưu, não.
Thân là mù lòa...
Ý là mù lòa. Các pháp là mù lòa. Ý thức là mù lòa. Ý xúc là mù lòa. Do duyên ý xúc khởi lên cảm thọ gì, lạc, khổ hay bất khổ bất lạc; cảm thọ ấy là mù lòa. Mù lòa bởi cái gì? Ta nói rằng mù lòa bởi sanh, già, chết, sầu, bi, khổ, ưu, não.
Thấy vậy, này các Tỳ-kheo, vị Ða văn Thánh đệ tử nhàm chán đối với mắt, nhàm chán đối với các sắc, nhàm chán đối với nhãn thức, nhàm chán đối với nhãn xúc. Do duyên nhãn xúc khởi lên cảm thọ gì, lạc, khổ, hay bất khổ bất lạc; vị ấy nhàm chán cảm thọ ấy. Do nhàm chán, vị ấy ly tham. Do ly tham, vị ấy được giải thoát. Trong sự giải thoát, trí khởi lên biết rằng: "Ta đã được giải thoát". Vị ấy biết rõ rằng: "Sanh đã tận, Phạm hạnh đã thành, những việc nên làm đã làm, không còn trở lui trạng thái này nữa".
(Tương Ưng Bộ, Tập IV – Thiên Sáu Xứ, Chương I – Tương Ưng Sáu Xứ (a), Phần Một – Năm Mươi Kinh Thứ Nhất, III. Phẩm Tất Cả, VII. Mù Lòa)
Con mắt này của chúng ta bị các sắc, bị tiền bạc, nhà cửa vật chất, tài sản làm cho con mắt này mù lòa, bị sự lòe loẹt của những màu sắc làm cho mù lòa. Lỗ tai của chúng ta bị những âm thanh tác động, những cảm thọ làm mù lòa. Mũi, lưỡi bị những thức ăn, nước uống độc hại làm mù lòa. Những cảm giác ưa thích và ghét bỏ làm thành không mắt, si mê, vô trí, làm thành bóng đêm. Thân xác này bị những sự tiếp xúc, đụng chạm làm mù lòa. Tâm thức này bị những hình bóng, cảm giác, nghĩ tưởng bên trong làm cho mù lòa. Nội tâm bị bao phủ bởi bóng đêm của vô minh và tham ái, một nội tâm trong trường dạ đêm dài. Ý mù lòa, các Pháp mù lòa, ý xúc mù lòa, bao phủ mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý này là si mê, vô minh, bóng tối, bao trùm toàn bộ thân tâm này là bóng đêm của sự mù lòa.
Mù lòa bởi lòng tham ái, tham muốn, tham dục, tham vọng, bóng đêm của lòng tham, lòng dục, lòng ái, lòng dân giận, hơn thua, nhân ngã bỉ thử, so sánh, hay dở, cao thấp… đã che kín bầu trời này. Mù lòa trong bản ngã của thân kiến, mù lòa trong bản ngã của hơn thua, mù lòa trong bản ngã của đúng sai, dục tham, cảm thọ, cảm xúc, mù lòa trong bản ngã của thói quen, nghiệp lực. Cứ vậy mà tiếp tục cho sự tái sanh, tiếp tục cho bị sanh, bị già, bị bệnh, bị chết, tiếp tục tiếp nối những đời sống trong sự mù lòa và bốc cháy, tiếp tục trong những suy nghĩ, toan tính lo âu, sợ hãi, sầu đau, tiếp tục trong sự đau khổ, thống khổ, khổ nạn, tai họa trong cảnh mù lòa của tâm thức, của bóng đêm.
Chúng ta tự hỏi mục đích thật sự của đời sống này là gì? Là ăn những món ngon, mặc đồ đẹp, ở trong những căn nhà đầy đủ tiện nghi vật chất hay vun vén, tô bồi cho xác thân vô thường, tạm bợ, bất cứ lúc nào cũng có thể ngã xuống? Hay chạy theo tham dục, những ham muốn, đuổi tìm những tham vọng hay phụng sự, phục dịch cho tham ái?
Mục đích của đời sống này là bốc lên những ngọn lửa tự thiêu đốt mình và thiêu đốt những người khác hay sao? Hay là gắt gỏng, cau có, bực dọc, sân hận, làm khổ mình khổ người? Hay là ganh tị, đố kị, hơn thua, giành giật, tranh đấu, chiến tranh? Mục đích của đời sống này là buông lung phóng dật, buông thả để rồi rơi tự do xuống vực sâu ư? Mục đích của đời sống này là tưới tẩm cho một cái tôi to lớn, cho một cái ta ngã mạn không xem ai ra gì hay sao? Mục đích của cuộc đời này là nuôi lớn những ảo tưởng về tự ngã hay tô thêm cái ta huyễn hóa hay sao?
Cuối cùng thân xác này nằm xuống với những dòng nước mắt của chính mình và những người đưa tiễn mình, nếu không nhìn ra được mục đích thật sự của cuộc sống này thì mãi mãi chúng ta ở trong sự mù lòa của bóng đêm, si mê, vô minh hắc ám. Một chiếc máy bay vừa rơi làm chết bảy em bé, hơn bốn mươi người lớn. Những người tên tuổi lẫy lừng bất thình lình đột quỵ ra đi, hơn sáu mươi tuổi có, bốn mươi tuổi đó và mới đây là đứa bé mới hơn ba tuổi cũng đột quỵ chết. Chúng ta hãy nhìn lên mái tóc chính mình, có người bạc đầu trắng xóa, có người đã điểm sương và những người tóc còn đen nhánh cũng không có gì là chắc chắn trước thế giới vô thường này.
II. Nhàm chán
Thế Tôn đã dạy Thánh Pháp Ấn là y chỉ viễn ly, y chỉ ly tham, y chỉ đoạn diệt hướng đến từ bỏ.
“Và này các Tỳ-kheo, thế nào là tinh cần tu tập? Ở đây, này các Tỳ-kheo, Tỳ-kheo tu tập niệm giác chi, y chỉ viễn ly, y chỉ ly tham, y chỉ đoạn diệt, đưa đến xả ly; tu tập trạch pháp giác chi ... tu tập tinh tấn giác chi ... tu tập hỷ giác chi ... tu tập khinh an giác chi ... tu tập định giác chi ... tu tập xả giác chi, y chỉ viễn ly, y chỉ ly tham, y chỉ đoạn diệt, đưa đến xả ly. Này các Tỳ-kheo, đây gọi là tinh cần tu tập.”
(Tăng Chi Bộ Kinh, Chương IV – Bốn Pháp, II. Phẩm Hành,
(IV) (14) Chế Ngự).
Sự tu của chúng ta là nhàm chán những thứ vô thường này. Hãy đoạn trừ lòng dục, lòng tham, đoạn trừ ý nghĩ đây là tôi, đây là của tôi đối với những thứ vô thường, rã nát, bất tịnh này. Hãy nuôi dưỡng tâm viễn ly, xuất ly. Hai mắt nhìn nhau rồi trừng lên, sân si lên thì hai mắt đó có phải mù lòa không mọi người? Lỗ tai nghe tiếng rồi bốc cháy thì có phải mù lòa không? Nếm đồ ăn rồi sân hận, khó chịu, khen chê để người nấu phiền não, khổ đau thì cái lưỡi đó có mù lòa không?
Thân tiếp xúc rồi bị dính mắc, ràng buộc, trói cột, thậm chí có những người phải mất mạng vì tự vẫn với lý do gia đình cấm cản thì thân đó có phải mù lòa không? Chúng ta bị sợi dây gia đình buộc chặt có thấy khổ không, có muốn thoát ra không? Cảm xúc đó nhìn lại là mù lòa, ngồi nhớ người này người kia, những chuyện bực bội thì tâm ý đó có phải mù lòa không? Không phải tức giận những người dưng mà là những người thân thương nhất trong gia đình mình, là cha mẹ, vợ chồng, anh chị em ruột, ý thức mù lòa này vẫn cố chấp không chịu nhả ra, những cảm giác thiêu đốt, nhiệt não đó làm chúng ta đau khổ, đó là những cảm giác mù lòa làm người thân khổ đau, làm chính mình đau khổ.
Chúng ta phải tập nhàm chán những cảm giác thiêu đốt, nung nấu, hủy hoại cơ thể, thân tâm mình. Tại sao lại chấp nhận nuôi dưỡng nó? Tại mình mù lòa, mình không biết sự nguy hiểm và tác hại của nó, mình không biết nó giày xéo, hành hạ mình, mình đau khổ vì nó trong trăm ngàn vạn kiếp rồi. Chúng ta đã đau khổ vì những hình bóng đó, chúng ta đã sầu bi bởi những cảm giác đó, chúng ta bị hủy hoại bởi những suy nghĩ của tham sân si, bản ngã, chấp thủ.
Chúng ta phải tập nhàm chán những cảm giác hơn thua, sân hận đó, phải từ bỏ và chấm dứt, không chất chứa, tăng trưởng, phát triển nó trong tâm nữa, chỉ muốn đào thải, đoạn tận và chấm dứt khỏi nó. Chúng ta nhìn từ ngoài vào trong, cả thế giới đang ở trong đại thảm họa của dịch bệnh, các nước phương Tây, Âu Mĩ và các nước lân cận chúng ta hiện tại đang rất khổ sở, gần hai triệu người chết, chín mươi triệu người nhiễm bệnh, ngoài ra còn bị ung thư mà không chỉ có một loại ung thư: Ưng thư phổi, ung thư gan, ung thư vòm họng… chỗ nào trên cơ thể cũng có thể bị ung thư và những chứng bệnh khác.
Khí hậu thì ô nhiễm vì khói bụi, nhất là những thành phố lớn, chúng ta đang hít khí độc, thở trong khí độc, ăn thức ăn độc, tắm và uống trong nguồn nước ô nhiễm, xung quanh chúng ta là những sự ô nhiễm. Hoàn cảnh xung quanh thì đâm chém, cướp giật, hãm hại, giết người, mang thân xác già nua, bệnh tật, lo lắng và sợ hãi còn bên trong nội tâm đầy rẫy dục vọng, sân hận, si mê, vô minh, bản ngã. Vậy mà không lo lắng, không thấy sợ hãi, vậy mà không mưu cầu thoát ra xuất ly đạo lộ.
III. Hổ thẹn và sợ hãi
Cho nên mục đích đời sống này là thể nhập Chánh Pháp, thành tựu Chánh kiến, thấy được con đường thoát ra. Mọi người đã thấy con đường thoát ra chưa? Chúng ta nhìn bằng trí tuệ, nhìn bằng chánh tri kiến, nhìn bằng Thánh Pháp thì thấy toàn thể thế giới, hoàn cảnh xã hội, thân xác và tâm niệm chúng ta đều ở trong vô thường, khổ đau, vô ngã, trống rỗng. Tất cả nền tảng đều sụp đổ trong Thánh trí tuệ của Đức Phật, chính chỗ này chúng ta mới có tâm nhàm chán, từ nhàm chán mới có ly tham, không tham muốn nên từ bỏ, giải thoát. Đức Phật dạy tiến trình giải thoát là phải có sự hổ thẹn và sợ hãi đối với những các ác và bất thiện pháp của chính mình.
“Và này các Tỳ-kheo, thế nào là sự sợ hãi tự mình trách?
Ở đây, này các Tỳ-kheo, có hạng người suy xét: "Nếu thân ta làm ác, lời nói ta ác, ý nghĩa ta ác, thời tự ngã có thể trách ta về phương diện giới: "Sao lại làm nghiệp ấy?". Người ấy do sợ hãi tự trách, đoạn tận thân làm ác, tu tập thân làm lành, đoạn tận lời nói ác, tu tập lời nói lành, đoạn tận ý nghĩ ác, tu tập ý nghĩ lành; sống tự ngã trong sạch. Này các Tỳ-kheo, đây gọi là sợ hãi tự trách. (Tăng Chi Bộ, Chương IV – Bốn Pháp, XIII. Phẩm Sợ Hãi, (I) Tự Trách)
Hai pháp này, này các Tỳ-kheo, là pháp trắng. Thế nào là hai? Tàm và quý. Các pháp này, này các Tỳ-kheo, là hai pháp trắng.
Hai pháp trắng này, này các Tỳ-kheo, che chở cho thế giới. Thế nào là hai? Tàm và quý. Nếu hai pháp trắng này, không che chở cho thế giới, thời không thể chỉ được đây là mẹ hay là em, chị của mẹ, hay đây là vợ của anh hay em của mẹ, hay đây là vợ của Thầy hay đây là vợ của các vị tôn trưởng. Và thế giới sẽ đi đến hỗn loạn như giữa các loài dê, loài gà vịt, loài heo, loài chó, loài dã can. Vì rằng, này các Tỳ-kheo, có hai pháp trắng này che chở cho thế giới, nên mới có thể chỉ được đây là mẹ hay đây là chị em của mẹ, hay đây là vợ của anh hay em của mẹ, hay đây là vợ của Thầy hay đây là vợ của các vị tôn trưởng.”
(Tăng Chi Bộ, Chương II – Hai Pháp, Chương I. Phẩm Hình Phạt,
1-10 Hai Loại Tội)
Khi tham sân si sanh khởi lên mình thấy nhục nhã, tội lỗi, đau buồn. Tại sao mình đã học, đã hiểu rồi mà dục cứ hành hạ, dẫn dắt, đày đọa mình? Không chiến thắng được nó nên cảm thấy ray rứt, băn khoăn, trắc trở, điều này rất tốt, ai sanh khởi được tâm tàm quý rất tốt vì đây là cánh cửa đi vào Niết-bàn. Sanh khởi lên bản ngã thấy thấp hèn, hạ liệt, tại sao lại sanh bản ngã với những người thân trong gia đình hoặc huynh đệ, bạn đồng tu, người chia sẻ Pháp với mình?
Khi sanh bản ngã, sự sân hận thì mình khổ và người kia cũng khổ nên phải thấy xấu hổ, buồn khổ, sau đó phải lạy sám hối hoặc nghe bài thiền quán Sám Hối Diệt Ngã và thực hành theo đó "Con kém cỏi, thấp hèn quá". Phải biết lo lắng và sợ hãi với những ác bất thiện pháp sanh khởi trong tâm, khi sân hận khởi lên thì phải dập đầu lạy sám hối.
IV. Nhiếp phục ác bất thiện pháp
Tự mình đi đến mình, tự mình dò xét mình tự mình chỉ trích mình bằng sự tác động tâm ý mạnh mẽ (Như lý tác ý) để nhắc nhở, rầy ra, quở trách tâm cứng đầu, ương ngạnh, mù lòa, vô minh, si mê này "Tâm si mê này ngươi tỉnh ra chưa?". Trong Tương Ưng Bộ kinh, Đức Phật dùng hình ảnh lấy cây roi đánh con bò một trận nên thân vì ăn trộm lúa mì.
“Ví như, này các Tỳ-kheo, lúa mì đã chín và một người giữ lúa mì phóng dật (lơ đãng). Có con bò ăn lúa mì, xâm phạm lúa mì, xâm phạm lúa mì ấy và mê say ăn một cách thỏa thích. Cũng vậy, này các Tỳ-kheo, kẻ vô văn phàm phu không hộ trì đối với sáu xúc xứ, mê say thọ dụng một cách thỏa thích đối với năm dục công đức.
Ví như, này các Tỳ-kheo, lúa mì đã chín và một người giữ lúa mì không phóng dật. Có con bò ăn lúa mì, xâm phạm lúa mì ấy. Người giữ lúa mì nắm chắc cái lỗ mũi của con bò; sau khi nắm chắc cái lỗ mũi, người ấy rị chặt trên cái trán. Sau khi rị chặt trên cái trán, với cái gậy, người ấy đánh con bò một trận nên thân. Sau khi lấy gậy đánh cho một trận nên thân, người ấy thả con bò đi.
Lần thứ hai, này các Tỳ-kheo...
Lần thứ ba, này các Tỳ-kheo, có con bò ăn lúa mì, xâm phạm lúa mì ấy. Người giữ lúa mì nắm chặt cái mũi con bò; sau khi nắm chắc cái mũi, người ấy rị chặt trên cái trán. Sau khi rị chặt trên cái trán, với cái gậy, người ấy đánh con bò một trận nên thân. Sau khi lấy gậy đánh con bò một trận nên thân, người ấy thả con bò đi. Như vậy, này các Tỳ-kheo, con bò ăn lúa mì ấy đi vào làng, hay đi vào rừng, hay khi đứng, hay ngồi, nó không xâm phạm lúa mì ấy, vì nó nhớ đến cảm xúc cái gậy lần trước. Cũng vậy, này các Tỳ-kheo, khi nào Tỳ-kheo có tâm chơn trực, chánh trực đối với sáu xúc xứ, thời nội tâm được an trú, tịnh chỉ, nhứt tâm, Thiền định”
(Tương Ưng Bộ, Tập IV – Thiên Sáu Xứ, Chương I. Tương Ưng Sáu Xứ (g), IX. Ðờn Tỳ Bà).
Đánh một trận nên thân cho đau nhức để sau này nhìn thấy sự kiện tương đồng như vậy xuất hiện sẽ nhớ đến trận đòn đau đớn trước đó nên sẽ không dám nữa. Phải lo lắng và sợ hãi trước những ác bất thiện pháp còn tồn tại trong tâm, toàn bộ sự tu tập của chúng ta là nhiếp phục dục, tham sân si, vô minh và bản ngã.
Vì sao phải nhiếp phục và diệt tận nó? Vì nó là nguyên nhân làm mình khổ, không muốn khổ phải diệt tận, chấm dứt nó. Phải soi rọi, nhìn lại từng cảm giác, nghĩ tưởng, hành động, lời nói nếu thấy rơi vào ác bất thiện pháp thì phải xử lý nó, la mắng, chỉ trích, quở trách nó, cảm thấy lo lắng và sợ hãi khi những thứ này còn tồn tại trong tâm như rắn hổ mang ở trong nhà. Trong nhà biết có con rắn mà không biết nó ở đâu thì làm sao ngủ yên được? Phải thao thức, ray rứt, trăn trở vì những ác bất thiện pháp còn tồn động, xâm chiếm áp đảo trong ta. Ta chưa được bình an, Ngài Trần Tôn Túc, đệ tử lớn của Tổ Hoàng Bá, Sư huynh của Tổ Lâm Tế có nói:
Đại sự vị minh như táng khảo tỷ,
Đại sự dĩ minh như táng khảo tỷ.
Việc lớn chưa sáng như đưa ma mẹ,
Việc lớn đã sáng như đưa ma mẹ.
Việc lớn chưa sáng, chúng ta phải cố gắng nỗ lực tiến tu để sáng. Nếu việc lớn đã sáng rồi không phải ngang đó chúng ta dừng lại mà còn phải tiếp tục hơn nữa. Mục đích duy nhất của cuộc đời này là diệt tận và nhiếp phục tham sân si, vô minh và bản ngã. Chết thì ai cũng chết, ăn thì ai cũng ăn, ngủ thì ai cũng ngủ nhưng nhiếp phục và diệt tận tham sân si này là đời sống tối thượng, đời sống cao thượng, hi hữu, thù thắng hiếm có, sinh mạng này trở nên quý báu khi biết làm điều này.
Phải làm cho mình nhức nhối, đau khổ, ăn không ngon ngủ không yên khi còn dục tham, sân hận, bản ngã, cấu uế, lậu hoặc, mình thấy nó rõ ràng mà mình thua nó thì mình phải đau đớn, nỗ lực, quyết tâm phát nguyện sám hối trước Tam Bảo, hứa tự tín tinh cần, tinh tấn, khởi lên ý muốn sắc bén phải hạ gục được những tên giặc cấu uế, đuổi được con rắn hổ mang chúa ra khỏi nhà thì lúc đó ăn mới ngon, ngủ mới yên.
Năm con rắn hổ mang chúa trong nhà tượng trương cho tham, sân, si, vô minh, bản ngã, năm con rắn này quay lại cắn mình chết trước, không phải ai ở bên ngoài giết mình mà chính là những cảm giác, bản ngã ác độc đó giết mình, không phải ai ở bên ngoài hại mình mà chính những sân hận, bực bội đó hủy hoại đời mình, không phải ai ở bên ngoài dụ dẫn, lôi kéo, quyến rũ mình mà chính cảm giác tham dục xúi giục, thúc giục mình chạy theo nó rồi nó đẩy mình xuống vực sâu.
V. Tiến trình giải thoát: Tàm quý – các căn được chế ngự …
Cho nên phải có sự tàm quý, lo lắng, xấu hổ và sợ hãi, lo lắng suy nghĩ và tìm đủ mọi cách hạ gục hết những tên giặc ác độc này trong tâm ta, mỗi ngày đều phải dò xét, kiểm tra trong bất cứ mọi chỗ mọi nơi, mọi thời mọi khắc, phòng hộ mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý. Vì thế bước thứ hai là chế ngự các căn.
“Khi tàm quý có mặt, này các Tỳ-kheo, với người đầy đủ tàm quý, chế ngự các căn đi đến đầy đủ.”
(Tăng Chi Bộ, Chương VII - Bảy Pháp, VII. Đại Phẩm, (I) Xấu Hổ)
Người lúc nào cũng thấy xấu hổ khi bản thân còn đầy cấu uế, lậu hoặc thì người này sẽ chế ngự các căn, không buông lung phóng dật, không vênh váo vì xấu hổ, khi mình còn dở thì vênh váo, ta đây với ai?
“Ví như, bạch Thế Tôn, một miếng vải lau chùi lau các đồ tịnh, lau các đồ bất tịnh, lau phẩn uế, lau nước tiểu, lau nước miếng, lau mủ, lau máu; tuy vậy miếng vải lau chùi không lo âu, không xấu hổ, không nhàm chán. Cũng vậy, bạch Thế Tôn, con an trú với tâm như miếng vải lau chùi, rộng rãi, rộng lớn, vô lượng, không hận, không sân.”
(Tăng Chi Bộ, Chương IX - Chín Pháp, II. Phẩm Tiếng Rống Con Sư Tử, (I) (11) Sau Khi An Cư)
Đó là tâm hiền mà hằng ngày chúng ta trì tụng, đó là đức hạnh ngài Xá-lợi-phất. Nhìn vào nùi giẻ rách này mà hơn thua, cống cao ngã mạn, hống hách với ai? Khi sự sợ hãi và xấu hổ có mặt thì người này tự động biết kiềm chế, điều phục, thu thúc sáu căn chính mình.
“Khi chế ngự các căn có mặt, với người đầy đủ chế ngự các căn, giới đi đến đầy đủ.”
(Tăng Chi Bộ, Chương VII - Bảy Pháp, VII. Đại Phẩm, (I) Xấu Hổ)
Lúc nào cũng thấy xấu hổ, sợ hãi những ác bất thiện pháp, lúc nào cũng lo kiểm soát sáu căn, không dám buông trôi, phóng túng nên giới được đầy đủ.
“Khi giới có mặt, với người đầy đủ giới, chánh định đi đến đầy đủ.”
(Tăng Chi Bộ, Chương VII - Bảy Pháp, VII. Đại Phẩm, (I) Xấu Hổ)
Sự giữ gìn, đề phòng, soi xét, chế ngự, thu thúc, bảo vệ từ mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý sẽ đưa đến nội tâm an định, chánh định được đầy đủ. Sở dĩ tâm chúng ta dao động, bất an là vì dục, sân, bản ngã, những sai phạm trong giới Pháp, trong khi giới nhằm ngăn chặn dục tham vì thế khi giữ được giới tức là giữ được tâm không chạy theo dục tham nên tâm được yên định. Người sai phạm về giới khi ngồi thiền tâm sẽ bị trạo hối, những hình bóng, cảm giác, suy nghĩ sẽ hiện khởi lại làm tâm bất an, còn người giữ được giới an tịnh thì tâm sẽ an định.
“Khi chánh định có mặt, với người đầy đủ chánh định, tri kiến như thật đi đến đầy đủ.”
(Tăng Chi Bộ, Chương VII - Bảy Pháp, VII. Đại Phẩm, (I) Xấu Hổ)
Sự thấy biết đúng sự thật sẽ được viên mãn. Thấy được ngũ uẩn này, cái tổ hợp sắc thân bất tịnh sẽ được hiện ra đúng như sự thật của nó. Sự thật về khổ đau của đống sắc pháp, của những đống cảm giác, những tổ hợp hình bóng, suy tưởng, nhận thức này sẽ hiện ra đúng như thật, gọi là Khổ Thánh Đế, không còn bất cứ thứ gì ngăn chặn, che đậy nữa. Lúc xưa bị tham dục che đậy, ngày trước bị vô minh trùm phủ, còn giờ mắt đã mở ra sáng tỏ, minh bạch, minh sanh, trí sanh, không còn mù lòa nữa.
“Khi tri kiến như thật có mặt, với người đầy đủ tri kiến như thật, nhàm chán, ly tham đi đến đầy đủ. Khi nhàm chán, ly tham có mặt, với người đầy đủ nhàm chán, ly tham, giải thoát tri kiến đi đến đầy đủ.”
(Tăng Chi Bộ, Chương VII - Bảy Pháp, VII. Đại Phẩm, (I) Xấu Hổ)
Đây là tiến trình giải thoát của Đức Phật. Ở đây chúng ta nói những điều gần gũi trong đời sống của cư sĩ, mình đang thành tựu từng phần. Quý vị có thấy xấu hổ khi khởi tham sân si, bản ngã không? Có xấu hổ nhưng không kéo dài được lâu vì mình bị ngoại cảnh tác động nên cảm thọ tàm quý bị gián đoạn hoặc trong các vị xuất gia sanh lên tàm quý hổ thẹn nhưng không được duy trì lâu dài và liên tục, dòng cảm thọ bị gián đoạn, sau đó cũng khởi lên sự xấu hổ nhưng lại bị ngưng.
Bây giờ chúng ta cố gắng duy trì, phát triển nhiều thêm vì cái này không phải chỉ trong một ngày hay một vài năm mà phải kiên trì, bền bỉ giữ gìn, tăng trưởng phát triển nhiều năm cho nên chúng ta phải cảm thấy xấu hổ và sợ hãi, sau đó phải có sự chế ngự các căn nhưng không phải chỉ chế ngự các căn trong khóa tu, trên thiền đường, lúc tụng kinh niệm Phật mà cần phải chế ngự trong mọi lúc mọi nơi.
Chúng ta nhớ kéo dài và duy trì nó, khi chúng ta có sự tàm quý, chế ngự thì các giới được đầy đủ, năm giới nhưng chỉ giữ được ba giới nhưng bây giờ nhờ tu học tác ý, quán chiếu nên giữ được bốn giới hoặc lúc trước mình hay phạm giới lớn nhưng bây giờ nhờ tu tập tác ý, quán chiếu tàm quý nên giữ được giới lớn, phạm giới vừa. Mình tiếp tục tăng trưởng phát triển, tu tập quán chiếu tác ý thì không phạm giới vừa mà phạm giới nhỏ.
Vì trong đời sống cư sĩ tại gia gặp rất nhiều duyên cảnh bên ngoài, thêm vào đó mình không có đầy đủ trí huệ, sự tỉnh thức chánh niệm để thấy hết được sự diễn biến của ngũ uẩn, các lậu hoặc cho nên cứ duy trì, nuôi dưỡng nghe Pháp, thực tập thiền định, thiền quán, giữ giới bằng những buổi tu tập trong đạo tràng, vào chùa tu tập với bạn đồng tu là để mồi lửa sau đó đem ngọn lửa này về nhà để sử dụng chứ không phải vào tu rồi ra khỏi chùa là quên hết.
VI. Nhàm chán
Những bài thiền quán Minh Thành hướng dẫn mọi người là những bài rất sâu sắc, nhìn thẳng vào bản chất thân tâm, mọi người cố gắng tập trung tâm ý tác ý theo lời của bậc Chánh Đẳng Giác để sanh khởi lên những cảm xúc của trí tuệ, cảm giác của sự thật, của sự chạm đến Thánh trí để sanh khởi lên những cảm giác đau khổ, cảm giác vô thường, nhàm chán. Mỗi lần như vậy sanh khởi lên sự nhàm chán, từ bỏ một chút, sau đó mọi người phải giữ gìn cảm thọ này đồng thời phải phát triển thêm, đến một lúc sẽ có dòng cảm thọ vô thường, khổ trong người mình không bị mất đi, dòng cảm thọ đó được nuôi lớn, tăng trưởng cho đến một ngày nó đầy đủ thì lúc đó mọi người đại thành tựu, tức là mục đích của đời này thành công.
Gần đây Minh Thành có chia sẻ tâm xuất ly nhàm chán, đây là tâm của bậc Thánh, chúng ta tập theo dù chưa trọn vẹn nhưng dù sao có thực tập vẫn hơn, phải từ sự nảy mầm ban đầu chứ đừng nghĩ làm không được, cho nên phải tăng trưởng phát triển cảm thọ nhàm chán, yểm ly, ly tham. Phải ghê tởm đối với những thứ vô thường, đau khổ, biến hoại, bệnh tật, tham sân si, không muốn nhìn mặt những thứ này nữa.
Khi tâm khởi lên cơn sân thì tác ý "Ta không muốn nhìn mặt ngươi nữa, nhàm chán ngươi quá rồi", khởi tâm bản ngã lên thì thấy đê hèn, quở trách thật nặng, sau đó giả từ tham sân si, vô minh, bản ngã thì tâm hoàn toàn giải thoát, tuệ giải thoát. Còn tâm không giải thoát được do bị tham ái, suy nghĩ, cảm giác, nhận thức đều bị bao phủ bởi tham ái vì thế sự vận hành của mình là sự vận hành trong dục tham ái, đừng nghĩ những sự nhận thứ, nghĩ tưởng là đúng vì nó ở trong tham ái thì làm sao đúng được?
“Vô thỉ là luân hồi này, này các Tỳ-kheo, khởi điểm không thể nêu rõ đối với lưu chuyển luân hồi của các chúng sanh bị vô minh che đậy, bị tham ái trói buộc.”
(Tương Ưng Bộ, Tập II - Thiên Nhân Duyên, Chương IV. Tương Ưng Vô Thỉ (Anamatagga), I. Phẩm Thứ Nhất, III. Nước Mắt)
Có thể những ngọn núi lớn sụp đổ, thế giới hoại diệt, Trái Đất không còn nhưng ta không tuyên bố chúng sanh có thể chấm dứt được khổ đau vì đã từ rất lâu tâm này bị ô nhiễm bởi vô minh che đậy, tham ái trói buộc. Vô minh đối với năm uẩn, đối với thân xác, cảm giác, nghĩ tưởng và sự nhận thức này, mình không biết từ đâu nó sanh khởi, tại sao nó an trú và chấm dứt, mình không biết sự nguy hiểm và tác hại của nó, không biết sự thoát ra khỏi nó cho nên có những người quá đau khổ rồi tìm cách tự vẫn bằng cách cắt mạch máu tay, treo cổ, nhảy cầu, nhảy lầu… vì người ta không biết đạo lộ để xuất ly.
Khổ bủa vây mọi lối, muốn thoát ra khỏi nó nhưng không biết đường thoát ra thì chết đi cho rồi, đó là bị vô minh che đậy, bị tham ái trói cột. Tham ái thể xác này, đống thịt này, tham ái tài sản xung quanh, khao khát, thèm khát những cảm giác, nghĩ tưởng, sự rõ biết. Chúng ta bị bao trùm trong năm uẩn, tất cả những cảm giác, nghĩ tưởng của chúng ta đều lòng vòng trong vô minh và tham ái đối với năm uẩn, nếu không có bậc Chánh Đẳng Giác xuất hiện ở thế gian này thì không có bất kì chúng sanh nào trong tam giới có thể thấy được đạo lộ xuất ly.
VII. Năm châu báu khó tìm được ở đời
Nếu không có bậc A-la-hán Chánh Đẳng Giác Thế Tôn xuất hiện trên cõi này thì không có bất kì ai trong cõi sắc, dục, và vô sắc có thể biết được con đường thoát ra thật sự, đây là sự vĩ đại của Đức Thế Tôn. Chúng ta đã bắt đầu nhìn thấy được ngũ uẩn, bắt đầu thấy được tham sân si, bản ngã, bắt đầu thấy sự tàm quý, bất tịnh và thấy được con đường thoát ra. Đây là phước lành của chúng ta, đại phước đức nhân duyên thù thắng hiếm có, hy hữu khó gặp trên đời, Đức Thế Tôn nói thế gian này có năm báu vật hiếm có khó gặp, thứ nhất là Như Lai xuất hiện, thứ hai là bậc có thể giảng thuyết được lời dạy của Đức Thế Tôn, thứ ba là người hiểu được lời dạy Thế Tôn đúng đắn và chính xác, thứ tư là người tùy Pháp và hành Pháp, thứ năm là người biết ơn và nhớ ơn.
“Này các Licchavì, sự xuất hiện của năm châu báu khó tìm được ở đời. Thế nào là năm?
Sự xuất hiện của Như Lai, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác khó tìm được ở đời.
Người thuyết được Pháp Luật do Như Lai tuyên bố khó tìm được ở đời.
Người hiểu được Pháp Luật do Như Lai tuyên bố khó tìm được ở đời.
Người thực hành pháp và tùy pháp, sau khi đã hiểu rõ lời thuyết giảng về Pháp và Luật do Như Lai tuyên thuyết, khó tìm được ở đời.
Người biết ơn, nhớ ơn khó tìm được ở đời.
Này các Licchavi, sự xuất hiện của năm loại châu báu này khó tìm được ở đời.”
(Tăng Chi Bộ, Chương V - Năm Pháp, XX. Phẩm Bà-La-Môn,
(V) Bà La Môn Pingiyani)
Cho nên trong thời đại gần ba ngàn năm sau khi Phật nhập diệt mà mình gặp được bậc thiện tri thức có thể tuyên thuyết, hiểu được lời dạy của Đức Phật, thực hành có kết quả là chúng ta đang tiếp xúc với báu vật trong Phật Giáo, báu vật vĩ đại xuất thế gian. Chúng ta phải sanh tâm hiếm có khó gặp, cung kính, tôn trọng, khát ngưỡng, chân thành tha thiết, ngày đêm nỗ lực tu tập thiện pháp. Những lời dạy này bây giờ cực kì khó để được nghe, được hiểu, càng khó để thực hành, bản thân Minh Thành đi khắp mọi nơi cầu Pháp nhưng vẫn không được nghe những lời dạy như vậy, đây là lối thoát độc nhất và duy nhất.
Căn nhà thế giới này đang rực cháy, những ngọn lửa của tham dục, sân hận đang hỏa thiêu hành tinh này, bất cứ lúc nào cũng có thể đưa chúng ta đến sự chết chóc, thảm họa sợ hãi và chúng ta có được lối thoát tối thượng của Đức Phật nên chúng ta không được quyền xem thường. Chúng ta không thể học lơ là, tu qua loa bằng hình thức bên ngoài mà phải tu bằng tất cả tấm lòng tha thiết, chân thành cung kính của mình, con nghĩ rằng đây chiếc thuyền cuối cùng, đây là những ánh chớp sau cùng của Chánh Pháp, không biết chúng ta còn sống được bao lâu nữa nên khó có khả năng chúng ta được nghe, được học, được tu theo lời dạy nguyên chất này nữa. Cả thế giới đi tìm dục tham, những cảm giác vui sướng rồi khổ đau, đây là con đường thoát ra khỏi thế giới này: Tịnh chỉ tất cả hành, chấm dứt sanh y, đoạn diệt kiết sử, diệt tận khổ đau.
VIII. Phàm cái gì được cảm thọ, cái ấy nằm trong đau khổ
Chỗ dựa của tái sanh là sự tham ái trong ngũ uẩn này, cắt đứt sợi dây tái sanh là sự đoạn tận những tham ái đối với thân xác, nghĩ tưởng, nhận thức này, đó là Thánh đạo lộ, là Thánh đạo Tám Ngành, là con đường Tám Đúng tối thượng duy nhất và độc nhất, chúng ta đang tu tập chánh kiến, nhìn thấy tường tận tất cả khía cạnh, gốc độ, phương diện của đời sống của thân tâm này. Nếu không chúng ta sẽ bị tai họa, bị vây hãm trong gánh nặng của ngũ uẩn, vô lượng kiếp sau không có đường ra cho nên mục đích là đưa đến sự nhàm chán với sắc. Ba mươi hai thể trược, chín giai đoạn tử thi, bất tịnh quán đều để nhàm chán với sắc uẩn, ly tham khỏi nó.
“Lành thay, lành thay, này Tỳ-kheo! Này Tỳ-kheo, Ta nói rằng có ba thọ này: lạc thọ, khổ thọ, bất khổ bất lạc thọ. Ba thọ này được Ta nói đến. Nhưng này Tỳ-kheo, Ta lại nói: "Phàm cái gì được cảm thọ, cái ấy nằm trong đau khổ". Chính vì liên hệ đến tánh vô thường của các hành mà lời ấy được Ta nói lên: "Phàm cái gì được cảm thọ, cái ấy nằm trong đau khổ". Chính vì liên hệ đến tánh đoạn tận, tánh tiêu vong, tánh ly tham, tánh đoạn diệt, tánh biến hoại của các hành mà lời ấy được Ta nói lên: "Phàm cái gì được cảm thọ, cái ấy nằm trong đau khổ".”
(Tương Ưng Bộ, Tập IV – Thiên Sáu Xứ, Chương II. Tương Ưng Thọ, Phần Hai - Phẩm Sống Một Mình, I. Sống Một Mình)
Hãy quán những cảm thọ vui sướng đó là khổ đau vì cảm thọ vui sướng sẽ trói cột làm không thoát ra được. Tất cả chúng sanh đều yêu thích cảm giác vui sướng còn mình tu là thoát ra khỏi nó vì nó sanh diệt, vô thường, nhàm chán những hình bóng của sân hận, hơn thua, ngã kiến, cái ta ảo tưởng. Những suy nghĩ lôi kéo, thôi thúc, đày đọa mình phải từ bỏ nó.
“Phàm sắc gì quá khứ, vị lai, hiện tại, thuộc nội hay ngoại, thô hay tế, liệt hay thắng, xa hay gần; tất cả sắc cần phải như thật quán với chánh trí tuệ: "Cái này không phải của tôi, cái này không phải là tôi, cái này không phải tự ngã của tôi".
Phàm thọ gì... phàm tưởng gì... phàm các hành gì...
Phàm thức gì quá khứ, vị lai, hiện tại, thuộc nội hay ngoại, thô hay tế, liệt hay thắng, xa hay gần; tất cả thức cần phải như thật quán với chánh trí tuệ: "Cái này không phải của tôi, cái này không phải là tôi, cái này không phải tự ngã của tôi".”
(Tương Ưng Bộ, Tập III. Thiên Uẩn, Chương I. Tương Ưng Uẩn (b), V. Phẩm Tự Mình Làm Hòn Ðảo, VIII. Sona).
Cần phải quán nó là ung nhọt, là mũi tên, là kẻ giết người nên phải tránh xa. Thức cũng vậy, biết để tham sân si, biết rồi khẩu tranh, đấu tranh nên cần nhàm chán. Nuôi lớn tâm nhàm chán, xa lìa là nuôi lớn tâm của bậc Thánh hay còn gọi là Thánh tâm, phàm tâm không nhàm chán năm uẩn mà chỉ có Thánh tâm, Thánh đạo, Thánh Pháp, Thánh trí. Lúc ăn cơm phải thấy nhàm chán vì đã ăn mấy chục năm nay rồi, khởi cảm giác dục ưa thích là đánh đuổi cảm giác đó rồi sau đó mới ăn, mình vẫn ăn nhưng không để cảm giác đó lôi kéo, áp đảo làm dục tham ái dính mắc, chấp thủ trong cảm thọ đó, đó là cái ăn của Thánh đệ tử.
Đứa con mua nhà mới tặng mình thì lúc đó thọ; tưởng; hành sanh khởi ra sao? Lúc đó cần nhớ đến câu "phàm cái gì sanh khởi thì nhất định phải hoại diệt", sắc này là vô thường, là tan hoại, "có thể trong nhà này là bàn thờ của mình", sau khi tác ý vẫn vào ở vì con có hiếu, mình ở để đáp đền tâm hiếu của nó nhưng tâm không tham đắm, dính mắc vào căn nhà đó. Người ta xây chùa, mời quý sư cô đến tác bạch cúng dường cho nguyên cái chùa mới thì phải tác ý ly tham, nhàm chán, chấm dứt "mình muốn giải thoát thì tại sao lại mê những thứ này", phải nhớ tác động tâm ý khổ đau, vô thường, bại hoại đối với ngũ uẩn này. Ngay cả cục thịt ngồi đây cũng vô thường, có thể Minh Thành bước ra rồi không trở về nữa, phải thường suy tư, quán chiếu như vậy mới nhả được tâm tham ái, chấp thủ vào tấm thân gân xương này, phải nhìn thấy tính chất đồ gốm dễ vỡ là thân này, dù cho làm đồng cũng sẽ bị tan hoại.
“Tất cả chúng sanh đều phải chết, đều kết thúc trong sự chết, đều không vượt qua sự chết. Ví như, thưa Đại Vương, tất cả đồ gốm do người thợ gốm làm ra, chưa nung chín hay đã nung chín, tất cả đồ gốm ấy đều phải bể, đều kết thúc trong sự bể, đều không vượt qua sự bể. Cũng vậy, thưa Ðại Vương, tất cả chúng sanh đều phải chết, đều kết thúc trong sự chết, đều không vượt qua sự chết.”
(Tương Ưng Bộ, Tập I – Thiên Có Kệ, Chương III. Tương Ưng Kosala,
III Phẩm Thứ Ba, II. Tổ Mẫu)
Chúng ta hãy cảm thông cho nhau vì tất cả chúng sanh đều chìm trong cái khổ, mình tu, biết Chánh Pháp còn khổ như vậy cho nên người không tu, không biết Chánh Pháp còn khổ đến mức nào thì tại sao lại không cảm thông cho họ? Tại sao mình nói "tôi tu còn mấy người đó không tu nên thấy họ bực quá", đó là bản ngã của người tu. Mình tu thì càng phải cảm thông cái khổ vì chính mình là người thấy khổ đau rõ ràng hơn ai hết, còn họ khổ mà không thấy trong khi mình thấy mà sao lại không thương họ? Tại sao mình tu mà còn bắt bẻ còn hơn chưa tu?
Ngày xưa là bản ngã của người không tu, "tôi biết Chánh Pháp còn mấy người kia không phải Chánh Pháp", vào tu rồi lại trở thành bản ngã của người biết tu, tạo thêm bản ngã mới và đau khổ mới xuất hiện. Hãy nhìn tất cả bộ mặt của bản ngã và chỉ thẳng vào mặt nó nói rằng "Ta li dị ngươi", rời xa tất cả bản ngã, nếu không nó biến hình, biến thể như virus hiện tại đã biến thể có khả năng lây lan nhanh hơn 70%.
Hãy canh chừng những virus biến thể của sân hận, si mê, bản ngã trong nội tâm mình, nó đổi hình, biến dị. Phải nhớ càng tu càng phải biết cảm thông, thấu hiểu, bao dung và tha thứ cho những người thân thương nhất trong gia đình mình, hãy làm cho họ cảm nhận được tình thương của mình, cảm nhận được giá trị của Chánh Pháp, cảm nhận được lợi ích thiết thực của từ tâm, trí tuệ, của sự thấu hiểu của sự thật cuộc đời này. Như vậy quý vị sẽ đem ngọn lửa trí tuệ Thánh Pháp Nikāya này trở về gia đình làm đèn, làm đuốc, làm ánh sáng cho những người thân yêu. Hãy thắp sáng ngọn đèn, mồi ngọn đuốc xua đuổi bóng đêm cho thân tộc, phải gánh người thân (dù cho nặng) bằng từ tâm, bằng tình thương, bằng ánh mắt của tuệ nhãn Chánh Pháp, không phải là ánh mắt mù lòa mà là mắt sáng của trí tuệ được mở ra, được tỏa chiếu. Hãy nhớ làm người bạn thân thương của những người trong gia đình mình!