Thư Viện Linh Quy
← Danh sách

Con Đường Đoạn Tận Tham Ái 3

2026-03-03 00:53:13
Con Đường Đoạn Tận Tham Ái 3

Ái Tập Khởi Thì Khổ Tập Khởi

Thích Minh Thành

MỤC LỤC

TOC \o "1-3" \h \z \u I. Huấn luyện cảm thọ hiền thiện PAGEREF _Toc141807129 \h 1

II. Ái sanh khởi PAGEREF _Toc141807130 \h 2

III. Khổ đoạn diệt PAGEREF _Toc141807131 \h 4

IV. Sự nguy hiểm của các dục PAGEREF _Toc141807132 \h 9

I. Huấn luyện cảm thọ hiền thiện

Rõ biết ở trước mặt. Mở rộng tầm nhìn ra hai bên, phía trước. Trở về hơi thở. Cảm nhận sự động chuyển của lòng ngực, chóp mũi, bụng. Từ ba điểm này mở rộng cảm giác ra toàn thân. Cảm nhận cảm giác đầu, thân, cổ, lưng, bụng, mông, chân, ống chân, bàn chân, tay, cánh tay, bàn tay. Cảm nhận cảm giác toàn thân, nội tâm tỉnh giác, rõ biết. Chúng ta đang thực tập tâm hiền. Thở vào nói thầm là tâm hiền. Thở ra nói thầm là tâm lắng dịu. Thở vào tâm hiền. Nhìn vào trong cảm thọ nói. Nhìn vào trong cảm giác và nói "Hiền, lắng dịu. Hiền, lắng dịu. Tâm hiền nha, lắng dịu nha".

Nói với cảm giác ở trong thân tâm của mình "Những người mẹ tâm hiền, lắng dịu. Hiền từ, lắng dịu, dễ thương nha, đừng có dễ ghét. Thở vô dễ thương, thở ra đừng có làm cho mình bị chúng ghét". Nói chuyện với cảm thọ, cảm giác, nhìn sâu vào trong cảm giác mà nói chuyện với nó "Mình phải là người hiền từ nha cảm thọ. Đừng có làm người hung dữ nha. Thở vô, thở ra. Cảm thọ thật là dễ mến, khả ái. Thật là dễ thương, gương mặt thật là hiền từ, chan hòa, thật là đẹp".

Mọi người thực tập được không? Cái này quan trọng lắm. Đừng có cười, thấy vậy nhưng nó thâm sâu lắm. Mình đang dạy dỗ, huấn luyện cái cảm giác, cảm thọ của mình. Vì cảm thọ hung dữ thì gương mặt không thể nào hiền được, gương mặt chỉ là công cụ của cảm thọ thôi nên khi huấn luyện cảm thọ của mình trở thành cảm thọ hiền lành khả ái, dễ thương, dễ mến thì nó sẽ biểu hiện lên một gương mặt từ ái, hiền lành. Đây là tâm hiền, nó kế bên tâm từ. Bước đầu mình thực tập tâm hiền, sau đó mình mới bước lên thực tập từ vô lượng tâm rồi bi vô lượng tâm.

Mọi người phải nhớ thực tập hằng ngày, nhất là lúc mình giận, mình bực ai là vào mình ngồi thiền "hiền nha, dịu nha, dễ thương nha". Hay lắm, thực tập rồi mọi người sẽ thấy. Lúc nào thực tập xong rồi mình mở gương ra nhìn mặt mình vô cùng dễ thương. Trước đó là bực, nổi quạu lên, vào thực tập cái này khoảng 10 – 15 phút là mình thấy gương mặt mình nó khác liền, vì cảm thọ được chuyển đổi bên trong.

Bởi vì cảm thọ là gốc, còn gương mặt chỉ là bề ngoài, đang bực mà ráng mỉm cười thì khó coi vô cùng. Ráng vậy thôi chứ không có tác dụng mà phải chuyển đổi sâu trong gốc của nó là cảm thọ, cảm giác. Hôm nay mình tập cái bí quyết thâm sâu là huấn luyện cảm giác, huấn luyện cảm thọ mà nói đơn giản là hiền dịu, dễ thương, mình nói làm sao cho cảm thọ lắng dịu xuống, êm ái, cho nó chịu nghe theo mình, để cảm thọ dịu xuống như con mèo con nằm im cho mình vuốt ve.

Mình huấn luyện để cảm thọ nghe lời mình vì sắc; thọ; tưởng; hành; thức là những cái pháp chứ nó đâu phải là mình. Phải thực tập hằng ngày, lúc bực mình hay khó chịu thì càng phải tập nhiều hơn. Khi gặp những cái duyên chướng ngại, những cái chướng tai gai mắt, nghiệp chướng tới thì càng phải tập nhiều hơn. Bây giờ bình thường không thực tập, đến lúc sân lên không kiểm soát được, cái cảm thọ sân đó không chịu hiền. Nó không chịu tu, không chịu thực tập mà muốn làm ma, nó không muốn làm người hiền tánh. Cái cảm thọ của mình, cái ý hành của mình. Phải huấn luyện cái tâm, nhiếp phục cái tâm, rèn luyện cái tâm, làm chủ cái tâm. Không cho nó làm chủ mình, mình phải làm chủ nó.

II. Ái sanh khởi

“3) Và này các Tỷ-kheo, thế nào là khổ tập khởi?

4-9) Do duyên mắt và các sắc khởi lên nhãn thức. Do ba pháp này họp lại nên có xúc. Do duyên xúc nên có thọ. Do duyên thọ nên có ái. Ðây là khổ tập khởi. Do duyên tai... Do duyên mũi... Do duyên lưỡi... Do duyên thân... Do duyên ý và các pháp khởi lên ý thức. Do ba pháp này họp lại nên có xúc. Do duyên xúc nên có thọ. Do duyên thọ nên có ái. Ðây là khổ tập khởi, này các Tỷ-kheo.”

(Tương Ưng Bộ Kinh Tập IV – bài kinh Khổ)

Do đâu mà ái sanh khởi? Do có con mắt, do có các sắc và do có sự rõ biết các sắc tức là nhãn thức. Ba pháp này hội tụ tạo thành nhãn xúc, tức là sự tiếp xúc của con mắt. Tiếp xúc thì sanh ra cảm thọ, sanh ra cảm giác, sanh ra cảm xúc. Sanh ra cái thọ, sanh ra cái ái – yêu thích, yêu thích là khổ tập khởi. Yêu thích đồng nghĩa với cái khổ được sanh.

Chỗ này là chỗ thâm sâu. Yêu thích nó sanh đồng nghĩa với cái khổ cái sanh. Mình yêu thích cái gì là bắt đầu cái đó làm cho mình khổ. Những chữ này phải khắc vào tim, khắc lên trán chứ không phải khắc vào đá trưng kiểng. Mình yêu thích cái gì đó thì chính cái đó làm cho mình khổ. Nhớ kỹ chỗ này. Càng yêu thích nhiều thì làm mình càng chịu khổ chừng đó. Kiểm tra lại rồi chiêm nghiệm câu đó, ngồi thiền quán chiếu câu đó. Có nhiều người thương con chó. Nó bệnh là khóc. Nó chết là không ăn không uống gì hết. Thương con chó rồi thương con mèo. Có nhiều người thương chiếc xe, thương bộ râu.

Có ông già để bộ râu dài bốn năm thước đạt kỷ lục thế giới. Rồi có bữa ông đi vấp bộ râu té ngã chết luôn. Những cái chết vô duyên nhất hành tinh, đó là sự thật. Mình nghĩ là cái chết nó khó xảy ra lắm, không phải vậy mà đơn giản lắm. Có một ông leo tháp đường ranh giới Canada với Mỹ, lúc nào chỗ này cũng có cầu vồng ngũ sắc. Đi chỗ này chỗ kia biểu diễn không sao mà ông này cuối cùng lại chết theo cách khá vô duyên khi trượt vỏ cam ngay trước cửa nhà, té ngã rồi chết luôn. Còn có một bà đi thể dục trước sân nhà, đạp vào bãi phân bò rồi trượt chân, nắm vô sợi dây điện, bị điện giật chết. Mấy tháng sau, em gái bà này té cũng bị điện giật y chang vậy. Thành ra mọi người ai cũng nghĩ cái chết rất khó, thực chất rất dễ chết, sống mới khó. Trở lại vấn đề ái tập khởi là khổ tập khởi. Ở đâu có cái ái là có cái khổ. Hãy nhớ kỹ ái đồng nghĩa với khổ đau.

Lỗ tai với tiếng với nhĩ thức, nhĩ xúc, nhĩ thọ sau đó ái nữa. Mà mình nghe cái đó bực mình thì sao mà ái? Nó sân lên chứ đâu phải ái. Không phải như vậy, chính vì ái cho nên mới bực mình vì nó không như ý mình thích. Nó cũng giống như bề mặt của hai cánh tay trở qua trở lại. Còn cái gốc của nó là ái dục, trong ái dục cũng có tham sân si trong đó. Không ái được là nó sân, còn được rồi thì nó thủ. Thủ tức là nắm chặt, bám chặt. Ái sanh ra thủ đi kèm với nhau, như vậy là khổ. Thí dụ trong phòng mình không có gì hết thì mình không bị vướng bận, đi đâu cũng khỏe. Nếu lỡ như có món đồ gì đắt giá thì đi đâu cũng không yên tâm. Đi về là đóng cửa lại mở cái hộp xem còn không.  

Phật ngôn từng nói: “Nhân tùng ái dục sanh ưu, tùng ưu sanh bố. Nhược ly ư ái, hà ưu hà bố?” Do ưa nên mới có ngon vì thích nên mới có sợ. Không ưa không thích thì đâu ngon, đâu sợ. Món đồ đó là mình thích, mình quý. Rồi mất món đồ đó là khổ vô cùng. Món đồ ở đâu là mình ngồi ở đó thì đâu bị ăn trộm. Con người đó còn vô thường, thọ; tưởng; hành; thức là vô thường, nó đổi hoài, làm sao mình giữ được cái đổi đó? Thì như vậy mình khổ vô cùng. Cái vô thường làm sao mình giữ được? Trong khi chính mình còn vô thường mà muốn cảm giác kia như vậy hoài. Như vậy vĩnh viễn chúng sanh đi tìm dục tìm ái, tìm khổ tìm đau, không có ngày ngừng. Mình không quán chiếu, mình không tỉnh ngộ thì mình như vậy. Đừng nói tóc cạo xong ái cạo xong. Chưa đâu, còn xa lắm. Tóc nó cạo thôi chứ cái tâm nó chưa có cạo, nó mọc ra hoài.

III. Khổ đoạn diệt

“10) Và này các Tỷ-kheo, thế nào là khổ đoạn diệt?

11) Do duyên mắt và các sắc khởi lên nhãn thức. Do ba pháp này họp lại nên có xúc. Do duyên xúc nên có thọ. Do duyên thọ nên có ái. Do ly tham, đoạn diệt ái ấy một cách hoàn toàn nên thủ diệt. Do thủ diệt nên hữu diệt. Do hữu diệt nên sanh diệt. Do sanh diệt nên già chết, sầu, bi, khổ, ưu, não diệt. Ðây là toàn bộ khổ uẩn này đoạn diệt. Ðây là khổ chấm dứt.”

(Tương Ưng Bộ Kinh Tập IV – bài kinh Khổ)

Thế nào là khổ tập khởi? Thế nào là khổ đoạn diệt? Cũng là con mắt, các sắc, rõ biết tiếp xúc, cảm thọ cảm giác, nhưng do ly tham đoạn diệt ái ấy một cách hoàn toàn cho nên thủ diệt. Do thủ diệt cho nên hữu diệt, do hữu diệt cho nên sanh diệt. Do sanh diệt cho nên già chết sầu bi khổ ưu não đều đoạn diệt. Như vậy sự đoạn diệt toàn bộ khổ uẩn này. Cái này mắc một tỷ lượng vàng, không nói được giá của nó.

Nếu không phải là Chánh Đẳng Chánh Giác, không phải tối thượng thì làm sao nói được cái này? Cái này mình xem như đọc báo thì không thể hiểu được. Do ly tham nên mình không có tham muốn. Tại sao mình không tham muốn? Tại vì mình quán bất tịnh, quán 32 thể trược, quán chín giai đoạn một tử thi, cho nên mình không có tham nữa, mình rời khỏi cái tham, đi ra khỏi cái tham. Phải quán tứ đại, quán 32 thể trược, quán chín giai đoạn của tử thi, quán dòi, quán bộ xương, quán một đống phân. Nhiều khi nước tiểu của mình đi xong rồi dội nhưng lỡ quên để qua hôm sau là mùi nó bốc lên không chịu nổi, đậy nắp lên mà vẫn bốc cái mùi, không thể tưởng tượng được.

Đó là mới một ngày thôi, những người thị giả hầu thầy sẽ biết rõ điều này, nhưng giờ không biết còn hầu không. Nên giờ quán chiếu làm sao? "Dơ bẩn lắm, bất tịnh lắm, hôi thối lắm". "Gỡ da mặt ra, trong đó là máu thịt, mỡ, gân. Lôi hai con mắt ra, chọt vào hai cái lỗ đó là dòi trong đó bò ra, tràn ra. Lột da đầu ra, lấy hộ sọ ra, lấy bộ não ra. Ai ở trong đó? Làm gì có cái tôi, cái của tôi ở trong đó. Chỉ là cái đầu lâu đang nói chuyện, bộ xương đang nói chuyện, không có ai ở đây hết".

Quán chiếu sâu vậy mới ly tham được. Không quán được làm sao mà ly tham. Phải quán như vậy, quán cho nó rã rời thân xác này ra, cho nó lòi hộp sọ này ra, cho nó lòi bộ xương ra, trào ra máu mủ, thịt mỡ, trào ra mủ, trào ra nước tiểu, trào ra phân. Quán cho thâm sâu ba hai thể trược để ly tham, chấm dứt từ bỏ tham ái. Ngày nào cũng quán, lột da ra, lột cái đầu vô minh ra, chẻ cái đầu ái dục ra, đập bể cái đầu si mê đó ra. Đó là tuệ lực, tức là sức mạnh của trí tuệ, là Tín Tấn Niệm Định Huệ. Chứ còn mình êm êm là mình chết, như vậy là con mèo trèo lên đầu mình ngồi luôn, mình cứ vuốt ve, cưng nựng là nó nhảy lên bàn Phật nằm luôn.

Cái tham ái cũng giống như con mèo. Cứ vuốt ve, cho nó ăn thì nó làm cho cái tâm mình loạn. Mình phải nhiếp phục nó, chế ngự nó, đánh đuổi nó, từ bỏ, chấm dứt nó, đẩy nó ra khỏi tâm mình. Nó khởi lên cái tâm dục thì mình tác ý "Mi là đồ xấu hổ, nhục nhã, thú vật" . Nhiều khi đang ngồi thiền, đang quan chiếu nó khởi lên tham dục, ái dục, dâm dục. Mình phải dùng những từ nặng, chửi nó càng nhiều lần "súc sanh nhục nhã, xấu hổ, nhơ bẩn, bẩn thỉu, bất tịnh, ngu si". Chửi vào mặt nó là nó chạy mất. Đó là Như lý tác ý, là tuệ lực.

Một khi nó khởi lên như vậy là mình tác ý liên tục thì dục tham sẽ lắng dịu, tan rã, mình cứ làm hoài như vậy thì đến một lúc nào đó nó sẽ hoàn toàn bị diệt tận. Đây là con đường của bậc Chánh Đẳng Giác. Người phàm hoặc bậc hiền Thánh của thế gian cũng không thể biết được con đường này. Đây là một sức mạnh vĩ đại. Mình không thể êm êm nhẹ nhàng với nó được mà phải ra đòn thật mạnh như Như Lai thần chưởng hay ngũ trảo thần công để nắm đầu nó đánh cho tới tấp. Đánh cái tâm tham dục ái như đánh ghen. Đánh cho nó tơi tả, tan tành, đốt thành tro bụi để nó tan vào trong hư không.

Tu như vậy thì dì mẫu Ma-ha-ba-xà-ba-đề mới trở thành thánh đệ tử, trở thành trưởng lão Ni, chứ không phải tu lơ tơ mơ, cà rỡn cà rỡn. Tu không khéo sẽ đọa nặng hơn ở ngoài đời. Do ly tham nên đoạn diệt ái một cách hoàn toàn. Dùng quán bất tịnh, quán những phương pháp tuyệt vời của Đức Phật để đoạn diệt ái một cách hoàn toàn. Sự yêu thích không còn nữa thì làm gì còn sự bám giữ "đường anh, anh đi. Đường tôi, tôi đi. Tình nghĩa đôi ta chỉ thế thôi… Còn gì nữa đâu mà thương với sầu".

Có một sự mạnh mẽ dứt khoát, đoạn tiệt thì cái bám víu nó không còn, đã không còn sự bám víu thì sẽ không có nghiệp. Hữu ở đây nói đơn giản là nghiệp. Nói sâu hơn là sự yêu thích hiện hữu gọi là hữu ái. Khi mà ái nó không còn, sự bám giữ nó không còn thì cái sự ưa thích hiện hữu để làm nguyên liệu cho tái sanh không còn nữa. Những cái dữ kiện, điều kiện để cho mình tiếp tục một đời sống là cái ái dục nó hết, khi đó mình đã thể nhập thánh trí rồi. Lúc đó những dữ kiện, những điều kiện những yếu tố đi đầu thai không còn thì làm sao nó sanh ra được nữa? Cho nên sanh nó diệt, không còn nữa. Sanh y là chỗ nương dựa theo sanh tử luân hồi, khi sự thọ sanh không còn. Vì nó bị vỡ tung ra giống như là từ đất mà cây được mọc, bây giờ không có đất thì làm sao trồng cây nên sanh y bị sụp đổ. Nên sanh nó chấm dứt thì già chết sầu bi khổ u não đều đoạn diệt. Như vậy là sự đoạn diệt của toàn bộ khổ uẩn này. Này các Tỳ-kheo, đây là khổ đoạn diệt.

Con đường chấm dứt khổ đau này rõ ràng như vậy, không còn gì mờ ám nữa, tất cả đều minh bạch lắm. Mỗi một ngày quán bất tịnh bốn tiếng. Nhìn ai cũng ra bộ xương hết. Nhìn mặt ai cũng là mặt dòi. Đầu lâu với đầu lâu chẳng lẽ lại cự nhau? Trong mình dòi không lại đi chê người ta hôi thối. Tất cả phiền não, tham sân si tan rã hết. Phá tung cái chấp ngã tham ái, tham dục, vô minh, chứng tới La-hán quả. Đây là phương pháp Thân Hành Niệm, chứng tới bất tử. Lên linhquyphapan.vn nghe bài Niệm Thân Hương Vị Bất Tử, đây là bài quan trọng nên Minh Thành giảng khoảng 4-5 bài.

Tai đối với tiếng, mũi đối với mùi, lưỡi đối với vị, thân xúc chạm cũng giống vậy. Do cái lỗ tai có âm thanh, do sự rõ biết âm thanh là nhĩ thức. Ba pháp này hội tụ với nhau tạo thành sự tiếp xúc của lỗ tai gọi là nhĩ xúc. Từ tiếp xúc sanh ra cảm giác cảm thọ, từ thọ sanh ra ái, ái tập khởi là khổ tập khởi. Ái cái âm thanh, cái tiếng nói đó, cái giọng nói đó, cái âm thanh đó. Nó làm cho mình lưu luyến, nó làm cho mình lưu dấu, làm cho mình lưu tâm là mình chết. Tẩy rửa liền, từ bỏ liền. Không có gì là không bài xích. Tất cả các tiếng đều như nhau, tiếng của máy hàn chạy rè rè cũng là tiếng. Đừng để cho cái ái ở trong tất cả mọi thứ.

Ái trong con mắt, trong lỗ tai, trong lỗ mũi, trong cái lưỡi, trong cái thân. Mình biết chỗ cư trú của cái ái rồi. Ái trong cái xúc, trong cái thọ. Nó cư trú đầy hết trong cơ thể của mình từ đỉnh đầu cho tới gót chân, không có chỗ nào không có ái. Ghê gớm như vậy mà mình không có biết. Mình tưởng đâu "Tôi tu hổm rầy cũng hết tham sân si rồi". Chỗ nào trong cơ thể mình cũng ái, cũng dục hết. Nếu mà mình không có trí tuệ mình không quán chiếu hàng ngày mình gỡ không nổi. Nhiều khi mình không để ý chứ để ý nhìn từ cái cảm giác, nhìn vào suy nghĩ, hành động, nội tâm của mình thì mới thấy nó vi tế lắm, rất là vi tế. Cái ái nó nhỏ nhiệm lắm.

Ví dụ mình đang đi ngoài trời nắng nóng đổ mồ hôi, mình về nhảy vô luôn nhà tắm. Vậy lúc đó mình có chánh niệm tỉnh giác không? Hay là nóng quá xối nhanh cho mát. Cái lúc lẹ lẹ, hấp tấp, rạo rực, thúc dục chính là dục ở trong cảm giác. Cho nó mau mau thỏa mãn cảm giác. Cái ăn cũng vậy, cái ngủ cũng vậy, nhảy lên cái giường là trùm cái đầu. Ái ở trong đó mà mình đâu có thấy được, chỗ nào cũng có hết. Mình đi trời nóng về được ly nước đá là khoái lắm, uống ực một cái sặc luôn rồi. Tại vì không kịp, cái thọ nó mạnh quá. Thay vì uống từ từ, từng ngụm chánh niệm.

Nhưng không, uống ực rồi bị sặc. Ở trong luật của Sa-di của Phật giáo nguyên thủy, khi ăn mà nhai chưa có hết là không được lấy đồ ăn đưa lên. Cái đó nó sâu xa lắm. Cái đó là nhìn vào cái dục, cái ái của mình. Cho nên mình chưa nhai hết mà đưa cái muỗng lên chờ là biểu hiện của dục, của tham. Phải ăn xong hết rồi mình mới múc. Cái đũa hay muỗng chưa đưa tới gần là miệng không được há ra, phải đưa tới miệng rồi mình mới há ra. Đồ ăn chưa đưa tới mà miệng đã há ra thì đó là dục nó hiện, tham nó hiện, ái nó hiện. Những điều này tất thâm sâu lắm, sự tu rất là tinh vi. Nó dễ đi tới chỗ lậu tận. Nên mình học cái này rất quan trọng. Học cái này mới là của bậc Chánh Đẳng Giác.

IV. Sự nguy hiểm của các dục

“– Này Magandiya, Ta thuở trước, khi còn là tại gia, Ta sống hưởng thụ một cách đầy đủ, một cách sung mãn, năm dục trưởng dưỡng, các sắc pháp do mắt nhận thức, các sắc pháp này là khả ái, khả hỷ, khả lạc, khả ý, liên hệ đến dục, hấp dẫn. Các tiếng do tai nhận thức... các hương do mũi nhận thức... các vị do lưỡi nhận thức... các xúc do thân nhận thức, các xúc này là khả ái, khả hỷ, khả lạc, liên hệ đến dục, hấp dẫn. Này Magandiya, Ta có ba tòa lâu đài, một cho mùa mưa, một cho mùa đông, một cho mùa hạ. Này Magandiya, trong bốn tháng mùa mưa, Ta sống hưởng thụ trong lâu đài mùa mưa, được những nữ nhạc công giúp vui và không bước xuống khỏi lâu đài ấy. Rồi Ta sau một thời gian, sau khi như chơn biết được sự tập khởi, sự đoạn diệt, vị ngọt, sự nguy hiểm và sự xuất ly của các dục vọng, sau khi đoạn tận dục ái, sau khi trừ diệt nhiệt não của các dục, Ta trú với khát ái được đoạn trừ, với nội tâm an tịnh. Rồi Ta thấy các chúng sanh khác, chưa xả ly tham ái đối với các dục, đang bị các dục ái nhai nghiến, đang bị dục nhiệt não thiêu đốt, đang chạy theo các dục. Ta không ước vọng được như họ, ở đây, Ta không ham thích. Vì sao vậy? Vì rằng, này Magandiya, có hỷ lạc này, ly dục, ly bất thiện pháp, sau khi chứng đạt Thiên lạc, được an trú, hoan hỷ trong hỷ lạc ấy. Ta không ao ước cái gì thấp kém, ở đây, Ta không ham thích.”

(Trung Bộ Kinh – bài kinh MAGANDIYA)

Dục ái nhai nghiến, phiền não nó thiêu đốt. Bài kinh số 75, kinh Magandiya, Trung Bộ kinh, tập 2.

Ta thuở trước, khi còn là tại gia, Ta hưởng thụ một cách đầy đủ, một cách sung mãn, các dục trưởng dưỡng, các sắc pháp do mắt nhận thức, các sắc pháp này là khả ái, khả hỷ, khả lạc, khả ý, liên hệ đến dục, hấp dẫn, các tiếng do tai nhận thức... các hương do mũi nhận thức... các vị do lưỡi nhận thức... các xúc do thân nhận thức, các xúc ấy là khả ái, khả hỷ, khả lạc, khả ý, liên hệ đến dục, hấp dẫn.

Khả ái là đáng yêu, khả hỷ là đáng vui, đáng mừng vừa ý liên hệ đến dục hấp dẫn. Ta hưởng thụ một cách rất là đầy đủ, sung mãn.

Ta có ba tòa lâu đài, một cho mùa mưa, một cho mùa đông, một cho mùa hạ. Này Magandiya, trong bốn tháng mùa mưa, Ta sống hưởng thụ trong lâu đài mùa mưa, được những nữ nhạc công giúp vui và không bước xuống khỏi lâu đài ấy.

Đức Bồ tát của chúng ta ở trong cảnh như vậy mà dám bỏ, mình thì nghèo rớt mồng tơi mới đi tu, có nhiều hoàn cảnh nhà đông con nuôi không nổi nên mới gửi vô chùa, có nhiều người vào chùa được chùa nuôi, cho đi học rồi thích chùa nên ở tu. Cho nên động cơ xuất gia ban đầu của mình chưa phải là chân chánh xuất gia. Nhưng nếu mình gặp được bậc minh sư, gặp được chánh pháp mình mới được chân chánh xuất gia. Nếu không động cơ từ ban đầu đã không phải là chân chánh.

Rồi Ta sau một thời gian, sau khi như chơn biết được sự tập khởi, sự đoạn diệt, vị ngọt, sự nguy hiểm và sự xuất ly của các dục vọng, sau khi đoạn tận dục ái, sau khi trừ diệt nhiệt não của các dục, Ta trú với khát ái được đoạn trừ, với nội tâm an tịnh. Rồi Ta thấy các chúng sanh khác, chưa xả ly tham ái đối với các dục đang bị các dục ái nhai nghiến, đang bị dục nhiệt não thiêu đốt, đang chạy theo các dục. Ta không ước vọng được như họ; ở đây, Ta không ham thích. Vì sao vậy? Vì rằng, này Magandiya, có hỷ lạc này, ly dục, ly bất thiện pháp, sau khi chứng đạt Thiên lạc, được an trú, hoan hỷ trong hỷ lạc ấy. Ta không ao ước cái gì thấp kém; ở đây, Ta không ham thích.

Ví như,  một người bị bệnh cùi thân (đầy) lở lói, thân bị hư thối nứt chảy, bị các loài trùng đục khoét, đang cào rách miệng các vết thương với móng tay, hơ đốt thân mình trên hố than hừng. Này Magandiya, người bị bệnh cùi với thân (đầy) lở lói, thân bị hư thối nứt chảy, bị các loài trùng đục khoét, càng cào rách miệng các vết thương với các móng tay, càng hơ đốt thân mình trên hố than hừng chừng nào thời miệng các vết thương ấy lại càng thêm bất tịnh, càng thêm hôi thối và càng thêm thối nát, và người ấy chỉ có cảm giác dễ chịu, thỏa thích do nhân duyên gãi ngứa miệng các vết thương.

Mọi người quán chiếu lở loét cùng mình, chảy máu mủ khắp người, những con giòi đục ăn trong đó rồi bị ngứa khắp mình. Mình hơ chỗ vết thương vào lò than rồi thấy đã ngứa, nước vàng chảy ra thêm.

Sự xúc chạm với các dục trong thời quá khứ cũng là đau khổ, rất là nồng cháy, rất là nhiệt não, và sự xúc chạm với các dục trong thời vị lai cũng là đau khổ, rất là nồng cháy, rất là nhiệt não, và sự xúc chạm với các dục trong thời hiện lại cũng là đau khổ, rất là nồng cháy, rất là nhiệt não.  Và này Magandiya, những chúng sanh này chưa đoạn trừ tham ái đối với các dục, đang bị các dục ái nhai nghiến, đang bị dục nhiệt não thiêu đốt, với các căn bị hư hoại, do sự xúc chạm đau khổ với các dục, lại có phản tưởng là được lạc thọ.

Cay đắng cho cái cuộc đời!

Đắng cay cho cái kiếp người!

Đáng thương thay cho cái bản thân mình!

Ái dục cho chính bản thân mình. Một cái tâm lở loét, cùi hủi bệnh hoạn như vậy hơ vô lò lửa, hơ vô hố than chảy nước mủ chảy nước vàng ra như vậy mà phản tưởng là được vui sướng. Đó là mình, mình đi tìm những cái bất tịnh nó chảy ra mình vui sướng trong đó. Những cái hôi hám nó chảy ra mình thích thú. Những người nghiện rượu, nghiện thuốc, nghiện game, đập đá, xì ke, ma túy. Những lúc không có, những cái cơn nghiền đó hành xác người ta, nó làm cho mình khổ, những cơn dục vọng cũng giống vậy, làm cho mình phải khao khát. Làm cho mình ham muốn thúc giục. Mình phải thành tựu trí tuệ mới thấy được tham dục, sân hận, si mê và bản ngã của mình nó vận hành như thế nào.

Vậy nên Phật giáo nguyên thủy trong kinh tạng Nikāya không có nói gì cao siêu mà nói để mình nhìn thấy cái tệ nhất, cái xấu nhất để mình điều chỉnh cái đó, như vậy là mình thành công. Đây là tinh thần sát gốc của Đức Phật. Mình phải thấy được nó tái sanh làm sao, nó an trú trong tâm mình làm sao, nó chấm dứt như thế nào. Mình có phương pháp nhận diện nó, nhiếp phục nó, tẩy sạch, từ bỏ, chấm dứt nó. Đó là sự tu tập chứ không phải là cầu nguyện, cúng kiến, van xin. Tất cả phải là trí tuệ của tự thân mình. Mình phải thấy, mình phải biết các pháp đang sanh khởi, đang vận hành, biến đổi, chấm dứt nội tâm mình như thế nào rồi mình có cách mình nhiếp phục nó, trí huệ siêu việt.

Đây mới là gia tài của Đức Phật chứ không phải vào lau tượng Phật, dác vàng lên tượng rồi khổ cũng hoàn khổ, nhiều khi còn khổ hơn vì ngủ sợ bị lấy mất tượng Phật bằng vàng. Nên mình phải biết chỗ nào để mình hạ thủ công phu, mình tu tập ngay chỗ đó là mình thành tựu. Còn không là đi lòng vòng thì trăm kiếp ngàn đời cũng không thành tựu được chánh tri kiến thì làm sao mà tu tập? Điều này thâm sâu lắm. Không thành tựu trí huệ thâm sâu là không hiểu nổi. Sự xúc chạm giữa các dục dù trong thuở xưa, bây giờ và một ngàn năm sau nữa cũng là khổ. Cái dục hàng ngày tác động mạnh lên thân mình nên con người càng điên cuồng trong cái dục đó, đập đá leo lên cột điện, không mặc quần áo đi ra đường.

Nó điên cuồng, nó đốt cháy trong người, nó điều khiển hết trong cuộc sống này. Đây là dục giới, tất cả toàn là dục. Sáng thì hỏi trưa nay ăn món gì. Học chưa ra về đã nghĩ chiều nay ăn món gì? Phải thấy được đó là dục. Đang học bài ngó xem mấy giờ rồ, đó là dục. Phải nhiếp phục cái dục đó, phải có con mắt lửa vòng vàng, con mắt của Dương Tiễn, con mắt của trí huệ mới thấy được. Còn mình nói "Thưa thầy, con không có tham sân si". Con ăn rồi ngủ, ngủ rồi làm nên không thấy được gì hết, không thành tựu trí huệ thì làm sao thấy được? Bây giờ mình đang ngồi học mà có ca sĩ nổi tiếng cầm micro hát trước cổng thì mình có thể tịnh tâm nghe pháp được không? Nếu không ra xem thì trong lòng bồn chồn, nôn nao.

Không thì gần hết giờ học là nhìn đồng hồ đến mấy lần vì cái dục thúc giục mình, reng chuông thì lính quýnh dọn đồ vì mình không kiềm chế được cảm giác được ra về. Chỉ một cái pháp nhỏ như vậy mà ngũ uẩn hiện nguyên hình hết trơn rồi. Thánh pháp này thâm sâu tế nhị tinh vi lắm cho nên một khi thành tựu được trí Ngũ Uẩn thì mình sẽ biết được ngũ uẩn của người khác đang ở trong trạng thái như thế nào. Khi mình phải biết mình thì sẽ biết được người ta. Từ thời Đức Thế Tôn đã có biết bao dục ái làm người ta khổ, thời mình cũng có bao nhiêu cái dục ái làm người ta khổ, lịch sử từ trăm năm trước ở bên Nhật, Mỹ, bên châu Âu, châu Phi chỗ nào cũng y vậy hết. Dùng những cái pháp quán thâm sâu đã nói ở trên để tránh sự tiếp xúc, để mình đừng có phản tưởng là sung sướng.

Nam mô Bổn sư Thích ca Mâu ni Phật. Con kính bạch trên thượng tọa và toàn thể đại chúng. Con cảm nhận bài thầy đang dạy cho lớp là cội gốc của sanh tử. Nếu mình không biết về ái, còn tham ái tức là tất cả mọi hành động của mình là thích hay không thích đó chính là sanh tử. Sanh tử liên tục trong từng sát na, trong cái tâm hiện khởi của mình. Nếu mình biết trở về với nội tâm của mình, sống đúng với chính mình và sống chậm lại thì mình sẽ thấy được đâu là vô minh và đâu là trí tuệ. A-di-đà Phật.

Nguyện đem công đức này hướng về khắp tất cả đệ tử và chúng sanh đều trọn thành Phật đạo.

./.